Cuộc đối đầu lớn thứ hai của Hải quân Mỹ với thiết giáp hạm lớp Yamato diễn ra vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Trong một chiến dịch phi lý, Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) đã gửi siêu thiết giáp hạm Yamato cùng một nhóm hộ tống nhỏ để đối đầu với lực lượng đổ bộ Mỹ ngoài khơi Okinawa. Nhiệm vụ này không có triển vọng thành công, vì Hải quân Mỹ có thể tung ra hàng trăm máy bay từ tàu sân bay để tấn công vào các tàu Nhật. Sức mạnh áp đảo trên không như vậy là đủ để đánh chìm ngay cả những tàu chiến bọc giáp dày nhất. Cảnh tượng này cho thấy Yamato đang bị tấn công bởi các máy bay ném ngư lôi Avenger. Trong ba đợt tấn công trong ngày, có 9 đến 12 ngư lôi và7 quả bom trúng Yamato. Con tàu chìm cách xa điểm đến dự kiến, với thương vong nặng nề, việc tiêu diệt Yamato đã đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên thiết giáp hạm cũng như sự suy tàn của IJN như một lực lượng hải quân đại dương. (Tranh của Noriyoshi Ōrai)
Cuộc đối đầu lớn thứ hai của Hải quân Mỹ với thiết giáp hạm lớp Yamato diễn ra vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Trong một chiến dịch phi lý, Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) đã gửi siêu thiết giáp hạm Yamato cùng một nhóm hộ tống nhỏ để đối đầu với lực lượng đổ bộ Mỹ ngoài khơi Okinawa. Nhiệm vụ này không có triển vọng thành công, vì Hải quân Mỹ có thể tung ra hàng trăm máy bay từ tàu sân bay để tấn công vào các tàu Nhật. Sức mạnh áp đảo trên không như vậy là đủ để đánh chìm ngay cả những tàu chiến bọc giáp dày nhất. Cảnh tượng này cho thấy Yamato đang bị tấn công bởi các máy bay ném ngư lôi Avenger. Trong ba đợt tấn công trong ngày, có 9 đến 12 ngư lôi và7 quả bom trúng Yamato. Con tàu chìm cách xa điểm đến dự kiến, với thương vong nặng nề, việc tiêu diệt Yamato đã đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên thiết giáp hạm cũng như sự suy tàn của IJN như một lực lượng hải quân đại dương. (Tranh của Noriyoshi Ōrai)

GIAO CHIẾN

HÀNH TRÌNH CỦA LỰC LƯỢNG TẤN CÔNG NGHI BINH THỨ NHẤT

Yamato và Musashi được chụp chung trong một bức ảnh vào ngày 21 tháng 10 năm 1944 tại vịnh Brunei. Musashi nằm bên trái, phía trước là tàu tuần dương hạng nặng Mogami đang neo đậu. Bên phải là Yamato, với một tàu tuần dương hạng nặng khác áp sát bên mạn. Ngày hôm sau, hai thiết giáp hạm rời vịnh Brunei để tiến về vịnh Leyte. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato và Musashi được chụp chung trong một bức ảnh vào ngày 21 tháng 10 năm 1944 tại vịnh Brunei. Musashi nằm bên trái, phía trước là tàu tuần dương hạng nặng Mogami đang neo đậu. Bên phải là Yamato, với một tàu tuần dương hạng nặng khác áp sát bên mạn. Ngày hôm sau, hai thiết giáp hạm rời vịnh Brunei để tiến về vịnh Leyte. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Vào buổi sáng ngày 17 tháng 10, các quan sát viên Nhật Bản trên đảo Suluan, tại lối tiếp cận phía đông Vịnh Leyte, báo cáo sự xuất hiện của các tàu Hải quân Mỹ. Chừng đó là đủ để xác nhận nghi ngờ của phía Nhật rằng Leyte chính là mục tiêu của cuộc đổ bộ của Mỹ. Theo đó, Tư lệnh Hạm đội Liên hợp - Đô đốc Toyoda Soemu, ra lệnh cho tất cả các lực lượng của Sho-1 đặt trong tình trạng báo động. Khi đã hoàn toàn chắc chắn về ý đồ của Mỹ, Toyoda ra lệnh thi hành Sho-1 lúc 11 giờ 10 phút ngày 18 tháng 10. Ngày mà Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN) sẽ tiến vào vịnh Leyte và nghiền nát lực lượng đổ bộ của Mỹ được ấn định vào buổi sáng ngày 25 tháng 10.
