MÁY BAY TÀU SÂN BAY HẢI QUÂN MỸ vs THIẾT GIÁP HẠM LỚP YAMATO: Mặt trận Thái Bình Dương 1944-45 (Phần 1)
Bài viết được dịch từ cuốn sách US Navy Carrier Aircraft vs IJN Yamato Class Battleships: Pacific Theater 1944–45 (Duel, 69) của Mark Stille.

Đây là bức ảnh chụp kinh điển của thiết giáp hạm Yamato trong các chuyến chạy thử trên biển vào tháng 10 năm 1941. Bức ảnh cho thấy dáng vẻ thanh thoát của con tàu, với mũi tàu vuốt xuôi và ống khói nghiêng đặc trưng.
Vài lời từ người dịch:
Khi Chiến tranh Thái Bình Dương lên đến đỉnh điểm, những cuộc đụng độ giữa các máy bay chiến đấu trên tàu sân bay của Hải quân Mỹ và các thiết giáp hạm khổng lồ lớp Yamato của Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) trở thành biểu tượng cho vận mệnh của hai quốc gia. Chúng cũng là ẩn dụ cho những thay đổi sâu sắc về công nghệ và học thuyết hải quân mà chiến tranh đã mang lại. Hai lực lượng đối lập đều là những lực lượng mạnh nhất thuộc loại của chúng - Yamato và Musashi của Nhật Bản là những thiết giáp hạm lớn nhất, được bọc thép và trang bị vũ khí mạnh nhất từng được chế tạo, trong khi không quân trên tàu sân bay của Mỹ đã phát triển thành một cỗ máy chiến thắng được vận hành trơn tru. Sau cuộc tấn công Trân Châu Cảng của người Nhật đã chứng minh rằng ngay cả những thiết giáp hạm hùng mạnh nhất cũng dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công từ trên không, thì người Nhật lại buộc phải học lại bài học đó khi các phi hành đoàn máy bay mới Helldiver và Avenger của Mỹ tấn công và cuối cùng đánh chìm những những viên ngọc quý cuối cùng còn sót lại của IJN. Từ đó trở đi, hạm đội tàu chiến mặt nước với nòng cốt là thiết giáp hạm sẽ không bao giờ còn là thế lực thống trị trên biển nữa.
Bài viết này được làm lại từ bài viết bài đầu tiên từng đăng là HÀNG KHÔNG MẪU HẠM HẢI QUÂN HOA KỲ vs THIẾT GIÁP HẠM HẢI QUÂN ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN LỚP YAMATO: Mặt trận Thái Bình Dương năm 1944 - 1945 ( Phần 1 và Phần 2). Trong đó, bài làm lại sẽ sửa lại vài lỗi sai trong dịch thuật và bổ sung thêm hình ảnh minh hoạ, các ảnh màu đến từ cuốn sách Battleships Yamato and Musashi (Anatomy of The Ship) của Janusz Skulski và mình hoạ bởi Stefan Draminski. Ngoài ra, một số hình vẽ và hình ảnh tham khảo từ các trang web liên quan đến chủ đề.
MỞ ĐẦU
Thiết giáp hạm là thước đo sức mạnh của mọi cường quốc hải quân lớn kể từ khi nó ra đời vào cuối thế kỷ 19. Bước sang đầu thế kỷ 20, một cải tiến lớn trong thiết kế thiết giáp hạm xuất hiện với tính chất cách mạng đến mức mọi thiết giáp hạm về sau được gọi là “dreadnought”, theo tên con tàu đầu tiên được chế tạo theo khái niệm mới này. Dreadnought là cỗ máy chiến đấu mạnh mẽ nhất từng tồn tại nhờ sự kết hợp giữa pháo lớn, giáp bảo vệ dày, cùng tốc độ và tầm hoạt động cho phép nó tác chiến trên toàn thế giới.
Cuộc chạy đua đóng thêm dreadnought là một trong những yếu tố dẫn đến Thế chiến I, khi hải quân hàng đầu thế giới – Hải quân Hoàng gia Anh – đối đầu với Hải quân Đế quốc Đức ở Biển Bắc. Mặc dù hầu hết các chỉ huy và quan sát viên hải quân đều kỳ vọng các dreadnought sẽ tiến hành một loạt trận đánh giành quyền kiểm soát Biển Bắc, nhưng chỉ có một trận giao tranh duy nhất giữa chúng trong thời chiến, cùng một trận khác có sự tham gia của “người anh em họ” gần gũi của dreadnought – thiết giáp tuần dương hạm (battlecruiser). Những trận này đều không mang tính quyết định. Dreadnought tỏ ra là loại tàu cực kỳ khó đánh chìm, và không bên nào dám mạo hiểm chúng trong những điều kiện chiến thuật bất lợi.
Sau Thế chiến I, thiết giáp hạm vẫn là thước đo tối thượng của chiến tranh trên biển. Những điểm yếu của nó trước ngư lôi, thủy lôi và một số dạng hỏa lực từ các dreadnought khác được các kỹ sư xử lý bằng cách tăng cường bảo vệ dưới nước và giáp sàn.
Sự cạnh tranh hải quân giữa Anh và Đức được thay thế bằng cạnh tranh giữa Anh và Mỹ, và giữa Mỹ và Nhật Bản. Cả ba đều chuẩn bị bắt đầu một chương trình đóng dreadnought quy mô lớn và có thể gây kiệt quệ. Thực tế, chương trình của Mỹ lớn đến mức nó có thể đe dọa vượt qua sức mạnh hải quân Nhật Bản và thậm chí vượt cả Hải quân Hoàng gia Anh. Trước viễn cảnh đó, các bên đã đồng ý ký một loạt hiệp ước cắt giảm vũ khí hải quân, bắt đầu với Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922. Các hiệp ước này không chỉ kiểm soát kích thước và vũ khí của thiết giáp hạm mà còn hạn chế số lượng mà năm cường quốc hải quân lớn được phép sở hữu.
Nhật Bản buộc phải chấp nhận vị thế thua kém về thiết giáp hạm, theo tỷ lệ 3:5 so với Mỹ và Anh. Sự thua kém này tồn tại cho đến đầu năm 1937. Khi kỷ nguyên các hiệp ước hải quân kết thúc, người Nhật tìm hướng đi mới để bù đắp sự thua kém ấy. Con đường họ chọn là xây dựng một lớp siêu thiết giáp hạm có thể vượt trội về chất lượng so với mọi đối thủ hiện có hoặc đang được thiết kế. Đó chính là nguồn gốc của lớp Yamato.
Trong khi thiết giáp hạm vẫn là thước đo thiết yếu để so sánh các cường quốc hải quân, một loại tàu khác bắt đầu xuất hiện. Những tàu sân bay đầu tiên hầu như không được chú ý vì thủy phi cơ và máy bay nhỏ phóng từ sàn bay nhỏ bé của chúng có rất ít sức mạnh tấn công. Rõ ràng, những cỗ máy mong manh này không đe dọa được thiết giáp hạm. Từ khởi đầu đó, Hải quân Hoàng gia Anh, Hải quân Mỹ và Hải quân Đế quốc Nhật Bản (Imperial Japanese Navy - IJN) tiếp tục phát triển tàu sân bay. Thật vậy, cả ba lực lượng đã tận dụng những thiết giáp hạm hoặc thiết giáp tuần dương hạm dự kiến bị loại bỏ theo Hiệp ước Washington để cải hoán thành tàu sân bay. Những tàu này có thể mang đủ máy bay để trở thành các nền tảng tấn công đáng kể. Máy bay trên tàu liên tục được cải tiến về tầm hoạt động và quan trọng nhất là khả năng mang tải trọng lớn. Đến cuối thập niên 1930, tàu sân bay đã có tiềm năng để thay thế thiết giáp hạm trở thành nền tảng hải quân chủ đạo.
Tiềm năng của tàu sân bay nhanh chóng được chứng minh vào đầu Thế chiến II. Tàu sân bay Anh đóng vai trò then chốt trong cuộc chiến ở Địa Trung Hải chống lại Regia Marina của Ý và góp phần đánh chìm thiết giáp hạm Đức Bismarck. Tháng 12 năm 1941, sức mạnh của tàu sân bay được thể hiện hoàn toàn khi Hải quân Đế quốc Nhật Bản tấn công căn cứ chính của Hạm đội Thái Bình Dương Mỹ, đánh chìm năm thiết giáp hạm và làm hư hại ba chiếc khác. Mặc dù các thiết giáp hạm này đang mắc kẹt trong cảng, rõ ràng là thiết giáp hạm không thể đứng vững trước một cuộc tấn công trên không quy mô lớn mà vẫn hy vọng sống sót.
Hải quân Mỹ nhanh chóng rút ra bài học từ Trân Châu Cảng. Ngay từ giai đoạn sớm nhất của cuộc chiến, tàu sân bay đã trở thành trung tâm trong sức mạnh tấn công trên biển của Mỹ tại Thái Bình Dương. Lực lượng tàu sân bay của Hải quân Mỹ trước chiến tranh khá nhỏ, chỉ gồm 7 tàu sân bay hạm đội (trong đó chỉ có sáu chiếc đủ phù hợp để hoạt động ở Thái Bình Dương). Lực lượng này đã chịu tổn thất nặng nề trong năm 1942 khi kìm hãm đà tiến công của Nhật Bản và thực hiện những bước đi đầu tiên trên con đường tiến về Tokyo trong nửa cuối năm, trong chiến dịch chiếm và giữ Guadalcanal ở miền nam quần đảo Solomon. Bốn tàu sân bay bị mất năm 1942 nhanh chóng được thay thế vào năm 1943 bằng những chiếc đầu tiên thuộc lớp tàu sân bay hạm đội Essex. Mang theo các loại máy bay mới thay thế cho các loại tiêm kích, máy bay ném bom bổ nhào và máy bay ném ngư lôi thời tiền chiến, các tàu chiến này đã trở thành công cụ quyết định sức mạnh và giành thắng lợi.
Khi cuộc chiến ở Thái Bình Dương tiếp diễn, lực lượng tàu sân bay của IJN ngày càng suy yếu, trong khi người Nhật vẫn giữ lại các thiết giáp hạm của họ, đặc biệt là hai chiếc thuộc lớp Yamato, để chuẩn bị cho một trận quyết chiến được kỳ vọng với Hải quân Mỹ. Đến giữa năm 1944, lực lượng tàu sân bay Mỹ đã tiêu diệt đối thủ Nhật Bản của mình. Khi Hải quân Mỹ tiến lên trong nửa cuối năm 1944 và áp sát Nhật Bản, Hải quân Đế quốc Nhật Bản buộc phải tung ra tài sản lớn cuối cùng của mình – các lực lượng hải quân hạng nặng, dẫn đầu bởi các siêu thiết giáp hạm lớp Yamato. Cuộc đối đầu giữa những tàu sân bay mạnh nhất thế giới và những thiết giáp hạm lớn nhất thế giới là điều không thể tránh khỏi.
NIÊN BIỂU
Năm 1934
Tháng 10: Cục Thiết kế Hải quân Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) bắt đầu công tác thiết kế một lớp siêu thiết giáp hạm mới.
Năm 1935
Ngày 27 tháng 5: Hải quân Mỹ bắt đầu các thử nghiệm thả từ trên không đầu tiên đối với ngư lôi phóng từ máy bay Mark 13.
Năm 1936
Tháng 7: IJN được cấp phép đóng các siêu thiết giáp hạm Yamato và Musashi.
Năm 1937
Tháng 3: Thiết kế sửa đổi của lớp siêu thiết giáp hạm Yamato được hoàn tất.
Ngày 4 tháng 11: Yamato được đặt lườn.
Năm 1938
Ngày 29 tháng 3: Musashi được đặt lườn.
Mùa hè: Ngư lôi Mark 13 chính thức được đưa vào trang bị tuyến đầu.
Tháng 8: Hải quân Mỹ ban hành các yêu cầu kỹ thuật cho một loại máy bay trinh sát – ném bom bổ nhào trên tàu sân bay mới, sau này trở thành SB2C Helldiver.
Năm 1939
Ngày 25 tháng 3: Hải quân Mỹ ban hành yêu cầu thiết kế cho một máy bay ném ngư lôi trên tàu sân bay mới.
Ngày 15 tháng 5: Đơn đặt hàng 370 máy bay bổ nhào SB2C Helldiver được ký với hãng Curtiss, trước khi máy bay này thực hiện chuyến bay đầu tiên.
Năm 1940
Ngày 8 tháng 8: Yamato được hạ thủy.
Ngày 1 tháng 11: Musashi được hạ thủy.
Tháng 12: Hải quân Mỹ đặt hàng 286 máy bay ném ngư lôi trên tàu sân bay TBF Avenger từ hãng Grumman.
Ngày 18 tháng 12: Chuyến bay đầu tiên của nguyên mẫu XSB2C-1 Helldiver.
Năm 1941
Ngày 7 tháng 8: Chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của nguyên mẫu máy bay ném ngư lôi XTBF-1 Avenger.
Ngày 16 tháng 12: Yamato chính thức được biên chế.
Năm 1942
Tháng 1: Những chiếc TBF Avenger sản xuất loạt đầu tiên được bàn giao cho Hải quân Mỹ.
Tháng 4: TBF Avenger bắt đầu phục vụ trong các đơn vị hạm đội.
Tháng 6: TBF Avenger tham chiến lần đầu trong Trận Midway.
Ngày 30 tháng 6: Chuyến bay đầu tiên của một máy bay SB2C Helldiver sản xuất loạt.
Ngày 5 tháng 8: Musashi chính thức biên chế.
Ngày 15 tháng 12: Chiếc SB2C Helldiver đầu tiên được bàn giao cho một phi đội hạm đội.
Năm 1943
Ngày 25 tháng 12: Một quả ngư lôi do tàu ngầm USS Skate (SS-305) phóng trúng Yamato, xuyên thủng hệ thống bảo vệ dưới nước của con tàu.
Năm 1944
Ngày 18 tháng 10: Kế hoạch Sho-1 của Nhật Bản được kích hoạt nhằm phòng thủ Philippine; Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất, bao gồm Yamato và Musashi, rời khỏi Lingga (gần Singapore).
Ngày 20 tháng 10: Quân đội Mỹ đổ bộ lên Leyte, Philippine.
Ngày 22 tháng 10: Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất rời Brunei sau khi tiếp dầu, tiến về Leyte.
Ngày 24 tháng 10: Trận Biển Sibuyan: hơn 250 máy bay trên tàu sân bay của Hải quân Mỹ tấn công Lực lượng Nghi binh Tấn công Thứ Nhất và đánh chìm Musashi.
Ngày 25 tháng 10: Trận ngoài khơi Samar – trận đánh trung tâm trong trận Vịnh Leyte – chứng kiến Yamato khai hỏa pháo 460 mm (18,1 inch) vào các tàu Hải quân Mỹ, lần duy nhất trong chiến tranh.
Năm 1945
Ngày 19 tháng 3: Yamato bị máy bay trên tàu sân bay Hải quân Mỹ thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 58 tấn công tại Biển Nội địa Nhật Bản, nhưng không bị hư hại.
Ngày 5 tháng 4: Quyết định được đưa ra điều Yamato tham gia hỗ trợ các đợt tấn công cảm tử (Chiến dịch Ten-Go) chống lại hạm đội đổ bộ Mỹ ngoài khơi Okinawa.
Ngày 6 tháng 4: Yamato rời Biển Nội địa, tiến về Okinawa.
Ngày 7 tháng 4: Yamato bị đánh chìm tại Biển Hoa Đông sau ba đợt không kích của máy bay trên tàu sân bay Mỹ (thuộc các Nhóm đặc nhiệm 58.1, 58.3 và 58.4).
THIẾT KẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÔNG ĐOÀN TÀU SÂN BAY CỦA HẢI QUÂN MỸ
Khi bước vào Chiến tranh Thái Bình Dương, các tàu sân bay hạm đội của Hải quân Mỹ mang theo bốn đơn vị – một phi đội tiêm kích, một phi đội trinh sát, một phi đội ném bom bổ nhào và một phi đội ném ngư lôi. Phi đội trinh sát và phi đội ném bom được trang bị cùng loại máy bay – Douglas SBD Dauntless – và thực chất đảm nhận cùng vai trò. Thực tế, về sau trong chiến tranh, hai phi đội trinh sát và ném bom đã được hợp nhất. Quy mô của phi đội tiêu chuẩn là 18 máy bay. Số lượng tiêm kích này trên mỗi không đoàn tàu sân bay sau đó đã được chứng minh là không đủ trước mối đe dọa không quân Nhật Bản, và đã được tăng lên vào giữa năm 1942.
Kinh nghiệm chiến tranh giai đoạn đầu cũng cho thấy sức mạnh tấn công thực sự của một không đoàn tàu sân bay nằm ở các phi đội ném bom bổ nhào, vì các phi đội ném ngư lôi lúc đó được trang bị loại máy bay Douglas TBD-1 Devastator đã lỗi thời và mang ngư lôi phóng từ trên không Mark 13 còn chưa đáng tin cậy. Tình hình thay đổi vào giữa năm 1942 với sự xuất hiện của máy bay ném ngư lôi Grumman TBF Avenger, nhưng các vấn đề với ngư lôi Mark 13 vẫn kéo dài đến năm 1944. Điều này có nghĩa là các tàu sân bay Mỹ sẽ gặp khó khăn trong việc đối phó với các thiết giáp hạm của IJN, vì bom thả từ độ cao thấp trong kiểu ném bom bổ nhào thiếu động năng để xuyên thủng các sàn giáp dày. Loại vũ khí này có thể gây hư hại, nhưng không thể đánh chìm các tàu chiến bọc giáp dày. Để đánh chìm thiết giáp hạm, cần có ngư lôi hiệu quả.

USS Enterprise (CV-6 ) là tàu sân bay thuộc lớp Yorktown và là một trong số ba tàu sân bay Mỹ được đưa vào hoạt động trước Thế Chiến II sống sót qua cuộc chiến (hai chiếc kia là Saratoga (CV-3) và Ranger (CV-4)). Tuy không thể mang theo nhiều máy bay như tàu lớp Essex, nhưng nó vẫn chiến đấu cùng Lực lượng Tàu sân bay tốc độ cao cho đến hết chiến tranh. Vào thời điểm con tàu tham gia trận Leyte và góp phần đánh chìm Musashi, con tàu mang theo Không đoàn số 20 (93 máy bay), trong đó bao gồm 34 máy bay SB2C-3 và 19 máy bay TBM-1C.

USS Essex (CV-9) là chiếc đầu tiên thuộc lớp tàu sân bay hạm đội đông đảo nhất từng được đóng trong lịch sử; có tổng cộng 14 chiếc thuộc lớp này tham chiến trong Chiến tranh Thái Bình Dương. Con tàu này đã tham gia vào cả hai cuộc chiến đánh chìm hai thiết giáp hạm lớn nhất thế giới. Trong trận chiến đánh chìm Musashi, con tàu mang theo Không đoàn số 15 (96 máy bay), trong đó gồm 25 máy bay SB2C-3 và 20 máy bay TBF/TBM-1C. Vào thời điểm đánh chìm Yamato, con tàu mang theo Không đoàn số 83 (102 máy bay), trong đó gồm 15 chiếc SB2C-4 Helldiver và 15 chiếc TBM-3 Avenger.