Sau sự tiêu diệt lực lượng tàu sân bay của IJN trong Trận chiến Biển Philippine, sức mạnh tấn công chủ yếu còn lại của IJN nằm ở lực lượng lớn các thiết giáp hạm và tàu tuần dương hạng nặng. Để thực hiện nỗ lực tổng lực bảo vệ Philippine, các lực lượng này được tập trung vào một thực thể tác chiến duy nhất. Đội hình hình thành từ đó được đặt tên là Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất và đặt dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Kurita. Với 5 thiết giáp hạm, 10 tàu tuần dương hạng nặng, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ và 15 tàu khu trục, đây là lực lượng mặt nước lớn nhất từng được người Nhật tập hợp cho một nhiệm vụ duy nhất, đồng thời cũng là một trong những sự tập trung lực lượng hải quân mặt nước lớn nhất của toàn bộ cuộc chiến. Phù hợp với nhiệm vụ giáng đòn quyết định, Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất được phân bổ những thiết giáp hạm mạnh nhất còn lại của IJN. Lực lượng này được xây dựng xoay quanh các siêu thiết giáp hạm Yamato và Musashi (trong hình minh họa), những con tàu chưa từng khai hỏa pháo chính trong chiến đấu thực sự.
Sau sự tiêu diệt lực lượng tàu sân bay của IJN trong Trận chiến Biển Philippine, sức mạnh tấn công chủ yếu còn lại của IJN nằm ở lực lượng lớn các thiết giáp hạm và tàu tuần dương hạng nặng. Để thực hiện nỗ lực tổng lực bảo vệ Philippine, các lực lượng này được tập trung vào một thực thể tác chiến duy nhất. Đội hình hình thành từ đó được đặt tên là Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất và đặt dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Kurita. Với 5 thiết giáp hạm, 10 tàu tuần dương hạng nặng, 2 tàu tuần dương hạng nhẹ và 15 tàu khu trục, đây là lực lượng mặt nước lớn nhất từng được người Nhật tập hợp cho một nhiệm vụ duy nhất, đồng thời cũng là một trong những sự tập trung lực lượng hải quân mặt nước lớn nhất của toàn bộ cuộc chiến. Phù hợp với nhiệm vụ giáng đòn quyết định, Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất được phân bổ những thiết giáp hạm mạnh nhất còn lại của IJN. Lực lượng này được xây dựng xoay quanh các siêu thiết giáp hạm Yamato và Musashi (trong hình minh họa), những con tàu chưa từng khai hỏa pháo chính trong chiến đấu thực sự.
Musashi được chụp lúc 09 giờ vào ngày 22 tháng 10, sau khi rời vịnh Brunei. Các thủy phi cơ trinh sát Aichi E13A Type 0 “Jake” ở đuôi tàu đã được phóng đi trước khi con tàu phải hứng chịu các đòn không kích vào hai ngày sau đó. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Musashi được chụp lúc 09 giờ vào ngày 22 tháng 10, sau khi rời vịnh Brunei. Các thủy phi cơ trinh sát Aichi E13A Type 0 “Jake” ở đuôi tàu đã được phóng đi trước khi con tàu phải hứng chịu các đòn không kích vào hai ngày sau đó. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Khi người Nhật tiến hành các công tác chuẩn bị, cuộc đổ bộ chính của Mỹ lên Leyte diễn ra vào ngày 20 tháng 10 trước sự kháng cự yếu ớt. Các tàu đổ bộ ban đầu nhanh chóng được dỡ hàng và đã rời đi vào buổi tối. Nhiều đợt tiếp viện tiếp theo sau đó, và đến ngày 25 tháng 10, đã có 132.400 quân và gần 200.000 tấn vật tư ở trên bờ thông qua hai khu vực đổ bộ chính. Điều này cho thấy sự vô ích của kế hoạch Shō-1, vì nó tìm cách đánh bật một lực lượng đổ bộ đã bám chắc trên bờ và sẵn sàng cho các hoạt động dài hạn. Đến nửa đêm ngày 24 tháng 10, số tàu còn lại trong vịnh Leyte chỉ là ba soái hạm, một tàu vận tải tấn công, 23 tàu đổ bộ xe tăng, hai tàu đổ bộ cỡ trung và 28 tàu Liberty. Ngay cả nếu IJN xâm nhập thành công vào vịnh Leyte và đánh chìm toàn bộ số tàu này, điều đó cũng sẽ không tạo ra sự chậm trễ đáng kể nào đối với các chiến dịch của người Mỹ.
Mặc dù ở ngoài tầm với của máy bay Mỹ, Kurita chưa đi xa thì đã gặp rắc rối. Các tàu ngầm USS Dace (SS-247) và USS Darter (SS-227) đang hoạt động ở lối vào phía nam của eo Palawan. Darter phát hiện các tàu Nhật đang đến gần qua radar lúc 01 giờ 16 phút ngày 23 tháng 10, thuyền trưởng liền gửi báo cáo tiếp xúc và sau đó tiến hành tiếp cận để tấn công. Kurita biết rằng tàu ngầm Mỹ có mặt trong khu vực, nhưng điều khó hiểu là ông không điều bất kỳ tàu khu trục nào đi trước lực lượng của mình, vốn được bố trí thành hai bộ phận.
Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất do Kurita chỉ huy đã có một mở màn xui xẻo khi bị lực lượng tàu ngầm của Mỹ tấn công, báo trước những gì xảy ra sắp tới khi lực lượng của ông tiến về vịnh Leyte. Đòn đánh đầu tiên diễn ra vào ngày 24 tháng 10 tại eo biển Palawan, nơi các tàu ngầm Darter và Dace đã được bố trí sẵn. Sau khi bắt được lực lượng Nhật trên radar lúc 01 giờ 16 phút, Darter phát báo cáo tiếp xúc và chạy hết tốc lực dọc theo eo Palawan để vượt lên phía trước đội hình Nhật, nhằm chiếm vị trí thuận lợi cho một cuộc tấn công. Không gặp tàu khu trục Nhật Bản nào, và phía Nhật cũng không phát hiện được tàu ngầm Mỹ đang nổi trên mặt nước bằng radar. Thiếu tá hải quân McClintock, thuyền trưởng của Darter, dự kiến sẽ tấn công vào lúc rạng sáng. Lúc 06 giờ 10 phút, Darter lặn xuống và chuẩn bị tấn công cột trái của đội hình các tàu hạng nặng trong Phân đội 1 của Kurita. Cột đội hình này do soái hạm Atago của Kurita dẫn đầu. McClintock đổi hướng để chạy song song với cột đội hình, qua đó có thể khai hỏa cả ống phóng ngư lôi mũi và đuôi mà không cần phải quay tàu hoàn toàn. Ở cự ly chỉ dưới 1.000 yard, McClintock phóng toàn bộ sáu ống ngư lôi mũi về phía Atago. Ông nhanh chóng cơ động Darter quay 180°, đưa các ống phóng ngư lôi đuôi vào vị trí bắn đối với tàu tuần