USS Yorktown (CV-10) là tàu sân bay thứ ba trong lớp Essex được biên chế vào Hải quân Mỹ trong năm 1944. Con tàu này ban đầu có tên là Bon Homme Richard, về sau thì đổi tên thành Yorktown trong khi đang được chế tạo để tưởng niệm chiếc Yorktown (CV-5) đã bị mất trong trận Midway vào tháng 6 năm 1942. Đến thời điểm đánh chìm Yamato, con tàu mang theo Không đoàn số 9 (95 máy bay), trong đó gồm 15 máy bay SB2C-4 Helldiver và 7 máy bay TBM-3 Avenger.

USS Intrepid (CV-11) là một trong những tàu chiến hải quân Mỹ có thành tích phục vụ xuất sắc nhất, hoạt động tại Mặt trận Thái Bình Dương bao gồm các trận quần đảo Marshall, Truk, vịnh Leyte và Okinawa. Cũng giống như CV-9, con tàu đã tham gia rất tích cực vào hai trận chiến đánh chìm các thiết giáp hạm lớp Yamato. Vào thời điểm đánh chìm Musashi, con tàu mang theo Không đoàn số 18 (90 máy bay), trong đó gồm 28 máy bay SB2C-3 và 18 máy bay TBM-1C. Vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, con tàu mang theo Không đoàn số 10 (102 máy bay), trong đó gồm 15 máy bay SB2C-4E Helldiver và 15 máy bay TBM-3 Avenger.

USS Bunker Hill (CV-17) là tàu sân bay thuộc lớp Essex và được đưa vào hoạt động vào tháng 3 năm 1943, và đã phục vụ trong nhiều chiến dịch tại Mặt trận Thái Bình Dương. Trong cuộc không kích vào Yamato, con tàu lúc này mang theo Không đoàn số 84 (113 máy bay), trong đó bao gồm 15 máy bay SB2C-4 Helldiver và 15 máy bay TBM-3 Avenger.
Sự xuất hiện của tàu sân bay lớp Essex, và việc chúng được đưa vào chiến đấu từ tháng 8 năm 1943, đã làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Thái Bình Dương. Có tới 24 tàu sân bay lớp Essex được hoàn thành, và 14 chiếc trong số đó tham chiến trong Thế chiến II. Mỗi tàu có lượng choán nước hơn 36.000 tấn khi đầy tải và có thể mang hơn 90 máy bay. Các tàu sân bay hạm đội tốc độ cao này được bổ sung bằng chín tàu sân bay hạng nhẹ lớp Independence, mỗi chiếc có lượng choán nước 14.700 tấn khi đầy tải và thường mang một không đoàn gồm 33 máy bay (24 máy bay tiêm kích và 9 máy bay ném ngư lôi). Tất cả các tàu sân bay hạm đội và hạng nhẹ do Mỹ đóng trong thời chiến đều được trang bị vũ khí phòng không hiệu quả và thiết bị điện tử hiện đại, vận hành cùng một hệ thống hậu cần rộng lớn giúp chúng từ các nền tảng đột kích độc lập trở thành những thành phần then chốt của một lực lượng đặc nhiệm có khả năng duy trì sức mạnh tấn công gần như ở bất kỳ đâu tại khu vực Trung tâm Thái Bình Dương.
Cho đến năm 1944, không đoàn gồm một phi đội tiêm kích 36 máy bay, một phi đội ném bom bổ nhào 36 máy bay và một phi đội ném ngư lôi 18 máy bay. Ngày 31 tháng 7 năm 1944, lệnh được ban hành để giảm phi đội ném bom bổ nhào từ 36 xuống 24 máy bay và tăng quy mô phi đội tiêm kích lên tới 54 máy bay. Quy mô phi đội ném ngư lôi thì không thay đổi. Vào thời điểm diễn ra trận hải chiến Vịnh Leyte, khi lực lượng tàu sân bay Mỹ chạm trán các đơn vị mặt nước hạng nặng của IJN, các không đoàn tàu sân bay lớp Essex đang trong quá trình chuyển đổi này.
Vào tháng 12 năm 1944, trước mối đe dọa kamikaze ngày càng tăng, thành phần không đoàn lại được điều chỉnh để tăng cường khả năng phòng không. Phi đội tiêm kích tăng lên 73 máy bay và các phi đội ném bom bổ nhào cùng ném ngư lôi được giảm xuống còn 15 máy bay mỗi phi đội. Một phi đội tiêm kích lớn như vậy nhanh chóng tỏ ra cồng kềnh, nên vào tháng 1 năm 1945 nó được chia thành hai đơn vị – một phi đội tiêm kích và một phi đội tiêm kích–ném bom, mỗi đơn vị 36 máy bay. Năm 1945, hai không đoàn tàu sân bay còn cho phi đội ném bom bổ nhào lên bờ và vận hành 93 máy bay tiêm kích cùng 15 máy bay ném ngư lôi thay thế.
Máy bay ném ngư lôi
Yếu tố cốt lõi cho phép các không đoàn tàu sân bay đánh chìm thiết giáp hạm chính là một thành phần tấn công bằng ngư lôi hiệu quả, và trong phần lớn cuộc chiến, họ lại thiếu khả năng này. Vào thời điểm cuộc tập kích Trân Châu Cảng diễn ra, máy bay ném ngư lôi tiêu chuẩn của Hải quân Mỹ là TBD-1 Devastator. Khi được đưa vào biên chế năm 1937, đây là máy bay cánh đơn trên tàu sân bay được sử dụng rộng rãi đầu tiên, cũng như là máy bay hải quân toàn kim loại đầu tiên. Là một thiết kế hiện đại, nó có buồng lái hoàn toàn kín và cánh gập vận hành bằng cơ cấu trợ lực. Tuy nhiên, khi cuộc chiến Thái Bình Dương bắt đầu, Devastator lại là loại máy bay lỗi thời nhất trong không đoàn tàu sân bay. Thực tế này được thể hiện rõ trong trận Midway tháng 6 năm 1942, khi các phi đội TBD tham gia trận đánh bước ngoặt này gần như bị tiêu diệt hoàn toàn bởi các tiêm kích A6M Zero-sen của IJN. May mắn thay, mẫu máy bay thay thế cho Devastator khi đó đã sẵn sàng.
Công việc phát triển một mẫu kế nhiệm cho TBD chính thức bắt đầu vào tháng 3 năm 1939 khi Hải quân Mỹ ban hành các yêu cầu thiết kế cho một máy bay ném ngư lôi mới có khả năng hoạt động trên tàu sân bay. Các yêu cầu này bao gồm tốc độ tối đa 260 hải lý/giờ (300 dặm/giờ), tầm bay 3.000 dặm, khoang vũ khí bên trong, và hệ thống vũ khí tích hợp gồm hai súng máy bắn về phía trước và hai súng máy bắn về phía sau (một trong số đó đặt trong tháp súng vận hành bằng điện, do kỹ sư Grumman Oscar Olsen phát triển phối hợp với công ty General Electric). Hai hãng đã phản hồi bằng các đề xuất, nhưng thiết kế XTBF-1 của Grumman – một nhà cung cấp máy bay lâu năm cho Hải quân Mỹ – rõ ràng vượt trội hơn. Tháng 12 năm 1940, 286 máy bay được đặt hàng.
Việc phát triển TBF diễn ra nhanh chóng và đáng chú ý là hầu như không gặp trục trặc. Trong thời gian chỉ năm tuần, nhóm Grumman dưới sự chỉ đạo của kỹ sư trưởng Bob Hall đã phác thảo thiết kế. Sử dụng động cơ xuyên tâm Wright R-2600-8 đã được kiểm chứng, có thể đạt 1.700 mã lực khi cất cánh, thiết kế này đáp ứng đầy đủ mọi yêu cầu. Đây không phải là một chiếc máy bay đẹp mắt, với thân hình “mập mạp”, cánh lớn góc cạnh và đuôi đặc trưng, nhưng nó rất ổn định và tin cậy. Hình dáng của TBF khiến nó có biệt danh “The Turkey” (Con Gà Tây). Theo yêu cầu của Hải quân Mỹ, Grumman trang bị cho máy bay một tháp súng vận hành bằng điện, lắp súng máy Browning M-2 cỡ 0,50in. phía sau buồng lái, một khẩu Browning M-1919 cỡ 0,30in. ở vị trí bụng sau của thân máy bay và một súng 0,30in. ở mũi (trên các biến thể đầu tiên). Khẩu súng mũi này sớm được thay bằng hai khẩu M-2 cỡ 0,50in. gắn ở cánh.
Có lẽ đặc điểm thiết kế nổi bật nhất của TBF là cơ cấu gập cánh “góc kép” mới do Grumman tạo ra, cho phép Hải quân Mỹ tối đa hóa không gian chứa máy bay trên tàu sân bay. Cơ cấu này giúp thu gọn sải cánh của TBF từ 54ft 2in. xuống còn 18ft 4in.; cơ chế gập cánh mới này về sau cũng được sử dụng trên F4F-4 Wildcat và F6F Hellcat.
Nguyên mẫu của máy bay cất cánh lần đầu vào ngày 7 tháng 8 năm 1941, và mặc dù nó bị rơi vào ngày 28 tháng 11 sau khi đã thực hiện nhiều chuyến bay thử nghiệm thành công, chương trình thử nghiệm chỉ bị chậm lại không đáng kể. Nhu cầu đối với loại máy bay này là cực kỳ cấp bách, bởi chiến tranh đã nổ ra trong khi số lượng Devastator còn sử dụng được chỉ rất hạn chế. Những chiếc máy bay sản xuất loạt đầu tiên của kiểu mới này, được đặt tên là Avenger, được hoàn thành vào tháng 1 năm 1942. Đến tháng 11 cùng năm, sản lượng tại nhà máy Grumman đã vượt quá 100 chiếc mỗi tháng, nhưng nhu cầu vẫn vượt xa khả năng cung ứng. Để đáp ứng yêu cầu này, Bộ phận Eastern Aircraft của General Motors bắt đầu sản xuất Avenger vào cuối năm 1942 – các máy bay do cơ sở này chế tạo được định danh là TBM. Tổng cộng, 2.291 chiếc TBF và 7.546 chiếc TBM đã được hoàn thành.
Đơn vị hạm đội đầu tiên tiếp nhận Avenger là Phi đội ngư lôi số 8 (VT-8) vào tháng 4 năm 1942. Sau đó, nó có trận ra quân vào tháng 6 năm 1942 trong trận Midway khi sáu chiếc được sử dụng từ căn cứ mặt đất. Như đã đề cập trước đó, Midway cũng đánh dấu sự kết thúc phục vụ chiến đấu của Devastator, vì vậy TBF giờ đây là máy bay ném ngư lôi duy nhất của Hải quân Mỹ. Bằng bất kỳ thước đo nào, Avenger cũng phải được coi là một thành công lớn lao, và nó trở thành máy bay cường kích hải quân được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử. Nó đáng tin cậy trong phục vụ chiến đấu và đã chứng minh được khả năng chịu đựng được ổn thất nghiêm trọng. Nó cũng hoạt động linh hoạt, vì có thể thực hiện cả vai trò tấn công ngư lôi lẫn ném bom thông thường. Vấn đề duy nhất của loại máy bay này nằm ở vũ khí chủ lực của nó: ngư lôi phóng từ trên không Mark 13, vốn không đáng tin cậy.
Máy bay ném bom bổ nhào
Hải quân Mỹ bước vào chiến tranh với loại máy bay ném bom bổ nhào đã được kiểm chứng – Douglas SBD Dauntless. Trong bối cảnh Devastator gặp nhiều vấn đề và ngư lôi Mark 13 thiếu độ tin cậy, Dauntless trở thành vũ khí tấn công duy nhất từ tàu sân bay hoạt động hiệu quả một cách ổn định của Hải quân Mỹ trong giai đoạn 1942–43. Trong trận Midway, Dauntless chính là vũ khí không thể thiếu cho chiến thắng của người Mỹ. Đây là một máy bay đáng tin cậy, dễ bay và là nền tảng ổn định cho nhiệm vụ ném bom bổ nhào. Tuy nhiên, nó cũng có những hạn chế vì chỉ mang được tối đa 1.000 lb bom treo ngoài. Đồng thời thì SBD cũng có tốc độ tương đối chậm.
Ngay trước khi chiến sự bùng nổ ở Thái Bình Dương, Hải quân Mỹ đã làm việc để nâng cấp năng lực ném bom bổ nhào với một loại máy bay hiện đại hơn. Bản yêu cầu kỹ thuật cho một máy bay trinh sát - ném bom mẫu hạm mới được ban hành vào tháng 8 năm 1938, yêu cầu một máy bay cánh đơn vỏ chịu lực với khoang vũ khí bên trong có thể mang bom 1.000lb cùng các loại tải trọng khác. Máy bay phải được thiết kế chịu lực để thực hiện ném bom bổ nhào và có khả năng hoạt động trên tàu sân bay, với cánh gấp, móc hãm và móc phóng. Hai chiếc máy bay phải vừa với một thang nâng tàu sân bay kích thước 40 feet x 48 feet. Tổ lái được quy định là hai người. Để vượt qua tầm hoạt động của Dauntless, máy bay phải mang được lượng nhiên liệu lớn. Động cơ được chỉ định là loại xi-lanh Wright R-2600 Cyclone 14, cung cấp đủ công suất để đạt tốc độ tối đa cao hơn nhiều so với Dauntless.
Đội ngũ tại Curtiss ở Buffalo, New York, có một lịch sử lâu dài trong việc chế tạo máy bay ném bom bổ nhào, và đã đón nhận thách thức mới này dưới sự phụ trách của kỹ sư trưởng dự án Raymond C. Blaylock. Vấn đề thiết kế chính là tạo ra một máy bay đủ lớn để có khoang vũ khí bên trong và dung tích nhiên liệu cao, nhưng vẫn đủ nhỏ để đáp ứng yêu cầu hai chiếc vừa trên thang máy tàu sân bay. Mâu thuẫn này đã dẫn đến một quá trình phát triển kéo dài và đầy khó khăn. Tuy nhiên, sự tin tưởng của Hải quân Mỹ dành cho Curtiss lớn đến mức họ đã đặt hàng 370 chiếc SB2C-1 mới vào ngày 15 tháng 5 năm 1939, trước cả khi máy bay thực hiện chuyến bay đầu tiên.
Nguyên mẫu XSB2C-1 được xuất xưởng vào ngày 13 tháng 12 năm 1940, và bay lần đầu vào năm ngày sau đó. Đầu tháng 2, máy bay bị rơi khi động cơ Wright đột ngột ngừng hoạt động. Nguyên mẫu được sửa chữa, nhưng bị mất hoàn toàn vào ngày 21 tháng 12 năm 1941, khi cánh máy bay bị gãy trong lúc bay. Đến thời điểm đó, các vấn đề chính của nó đã bộc lộ rõ ràng: mất ổn định hướng, kết cấu yếu, và công suất không đủ. Tuy nhiên, chương trình này có mức độ ưu tiên cao, nên các nhà thiết kế và kỹ sư của Curtiss vẫn tiếp tục theo đuổi dự án.
Chuyến bay đầu tiên của một máy bay sản xuất loạt diễn ra vào ngày 30 tháng 6 năm 1942. Việc thử nghiệm SB2C bị cản trở bởi lệnh cấm bổ nhào ở tốc độ cao do các vấn đề kết cấu, trong khi trọng lượng tăng lên đã làm tốc độ tối đa giảm từ 320 xuống còn 280 hải lý/giờ. Hàng trăm thay đổi đã được áp dụng để khắc phục các sự cố, và điều này làm chậm tiến độ sản xuất. Mặc dù chiếc đầu tiên được bàn giao cho một phi đội hạm đội vào ngày 15 tháng 12 năm 1942, khi các phi công hải quân trực tiếp khai thác loại máy bay này — lúc đó đã được đặt tên là Helldiver — thì nó hoàn toàn chưa phù hợp cho hoạt động trên tàu sân bay. Hầu như tất cả những ai có cơ hội bay cả Dauntless lẫn Helldiver đều ưa chuộng SBD hơn, vốn dễ điều khiển hơn nhiều. Khi SB2C cuối cùng được đưa lên tàu sân bay vào đầu năm 1943, nó bị đánh giá là không phù hợp cho tác chiến “biển xanh”, buộc các kỹ sư Curtiss phải tiến hành một vòng cải tiến nữa. Các phi công gọi chiếc máy bay này là “The Beast” (Con Quái thú) do đặc tính điều khiển khó chịu của nó.
Đến đầu năm 1944, nhiều vấn đề cuối cùng đã được khắc phục, và phiên bản SB2C-3 được chấp thuận đưa vào biên chế hạm đội. Cuối cùng, 30 phi đội Hải quân Mỹ đã sử dụng loại máy bay này trong chiến đấu, hoạt động từ 13 tàu sân bay hạm đội khác nhau — Helldiver không bao giờ có mặt trong các không đoàn tàu sân bay được phân cho tàu sân bay nhẹ.
Mặc dù Curtiss đã thực hiện vô số sửa đổi trong một giai đoạn phát triển kéo dài bất thường, Helldiver vẫn không đạt được kỳ vọng về việc vượt trội rõ rệt so với Dauntless. Tuy nhiên, sau khi các vấn đề phát triển được giải quyết, nó thực sự chứng tỏ mình là một máy bay ném bom bổ nhào có độ chính xác cao, đồng thời cho thấy khả năng chịu đựng hư hại đáng kể. Khi tiêm kích ngày càng được ưu tiên vào giai đoạn cuối chiến tranh, và khi F6F Hellcat cùng F4U Corsair chứng minh được năng lực hoạt động hiệu quả trong vai trò tiêm kích - ném bom, vai trò của Helldiver trong hoạt động trên tàu sân bay đã giảm dần. Trên thực tế, đến giai đoạn cuối của chiến tranh, một số không đoàn tàu sân bay đã loại bỏ hoàn toàn loại máy bay này khỏi biên chế.
THIẾT GIÁP HẠM LỚP YAMATO

Hình ảnh của Yamato vào tháng 7 năm 1943 (Musashi cũng có hình dạng tương tự). Vào thời điểm này, con tàu vẫn được trang 4 tháp pháo ba nòng 6,1 inch (2 tháp ở đặt giữa đường trục trung tâm con tàu, sau tháp pháo chính và 2 tháp pháo ở hai bên mạn tàu) như lần đầu được biên chế vào năm 1941. Điều khác biệt của con tàu trong năm 1943 so với lần đầu vào biên chế năm 1941 là được trang bị thêm các bệ pháo 25 mm ở xung quanh ống khói giữa con tàu như trong hình vẽ. Một đặc trưng của boong tàu Yamato so với các thiết giáp hạm khác là chúng "trống rỗng" – không có thiết bị lộ thiên. Điều này nhằm tránh tác động khủng khiếp từ luồng gió giật (blast) của pháo chính 18,1 inch. Các thiết bị cần thiết như xuồng, máy bay và paravane (thiết bị chống mìn) được giữ hoàn toàn trong các khoang được bảo vệ. Hình dạng và cấu trúc của các mặt bên thượng tầng, việc thiếu các bệ đỡ tấm nền, cùng với việc bảo vệ các vị trí điều khiển pháo phòng không bằng khiên chắn, cũng nhằm giảm luồng gió từ pháo chính cho thủy thủ đoàn.