dương tiếp theo trong hàng. Ngay khi những vụ nổ dữ dội từ loạt bắn đầu tiên được ghi nhận, quả ngư lôi đầu tiên từ các ống đuôi cũng rời bệ phóng. Trong hình minh họa này, Atago đang bốc cháy sau khi trúng bốn quả ngư lôi. Lúc 06 giờ 34 phút, chỉ một phút sau khi Atago bị đánh trúng, Takao (ở đằng sau Atago) cũng bị trúng hai quả ngư lôi: một quả đánh vào khu vực đài chỉ huy tàu, quả còn lại trúng phần đuôi. Atago, đang bốc cháy dữ dội, bị chìm trong vòng 18 phút kể từ khi trúng ngư lôi. Takao sống sót và lết được về Singapore, nơi con tàu bị đánh giá là không còn khả năng sửa chữa. (Tranh của Jim Laurier)
Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất do Kurita chỉ huy đã có một mở màn xui xẻo khi bị lực lượng tàu ngầm của Mỹ tấn công, báo trước những gì xảy ra sắp tới khi lực lượng của ông tiến về vịnh Leyte. Đòn đánh đầu tiên diễn ra vào ngày 24 tháng 10 tại eo biển Palawan, nơi các tàu ngầm Darter và Dace đã được bố trí sẵn. Sau khi bắt được lực lượng Nhật trên radar lúc 01 giờ 16 phút, Darter phát báo cáo tiếp xúc và chạy hết tốc lực dọc theo eo Palawan để vượt lên phía trước đội hình Nhật, nhằm chiếm vị trí thuận lợi cho một cuộc tấn công. Không gặp tàu khu trục Nhật Bản nào, và phía Nhật cũng không phát hiện được tàu ngầm Mỹ đang nổi trên mặt nước bằng radar. Thiếu tá hải quân McClintock, thuyền trưởng của Darter, dự kiến sẽ tấn công vào lúc rạng sáng. Lúc 06 giờ 10 phút, Darter lặn xuống và chuẩn bị tấn công cột trái của đội hình các tàu hạng nặng trong Phân đội 1 của Kurita. Cột đội hình này do soái hạm Atago của Kurita dẫn đầu. McClintock đổi hướng để chạy song song với cột đội hình, qua đó có thể khai hỏa cả ống phóng ngư lôi mũi và đuôi mà không cần phải quay tàu hoàn toàn. Ở cự ly chỉ dưới 1.000 yard, McClintock phóng toàn bộ sáu ống ngư lôi mũi về phía Atago. Ông nhanh chóng cơ động Darter quay 180°, đưa các ống phóng ngư lôi đuôi vào vị trí bắn đối với tàu tuần dương tiếp theo trong hàng. Ngay khi những vụ nổ dữ dội từ loạt bắn đầu tiên được ghi nhận, quả ngư lôi đầu tiên từ các ống đuôi cũng rời bệ phóng. Trong hình minh họa này, Atago đang bốc cháy sau khi trúng bốn quả ngư lôi. Lúc 06 giờ 34 phút, chỉ một phút sau khi Atago bị đánh trúng, Takao (ở đằng sau Atago) cũng bị trúng hai quả ngư lôi: một quả đánh vào khu vực đài chỉ huy tàu, quả còn lại trúng phần đuôi. Atago, đang bốc cháy dữ dội, bị chìm trong vòng 18 phút kể từ khi trúng ngư lôi. Takao sống sót và lết được về Singapore, nơi con tàu bị đánh giá là không còn khả năng sửa chữa. (Tranh của Jim Laurier)
Trong một trận phục kích hoàn hảo, Darter tấn công soái hạm của Kurita, tàu tuần dương hạng nặng Atago, bằng các ống phóng ngư lôi ở mũi tàu, rồi xoay vòng để bắn các ống phóng đuôi vào con tàu kế tiếp trong đội hình, tàu tuần dương hạng nặng Takao. Trong khi đó, Dace phóng toàn bộ loạt ngư lôi vào tàu tuần dương hạng nặng Maya. Ở cự ly như vậy, kết quả thật tàn khốc. AtagoMaya bị đánh chìm, và hai quả trúng vào Takao buộc con tàu phải quay về Brunei. Kurita sống sót sau khi Atago bị chìm, nhưng ông phải bơi để giữ mạng trước khi được một tàu khu trục cứu và chuyển sang Yamato để tiếp tục chỉ huy. Như thể bản thân cuộc tấn công vẫn chưa đủ sức tàn phá, người Mỹ giờ đây đã biết rõ vị trí lực lượng của Kurita.