Hình ảnh này cho thấy Musashi vào tháng 10 năm 1944 khi con tàu bị đánh chìm tại Biển Sibuyan. Con tàu thể hiện một dáng vẻ vừa thanh thoát vừa đầy uy lực, nổi bật với ba tháp pháo ba nòng cỡ 18,1 inch (460 mm), ống khói nghiêng, và cấu trúc thượng tầng lớn. Điều khó nhận ra ngay là hệ thống phòng không hùng hậu của Musashi, gồm 130 pháo phòng không 25 mm được bố trí trong 35 bệ ba nòng (phần lớn tập trung ở khu vực giữa tàu) và 25 bệ một nòng (trên boong trước và sau). Các vũ khí hạng nhẹ này được tăng cường bởi 12 khẩu pháo 5 inch Type 89 (3 bệ hai nòng có thể thấy ở giữa tàu gần ống khói) và hai tháp pháo 6,1 inch của dàn pháo hạng hai. Mặc dù hệ thống vũ khí này có thể tạo ra mật độ hỏa lực rất ấn tượng, nó đã tỏ ra kém hiệu quả trong việc bảo vệ con tàu trước một cuộc tấn công trên không kéo dài.

Hình ảnh này cho thấy Yamato vào tháng 10 năm 1944. Hệ thống pháo phòng không của Yamato lúc này bao gồm 131 pháo 25 mm và 24 pháo 5 inch, đa phần được đặt ở giữa tàu như trong hình. Khác với Musashi, các bệ pháo 25 mm của Yamato đều có khiên chắn. Boong tàu gỗ và có lẽ cả mái Tháp pháo chính số 1 được sơn màu đen để chuẩn bị cho việc đột phá ban đêm qua eo biển San Bernardino. Lớp ngụy trang vội vã này chủ yếu dựa trên muội than lấy từ ống khói trộn với dầu hoặc chất khác, được áp dụng cho cả Yamato và Musashi trong ngày 18 – 24 tháng 10 năm 1944.

Hình ảnh này mô tả Yamato vào tháng 4 năm 1945, thời điểm con tàu bị đánh chìm trên Biển Hoa Đông. Tàu vẫn giữ hình dạng cơ bản như đầu chiến tranh, ngoại trừ hệ thống phòng không được tăng cường mạnh. Con tàu vẫn giữ dáng vẻ cơ bản của hình dạng thời kỳ đầu chiến tranh, ngoại trừ một thay đổi quan trọng là hệ thống phòng không được tăng cường đáng kể. Hệ thống phòng không cuối cùng của Yamato bao gồm con số đáng kinh ngạc 152 pháo phòng không 25 mm, được bố trí trong 50 bệ ba nòng, nhiều bệ trong số này có thể thấy rõ trong hình. Sau trận vịnh Leyte, Yamato được lắp thêm 9 bệ ba nòng, phần lớn đặt ở khu vực giữa tàu, dọc theo rìa ngoài của boong lộ thiên. Các bệ này được trang bị một kiểu khiên chắn mới; ngoài ra còn có 16 bệ khác được trang bị kiểu khiên từ năm 1941. Những khiên chắn này là cần thiết để bảo vệ kíp pháo thủ khỏi áp lực sóng xung kích do các bệ pháo 5 inch gần đó tạo ra khi khai hỏa. Yamato mang 12 bệ pháo hai nòng Type 89, trong đó các bệ đặt thấp được trang bị khiên chắn sóng xung kích. Huy hiệu hoa cúc trên ống khói chỉ được mang trong Chiến dịch Ten-Go, cũng như lá cờ võ sĩ đạo treo phía dưới quốc kỳ. Lá cờ phía trên là cờ hiệu phó đô đốc, được treo cho tư lệnh đội đặc nhiệm, Phó Đô đốc Itō Seiichi.
Yamato (大和, Đại Hòa) và Musashi (武蔵, Vũ Tàng) là những thiết giáp hạm lớn nhất từng được đóng. Chúng được thiết kế không chịu bất kỳ hạn chế nào nhằm đạt được ưu thế vượt trội về chất lượng so với mọi thiết giáp hạm mà các đối thủ tiềm tàng có thể triển khai. Vì vậy, chúng được trang bị mức độ bảo vệ cao nhất có thể. Điều này sẽ được thử thách vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, khi những con tàu này không đối đầu với một thiết giáp hạm Mỹ, mà thấy vào đó là với từng đợt từng đợt máy bay từ các tàu sân bay Mỹ.
Trong suốt giai đoạn giữa hai cuộc chiến, một loạt hiệp ước hải quân buộc Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) phải liên tục tìm cách vượt qua tình trạng thua kém về số lượng so với Hải quân Mỹ. Cách tiếp cận mà người Nhật sử dụng là tạo ra những con tàu có hỏa lực và tốc độ vượt trội. Khả năng bảo vệ không phải là ưu tiên thiết kế hàng đầu của IJN, thường đứng sau hai yếu tố vừa nêu. Chỉ với những con tàu có thể khai hỏa mạnh hơn ở tầm xa vượt trội thì IJN mới nhìn thấy cách khắc phục điểm yếu về số lượng trong bất kỳ cuộc chạm trán hạm đội nào với Hải quân Mỹ.
Sự sụp đổ của hệ thống hiệp ước hải quân mang đến cho người Nhật cơ hội đẩy sở thích tạo ra những con tàu vượt trội lên một tầm cao mới. Không còn hiệp ước hải quân nào ràng buộc, Hải quân Mỹ sẽ tự do đóng tàu với tốc độ mà IJN không bao giờ có thể theo kịp. Câu trả lời của Nhật Bản là chế tạo những con tàu mạnh đến mức để IJN có thể nắm giữ ưu thế về chất lượng. Vào tháng 12 năm 1934, Nhật Bản tuyên bố sẽ từ bỏ tất cả các hiệp ước hải quân còn hiệu lực, mặc dù IJN thực sự làm điều đó vào tháng 1 năm 1937. Dù vậy, họ đã lập kế hoạch tạo ra một lớp siêu thiết giáp hạm nhằm bảo đảm lợi thế chất lượng cần thiết trước Hải quân Mỹ. Năm 1934, Bộ Tổng Tham mưu Hải quân phê chuẩn kế hoạch đóng bốn siêu thiết giáp hạm. Việc cho phép đóng hai chiếc đầu tiên, Yamato và Musashi, được đưa ra vào tháng 7 năm 1936, và hai chiếc cuối cùng được phê chuẩn vào tháng 9 năm 1939.
Thiết kế và đóng tàu
Tháng 10 năm 1934, Cục Thiết kế Tàu chiến được Bộ Tổng Tham mưu Hải quân chỉ đạo bắt đầu công việc thiết kế lớp siêu thiết giáp hạm mới. Bản thiết kế đầu tiên hoàn thành vào tháng 3 năm 1935, sau đó là thêm 22 bản nữa trước khi phương án cuối cùng được chấp nhận vào tháng 7 năm 1936. Chỉ hai tháng sau, một cuộc tái thiết kế lớn bắt đầu khi phát hiện các động cơ diesel công suất cao dự định trang bị cho con tàu bị lỗi – do đó buộc phải chuyển sang sử dụng động cơ turbine. Bản thiết kế sửa đổi hoàn tất vào tháng 3 năm 1937.
Các kiến trúc sư hải quân Nhật được Bộ Tổng Tham mưu Hải quân yêu cầu phải đưa ra một thiết kế đáp ứng các yêu cầu của IJN cho một con tàu có chín khẩu pháo 18,1 inch, giáp có khả năng chịu được hỏa lực pháo 18 inch, hệ thống bảo vệ dưới nước có thể chống được ngư lôi mang đầu đạn 660 lb, tốc độ tối đa 27 hải lý/giờ và tầm hoạt động 8.000 hải lý ở tốc độ 18 hải lý/giờ. Để đạt được điều đó, các nhà thiết kế xác định rằng siêu thiết giáp hạm phải có lượng giãn nước không dưới 69.000 tấn.

Đây là một bức ảnh khác chụp Yamato trong quá trình chạy thử trên biển vào tháng 10 năm 1941. Góc chụp chiếc siêu thiết giáp hạm này, từ phía mạn trái góc đuôi khi đang chạy tốc độ cao, có lẽ rất gần với tầm nhìn của một phi công máy bay ném ngư lôi TBM khi lao vào thực hiện một đợt tấn công.(Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato được đóng tại Kure sau khi ụ tàu ở đây được đào sâu và các giàn cần cẩu được gia cố để có thể xử lý các tấm giáp khổng lồ của con tàu. Musashi được đóng tại xưởng đóng tàu Mitsubishi ở Nagasaki. Việc mở rộng cơ sở này đòi hỏi phải kéo dài đường trượt khoảng 50 feet vào sườn đồi. Các biện pháp an ninh nghiêm ngặt được áp dụng trong quá trình đóng hai tàu đã thành công trong việc ngăn chặn Tình báo Hải quân Mỹ thu được đánh giá chính xác về kích thước và khả năng của siêu thiết giáp hạm trong suốt cuộc chiến. Năm 1939, thêm hai tàu lớp Yamato nữa được phê chuẩn. Dù chiếc đầu tiên trong số này được đặt tên là Shinano, chiếc thứ hai không bao giờ được đặt tên. Shinano dự kiến hoàn thiện với sơ đồ giáp khác và được trang bị pháo phòng không Type 98 4 inch/65 mới. Sau trận Midway, IJN quyết định hoàn thiện con tàu như một tàu sân bay. Được đưa vào hoạt động vào cuối năm 1944, Shinano bị một tàu ngầm Hải quân Mỹ đánh chìm vào ngày 28 tháng 11 trong chuyến hải trình đầu tiên. Chiếc tàu thứ tư thuộc lớp Yamato mới hoàn thành khoảng 30% trước khi công việc bị dừng lại vào tháng 11 năm 1941.
Thân tàu lớp Yamato có chiều ngang rất lớn – 127,7 ft, tổng chiều dài đạt 839 ft. Mớn nước tương đối nông đối với một con tàu có lượng giãn nước lớn như vậy. Tuy nhiên, khi đầy tải, mớn nước vẫn lên tới 35,4 ft, đồng nghĩa với việc một số cảng phải được nạo vét trước khi có thể tiếp nhận siêu thiết giáp hạm. Cuối cùng, một tính năng mới trên cả hai tàu là mũi tàu hình củ hành khổng lồ đã được thử nghiệm chứng minh làm giảm lực cản thủy động học.
Bảo vệ

Sơ đồ giáp của thiết giáp hạm lớp Yamato. Khu vực trọng yếu của tàu được bảo vệ bởi một “hộp giáp” khổng lồ. Hai bên sườn của hộp giáp này, ở phần trên, được bảo vệ bằng giáp thép Vickers tôi cứng (VH) dày 410 mm, được thiết kế để chịu được đạn xuyên giáp (AP) cỡ 46 cm bắn từ cự ly trên 20.000 m. Phần trước và sau của hộp giáp được bảo vệ bằng giáp VH dày 340–300 mm. Từ phía trên, boong giáp – nằm ở boong giữa của tàu – được chế tạo bằng thép giáp MNC (New Vickers Non-Cemented) dày 200–230 mm, tạo khả năng bảo vệ chống lại đạn AP cỡ 46 cm bắn từ cự ly 30.000 m. Boong giáp này chỉ có thể bị xuyên thủng bởi bom xuyên giáp nặng 1.000 kg thả từ độ cao 3.400 m trở lên. Một đặc điểm khác là lớp thép DS dày 9 mm, kéo dài 700 mm xuống dưới boong giáp, có nhiệm vụ bảo vệ chống lại các mảnh văng, chẳng hạn như mảnh từ bu-lông giáp và đầu đinh tán, khi boong giáp bị trúng bom hoặc đạn pháo. Ngay cả một phần của boong lộ thiên phía mũi và phía lái, nằm ngoài khu vực thành lũy bọc giáp chính, cũng được bảo vệ bằng thép CNC (đồng–niken–crôm, không thấm cacbon) dày 35–50 mm, đủ khả năng chống lại bom 250 kg do máy bay bổ nhào của đối phương thả xuống. Giáp dày cũng bảo vệ phòng máy lái chính và phòng máy lái phụ, vốn được bố trí bên ngoài khu vực thành lũy bọc giáp chính. Các phòng này tạo thành hai “hộp giáp”: hai bên phòng bánh lái chính được bảo vệ bằng giáp VC dày 350–360 mm, phần trên bằng giáp MNC dày 200 mm, còn phòng bánh lái phụ được bảo vệ bằng giáp VC dày 250–300 mm. Một đặc điểm quan trọng khác là sàn của các hầm đạn được bảo vệ bằng giáp dày 50–80 mm, kéo dài từ đáy hầm đạn xuống các khoang kín nước phía trên đáy kép của thân tàu.
Như được yêu cầu trong các thông số thiết kế, sơ đồ giáp có quy mô lớn đến mức mang lại cho lớp tàu này mức độ bảo vệ không gì sánh được. Giáp được bố trí theo nguyên lý “tất cả hoặc không gì cả” (all or nothing), với toàn bộ giáp tập trung ở pháo đài trung tâm chính để bảo vệ khu vực máy móc quan trọng và kho đạn. Phần mũi và đuôi tàu không có giáp. Để giảm thiểu phần tàu cần bảo vệ, siêu thiết giáp hạm được thiết kế với chiều rộng mạn tàu chưa từng có thay vì thân tàu dài hẹp. Điều này giảm diện tích thân tàu cần bảo vệ xuống chỉ còn 53,3% chiều sâu mớn nước.
Yamato là con tàu được bảo vệ dày nhất từng được chế tạo, với tổng trọng lượng giáp 22.534 tấn – chiếm 33,1% lượng giãn nước thiết kế của tàu chiến. Khu thành trì bọc giáp có một đai giáp chính dày 16 inch đặt nghiêng 20 độ, với một nửa nằm dưới mực nước. Đai giáp chính phần dưới dày gần 11 inch tại khu vực bảo vệ kho đạn và 8 inch xung quanh khoang máy. Hai đầu của khu vực thành trì bọc giáp được che bởi hai vách ngăn ngang dày 11,8 inch. Giáp sàn tàu dày từ 7,9 đến 9,1 inch, và được tính toán có khả năng chịu đựng bom xuyên giáp lên đến 2.200 lb (1.000 kg) thả từ độ cao 3.280 ft (1.000 m). Mặt trước các bệ tháp pháo được che chắn bởi giáp dày 21,5 inch, hai bên dày 16 inch, cả hai đều được tôi luyện đặc biệt. Ba tháp pháo chính có giáp mặt trước dày khoảng 26 inch, hai bên dày 10 inch, phía sau dày 9,5 inch và phần mái dày gần 11 inch. Tháp chỉ huy được bảo vệ bởi lớp thép dày tối đa 19,7 inch.
Các tính năng bảo vệ bổ sung bao gồm giáp dày quanh hai khoang máy lái, trong khi sàn kho đạn có giáp dày từ 2 - 3 inch để đề phòng thủy lôi hoặc ngư lôi. Ống khói được bảo vệ bởi các tấm giáp đục lỗ dày 15 inch, trong khi bề mặt nghiêng được bảo vệ bởi giáp dày hai inch để kích nổ bom trước khi chúng chạm tấm giáp đục lỗ.
Hệ thống chống ngư lôi chủ yếu dựa vào việc bố trí bầu chống ngư lôi ở mạn tàu với các khoang rỗng. Độ sâu của bầu thay đổi từ 8,5 ft ở khu vực Tháp pháo số 2 đến mức tối đa 16,4 ft ở giữa tàu.
Biện pháp kiểm soát thiệt hại
Thân tàu Yamato được chia thành 1.147 khoang kín nước – 1.065 khoang dưới sàn giáp và 82 khoang phía trên. Độ nổi dự trữ là 57.450 tấn, chiếm 80% lượng giãn nước thử nghiệm. Nếu phần mũi hoặc đuôi bị ngập, tàu được đánh giá có thể duy trì ổn định cho đến khi độ nghiêng đạt 20 độ. Người ta cũng tin rằng tàu vẫn hoạt động được ngay cả khi khoảng cách từ mặt nước đến mũi tàu giảm từ mức bình thường 33 ft xuống chỉ còn 15 ft.
Hệ thống chống ngập và bơm được thiết kế để khắc phục độ nghiêng do quả ngư lôi đầu tiên trúng trong vòng năm phút sau khi kích hoạt. Bằng cách bơm nước vào các bồn điều khiển phía đối diện, độ nghiêng 13,8 độ có thể được khắc phục. Thêm 4,5 độ nữa có thể được điều chỉnh bằng cách bơm nhiên liệu sang các bồn phía đối diện. Theo cách này, hai quả ngư lôi trúng có thể được bù đắp trong 30 phút và ba quả trong 60 phút. Bốn quả ngư lôi trúng sẽ chỉ dẫn đến độ nghiêng 5 độ sau khi hoàn tất các biện pháp kiểm soát hư hại.
Động lực
Chiều rộng mạn khổng lồ của con tàu cho phép bố trí bốn turbine chính và nồi hơi nằm song song thay vì nối tiếp dọc theo thân tàu. Điều này giảm diện tích cần giáp bảo vệ cho khu vực máy móc. Con tàu có 12 nồi hơi Kampon công suất 13.500 mã lực được sắp xếp thành ba hàng bốn nồi, mỗi nồi hơi nằm trong một phòng riêng. Bốn turbine truyền động lực Kampon được bố trí trong bốn khoang riêng, với hai chiếc ngoài mạn và hai chiếc trong mạn mỗi bên. Điều này cung cấp tổng cộng 150.000 mã lực cho bốn trục chân vịt, và chúng cho phép tàu đạt tốc độ thiết kế 27,5 hải lý/giờ. Yamato được báo cáo đã đạt hơn 28 hải lý/giờ vào tháng 6 năm 1942. Khả năng cơ động xuất sắc nhờ vào sử dụng bánh lái chính và phụ. Đường kính vòng quay chiến thuật khá gọn là 698 yard. Góc nghiêng nhỏ ngay cả khi đánh lái cực đại ở tốc độ cao khiến các tàu lớp Yamato trở thành nền tảng bắn pháo binh tốt.
Vũ khí trang bị
Trọng tâm trong thiết kế lớp Yamato là dàn hỏa lực chính với các pháo 18,1 inch – những khẩu pháo lớn nhất từng được trang bị trên một thiết giáp hạm. Mỗi khẩu nặng 162 tấn, và toàn bộ các bộ phận xoay của một tháp pháo ba nòng có tổng trọng lượng 2.774 tấn – tương đương với trọng lượng của một tàu khu trục thuộc hạm đội. Mỗi khẩu có thể bắn ra một đầu đạn khổng lồ nặng 3.219 lb. Tốc độ bắn là 1,5 phát mỗi phút. Pháo phụ gồm bốn tháp pháo ba nòng 6,1 inch. Chúng được bố trí phía trước và sau, và một tháp mỗi bên mạn. IJN từng hy vọng các tháp pháo này cũng sẽ tăng cường khả năng phòng không của tàu, nhưng chúng đã tỏ ra không đủ và cuối cùng dẫn đến việc tháo bỏ các tháp pháo bên mạn.
Khả năng phòng không tương tự các thiết giáp hạm khác được thiết kế trong thập niên 1930. Hỏa lực phòng không tầm xa được cung cấp bởi 12 pháo 5 inch lắp trong sáu bệ hai nòng. Chúng được bố trí ở khu vực giữa tàu, ba bệ mỗi bên mạn, và đặt phía trên các tháp pháo ba nòng 6,1 inch ở mạn. Theo thiết kế, lớp Yamato được trang bị 24 pháo 25mm trong tám bệ ba nòng và bốn súng máy 13mm trên tháp chỉ huy.
Lớp Yamato cũng được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất để triển khai và xử lý máy bay, với hai máy phóng loại 59 ft lắp trên boong đuôi. Tầng nhà chứa máy bay nằm dưới boong chính có thể chứa tối đa 7 thủy phi cơ, dù số lượng thực tế mang theo thường chỉ từ ba đến bốn chiếc.
Đánh giá lớp Yamato
Dù thiết kế của lớp Yamato trông hết sức đáng gờm trên giấy tờ, vẫn tồn tại những vấn đề nghiêm trọng. Hệ thống phân bố giáp bảo vệ đã chứng minh là có khuyết điểm, với toàn bộ phần mũi và đuôi tàu chỉ dựa vào việc phân khoang kín nước. Tuy nhiên, các khoang ở những khu vực này quá lớn để phương pháp này thực sự hiệu quả. Hư hại ở bất kỳ khu vực nào trong số đó đều dẫn đến ngập nước và độ nghiêng tàu, trong khi hệ thống bơm không thể xử lý được lượng nước quá lớn ở mũi và/hoặc đuôi.
Vấn đề lớn hơn nữa là mối nối giữa phần giáp đai trên và giáp đai dưới. Giải pháp – sử dụng hai loại đinh tán khác nhau – đơn giản là không đủ sức chịu đựng. Vì chúng thiếu độ bền ngang cần thiết để chống lại lực cắt từ vụ nổ, chẳng hạn như vụ nổ của ngư lôi, chúng tạo thành một điểm yếu nghiêm trọng có thể đe dọa toàn bộ tính toàn vẹn của pháo đài bọc giáp. Hiệu quả của các bầu chống ngư lôi cũng bị giảm vì chúng chỉ chứa không khí. Chúng sẽ hiệu quả hơn nếu được bơm thêm một chất lỏng nào đó, như dầu nhiên liệu, để hấp thụ một phần năng lượng từ vụ nổ. Việc thiếu chất hấp thụ năng lượng trong túi chống ngư lôi khiến phần thắt lưng giáp chính phía bên trong phải hứng chịu hầu hết lực nổ.
Vấn đề này đã được chứng minh bởi một cú trúng ngư lôi duy nhất trên Yamato từ quả ngư lôi do tàu ngầm USS Skate (SS-305) phóng vào ngày 25 tháng 12 năm 1943. Vũ khí đánh trúng phần mạn phải phía đuôi, tạo ra một lỗ thủng dài khoảng 80 feet ở khu vực tháp chỉ huy hỏa lực chính phía sau, tháp pháo 6,1 inch phía sau và phần trước của Tháp pháo Số 3. Tính toàn vẹn của thành trì bọc giáp bị phá vỡ và kho đạn của Tháp pháo Số 3 bị ngập nước, với 3.000 tấn nước tràn vào tàu. Một quả ngư lôi duy nhất đã đánh bại toàn bộ hệ thống bảo vệ dưới mặt nước của Yamato.
Khi hệ thống bảo vệ mạn tàu thất bại, thành trì bọc giáp sẽ bị xuyên thủng. Chiều rộng tối đa của túi chống ngư lôi quanh khu vực máy móc chỉ là 16,7 ft – thấp hơn đáng kể so với các thiết giáp hạm nước ngoài cùng thời kỳ. Việc thiếu độ sâu này càng trầm trọng hơn do túi chống ngư lôi được gắn trực tiếp vào thắt lưng giáp chính. Năm 1943, Hải quân Mỹ đưa vào sử dụng chất nổ mới Torpex, có sức công phá gấp đôi TNT. Điều này khiến mọi tính toán của các nhà thiết kế Yamato trở nên lỗi thời. Dù kích thước khổng lồ và lớp giáp dày khiến tàu khó bị tiêu diệt, hệ thống chống ngư lôi của Yamato vẫn là phần yếu nhất trong thiết kế. Như những gì đã xảy ra, đây lại chính là phần của hệ thống bảo vệ mà thiết giáp hạm phải chịu thử thách nhiều nhất trong chiến tranh.
Bất chấp những điểm yếu đã nêu trong chương này, lớp Yamato vẫn là một thành tựu không thể phủ nhận của các nhà thiết kế và đóng tàu chiến Nhật Bản. Chiến hạm đưa vào phục vụ cuối năm 1941 là con tàu lớn nhất, vũ trang mạnh nhất và được bảo vệ tốt nhất thế giới. Thật không may cho người Nhật, kỷ nguyên của thiết giáp hạm đang đi đến hồi kết. Chỉ vài ngày trước khi Yamato được đưa vào biên chế ngày 16 tháng 12 năm 1941, IJN đã chứng minh rõ ràng sức mạnh của máy bay hải quân bằng cách đánh chìm năm thiết giáp hạm Mỹ tại Trân Châu Cảng. Nếu vẫn còn nghi ngờ về khả năng sống sót của thiết giáp hạm trên biển trước sức mạnh không lực hải quân, thì điều đó đã bị xóa tan vào ngày 10 tháng 12 khi thiết giáp hạm hiện đại HMS Prince of Wales và thiết giáp tuần dương hạm cũ HMS Repulse của người Anh bị máy bay Nhật Bản đánh chìm ở ngoài khơi Malaya.
Trong giai đoạn thiết kế lớp Yamato, mối đe dọa chính được cho là từ các thiết giáp hạm khác, chứ không phải máy bay. Thực tế, các siêu thiết giáp hạm IJN chưa từng giao chiến với thiết giáp hạm nào khác, nhưng đến năm 1944 chúng phải đối mặt với mối đe dọa không kích dữ dội mà chúng không được thiết kế để đối phó. Kẻ thù cuối cùng của các siêu thiết giáp hạm IJN là một công cụ còn tương đối thô sơ khi các con tàu được thiết kế, và không thể lường trước được sự tiến bộ công nghệ nhanh chóng của máy bay từ tàu sân bay cùng sự thống trị sau đó của sức mạnh không lực hải quân. Khi hoàn thành, Yamato có thể là biểu tượng của IJN và của cả quốc gia, nhưng đồng thời nó cũng đã lỗi thời.
THÔNG SỐ KỸ THUẬT
TBF/TBM AVENGER
Đến năm 1944, loại máy bay ném ngư lôi duy nhất còn phục vụ trong Hải quân Mỹ là TBF/TBM Avenger. Các biến thể chính của Avenger được trình bày dưới đây.
TBF-1
Mẫu sản xuất đầu tiên do Grumman chế tạo, TBF-1 được trang bị một súng máy 0,30 inch gắn ở vỏ động cơ, cùng với một súng 0,30 inch ở vị trí bụng và một súng 0,50 inch trên tháp pháo. TBF-1 (được sản xuất 1.526 chiếc) cũng được chế tạo bởi Eastern Aircraft dưới cái tên TBM-1 (550 chiếc).
TBF-1B
Tên định danh của Hải quân Mỹ dành cho các máy bay Lend–Lease cung cấp cho Hải quân Hoàng gia Anh.
TBF/TBM-1C
Được đưa vào sử dụng năm 1943 (2.336 chiếc được chế tạo), với một số cải tiến bao gồm việc thay súng 0,30 inch ở vỏ động cơ bằng hai súng máy 0,50 inch gắn trên cánh, và bổ sung kính chống đạn cho tháp pháo. Các máy bay sản xuất muộn được trang bị bốn ray phóng rocket 5 inch dưới mỗi cánh.
TBF/TBM-1D
Biến thể chuyển đổi từ TBF/TBM-1 và -1C thành máy bay hoạt động ban đêm nhờ việc lắp thêm một radome chứa radar ASD-1 ở mép trước cánh phải.
TBM-3
Đây là phiên bản Avenger được sản xuất nhiều nhất, được trang bị động cơ mạnh hơn – Wright R-2600-20 công suất 1.900 mã lực. TBM-3 được sản xuất độc quyền bởi Eastern Aircraft, với tổng cộng 4.011 chiếc. Người ta hy vọng rằng việc bổ sung động cơ mạnh hơn sẽ cải thiện tính năng, nhưng điều này bị triệt tiêu bởi trọng lượng tăng lên của máy bay.
TBM-3D
Phiên bản ném bom ban đêm của TBM-3 với radome chứa radar ASD-1 ở mép trước cánh phải.
TBM-3E
Biến thể này (646 chiếc được chế tạo) được giới thiệu vào giai đoạn cuối chiến tranh, với khung thân được gia cường, trang bị radar tìm kiếm và loại bỏ súng bụng.
Trang bị vũ khí của Avenger
TBM-3 Avenger có hỏa lực rất mạnh, vừa có khả năng tự bảo vệ trước các tiêm kích Nhật, vừa có thể thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ bắn phá mặt đất. Góc nhìn này cho thấy hai súng máy Browning M-2 0,50 inch gắn trên cánh, mỗi khẩu có băng đạn 335 viên. Việc trang bị cho máy bay một tháp pháo điều khiển bằng điện (được phát triển bởi kỹ sư Grumman Oscar Olsen phối hợp với công ty General Electric) phục vụ mục tiêu tự vệ là một yếu tố thiết kế then chốt. Trong tháp pháo có một súng máy 0,50 inch khác, cùng với băng đạn 400 viên. Không thấy trong hình là súng máy Browning M-1919 0,30 inch ở vị trí bụng, với 5.000 viên đạn. Khi kết hợp với tải trọng vũ khí 2.000 lb trong khoang bom bên trong và 8 quả rocket cỡ 5 inch gắn dưới cánh, Avenger trở thành một nền tảng tấn công cực kỳ đáng gờm.
Buồng lái của Avenger
NGƯ LÔI MARK 13
Để có hiệu quả, một máy bay ném ngư lôi hiển nhiên phải có một loại vũ khí đáng tin cậy. Đáng tiếc cho Hải quân Mỹ, đây lại là một vấn đề khó giải quyết. Công việc trên loại ngư lôi hàng không đầu tiên của họ bắt đầu năm 1917, với Type D được tiến hành thử rơi vào năm 1918. Hai năm sau, vũ khí này được thay thế bằng ngư lôi hàng không Mark 7 lớn hơn. Phiên bản Mod B của nó có đầu nổ 319 lb, nhưng loại này quá dễ hư hỏng trong sử dụng đến mức ngư lôi phải được phóng ở góc chính xác và ở tốc độ dưới 80 knot. Nếu không, Mod B sẽ chìm hoặc chạy lệch hướng. Dù vậy, Mark 7 vẫn là ngư lôi hàng không tiêu chuẩn của Hải quân Mỹ trong phần còn lại của thập niên 1920 và sang cả thập niên 1930.
Khi loại vũ khí này cuối cùng bị đánh giá là không đạt yêu cầu, công tác thiết kế một ngư lôi mới – có thể được phóng ở tốc độ lớn hơn và đáng tin cậy hơn – được bắt đầu. Việc phát triển loại vũ khí mới (được định danh là Mark 13) khởi động năm 1930 và đến năm 1932 các chuyến chạy thử đã bắt đầu. Các thử nghiệm thả từ trên không đầu tiên diễn ra vào mùa xuân năm 1935, với 23 lần thả từ 27 tháng 5 đến 1 tháng 10 – 20 quả nữa được thử trong năm 1936. Kết quả ban đầu rất khả quan, và khi Mark 13 được đưa vào trang bị năm 1938, các thử nghiệm trong hạm đội xác nhận rằng vũ khí này đáng tin cậy và có thể được phóng ở độ cao từ 40–90 ft, với tốc độ 100 hải lý/giờ.
Mark 13 Mod 0 nguyên bản (sản xuất 156 quả) được thay thế bằng Mod 1 vào năm 1940, loại ngư lôi mới có bố trí bánh lái – chân vịt khác: Mod 0 dùng kiểu đuôi dạng ray, trong đó chân vịt nằm phía trước bánh lái, còn Mod 1 được lắp đuôi kiểu truyền thống. Tại thời điểm này, vũ khí trở nên cực kỳ thiếu ổn định: ngư lôi thường lệch sang trái sau khi vào nước và chạy sâu hơn cài đặt. Sau nhiều chỉnh sửa, Cục Quân giới nghĩ rằng các vấn đề này đã được khắc phục. Tuy nhiên, họ vẫn không tìm được cách tăng tốc độ phóng của vũ khí. Bản thân tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ của ngư lôi cũng là vấn đề lớn, bởi nhiều mục tiêu bị ngắm bắn đơn giản là có thể chạy nhanh hơn nó.
Dù loại ngư lôi này đã được thừa nhận là một loại vũ khí kém hiệu quả, với độ tin cậy đáng ngờ, nhưng các phi đội ném ngư lôi trên tàu sân bay của Hải quân Mỹ vẫn bước vào chiến tranh với Mark 13.
Phải mất thêm hai năm nữa để hoàn toàn giải quyết vấn đề độ tin cậy của Mark 13. Cuối cùng, việc này được thực hiện bằng cách bổ sung một vòng ốp (shroud ring) ở phần đuôi ngư lôi nhằm giảm khả năng di chuyển thất thường khi ngư lôi vào nước. Một cải tiến khác là việc bổ sung thêm van kích hoạt khi tiếp nước (water trip valve), giúp ngư lôi chỉ được kích hoạt chạy sau khi đã vào nước. Sửa đổi cuối cùng là một vòng hãm bằng gỗ dán gắn lên đầu nổ. Thiết bị này giúp hấp thụ xung lực khi ngư lôi chạm mặt nước, gia tăng ổn định trong hành trình và giảm độ sâu mà ngư lôi lao xuống.
Các cải tiến này sẵn sàng vào cuối năm 1944, đồng nghĩa rằng khi Hải quân Mỹ đối mặt với nỗ lực tổng lực của IJN nhằm đẩy lùi cuộc đổ bộ của Mỹ vào Philippine vào tháng 10 năm 1944, Avenger cuối cùng cũng có trong tay một loại vũ khí đáng tin cậy. Khi gặp hỏa lực phòng không dày đặc, Avenger có thể thả ngư lôi ở gần tốc độ tối đa 270 dặm/giờ của máy bay và ở độ cao an toàn hơn, lên tới 800 feet.
SB2C HELLDIVER
Sau khi các vấn đề về thiết kế và sản xuất của Helldiver được khắc phục, Curtiss tiếp tục chế tạo 5.516 chiếc, với chiếc cuối cùng được bàn giao vào tháng 10 năm 1945. Các biến thể chính của Helldiver bao gồm:
SB2C-1
Đây là phiên bản sản xuất cơ bản, thực hiện chuyến bay đầu tiên vào ngày 30 tháng 6 năm 1942, được trang bị động cơ Wright R-2600-8 công suất tối đa 1.700 mã lực. Các cuộc thử nghiệm trên tàu sân bay đầu tiên của SB2C-1 đều thảm hại, dẫn đến hàng loạt thay đổi. Cuối cùng, nó ra mắt trong chiến đấu (cùng VB-17, hoạt động từ USS Bunker Hill (CV-17)) vào tháng 11 năm 1943. SB2C-1C là biến thể sản xuất chính của “Dash 1”, tích hợp nhiều thay đổi cần thiết để khiến máy bay có thể hoạt động trên tàu sân bay. Biến thể này cũng thay cặp súng máy 0,50 inch ở mỗi cánh bằng một khẩu pháo 20mm Mk 2. Tổng cộng có 978 chiếc được sản xuất.
SB2C-2
Đây là phiên bản thử nghiệm “thủy phi cơ” của Helldiver nhưng không đi vào sản xuất.
SB2C-3
Đây là phiên bản đầu tiên tham chiến rộng rãi, với 1.112 chiếc được chế tạo. Vấn đề chính của Helldiver là việc công suất không đủ mạnh so với kích thước của nó. Phiên bản mới được trang bị động cơ nâng cấp Wright R-2600-20 công suất 1.900 mã lực, tăng tốc độ tối đa lên 294 dặm/giờ và cải thiện đôi chút tầm bay. SB2C-3 được lắp cánh quạt bốn lá mới. Cuối giai đoạn sản xuất, máy bay được trang bị phanh bổ nhào đục lỗ mới nhằm giảm hiện tượng rung lắc khi bổ nhào và cải thiện khả năng điều khiển ở tốc độ thấp. Một số máy bay được trang bị radar chặn AN/APS-4 trong một cụm gắn dưới cánh, thay cho radar tìm kiếm mặt biển ASB tiêu chuẩn; những chiếc này được gọi là SB2C-3E.
SB2C-4
Biến thể này giữ lại phanh bổ nhào và động cơ mới, đồng thời được trang bị giá phóng 8 rocket gắn dưới cánh. Những máy bay có radar được gọi là SB2C-4E. Điểm khác biệt dễ nhận biết nhất giữa “Dash 3” và “Dash 4” là phiên bản 4 có mũ chụp đầu cánh quạt (spinner). Đây là biến thể Helldiver được sản xuất nhiều nhất, với 2.045 chiếc.
SB2C-5
Phiên bản này không được sản xuất cho đến tháng 2 năm 1945, nên chỉ có rất ít chiếc kịp về các phi đội tác chiến trước ngày Nhật Bản đầu hàng. SB2C-5 vẫn dùng động cơ R-2600-20, nhưng được bổ sung 35 gallon nhiên liệu. Tổng số máy bay được sản xuất là 970 chiếc.
Trang bị vũ khí của Helldiver
Phiên bản SB2C-3 đã giải quyết phần lớn các vấn đề vốn khiến chiếc “Quái thú” mang tiếng xấu trước đó. Góc nhìn này cho thấy hệ thống vũ khí của Helldiver, bao gồm hai pháo 20 mm Mk 2 gắn trên cánh, mỗi khẩu có 800 viên đạn. Xạ thủ phía sau đảm nhiệm việc vận hành vũ khí phòng thủ chính của máy bay, gồm hai súng máy Browning M-1919 cỡ 0,30 inch gắn trên giá xoay linh hoạt, có thể bắn sang bất kỳ bên nào của máy bay. Mỗi khẩu có 2.000 viên đạn. Helldiver cũng có thể mang tối đa 2.000 lb đạn dược, dù tải trọng thông thường là hai quả bom 500 lb, hoặc một quả bom 1.000 lb, hoặc bom chìm trong các nhiệm vụ chống tàu ngầm.
THIẾT GIÁP HẠM LỚP YAMATO