HẢI QUÂN MỸ ĐÁP TRẢ

Lộ trình của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất trong các ngày 24–25 tháng 10 năm 1944. Trọng tâm trong kế hoạch của Hải quân Đế quốc Nhật Bản nhằm đẩy lùi cuộc đổ bộ của Mỹ vào Leyte chính là Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất đầy uy lực, trong đó có cả Yamato và Musashi. Để tới được vịnh Leyte, lực lượng này buộc phải vượt qua biển Sibuyan rồi thoát ra qua eo biển San Bernardino, nên nhiều khả năng sẽ phải chịu các đòn tiến công của Mỹ trên suốt hành trình. Trên thực tế, quá trình vượt biển Sibuyan đã hứng chịu tổng cộng năm đợt không kích của không lực tàu sân bay Hải quân Mỹ. Các đợt tấn công này tập trung vào Musashi, con tàu bị tàn phá nặng nề bởi các đòn ném ngư lôi và ném bom bổ nhào, rồi chìm vào tối hôm đó. Xác tàu được phát hiện vào tháng 3 năm 2015 ở độ sâu 1.120 feet, bởi một nhóm thám hiểm tư nhân do tỷ phú Mỹ, đồng sáng lập Microsoft Paul Allen tài trợ. Phần còn lại của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất chỉ chịu thiệt hại nhẹ, và ngay trước nửa đêm đã vượt qua eo biển San Bernardino mà không bị quấy nhiễu. Ngày hôm sau, Yamato sẽ có lần duy nhất trong chiến tranh được sử dụng pháo chính cỡ 18,1 inch của mình để bắn vào các tàu Mỹ trong trận ngoài khơi Samar.
Lộ trình của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất trong các ngày 24–25 tháng 10 năm 1944. Trọng tâm trong kế hoạch của Hải quân Đế quốc Nhật Bản nhằm đẩy lùi cuộc đổ bộ của Mỹ vào Leyte chính là Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất đầy uy lực, trong đó có cả Yamato và Musashi. Để tới được vịnh Leyte, lực lượng này buộc phải vượt qua biển Sibuyan rồi thoát ra qua eo biển San Bernardino, nên nhiều khả năng sẽ phải chịu các đòn tiến công của Mỹ trên suốt hành trình. Trên thực tế, quá trình vượt biển Sibuyan đã hứng chịu tổng cộng năm đợt không kích của không lực tàu sân bay Hải quân Mỹ. Các đợt tấn công này tập trung vào Musashi, con tàu bị tàn phá nặng nề bởi các đòn ném ngư lôi và ném bom bổ nhào, rồi chìm vào tối hôm đó. Xác tàu được phát hiện vào tháng 3 năm 2015 ở độ sâu 1.120 feet, bởi một nhóm thám hiểm tư nhân do tỷ phú Mỹ, đồng sáng lập Microsoft Paul Allen tài trợ. Phần còn lại của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất chỉ chịu thiệt hại nhẹ, và ngay trước nửa đêm đã vượt qua eo biển San Bernardino mà không bị quấy nhiễu. Ngày hôm sau, Yamato sẽ có lần duy nhất trong chiến tranh được sử dụng pháo chính cỡ 18,1 inch của mình để bắn vào các tàu Mỹ trong trận ngoài khơi Samar.