Ảnh chụp Yamato vào năm 1942. Bức ảnh được tìm thấy vào 50 năm sau khi chiến tranh kết thúc.
Yamato được đưa vào hoạt động ngày 16 tháng 12 năm 1941. Chiếc thứ hai trong lớp, Musashi, nhập biên chế ngày 5 tháng 8 năm 1942. Khi hoàn thành, cả hai tàu đều có thông số kỹ thuật giống nhau như sau:
Ngoại trừ việc tăng cường radar và vũ khí phòng không, không con tàu nào trải qua bất kỳ cải biến lớn nào trong suốt chiến tranh. Khi ở Kure vào tháng 7 năm 1943, Yamato được lắp hai radar Type 21 đặt trên thước đo tầm của cấu trúc thượng tầng phía trước. Thêm vào đó, bốn pháo ba nòng 25mm Type 96 được lắp trên boong lộ thiên, nâng tổng số vũ khí 25mm lên 36 khẩu.
Những cải biến tiếp theo của Yamato diễn ra vào tháng 2 năm 1944 khi hai tháp pháo 6,1 inch bên mạn được tháo bỏ và thay thế bằng sáu bệ pháo hai nòng 5 inch Type 89 có khiên bảo vệ. Lúc này, thêm 24 bệ pháo ba nòng 25mm và 26 bệ pháo một nòng 25mm cũng được lắp đặt. Các radar Type 22 và 13 cũng được trang bị. Sau đó, từ ngày 29 tháng 6 đến 8 tháng 7 năm 1944, thêm 5 tháp bệ ba nòng 25mm nữa được lắp đặt. Vào tháng 11 năm 1944, Yamato được đưa vào ụ khô để sửa chữa hư hại trong trận Leyte. Lúc này gần như toàn bộ bệ pháo một nòng 25mm đều được tháo bỏ và thêm 9 bệ ba nòng nữa được lắp. Bộ vũ khí phòng không cuối cùng của Yamato gồm tổng cộng 152 pháo 25mm trên 50 bệ ba nòng và hai bệ pháo một nòng.
Trong quá trình hoàn thiện cuối cùng tại Kure, Musashi được lắp thêm 4 bệ pháo ba nòng 25mm. Vào tháng 9 năm 1943, hai radar Type 21 được lắp đặt, và bảy tháng sau, khi ở Kure để sửa chữa hư hại do ngư lôi, hai tháp pháo 6,1 inch trên mạn của Musashi bị tháo bỏ và thay bằng tổng cộng sáu bệ ba nòng 25mm. Các bệ ba nòng và bệ pháo một nòng bổ sung cũng được lắp đặt vào thời điểm này, nâng tổng số lên 115 khẩu và các loại radar Type 22 và 13 cũng được trang bị. Vào tháng 7 năm 1944, con tàu trải qua cải biến cuối cùng, với thêm 5 bệ ba nòng 25mm được lắp trên tàu. Hệ thống vũ khí phòng không cuối cùng của Musashi gồm 130 pháo 25mm — 35 bệ ba nòng và 25 bệ pháo một nòng.
Pháo Type 89 5in.
Pháo cao xạ Type 89 5 inch (12,7cm) được chính thức đưa vào biên chế vào tháng 2 năm 1932. Đây là loại pháo gắn trên bệ hai nòng và là pháo phòng không tầm xa tiêu chuẩn cho tất cả các tàu chiến hạng nặng của IJN, bao gồm các thiết giáp hạm lớp Yamato. IJN rất hài lòng với vũ khí này vì nó kết hợp được độ tin cậy với tốc độ nâng nòng khá nhanh, vận tốc đầu nòng lớn và đạn pháo cỡ lớn, có ba loại: đạn thường, đạn thường Type 3 (phá mảnh) và đạn chiếu sáng Shell B. Với thủy thủ đoàn được huấn luyện tốt, pháo có tốc độ bắn cao. Nhược điểm chính của vũ khí này là tầm bắn hiệu quả theo chiều cao khá ngắn, chỉ đạt 24.272 ft.

Pháo cao xạ góc cao Type 89 cỡ 5 inch là vũ khí phòng không tầm xa tiêu chuẩn của Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) trong chiến tranh. Mặc dù có các đặc tính kỹ thuật ở mức chấp nhận được, hệ thống này bị hạn chế nghiêm trọng bởi trang bị điều khiển hỏa lực kém và học thuyết tác chiến sai lầm. Các tài liệu Nhật Bản ghi nhận việc sử dụng pháo này trong các đợt không kích vào Musashi cho thấy nó được khai hỏa rất hạn chế, qua đó xác nhận rằng hệ thống gặp nhiều khó khăn trong việc bám bắt mục tiêu thực hiện bổ nhào ném bom hoặc tấn công bằng ngư lôi. (Ships of the World Magazine)
Hệ thống kiểm soát hỏa lực cho Type 89 là Hệ thống Kiểm soát Bắn Cao xạ Type 94. Mặc dù Type 94 được đưa vào biên chế năm 1934, nhưng phải đến ba năm sau mới bắt đầu sản xuất. Điều này dẫn đến tình trạng thiếu hụt hệ thống trong suốt cuộc chiến. Tuy nhiên, cả hai thiết giáp hạm lớp Yamato đều được ưu tiên trang bị Type 94, mỗi chiếc ban đầu có hai hệ thống (Yamato sau đó nhận thêm hai hệ thống nữa). Các hệ thống này được bố trí thành cặp ở hai bên mạn tàu, phía trước thượng tầng phía trước và cột buồm chính. Các tháp chỉ huy hỏa lực truyền thông tin xuống phòng kiểm soát hỏa lực nằm dưới boong bọc thép.

Hệ thống cao xạ Type 94 “Kosha Sochi” của Musashi sau đợt hiện đại hoá vào đầu năm 1943.
Mỗi tháp chỉ huy có một máy đo khoảng cách lập thể Type 94 dài 4,5m (14,76 ft) và bốn kính ngắm 3 inch. Các tháp được quay bằng điện thủy lực và nâng hạ thủ công. Tháp đo khoảng cách đến mục tiêu, cũng như độ nghiêng ngang và dọc của mục tiêu, sau đó gửi dữ liệu này đến phòng vẽ đồ, nơi một máy tính tương tự tính toán phương án bắn. Phương án này bao gồm độ nâng nòng cần thiết, độ lệch hướng và cài đặt ngòi nổ đạn mà các khẩu đội pháo cần để giao chiến thành công với mục tiêu.

Hệ thống cao xạ Type 94 “Kosha Sochi” của Yamato vào tháng 4 năm 1945.
Type 94 gặp vấn đề trong việc theo dõi mục tiêu có tốc độ cao, mất khoảng 20 giây để phát hiện mục tiêu và thêm 10–12 giây nữa để đưa ra phương án kiểm soát hỏa lực. Điều này khiến hệ thống quá chậm để đối phó với máy bay tàu sân bay của Hải quân Mỹ. Các phương án kiểm soát hỏa lực do máy tính tạo ra cũng thiếu chính xác. Trong khi pháo 5 inch của Hải quân Mỹ chứng minh là vũ khí phòng không chủ lực hiệu quả, thì các khẩu đội cùng cỡ nòng của IJN lại không hiệu quả trong vai trò này. Do đó, gánh nặng phòng không cho các tàu lớp Yamato chủ yếu rơi vào khẩu pháo phòng không tầm gần 25mm.
Pháo phòng không Type 96 25mm
Để có vũ khí phòng không tầm gần tiêu chuẩn, Nhật Bản đã chọn khẩu súng máy 25mm do công ty Hotchkiss của Pháp phát triển. IJN cải tiến vũ khí Pháp bằng cách lắp bộ giảm lóe đầu nòng, và sau đó chính thức đưa vào biên chế năm 1936 với tên gọi Pháo phòng không Type 96 25mm Model 1. Phiên bản năm 1936 được giới thiệu dưới dạng khẩu hai nòng, nhưng khẩu ba nòng ra mắt năm 1941 và khẩu một nòng vào hai năm sau đó. Vũ khí này làm mát bằng không khí. Khẩu đội ba nòng có hai động cơ điện – một cho việc quay ngang và một cho nâng nòng. Chúng có thể được điều khiển từ xa bởi bộ chỉ huy Type 95. Khẩu đội ba nòng cần 9 người vận hành, trong đó có 6 người nạp đạn.
Có bốn loại đạn khác nhau được cung cấp: đạn thường, đạn cháy, đạn xuyên giáp và đạn truy kích – thông thường cứ bốn hoặc năm viên thì có một viên truy kích. Đạn được chứa trong hộp tiếp đạn 15 viên, quá nhỏ để vũ khí có thể đạt tốc độ bắn tối đa. Vì hộp tiếp đạn phải thay liên tục, tốc độ bắn thực tế chỉ đạt 100-110 viên/phút (tính trên mỗi nòng đối với khẩu đội ba nòng).

Bộ Chỉ huy Cao xạ Tầm gần Type 95 “Shageki Sachi" của Yamato và Musashi.
Type 96 được kiểm soát bởi Bộ Chỉ huy Cao xạ Tầm gần Type 95. Đây là hệ thống tương đối đơn giản, đo tốc độ, khoảng cách và độ cao của mục tiêu để đưa ra phương án kiểm soát hỏa lực cơ bản. Về lý thuyết, nó có thể xử lý mục tiêu bay với tốc độ lên đến 560 dặm/giờ, nhưng các động cơ điều khiển trên khẩu đội không thể theo kịp tốc độ cao như vậy. Hệ thống này kém hơn so với các hệ thống tương đương của Hải quân Mỹ. Yamato có bốn bộ Type 95, được bố trí thành cặp phía trước thượng tầng phía trước và hai bên mạn tàu ngang với ống khói. Trong giai đoạn 1944–1945, một phiên bản đơn giản hóa Type 4 Mod 3 được đưa vào sử dụng, không có động cơ điều khiển. Mỗi khẩu đội ba nòng đều có kính ngắm thủ công dự phòng trong trường hợp hệ thống điều khiển từ xa bị hỏng. Các khẩu một nòng 25mm chỉ có kính ngắm vòng mở.Việc IJN chọn pháo 25mm làm vũ khí phòng không hạng nhẹ tiêu chuẩn là một lựa chọn đáng tiếc. Ngay cả người Nhật cũng nhận ra những hạn chế nghiêm trọng của nó, bao gồm tốc độ quay ngang và nâng nòng không đủ, tốc độ bắn duy trì thấp và tiếng nổ mạnh ảnh hưởng đến độ chính xác. Khẩu đơn gần như vô dụng vì chỉ có kính ngắm vòng mở không thể đối phó với mục tiêu tốc độ cao, đồng thời bản thân vũ khí khó vận hành đối với thủy thủ trung bình. Một vấn đề khác là đạn 25mm quá nhỏ để có thể hạ gục các máy bay Mỹ chắc chắn. Việc IJN không phát triển được một vũ khí lớn hơn tương đương với pháo 40mm Bofors của Hải quân Mỹ là yếu tố quan trọng dẫn đến sự dễ bị tổn thương ngày càng tăng của các tàu mặt nước Nhật Bản khi chiến tranh kéo dài.
Đạn phòng không gây cháy Type 3 18.1in.

Đạn thường 46cm loại AA 'San Shiki' Model 3. Loại đạn này ban đầu được thiết kế và chế tạo với vai trò phòng không, hoạt động như một đạn “shotgun” gây cháy. Đạn được trang bị 900 ống gây cháy (thermite bọc cao su) và 600 thanh thép. Đạn sử dụng ngòi nổ định thời, được cài đặt để kích nổ ở độ cao thích hợp; khi đó, 1.500 ống gây cháy và các thanh thép sẽ phát nổ và tỏa ra theo hình nón với góc khoảng 20°, hướng về phía các máy bay đang tiếp cận.

Chỉ trong một phần của giây sau khi bắn, vỏ đạn bị phá hủy bởi liều nổ phá mảnh, làm tăng số lượng mảnh văng của vỏ. Khoảng nửa giây sau, các ống gây cháy bốc cháy và cháy trong 5 giây ở nhiệt độ khoảng 3.000°C, tạo ra luồng lửa dài khoảng 5 m.
Đạn phòng không cháy Type 3 được đưa vào sử dụng cho pháo chính 18,1 inch của lớp Yamato vào năm 1943. Những quả đạn San-Shiki này được nhồi 996 ống thép kích thước 25mm x 90mm chứa hỗn hợp cháy. Đạn sử dụng ngòi hẹn giờ, và sau khi nổ, các ống thép sẽ bốc cháy sau nửa giây trì hoãn và cháy trong vòng 5 giây. Hải quân Đế quốc Nhật kỳ vọng đạt hiệu quả lớn từ loạt “đạn shotgun khổng lồ” này, vốn tạo ra một vùng sát thương có bán kính 397 ft. . Tuy nhiên, việc sử dụng loại đạn này có một nhược điểm, vì các vòng dẫn bằng đồng được gia công quá kém nên làm hỏng đường xoắn (rifling) của nòng pháo khi bắn. Dù trông rất ấn tượng khi khai hỏa, đạn Type 3 lại tỏ ra hoàn toàn không hiệu quả trong thực tế.
TÌNH HÌNH CHIẾN LƯỢC
Cuộc tiến công của Mỹ hướng tới Nhật Bản bắt đầu tăng tốc trong năm 1944. Chiến lược tổng thể quy định hai hướng tiến quân khác nhau. Một hướng qua vùng Trung tâm Thái Bình Dương do Đô đốc Chester Nimitz chỉ huy với tư cách Tư lệnh tối cao Hạm đội Thái Bình Dương và Khu vực Thái Bình Dương. Hướng còn lại đi qua New Guinea và tiến vào Philippines, do Tướng Douglas MacArthur cùng Lực lượng Thái Bình Dương Tây Nam đảm nhận việc đưa cuộc chiến đến với kẻ thù ở những khu vực này.
Tháng 6 năm đó, Tháng 6, lực lượng của Nimitz đổ bộ lên quần đảo Mariana, cách Nhật Bản khoảng 1.200 dặm. Trong quá trình đó, Hải quân Mỹ và IJN đụng độ trong trận chiến tàu sân bay lớn nhất lịch sử khi 15 tàu sân bay Mỹ đối đầu với chín “tàu sân bay” Nhật Bản. IJN đã tích tụ sức mạnh trong gần 18 tháng để chờ một trận “quyết chiến”, nhưng khi trận chiến xảy ra, kết quả hoàn toàn khác với kỳ vọng của họ. Trận hải chiến Biển Philippine đã đem đến thất bại nặng nề cho lực lượng tàu sân bay Nhật Bản, với ba tàu sân bay bị đánh chìm và các không đoàn trên những tàu còn lại gần như bị tiêu diệt hoàn toàn. Sau thất bại nặng nề này, lực lượng tàu sân bay IJN không còn khả năng hỗ trợ cho nỗ lực lớn tiếp theo của Nhật Bản nhằm ngăn chặn cuộc tiến công của Mỹ. Điều này đã định hình kế hoạch hành động hạm đội tiếp theo của IJN, và trực tiếp ảnh hưởng đến số phận của các thiết giáp hạm lớp Yamato.
Đến tháng 7 năm 1944, trọng tâm tương lai của cuộc tiến công Mỹ ở Thái Bình Dương vẫn chưa được quyết định. Nimitz và MacArthur có những ý kiến khác nhau về cách tiến hành, và sự cạnh tranh giữa các quân chủng khiến không ai có thể phục vụ dưới quyền người kia. MacArthur chủ trương tiến qua Philippine trước khi tấn công quần đảo chính quốc Nhật Bản. Ngày dự kiến cho các cuộc đổ bộ đầu tiên là vào ngày 15 tháng 11 tại Mindanao, phía nam Philippine. Nimitz, được sự ủng hộ của cấp trên là Đô đốc Ernest King – Tư lệnh Tác chiến Hải quân, cho rằng việc tấn công qua Philippine sẽ kéo dài và gây tốn kém. Thay vào đó, họ đề xuất việc xâm chiếm Formosa (Đài Loan) và một căn cứ trên bờ biển Trung Quốc. Điều này sẽ cắt đứt các tuyến hàng hải của Nhật Bản với các khu vực giàu tài nguyên Đông Nam Á và cho phép lực lượng Đồng minh phong tỏa và bóp nghẹt Nhật Bản.
Mặc dù kế hoạch của Hải quân Mỹ táo bạo hơn, chiến lược của MacArthur lại truyền thống và cuối cùng khả thi hơn. Trong khi đó, các sự kiện tại Trung Quốc đã làm suy yếu phương án của Nimitz–King khi cuộc tấn công của người Nhật (Chiến dịch Ichi-Go) bắt đầu vào tháng 4 năm 1944 đã đạt được nhiều thắng lợi, khiến khả năng thiết lập một căn cứ Mỹ trên lãnh thổ do Trung Quốc kiểm soát trở nên khó thả khi. Tháng 6 năm 1944, MacArthur trình lên kế hoạch sửa đổi, yêu cầu đổ bộ Mindanao vào ngày 25 tháng 10, tiếp theo là đổ bộ Leyte ở trung tâm Philippine vào ngày 15 tháng 11. Sau đó sẽ là cuộc đổ bộ lớn vào đảo chính Luzon vào ngày 9 tháng 1 năm 1945.
Trong khi Hải quân Mỹ vẫn kiên quyết giữ kế hoạch sửa đổi nhằm chiếm Formosa, quyết định chọn chiến lược nào đã được giao cho Tổng thống Franklin D. Roosevelt đưa ra khi ông thực hiện chuyến thị sát Hawaii vào tháng 7 năm 1944. MacArthur đã ở trạng thái thuyết phục tốt nhất khi gặp Tổng tư lệnh, đưa ra lập luận mạnh mẽ cho lựa chọn Philippines bằng cách nhấn mạnh rằng chiến lược đúng đắn và danh dự quốc gia đòi hỏi phải thực hiện nó. Dù cuộc gặp diễn ra thuận lợi cho MacArthur, chi tiết của chiến lược tiếp theo vẫn thuộc về Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân. Tư duy của họ được phản ánh trong lịch trình được trình bày tại hội nghị Tham mưu trưởng Liên quân ở Quebec, Canada, bắt đầu từ ngày 11 tháng 9. Mindanao vẫn là mục tiêu đầu tiên, với ngày đổ bộ ưu tiên là 15 tháng 11, tiếp theo là Leyte vào ngày 20 tháng 12. Từ đó, sẽ tấn công Luzon hoặc Formosa.
Ngay sau khi lịch trình này được thống nhất, các sự kiện đã buộc phải thay đổi ngay lập tức. Khi Lực lượng Tàu sân bay tốc độ cao (Lực lượng Đặc nhiệm 38 - TF 38) dưới quyền Đô đốc William Halsey tiến hành các cuộc không kích chuẩn bị tại Philippines, sự kháng cự của Nhật tỏ ra yếu ớt hoặc gần như không tồn tại. Ngày 13 tháng 9, Halsey đề nghị với Nimitz rằng cuộc đổ bộ lên Mindanao là không cần thiết và và thay vì vậy thì việc thực hiện các cuộc đổ bộ đầu tiên ở Philippines sẽ diễn ra tại Leyte. Việc đẩy sớm lịch trình hai tháng này nhanh chóng được phê chuẩn và cuộc đổ bộ Leyte được ấn định vào ngày 20 tháng 10.
Hải quân Mỹ đã tập hợp một lực lượng áp đảo cho cuộc tấn công Leyte, với quân đội và trang bị của họ được đưa lên các tàu thuộc Hạm đội 7. Hạm đội này cũng điều động một số lượng lớn tàu sân bay hộ tống để cung cấp hỗ trợ mặt đất và yểm trợ không quân tại chỗ. Cuối cùng, một lực lượng gồm các thiết giáp hạm cũ cũng được tập hợp để đối phó với các cuộc xâm nhập hải quân địa phương của Nhật Bản.
Lực lượng hải quân Mỹ chính cho chiến dịch được đặt dưới quyền Hạm đội 3 do Halsey chỉ huy, và thành phần tác chiến chính là TF 38. Lực lượng này được chia thành bốn nhóm đặc nhiệm từ TG 38.1 đến TG 38.4. Mỗi nhóm đều là một lực lượng mạnh mẽ với bốn hoặc năm tàu sân bay cùng tàu hộ tống. Tổng sức mạnh của TF 38 gồm 9 tàu sân bay hạm đội, 8 tàu sân bay nhẹ, 6 thiết giáp hạm, 4 tàu tuần dương hạng nặng, 10 tàu tuần dương hạng nhẹ và khoảng 58 tàu khu trục. Đây là lực lượng hải quân mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, và có khả năng đối phó với bất cứ thứ gì mà IJN có thể tung vào trận địa. Nhiệm vụ của TF 38 là hỗ trợ cuộc đổ bộ bằng hàng loạt cuộc không kích trước khi đổ bộ trên toàn Philippine, và sau khi đổ bộ đã diễn ra, tiêu diệt bất kỳ lực lượng hải quân hay không quân Nhật Bản nào đe dọa cuộc đổ bộ. Nếu hạm đội IJN thực sự xuất hiện, thì việc tiêu diệt nó sẽ trở thành nhiệm vụ hàng đầu của Halsey.
NHỮNG KẾ HOẠCH CỦA NGƯỜI NHẬT
Người Mỹ nghi ngờ rằng cuộc đổ bộ vào Philippine sẽ kéo theo phản ứng của Nhật Bản, nhưng họ không biết rằng IJN đã quyết định thực hiện một nỗ lực tối thượng. Gần như mọi tàu chiến còn lại đều được phân công vai trò trong kế hoạch phòng thủ, và từ đó dẫn đến kết quả là trận hải chiến lớn nhất trong lịch sử hải quân.
Trong khi người Mỹ còn tranh luận về mục tiêu tiếp theo sau khi chiếm quần đảo Mariana, thì người Nhật không hề nghi ngờ rằng Philippine sẽ là mục tiêu. Họ không biết chính xác hòn đảo nào sẽ là trọng tâm của cuộc đổ bộ Mỹ, nhưng chắc chắn Philippine là bước tiếp theo và cuộc đổ bộ sẽ diễn ra vào giữa tháng 11 (đúng với kế hoạch ban đầu của Mỹ). Do đó, Philippine được ưu tiên hàng đầu trong chuẩn bị cho trận chiến tiếp theo, và để bảo vệ khu vực này, Nhật Bản quyết định tiến hành một “trận quyết chiến tổng lực”. Nhật Bản không có lựa chọn nào khác, vì nếu Philippine rơi vào tay quân Mỹ, các tuyến hàng hải với khu vực giàu tài nguyên Đông Nam Á sẽ bị cắt đứt. Điều này sẽ bóp nghẹt nền kinh tế chiến tranh của Nhật Bản và khiến IJN không còn dầu để hoạt động. Thà đưa hạm đội ra trận còn hơn để nó mục nát dần.
Sau trận Biển Philippine vào tháng 6 năm 1944, các lực lượng mặt nước chính của IJN trở về Vịnh Lingga, phía nam Singapore, để huấn luyện cho trận chiến sắp tới và quan trọng hơn là gần nguồn dầu nhiên liệu. Tuy nhiên, lực lượng tàu sân bay bị tan tác lại về quần đảo chính quốc Nhật Bản, nơi IJN bắt đầu xây dựng lại các không đoàn tàu sân bay mới ở Biển Nội địa. Nếu cuộc tấn công của Mỹ bị trì hoãn đến tháng 11, các không đoàn này sẽ sẵn sàng, cho phép các tàu sân bay cũng triển khai đến Lingga để hội quân với lực lượng mặt nước. Thật không may cho IJN, người Mỹ không di chuyển theo lịch trình mà Nhật Bản mong muốn. Đầu tháng 10, Nhật Bản sửa đổi dự đoán tình báo, cho rằng cuộc đổ bộ của Mỹ vào Philippine sẽ diễn ra tại Leyte trong 10 ngày cuối tháng.
Kế hoạch cho trận quyết chiến bảo vệ Philippine được gọi là Sho-Go (Chiến dịch Thắng lợi). Có nhiều phiên bản kế hoạch để đối phó với đổ bộ tại Philippine, Đài Loan-Ryukyu, Honshu-Kyushu và Hokkaido-Kuril. Sho-1 là kế hoạch dành cho Philippine, và đây là kế hoạch mà người Nhật cho là có khả năng cao nhất sẽ được kích hoạt. Do lực lượng tàu sân bay của IJN vẫn đang phục hồi sau thất bại hồi tháng 6, và không quân trên bộ của Nhật tại Philippine không đủ mạnh, nên thành công của Sho-1 phụ thuộc chủ yếu vào các lực lượng mặt nước hạng nặng.
Trọng tâm của kế hoạch là đưa Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất tiến vào Vịnh Leyte để tấn công hạm đội đổ bộ của Mỹ. Lực lượng này do Phó Đô đốc Kurita Takeo chỉ huy, bao gồm một tập hợp các tàu chiến hết sức đáng gờm. Dưới quyền Kurita có 7 thiết giáp hạm (trong đó có Yamato và Musashi), 11 tàu tuần dương hạng nặng, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ và 19 tàu khu trục. Lực lượng này được chia thành ba phân đội.

Đội hình của hai phân đội của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ nhất do Phó Đô đốc Kurita chỉ huy (đặt soái hạm ở Atago). Hai bộ phận đầu này bao gồm 5 thiết giáp hạm (Yamato, Musashi, Nagato, Haruna, Kongo), 10 tàu tuần dương hạng nặng (Atago, Takao, Choai, Tone, Chikuma, Kyoko, Harugo, Maya, Kumano, Suzya), 2 tàu tuần dương hạng nhẹ (Noshiro, Yahagi) và 15 tàu khu trục, sẽ đi vào Biển Sibuyan, xuyên qua eo biển San Bernardino để ra Biển Philippine, rồi tiến vào Vịnh Leyte từ phía bắc.
Hai phân đội đầu, với 5 thiết giáp hạm, 10 tàu tuần dương hạng nặng, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ và 15 tàu khu trục, do Kurita trực tiếp chỉ huy, được giao nhiệm vụ vượt qua Biển Sibuyan, đi qua eo biển San Bernardino vào Biển Philippines, rồi tiến vào Vịnh Leyte từ phía bắc. Bộ phận thứ ba, gồm hai thiết giáp hạm chậm nhất, một tàu tuần dương hạng nặng và bốn tàu khu trục, do Phó Đô đốc Nishimura Shoji chỉ huy, sẽ vượt qua eo biển Surigao và tiến vào Vịnh Leyte từ phía nam, đồng thời với lực lượng của Kurita. Một lực lượng nhỏ hơn khác, hoạt động độc lập dưới quyền Phó Đô đốc Shima Kiyohide, được chỉ định là Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Hai. Lực lượng này cũng được lệnh tiến vào vịnh Leyte qua eo biển Surigao. Tính chất lộn xộn trong việc lập kế hoạch của Nhật Bản vào giai đoạn này của cuộc chiến đã khiến Shima và Nishimura không phối hợp cùng hoạt động được, dù lực lượng của họ sẽ đi qua cùng một vùng nước hẹp hướng tới cùng một mục tiêu.

Các tàu sân bay còn lại của IJN, được tập hợp thành lực lượng mang tên Chủ lực (Main Body), đã được đưa vào trận trong Chiến dịch Sho-Go dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Jisaburō Ozawa. (US Navy)
Để có thể đưa các lực lượng mặt nước di chuyển, Nhật Bản phải tìm cách vô hiệu hóa hoặc lôi kéo lực lượng Hạm đội 3 của Halsey ra xa. Phương án ưu tiên là sử dụng không quân trên bộ, nhưng tình trạng yếu kém của không quân trên bộ của IJN tại Philippine khiến lựa chọn này ít có cơ hội thành công. Toàn bộ máy bay còn hoạt động được tại Philippine sẽ được dùng để tấn công tàu sân bay Mỹ, không còn tiêm kích nào để yểm trợ trên đầu lực lượng mặt nước của Kurita. Phương án hứa hẹn nhất để vô hiệu hóa lực lượng của Halsey là sử dụng các tàu sân bay còn lại của Nhật Bản, được chỉ định là Lực lượng Chủ lực và do Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa chỉ huy, để dụ các tàu sân bay Mỹ ra phía bắc. Điều này sẽ cho phép lực lượng của Kurita đi qua Biển Sibuyan mà không bị cản trở.
Lực lượng Chủ lực của Ozawa gồm một tàu sân bay hạm đội, ba tàu sân bay nhẹ, hai thiết giáp hạm đã được cải tạo thành tàu sân bay lai bằng cách tháo bỏ các tháp pháo chính phía sau và thay bằng sàn đáp ngắn, ba tàu tuần dương hạng nhẹ và tám tàu khu trục. Đây là một lực lượng hầu như không có sức chiến đấu, vì toàn bộ các tàu chỉ mang theo 116 máy bay – tương đương sức mạnh của không đoàn trên một tàu sân bay hạm đội Mỹ duy nhất. Tuy nhiên, lực lượng của Ozawa vẫn được giao một vai trò then chốt trong Sho-1, bởi sự sống còn của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất của Kurita phụ thuộc vào việc Lực lượng Chủ lực có thể giữ chân được TF 38 hay không.
Kế hoạch này tồn tại những điểm yếu nghiêm trọng. Điểm yếu đầu tiên là tiền đề cho rằng các lực lượng mặt nước có thể hoạt động không có yểm trợ đường không, di chuyển trên quãng đường dài dưới sự tấn công của không quân đối phương mà vẫn đạt được mục tiêu. Một điểm yếu quan trọng khác là sự không chắc chắn về thời điểm và địa điểm chính xác của cuộc đổ bộ của người Mỹ. Sự không chắc chắn này khiến không thể đưa hạm đội ra trận cho đến khi cuộc đổ bộ đã bắt đầu. Kết quả là các tàu của IJN không thể tấn công cuộc đổ bộ trong giai đoạn dễ bị tổn thương nhất. Thực tế, ngay cả khi mọi việc vẫn diễn ra theo đúng kế hoạch, họ cũng sẽ đến nơi muộn hơn bốn ngày. Điều này thực chất có nghĩa là IJN đang tung sức mạnh còn lại vào một trận đánh với tỷ lệ bất lợi cao chỉ để tấn công các tàu vận tải đã trống rỗng.
Một khuyết điểm tiềm ẩn khác là kế hoạch đòi hỏi sự phối hợp cực kỳ chặt chẽ giữa các lực lượng phân tán trên khu vực rộng lớn. Tính chất phức tạp của Sho-1 là điển hình cho phong cách lập kế hoạch tác chiến của IJN, và cũng giống như trong mọi chiến dịch lớn trước đó, các lực lượng tại Leyte sẽ gặp phải những vấn đề nghiêm trọng về thông tin liên lạc và phối hợp, đặt toàn bộ kế hoạch vào tình trạng rủi ro. Xét tổng thể, Sho-1 không có khả năng đảo ngược cục diện chiến tranh, mà chỉ mạo hiểm dẫn đến sự hủy diệt hoàn toàn của IJN. Lẽ ra, IJN sẽ tốt hơn nếu chờ đến cuộc đổ bộ của Mỹ vào Luzon (ngày 9 tháng 1) rồi mới đưa hạm đội ra trận, nhờ đó các đơn vị không quân trên bộ và tàu sân bay có thêm 10 tuần để tăng cường sức mạnh. Nhưng đáng tiếc, giờ đây xúc xắc đã được gieo.
Sau khi bị giữ dự bị suốt cả chiến tranh, những thiết giáp hạm lớn nhất thế giới cuối cùng sẽ được đưa vào một hành động quyết định. IJN hy vọng rằng, cuối cùng, Yamato và Musashi sẽ chứng minh rằng những khoản đầu tư khổng lồ vào thiết kế và chế tạo chúng là xứng đáng.
NHỮNG NGƯỜI THAM CHIẾN
PHI CÔNG TÀU SÂN BAY HẢI QUÂN MỸ
Chương trình huấn luyện quy mô lớn dành cho lực lượng hàng không hải quân Mỹ được triển khai sau Trân Châu Cảng là một kỳ tích về tổ chức. Khi đào tạo ra hàng chục nghìn phi công trình độ cao, chương trình này đáp ứng được yêu cầu của một cuộc chiến tiêu hao kéo dài. Kế hoạch ban đầu là đào tạo 20.000 phi công hải quân mỗi năm. Vào tháng 2 năm 1942, một chương trình huấn luyện kéo dài 11 tháng rưỡi được thông qua. Sau khi hoàn tất giai đoạn trung cấp, phi công được trao phù hiệu cánh bay và phong quân hàm. Từ đó, huấn luyện tác chiến tập trung vào các kỹ năng cần thiết cho từng loại máy bay và đào tạo phi công đáp xuống tàu sân bay. Khi kết thúc giai đoạn huấn luyện tác chiến, phi công hải quân mới có khoảng 350 giờ bay.
Việc chuẩn bị thực sự cho chiến đấu bắt đầu khi phi công mới được biên chế vào một phi đội thuộc một không đoàn tàu sân bay đang chuẩn bị triển khai sang Thái Bình Dương. Tại đây, phi công học được chiến thuật và kỹ năng dành cho chiến đấu thực tế. Thời gian để nâng cao năng lực cho một không đoàn tàu sân bay là rất lớn, ngay cả khi tính thêm gần một năm đào tạo mà phi công mới đã trải qua. Ví dụ: Không đoàn tàu sân bay số 18 được thành lập ngày 20 tháng 7 năm 1943 dưới quyền chỉ huy của cựu binh chiến đấu, Trung tá Hải quân William Ellis. Ba phi đội được biên chế vào không đoàn ban đầu hoạt động như các đối thủ cạnh tranh, nhưng quá trình huấn luyện liên tục cuối cùng đã biến họ thành một tập thể phối hợp nhịp nhàng khi, ngày 24 tháng 2 năm 1944, họ rời California đến Hawaii. Ba phi đội tiếp tục huấn luyện tích cực khi đến Trung tâm Thái Bình Dương, nhưng họ gặp vấn đề trong việc thực hiện các hoạt động hiệp đồng – điều tối quan trọng để tiến hành hiệu quả các chiến thuật tấn công phối hợp vào tàu đối phương. Đến tháng 7, Không đoàn số 18 chính thức được triển khai lên tàu sân bay lớp Essex USS Intrepid (CV-11) và gần như lập tức tham chiến.
Đến năm 1945, Hải quân Mỹ bắt đầu cảm thấy thiếu hụt phi công hải quân mới. Quyết định giảm số lượng phi công đưa vào hệ thống huấn luyện trong năm trước – với kỳ vọng chiến tranh sắp kết thúc – giờ trở thành một sai lầm đáng xấu hổ và phải đảo ngược. Dù gặp phải trục trặc này, nhunchất lượng huấn luyện hàng không hải quân vẫn duy trì ở mức cao. Các không đoàn tàu sân bay được chỉ huy bởi các cựu binh chiến đấu, và các phi công mới lần đầu tham chiến có trung bình 525 giờ bay tích lũy.
Tuy nhiên, vào cuối năm 1944, đã xuất hiện dấu hiệu căng thẳng trong các đơn vị hạm đội, khi nhiều không đoàn tàu sân bay gặp khó khăn trong việc hoàn tất các đợt tác chiến sáu tháng theo quy định vì nhịp độ hoạt động quá cao tại Thái Bình Dương. Điều này, cùng với mối đe dọa kamikaze ngày càng tăng, nhanh chóng gây ra mệt mỏi chiến đấu và buộc phải đưa các phi công thay thế khẩn cấp vào phi đội khi họ vẫn còn đang ở trên tàu. Dù vậy, các phi công hải quân đã đối đầu với Yamato và Musashi vẫn là những người xuất sắc nhất thế giới.
CHIẾN THUẬT TẤN CÔNG TÀU CHIẾN CỦA HẢI QUÂN MỸ
Đến năm 1944, các không đoàn tàu sân bay của Hải quân Mỹ đã có một học thuyết tấn công mục tiêu hải quân Nhật Bản được luyện tập nhuần nhuyễn và chứng minh hiệu quả. Yếu tố then chốt là tung ra một đòn tấn công hiệp đồng gồm tiêm kích, máy bay ném bom bổ nhào và máy bay phóng ngư lôi nhằm áp đảo hệ thống phòng thủ của mục tiêu. Trong giai đoạn đầu chiến tranh, điều này thường xuyên là một thách thức đối với các không đoàn tàu sân bay Mỹ, nhưng đến năm 1944, các khó khăn về thông tin liên lạc và học thuyết đã được khắc phục, cho phép tiến hành tấn công hiệp đồng một cách thường xuyên. Mỗi không đoàn tàu sân bay tiến hành cuộc tấn công của riêng mình, mặc dù đến năm 1944 thường có một điều phối viên tấn công chung để chỉ thị cho máy bay đánh vào mục tiêu tốt nhất và tránh tập trung quá nhiều hoặc quá ít vào một mục tiêu.
Chiến thuật tấn công thực tế rất đơn giản. Các máy bay Hellcat bay trước đội hình tấn công để đối đầu với tiêm kích Nhật trên khu vực mục tiêu. Khi đường đã thông thoáng, các máy bay Helldiver sẽ tấn công trước. Quy trình bổ nhào tiêu chuẩn bắt đầu bằng tiếp cận nông từ độ cao 20.000 ft và chuyển vào góc bổ nhào dốc trong khoảng 15.000 ft đến 12.000 ft. Phi đoàn 18 chiếc Helldiver được chia thành ba phân đội, mỗi đội sáu chiếc, áp đảo mục tiêu bằng cách tiếp cận từ các hướng khác nhau. Lý tưởng nhất, con tàu được tấn công dọc theo trục dọc của nó, nhằm tạo ra mục tiêu lớn nhất có thể và cũng là lý do các tàu Nhật thường thực hiện các cơ động né tránh hình vòng tròn để buộc phi công ném bom bổ nhào phải đối mặt với trục mục tiêu thay đổi liên tục. Cú bổ nhào thường được thực hiện ở góc 65–70 độ, và quả bom 1.000 lb được thả ở độ cao 1.500–2.000 ft so với mục tiêu.
Sau khi xua đuổi bất kỳ máy bay Zero-sen nào có mặt, các tiêm kích cũng đóng vai trò trong giai đoạn tấn công. Từ độ cao tuần tra 10.000 ft, chúng bổ nhào và quần thảo mục tiêu để giảm hỏa lực phòng không và phân tán sự chú ý khỏi các máy bay phóng ngư lôi.
Yếu tố then chốt trong cuộc tấn công nhằm vào các tàu bọc giáp nặng như Yamato hoặc Musashi chính là phần cuối của đòn đánh phối hợp – cuộc tấn công bằng ngư lôi. Đến năm 1945, Hải quân Mỹ đã hoàn thiện chiến thuật tấn công bằng ngư lôi dựa trên kinh nghiệm thử nghiệm và sai số trong chiến đấu. Các cuộc tấn công thời đầu chiến tranh vốn bay thấp và chậm đã được thay thế bằng chiến thuật mới nhấn mạnh vào tốc độ cao và độ cao lớn hơn khi tiếp cận, qua đó tăng đáng kể khả năng sống sót cho máy bay tấn công. Các thử nghiệm cho thấy hồ sơ tấn công tốt nhất là tốc độ hải lý/giờ từ độ cao 800 ft. Điều này làm tăng khả năng ngư lôi Mark 13 hoạt động đúng như thiết kế. Với cấu hình này, Hải quân Mỹ kỳ vọng 92% số ngư lôi sẽ hoạt động bình thường.
Kiểu tấn công ưa thích gọi là tấn công “cái đe” (anvil attack), theo đó các máy bay Avenger tiếp cận mục tiêu cùng lúc từ hai bên mũi tàu, khiến mục tiêu gần như không thể cơ động tránh mà không tự mở sườn cho một trong hai hướng tấn công. Đối với phi công Avenger, thực hiện đúng hồ sơ phóng vũ khí đòi hỏi kỹ năng bay tốt và luyện tập liên tục. Phi công phải ước lượng tốc độ, độ cao và góc bổ nhào, sau đó thả ngư lôi ở cự ly chính xác. Góc bổ nhào là yếu tố then chốt – ngư lôi cần được thả trong một cú bổ nhào nông để đạt độ tin cậy tối đa. Nếu góc quá dốc, ngư lôi có thể hỏng khi rơi xuống nước; nếu góc quá thoải, hệ thống điều khiển của ngư lôi có thể không hoạt động đúng. Nếu mọi thông số đều chuẩn và Avenger tiếp cận ở tốc độ hải lý/giờ và độ cao 800 ft, điều đó có nghĩa là ngư lôi sẽ rơi trong 7 giây ở góc 28 độ, vượt qua khoảng cách 3.000 ft từ lúc tách khỏi máy bay cho đến khi chạm mặt nước.
Để bảo đảm ngư lôi được vũ trang, nó phải chạy được 1.200 ft trước khi đánh trúng mục tiêu. Việc thả ở cự ly này cũng giúp giảm thời gian mà mục tiêu có thể dùng để cơ động né tránh. Điều này có nghĩa là cự ly thả chính xác là 4.200 ft (1.400 yard) tính từ vị trí mà phi công ước tính mục tiêu sẽ ở đó.
Việc ước lượng khoảng cách tới mục tiêu cũng đòi hỏi kỹ năng, và các phi công hải quân thường đánh giá thấp khoảng cách thực. Để tránh những sai sót như vậy, phi hành đoàn được hỗ trợ bởi radar trang bị trên Avenger, radar này có thể cung cấp cự ly tới mục tiêu khi máy bay tiếp cận. Nếu ngư lôi được thả quá sớm, mục tiêu sẽ có nhiều thời gian để né tránh. Nếu thả quá muộn, ngư lôi sẽ không kịp vũ trang. Một con mắt được huấn luyện cũng có thể xác định thời điểm thả khi tấn công một con tàu đang cơ động né tránh, bởi luyện tập cho phép phi công hiểu tàu có thể đổi hướng nhanh thế nào và mất bao nhiêu tốc độ khi làm vậy.
Trong một lượt tấn công thực tế, thao tác này thường phải được thực hiện trong lúc Avenger chịu hỏa lực của đối phương. Để làm cho pháo thủ Nhật khó ngắm chính xác, phi công sẽ di chuyển chiếc TBM sang hai bên và thỉnh thoảng thay đổi độ cao. Tuy nhiên, máy bay phải ổn định trong vài khoảnh khắc trước khi thả ngư lôi. Khi vũ khí đã rời khỏi máy bay, Avenger sẽ nghiêng gấp và lượn sát mặt biển cho đến khi ra khỏi tầm bắn của pháo Nhật. Bất chấp sự phát triển của các chiến thuật này, máy bay ném ngư lôi của Hải quân Mỹ vẫn bị hạn chế bởi độ tin cậy thấp của chính vũ khí của họ trong giai đoạn đầu chiến tranh.
Trường hợp đầu tiên của một cuộc tấn công bằng ngư lôi trong chiến đấu là ngày 10 tháng 3 năm 1942, khi các máy bay TBD của VT-2, biên chế trên tàu sân bay USS Lexington (CV-2), tấn công một lực lượng xâm lược của Nhật đang hướng đến New Guinea, ngoài khơi Lae và Salamaua. Cuộc tấn công khiến Nhật bị bất ngờ, nên mục tiêu không có tiêm kích yểm hộ và đang di chuyển chậm. Dù vậy, chỉ một tàu vận tải bị đánh chìm bởi 13 quả ngư lôi được thả ra. Ngày 4 tháng 5, các máy bay TBD của VT-5 từ USS Yorktown (CV-5) tấn công các tàu Nhật đang neo đậu ngoài khơi Tulagi và các đảo gần đó. Lần này, trong số 22 quả ngư lôi thả ra qua hai đợt tấn công, chỉ một quả đánh trúng.
Điểm sáng nhất trong “sự nghiệp đầu chiến tranh” của Mark 13 được ghi nhận ba ngày sau, khi 22 chiếc TBD tấn công tàu sân bay hạng nhẹ Shoho. Đợt đầu gồm 12 chiếc TBD của VT-2 có thời gian để thiết lập một cuộc tấn công kiểu “cái đe” (anvil) nhờ hỏa lực phòng không ít ỏi và không có tiêm kích đối phương. Chín quả trúng đích được tuyên bố và năm quả được xác nhận, bởi máy bay ném ngư lôi có lợi thế là tấn công một mục tiêu đã đứng yên sau đòn ném bom bổ nhào trước đó. Khi 10 chiếc TBD từ Yorktown đến nơi, tất cả đều xếp hàng tấn công từ mạn phải và ghi thêm vài cú đánh trúng ở cự ly gần.
Những sự kiện ngày 7 tháng 5 cho thấy ngư lôi Mark 13 có thể hoạt động nếu TBD thực hiện đường tấn công tốc độ thấp (dưới 110 hải lý/giờ) ở độ cao thấp. Tuy nhiên, điều này không thể thực hiện nếu mục tiêu có bất kỳ hình thức phòng thủ nào. Ngoài ra, ngư lôi của VT-2 là loại Mod 0 cũ hơn nhưng lại đáng tin cậy hơn.
Ngày hôm sau, sự kết hợp giữa Devastator và Mark 13 cho thấy những giới hạn của nó trong một môi trường giao tranh dữ dội hơn. Lần này, mục tiêu là tàu sân bay hạm đội nhanh và được bảo vệ tốt Shokaku. Không đoàn trên Yorktown được huấn luyện tốt đã thực hiện một cuộc tấn công phối hợp, với các TBD tiếp cận ngay khi các máy bay ném bom bổ nhào tấn công – chín chiếc Devastator thả ngư lôi từ cự ly 1.000–2.000 yard nhưng không quả nào trúng, và nhiều quả chạy lệch hướng rõ ràng. Mười một chiếc TBD từ Lexington tấn công Shokaku còn tệ hơn, vì con tàu thậm chí có thể chạy nhanh hơn cả ngư lôi!
Thảm họa ở trận Biển San Hô còn được tiếp nối bằng một tai họa còn lớn hơn – đòn kết thúc sự nghiệp chiến đấu đẫm máu của TBD. Trong số 41 chiếc TBD được ba phi đội tung ra để tấn công lực lượng tàu sân bay Nhật trong trận Midway tháng 6 năm 1942, chỉ có 11 chiếc kịp thả vũ khí – vốn dễ dàng bị tránh né – và chỉ sáu chiếc sống sót trước tiêm kích đối phương.
Máy bay Avenger cũng không đạt được thành công nào với ngư lôi trong hai trận đánh tàu sân bay thuộc chiến dịch Guadalcanal. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 11 năm 1942, nó chứng minh rằng trong điều kiện lý tưởng, các cuộc tấn công bằng ngư lôi vẫn có thể hiệu quả. Đêm hôm trước, thiết giáp hạm Hiei của Hải quân Nhật đã bị hư hại trong một trận đánh mặt biển và mất khả năng cơ động vì bị hỏng buồng lái. Người Mỹ đã thực hiện 70 phi vụ suốt cả ngày nhằm tiêu diệt con tàu, và trong số đó có cả các máy bay Avenger mang ngư lôi Mark 13. Mặc dù Hiei là một trong những thiết giáp hạm cũ nhất của Nhật và gần như không còn khả năng cơ động hay được che chở, nó vẫn khó bị đánh chìm. Các máy bay Avenger ghi hai quả trúng vào đầu ngày, nhưng con tàu không có nguy cơ chìm. Vào buổi chiều, hai cú đánh trúng bổ sung đã dập tắt mọi hy vọng cứu vãn của phía Nhật.
Trong trận đánh hạm đội lớn tiếp theo – trận Biển Philippine tháng 6 năm 1944 – đa số máy bay Avenger đều mang bom thay vì ngư lôi, do các đơn vị tuyến đầu đã bỏ bê tác chiến ngư lôi từ cuối năm 1942. Tuy vậy, có một thành công đáng chú ý ngày 20 tháng 6, khi các máy bay Avenger của VT-24, biên chế trên tàu sân bay hạng nhẹ USS Belleau Wood (CVL-24), đã đánh trúng tàu sân bay hạng nhẹ Hiyo bằng một quả ngư lôi và đánh chìm nó. Ngược lại, ba tàu sân bay Nhật bị trúng bom đều sống sót.
THỦY THỦ ĐOÀN TÀU CHIẾN HẢI QUÂN ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN (IJN)
Hải quân Đế quốc Nhật Bản nổi tiếng với tính nghiêm ngặt trong chương trình huấn luyện và diễn tập hạm đội. Đây là một yếu tố thiết yếu khác trong kế hoạch của IJN nhằm bù đắp cho sự yếu kém về số lượng so với Hải quân Mỹ. Tuy nhiên, chiến lược duy trì một lực lượng nhỏ nhưng được huấn luyện chuyên sâu này không thể tồn tại trước những yêu cầu của chiến tranh, khi IJN buộc phải hạ thấp tiêu chuẩn để mở rộng hạm đội và bù đắp tổn thất. Dẫu vậy, Yamato và Musashi có lẽ được biên chế những thủy thủ được tuyển chọn kỹ lưỡng, vì đây là những tàu chiến tiêu biểu của toàn hạm đội. Thủy thủ đoàn tàu chiến Nhật Bản thời kỳ này thường có mức luân chuyển rất thấp, nên thành phần nhân sự thời tiền chiến của Yamato về cơ bản vẫn giữ nguyên, cũng như thủy thủ đoàn giai đoạn đầu chiến tranh của Musashi. Cả hai đều tự hào khi phục vụ trên những thiết giáp hạm hùng mạnh như vậy và luôn mong chờ được thực sự bước vào chiến đấu.
Ngay cả khi chiến tranh rõ ràng đang bất lợi cho Nhật Bản vào năm 1944, thủy thủ đoàn của Yamato và Musashi vẫn duy trì được tinh thần chiến đấu cao. Cả hai đều mong chờ được tham gia một chiến dịch để có thể thể hiện hết khả năng của chiến hạm mình. Mặc dù điều kiện trên các siêu thiết giáp hạm lúc này đã trở nên chật chội, nhưng chúng vẫn được coi là sang trọng theo tiêu chuẩn của IJN. Mỗi thành viên thủy thủ đoàn có không gian cá nhân nhiều hơn so với bất kỳ tàu chiến Nhật Bản nào khác, khiến điều kiện sinh hoạt trên hai thiết giáp hạm này trở thành tốt nhất trong IJN. Sĩ quan có phòng riêng, còn hạ sĩ quan có khu vực sinh hoạt riêng biệt với thủy thủ cấp dưới.
Trong suốt cuộc chiến, thủy thủ đoàn của cả hai tàu đều được mở rộng. Lý do chính là sự gia tăng số lượng pháo phòng không – mỗi khẩu đội ba nòng 25mm cần 9 người vận hành, chưa kể đến nhân sự cần thiết để điều khiển hệ thống kiểm soát hỏa lực, vận chuyển đạn dược từ kho đạn và hỗ trợ cơ bản cho các xạ thủ. Đến năm 1945, điều kiện trên Yamato đã chật chội đến mức thủy thủ đoàn phải ngủ trên võng treo ở hành lang hoặc bất kỳ khoảng trống nào còn lại.

Đại tá Toshihira Inoguchi - một trong những sĩ quan pháo binh xuất sắc nhất của IJN- là chỉ huy của thiết giáp hạm Musashi trong trận hải chiến vịnh Leyte vào tháng 10 năm 1944.
Thủy thủ đoàn của Musashi đã trải qua một chương trình chuẩn bị đặc biệt nghiêm ngặt dưới sự chỉ huy của Đại tá Toshihira Inoguchi. Ông có chuyên môn về pháo binh, và danh tiếng là một trong những sĩ quan pháo binh xuất sắc nhất của IJN đã giúp ông được giao trọng trách chỉ huy một trong hai thiết giáp hạm mạnh nhất thế giới. Với nguồn nhiên liệu dồi dào tại Lingga, Inoguchi đã tiến hành huấn luyện trên biển quy mô lớn.
Sau khi nghiên cứu kế hoạch Sho-Go, ông hiểu rằng con tàu của mình sẽ phải hứng chịu các cuộc tấn công hàng không dữ dội, và nó phải sống sót qua điều đó để hoàn thành nhiệm vụ. Ông huấn luyện không ngừng nghỉ các đội phòng không và xây dựng hệ thống phòng thủ nhiều tầng để bảo vệ tàu, với pháo 18 inch cho phòng thủ tầm xa, pháo 5 inch ở tầm trung, và vô số khẩu đội 25mm cho phòng thủ tầm gần.
Inoguchi không hề ngây thơ, ông dự đoán một con tàu hoạt động mà không có sự yểm trợ hàng không dưới mối đe dọa tấn công hàng không nghiêm trọng chắc chắn sẽ bị hư hại. Do đó, nhân viên kiểm soát hư hại của tàu phải luôn sẵn sàng. Ông huấn luyện chuyên sâu cho các đội này, các kỹ sư kiểm soát hư hại thực hành quy trình chống ngập để khắc phục độ nghiêng do chính Inoguchi tạo ra. Hai lần mỗi ngày, toàn bộ thủy thủ đoàn phải đưa tàu vào trạng thái kín nước tối đa. Đây không phải là nhiệm vụ dễ dàng để đạt được tình trạng kín nước tối đa trên một tàu chiến IJN, vì các chốt cửa và nắp hầm không phải loại đóng mở nhanh. Cần phải diễn tập liên tục để đạt được trạng thái kín nước trong thời gian ngắn nhất có thể. Ngoài ra, con tàu còn huấn luyện các chiến thuật tấn công, thực hành đột nhập vào một khu neo đậu đầy tàu bè Mỹ. Như sự kiện sau này đã chứng minh, thủy thủ đoàn đã sẵn sàng chiến đấu hết mức có thể, và nhân viên kiểm soát hư hại sớm chứng tỏ được năng lực của mình.
CHIẾN THUẬT PHÒNG KHÔNG CỦA HẢI QUÂN ĐẾ QUỐC NHẬT BẢN
IJN coi máy bay tiêm kích là phương tiện chính để bảo vệ các tàu mặt nước khỏi các cuộc tấn công hàng không của Mỹ. Cách này hoạt động khá hiệu quả ở giai đoạn đầu chiến tranh, nhưng phụ thuộc vào phi công chất lượng cao. Đến tháng 10 năm 1944, những phi công như vậy đã không còn tồn tại, và hiệu quả của lực lượng tàu sân bay IJN đã suy giảm đến mức chỉ còn được sử dụng như mồi nhử. Điều này có nghĩa là hạm đội mặt nước phải tự mình đối phó với sức mạnh không quân Mỹ.
Để đối phó với mối đe dọa ngày càng lớn này, IJN đã lắp đặt ngày càng nhiều pháo phòng không trên các đơn vị hạm đội. Phần lớn trong số đó là pháo 25mm có thể bố trí hầu như bất kỳ đâu có tầm bắn thông thoáng. Các tàu khu trục mang theo tới 26 khẩu 25mm, tàu tuần dương hạng nặng thì lên tới 60 khẩu và thiết giáp hạm là hơn 100 khẩu. Như đã đề cập trước đó, Yamato và Musashi cuối cùng tự hào sở hữu lần lượt là 152 và 130 khẩu.
Dù đã tăng cường đáng kể dàn pháo phòng không của các tàu, IJN vẫn không cho rằng chỉ riêng các vũ khí này có thể bảo vệ hạm đội mặt nước khỏi tấn công hàng không. Điều này được thể hiện qua việc các tàu Nhật Bản cơ động hết sức quyết liệt khi bị tấn công từ trên không. Thay vì giữ đội hình và duy trì hướng đi ổn định – điều cho phép tập trung hỏa lực phòng không và đạt được phương án bắn tối ưu – các tàu của IJN lại thực hiện cơ động mạnh mẽ độc lập với nhau nhằm giảm khả năng bị trúng đạn. Các phi công Mỹ thường quan sát thấy kiểu cơ động vòng tròn tránh né, dù học thuyết của IJN quy định cơ động theo kiểu ngoằn ngoèo. Cách này không chỉ khiến phi công ném bom bổ nhào khó chọn điểm ngắm, mà còn làm nhiệm vụ của phi công thả ngư lôi trở nên khó khăn hơn. Nhược điểm là kiểu cơ động quyết liệt như vậy sẽ phá hỏng mọi nỗ lực đạt được phương án kiểm soát hỏa lực đối với cả máy bay địch lẫn tàu mặt nước. Nó cũng làm tan rã đội hình để các tàu không còn có thể yểm trợ hỏa lực lẫn nhau.

Vòng quay (bán kính quay) của Yamato. Đường kính chiến thuật (Tactical Diameter) của Yamato là 640m, đường kính tiến lên (Advance Diameter) là 589m, cho phép con tàu nghiêng tối đa 9° khi quay với góc lái tối đa 35° ở tốc độ 26 hải lý/giờ. Góc nghiêng nhỏ khi quay (điều cần thiết từ góc độ né tránh bom và ngư lôi, cũng như để ổn định và kiểm soát hỏa lực) được cho là nhờ chiều cao tâm nổi (metacentric height - GM) của tàu đạt 2,88m trong các cuộc thử nghiệm. Chu kỳ lắc ngang của tàu rất ổn định, ấn tượng ở mức 17,5 giây.
Việc cơ động một con tàu lớn như Yamato là một thách thức thực sự. Dưới đây là mô tả của một sĩ quan sống sót về những nỗ lực tránh ngư lôi của chiếc siêu thiết giáp hạm vào tháng 4 năm 1945:
Vết chạy của ngư lôi là những đường trắng tuyệt đẹp trên mặt nước. Dựa vào mắt thường để ước lượng khoảng cách và góc độ trên bảng tính toán, chúng tôi chuyển hướng chạy song song với đường ngư lôi và chỉ vừa kịp né tránh chúng. Chúng tôi xử lý quả gần nhất, nguy cấp nhất trước. Khi đã đến một điểm đủ xa để chắc chắn rằng mình đã né được, chúng tôi chuyển sang quả tiếp theo. Đối phó với chúng đòi hỏi sự cảnh giác, tính toán và quyết đoán. Thuyền trưởng đứng ngoài trời tại sở chỉ huy phòng không, quan sát toàn bộ con tàu. Hai thiếu úy phụ tá bên cạnh ông, vẽ lên bảng điều động các đường ngư lôi đến từ mọi hướng và dùng que chỉ để báo hiệu cho ông.
Cơ sở của hành động phòng không chống máy bay ném bom bổ nhào và máy bay thả ngư lôi bay thấp của Hải quân Mỹ là hàng rào hoả lực (barrage fire). Chỉ đối với máy bay ném bom bay ngang ở độ cao lớn, dễ đoán hơn, mới dự kiến sử dụng hỏa lực ngắm bắn chính xác. Hỏa lực tập trung được các thủy thủ vận hành cả pháo cỡ trung 5 inch lẫn pháo tầm gần 25mm sử dụng. Pháo 5 inch chủ yếu dùng chống máy bay ném bom ngang ở độ cao trung bình và máy bay ném bom bổ nhào, trong khi pháo 25mm nhắm vào cả máy bay ném bom bổ nhào và, khi cần thiết, máy bay ném ngư lôi. Thỉnh thoảng pháo 5 inch cũng bắn vào máy bay thả ngư lôi, bắt đầu khai hỏa khi máy bay ở khoảng cách khoảng 7.500 yard. Máy bay ném bom bổ nhào bị pháo 5 inch giao chiến ở độ cao khoảng 10.000 ft. Một tài liệu chiến tranh của người Nhật bị thu giữ cho biết khẩu đội 25mm phải khai hỏa ở khoảng cách 2.750 yard. Các xạ thủ được yêu cầu tiết kiệm đạn vì kho đạn trên tàu có hạn, và phải giữ đạn để đối phó với các đợt tấn công kéo dài. Không bắn theo mục tiêu đang rút lui.
Người Nhật biết rằng hệ thống phòng không của mình không đủ để đối phó với quy mô tấn công hàng không ngày càng lớn của Mỹ. Một người sống sót từ Yamato đã tóm tắt khó khăn trong việc bắn trúng mục tiêu như sau:
Khi ngắm ngư lôi và bom, phi công phải giữ hướng bay cố định trong một khoảng cách nhất định. Nhưng máy bay Mỹ đã giảm thiểu thời gian dễ bị tổn thương đó xuống mức tối thiểu. Những mục tiêu tấn công ngay cả khi chúng tôi đang di chuyển ngoằn ngoèo trái buộc chúng tôi phải điều chỉnh hướng ngắm cả theo chiều ngang lẫn chiều dọc một cách nhanh chóng và với biên độ lớn. Việc nhắm bắn một mục tiêu như vậy là quá khó đối với những khẩu súng máy thông thường. Do đó, tỷ lệ trúng đích của chúng tôi là rất thấp.
Cứ năm viên đạn thì súng bắn một viên đạn huỳnh quang. Bằng cách quan sát quỹ đạo màu nâu trà của viên đạn huỳnh quang cắt ngang mục tiêu, các xạ thủ xác định sai số và điều chỉnh khoảng cách cùng góc bắn. Tuy nhiên, khi vận tốc góc quá lớn, việc bắn trúng đích là rất khó, ngay cả ở cự ly rất gần.
Hải quân Mỹ đánh giá vào giữa năm 1944 rằng Nhật Bản đang sử dụng hàng rào hoả lực cho phòng không. Pháo 25mm được đánh giá là vũ khí hiệu quả nhất, gây ra số lượng thương vong gấp ba lần so với pháo 5 inch.
NHỮNG NHÂN VẬT NỔI BẬT
ĐÔ ĐỐC HẠM ĐỘI WILLIAM F. HALSEY (phía Mỹ)

William F. Halsey là một trong những người tiên phong của không lực hải quân trong Hải quân Mỹ và là tác giả của việc tiêu diệt Musashi. Sau khi tốt nghiệp Học viện Hải quân Hoa Kỳ năm 1904, Halsey dành phần lớn những năm đầu sự nghiệp trên các tàu phóng lôi và khu trục. Sự nghiệp của ông rẽ sang hướng hoàn toàn khác vào năm 1934, khi Tư lệnh Cục Không lực Hải quân lúc bấy giờ, Ernest King, đề nghị ông nắm quyền chỉ huy tàu sân bay USS Saratoga (CV-3). Tuy nhiên, theo luật, chỉ huy tàu sân bay phải là sĩ quan không quân hải quân, nghĩa là Halsey phải hoàn thành một khóa học bay kéo dài 12 tuần dành cho sĩ quan cấp cao trước khi tiếp nhận con tàu. Ông nhận huy hiệu wings của phi công vào ngày 15 tháng 5 năm 1935, khi đã 52 tuổi, khiến ông trở thành phi công lớn tuổi nhất trong hạm đội.
Halsey được thăng làm chuẩn đô đốc vào năm 1938, và đến khi Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra vào tháng 12 năm 1941, ông đã trở thành chỉ huy lực lượng tàu sân bay cấp cao nhất của Hải quân Mỹ, đồng thời cũng là Tư lệnh Lực lượng Không quân Chiến đấu. Halsey tin chắc rằng không quân sẽ là vũ khí tấn công chủ lực của Hải quân Mỹ, và cuộc tập kích của Nhật vào Trân Châu Cảng đã chứng minh điều đó. Lúc này, số tàu sân bay ít ỏi của Mỹ trở thành trung tâm của Hạm đội Thái Bình Dương. Đô đốc Chester W. Nimitz, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương, sử dụng chúng để tập kích các đảo do Nhật kiểm soát. Trong những tháng đầu của chiến dịch năm 1942, Halsey là chỉ huy táo bạo nhất. Ông ng với soái hạm yêu dấu của mình, USS Enterprise (CV-6), tham gia các cuộc tập kích vào Gilbert và Marshall vào tháng 2, Wake vào tháng 3, và cuối cùng là cuộc tập kích táo bạo nhất – Cuộc không kích Doolittle vào Nhật Bản trong tháng 4.
Một căn bệnh về da đã khiến Halsey bỏ lỡ trận Midway, nhưng ngay khi hồi phục, ông được Nimitz phái đến Guadalcanal để vực dậy cuộc tấn công đang chững lại của Mỹ. Đây chính là thời khắc rực rỡ nhất của ông. Trong khi Hải quân Nhật từ chối sử dụng toàn bộ lực lượng của mình – bao gồm cả thiết giáp hạm Yamato chỉ ngồi không tại Truk – thì Halsey tung mọi thứ ông có để đẩy lùi các đợt tấn công lớn của người Nhật vào tháng 10 và 11. Nhiều lần ông hành động liều lĩnh: đưa cả hai tàu sân bay của mình ra ngoài tầm hỗ trợ của không quân trên bờ tại trận Santa Cruz, rồi sau đó đưa hai thiết giáp hạm hiện đại vào vùng biển đầy ngư lôi quanh Guadalcanal ban đêm. Nhưng trong cả hai lần, may mắn đứng về phía người táo bạo, và Halsey được ca ngợi vì sự quyết đoán.
Trong năm 1943, Halsey đánh ngược lên quần đảo Solomon để cô lập căn cứ lớn nhất của Nhật tại Rabaul. Một thời khắc quan trọng của chiến dịch này diễn ra vào tháng 11, khi một cuộc tấn công táo bạo của hai nhóm không quân tàu sân bay thuộc quyền Halsey đã đánh tê liệt một lực lượng lớn tàu tuần dương hạng nặng của Nhật ở Rabaul. Hoạt động mạo hiểm này đã cứu vãn đầu cầu của Mỹ tại Bougainville khỏi bị tấn công.

Đô đốc Halsey dùng bữa tối với thủy thủ đoàn trên tàu USS New Jersey (BB-62) vào ngày Lễ Tạ ơn, 23 tháng 11 năm 1944.
Tháng 5 năm 1944, Halsey được trao quyền chỉ huy Hạm đội 3. Ông tiếp tục thể hiện sự táo bạo quen thuộc và dẫn đầu Lực lượng Đặc nhiệm Tàu sân bay tốc độ cao trong loạt cuộc tập kích nhằm chuẩn bị cho cuộc đổ bộ Philippines. Điều này dẫn đến quyết định gây tranh cãi nhất của ông trong chiến tranh: trong trận Vịnh Leyte, sau khi đánh tan Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất, ông đưa toàn bộ Hạm đội 3 lên phía bắc để tấn công các tàu sân bay Nhật gần như vô hại. Khi làm vậy, ông bỏ lại eo San Bernardino không được bảo vệ, cho phép lực lượng của Kurita đi xuống phía nam tấn công lực lượng tàu sân bay hộ tống yếu hơn rất nhiều của Hạm đội 7. Halsey tuyên bố ông làm vậy là để không chia nhỏ lực lượng, nhưng trên thực tế, sức mạnh áp đảo của hạm đội cho phép ông có thể tách Lực lượng Tàu sân bay tốc độ cao mà vẫn giữ ưu thế vượt trội. Thực tế, vào ngày 25 tháng 10, ông đã chia lực lượng của mình nhiều lần để đáp lại những lời cầu cứu từ Hạm đội 7.
Halsey cuối cùng cũng điều các thiết giáp hạm cao tốc của mình để ngăn Kurita quay trở lại qua eo San Bernardino, nhưng ông bỏ lỡ hạm đội Nhật chỉ vài giờ. Quyết định của ông đã cho phép lực lượng của Kurita rút lui, qua đó tước đi cơ hội của Yamato trong việc đối đầu với các thiết giáp hạm Mỹ.
PHÓ ĐÔ ĐỐC TAKEO KURITA (phía Nhật)

Takeo Kurita là vị chỉ huy quan trọng nhất của Nhật Bản trong toàn bộ kế hoạch Sho-1. Ông được thăng cấp chuẩn đô đốc vào tháng 11 năm 1938, và đến khi Chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, ông đang chỉ huy Hải đội 7 (Sentai 7), gồm bốn tàu tuần dương hạng nặng lớp Mogami. Ở vị trí này, Kurita đã tham gia nhiều trận đánh lớn trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Các tàu tuần dương của ông đã yểm trợ cuộc xâm lược Java năm 1942, nơi ông kết liễu tàu tuần dương hạng nặng USS Houston (CA-30). Sau đó là cuộc đột kích vào Ấn Độ Dương, trong đó lực lượng tàu tuần dương của Kurita đóng vai trò chủ công trong việc đánh chìm 135.000 tấn tàu buôn Đồng minh ở vịnh Bengal. Tuy nhiên, đến tháng 6 ông đã phải nếm trải sớm sức mạnh không lực hải quân Mỹ khi máy bay từ tàu sân bay đánh chìm một tàu tuần dương của ông và đánh hỏng nặng một chiếc khác trong trận Midway. Tháng 7, Kurita được bổ nhiệm làm tư lệnh Hải đội 3 (Sentai 3), chỉ huy hai thiết giáp tuần dương hạm lớp Kongō. Dưới quyền ông, Kongō và Haruna tiến hành trận pháo kích dữ dội xuống sân bay Henderson trên Guadalcanal vào đêm 13 tháng 10, với loạt pháo kích tạm thời vô hiệu hóa được sân bay. Đây là trận tác chiến thành công nhất của các thiết giáp hạm IJN trong toàn bộ cuộc chiến.
Năm 1943 Kurita được bổ nhiệm làm tư lệnh Hạm đội 2, lực lượng quy tụ phần lớn thiết giáp hạm và tàu tuần dương hạng nặng của IJN. Ông chỉ huy lực lượng này trong trận Biển Philippine, nơi hạm đội của ông đóng vai trò yểm hộ cho các tàu sân bay. Kurita và lực lượng của ông sẽ giữ vai trò trung tâm trong việc phòng thủ Philippine, bởi ông chỉ huy Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất– lực lượng được giao nhiệm vụ gần như bất khả thi: đột nhập vào vịnh Leyte.
Nhiều sĩ quan trong lực lượng của ông phẫn nộ khi hạm đội bị đem ra đánh đổi chỉ để tấn công các tàu vận tải của đối phương, và đồng thời họ cũng nghi ngờ rằng mình sẽ chẳng bao giờ đến được Leyte. Kurita thảo luận chi tiết kế hoạch Sho-1 với cấp dưới vào ngày 21 tháng 10. Có lẽ bản thân ông cũng hoài nghi, nhưng sau khi nhiều người bày tỏ quan điểm bi quan, Kurita nhắc họ về “cơ hội vinh quang” mà họ được trao. Ông kêu gọi thuộc cấp sẵn sàng hy sinh tới cùng, đặt ra câu hỏi: “Liệu có đáng xấu hổ không nếu hạm đội vẫn còn nguyên vẹn trong khi quốc gia thì bị diệt vong?” Kurita kết thúc buổi hiệu triệu bằng một câu hỏi khác: “Có ai có thể nói rằng hạm đội của chúng ta không có cơ hội xoay chuyển cục diện chiến tranh trong một trận quyết chiến hay không?”
Mặc cho những lời lẽ hùng hồn trước trận chiến, hành vi của Kurita trong trận đánh lại cho thấy ông không thực sự tin vào nhiệm vụ “một mất một còn” mà ông được giao. Ở khoảnh khắc then chốt khi ông có thể dốc toàn lực tiến vào vịnh Leyte và giành lấy mục tiêu, qua đó đạt được một dạng “chiến thắng kiểu Pyrrhus” cho Hải quân Nhật, ông đã từ chối cơ hội. Chắc hẳn ông nhận thấy rằng nếu vào được Leyte thì cơ hội rút lui sẽ gần như bằng không.
Sau khi chứng kiến Musashi bị đánh chìm dưới các đợt tấn công trên không vào ngày 24 tháng 10, Kurita tạm thời quay mũi về phía tây để tạo điều kiện cho không quân Nhật tấn công các tàu sân bay của Halsey, nhằm giảm bớt sức ép lên lực lượng tàu mặt nước vốn không có phòng không của mình. Sau khi được Đô đốc Soemu Toyoda (Tổng tư lệnh Hạm đội Liên hợp) ra lệnh quay lại hướng về San Bernardino, Kurita vượt qua eo biển mà không gặp kháng cự và tiến xuống phía nam dọc đảo Samar về phía vịnh Leyte. Vào sáng ngày 25 tháng 10, Kurita có được điều kỳ diệu mà ông mong chờ khi ông bắt gặp một lực lượng tàu sân bay Mỹ hoàn toàn bất ngờ. Tuy nhiên, ông gần như lập tức đánh mất quyền kiểm soát trận đánh và không bao giờ tận dụng được ưu thế của mình. Ông không hề hay biết rằng mình đang giao chiến với các tàu sân bay hộ tống chậm chạp, không được giáp bảo vệ, và lực lượng hộ tống yếu. Sau khi đánh chìm một tàu sân bay hộ tống và ba tàu hộ tống, Kurita rút khỏi trận chiến. Đây cũng là lần duy nhất trong chiến tranh mà Yamato bắn vào mục tiêu mặt nước của Mỹ.
Sau trận giao chiến với các tàu sân bay hộ tống, Kurita lệnh cho lực lượng của ông tập kết lại phía bắc, xa rời mục tiêu Leyte. Tin tức về thất bại của Phó Đô đốc Nishimura ở Surigao và sự tiêu diệt lực lượng tàu sân bay của Phó Đô đốc Ozawa lúc này cũng dồn dập truyền đến. Sau khi cân nhắc tình hình, Kurita từ bỏ chiến dịch và quay ngược về qua eo biển San Bernardino. Những hy sinh tột bậc của IJN nhằm mở đường cho Kurita đến Leyte đã trở nên vô ích. Quyết định của Kurita đã cứu được phần lớn hạm đội của ông – bao gồm cả Yamato – nhưng việc ông từ chối phát huy thắng lợi đã dẫn đến thất bại của toàn bộ kế hoạch Sho-1. Ông bị chỉ trích nặng nề và bị miễn nhiệm vào tháng 12. Về lâu sau chiến tranh, Kurita thừa nhận rằng ông rút lui vì không muốn lãng phí mạng người của mình trong một chiến dịch vô vọng – cho thấy lòng dũng cảm có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất





















































































