Halsey nghi ngờ việc IJN sẽ thực hiện một nỗ lực lớn nhằm phá vỡ cuộc đổ bộ lên Leyte, nhưng đến ngày 23 tháng 10 thì đã rõ rằng người Nhật thực sự đang làm đúng như vậy – dù Lực lượng Chủ lực của Ozawa vẫn chưa được phát hiện. Sự xuất hiện của Hải quân Nhật khiến Halsey bị động, bởi nhóm tác chiến mạnh nhất của ông, TG 38.1, đang ở rất xa về phía nam khu vực giao tranh, trên đường tới căn cứ Ulithi để bổ sung tiếp liệu. Ông ra lệnh cho ba nhóm tác chiến còn lại áp sát bờ biển Philippine để sẵn sàng phóng máy bay trinh sát và thực hiện các đợt tấn công bắt đầu từ ngày 24.
Ảnh chụp từ ghế sau của một chiếc máy bay ném bom SB2C Helldiver trong ngày 24 tháng 10 năm 1944 cho thấy tàu sân bay USS Intrepid (CV-11) đang thực hiện các hoạt động bay. Một chiếc SB2C khác thuộc Phi đội ném bom 18 (VB-18) đang cất cánh từ tàu sân bay. Lưu ý đến thiết giáp hạm ở phía xa.
Ảnh chụp từ ghế sau của một chiếc máy bay ném bom SB2C Helldiver trong ngày 24 tháng 10 năm 1944 cho thấy tàu sân bay USS Intrepid (CV-11) đang thực hiện các hoạt động bay. Một chiếc SB2C khác thuộc Phi đội ném bom 18 (VB-18) đang cất cánh từ tàu sân bay. Lưu ý đến thiết giáp hạm ở phía xa.
Tàu sân bay hạng nhẹ USS Cabot (CVL-28) được biên chế cùng Intrepid trong Nhóm đặc nhiệm 38.2 (TG 38.2) trong trận Vịnh Leyte, và Không đoàn Tàu sân bay số 29 của Cabot đã hoạt động rất tích cực trong các đợt tấn công Musashi vào ngày 25 tháng 10. Trong bức ảnh này, Cabot đang cơ động dưới cuộc tấn công kamikaze của Nhật vào ngày 25 tháng 11 – cũng chính là ngày Intrepid bị hai máy bay kamikaze đánh trúng. (Real War Photos)
Tàu sân bay hạng nhẹ USS Cabot (CVL-28) được biên chế cùng Intrepid trong Nhóm đặc nhiệm 38.2 (TG 38.2) trong trận Vịnh Leyte, và Không đoàn Tàu sân bay số 29 của Cabot đã hoạt động rất tích cực trong các đợt tấn công Musashi vào ngày 25 tháng 10. Trong bức ảnh này, Cabot đang cơ động dưới cuộc tấn công kamikaze của Nhật vào ngày 25 tháng 11 – cũng chính là ngày Intrepid bị hai máy bay kamikaze đánh trúng. (Real War Photos)
Một máy bay ném bom SB2C-3 Helldiver thuộc Phi đội ném bom 18 (VB-18) đang bay trên Nhóm tác chiến 38.2 (TG 38.2) trong trận chiến Biển Sibuyan ngày 24 tháng 10 năm 1944. Bức ảnh được chụp bởi Richard Shipman, một nhiếp ảnh gia từ tàu sân bay USS Intrepid (CV-11), từ ghế sau của một chiếc SB2C thuộc VB-18. Máy bay từ VB-18 đã tấn công các thiết giáp hạm Yamato và Musashi của Nhật Bản vào khoảng 10 giờ 30 phút. Các tàu sau đây có thể nhìn thấy: Intrepid và các tàu sân bay hạng nhẹ USS Independence (CVL-22) và USS Cabot (CVL-28). Phía bên trái và phía trước Intrepid là các thiết giáp hạm USS Iowa (BB-61) và USS New Jersey (BB-62).
Một máy bay ném bom SB2C-3 Helldiver thuộc Phi đội ném bom 18 (VB-18) đang bay trên Nhóm tác chiến 38.2 (TG 38.2) trong trận chiến Biển Sibuyan ngày 24 tháng 10 năm 1944. Bức ảnh được chụp bởi Richard Shipman, một nhiếp ảnh gia từ tàu sân bay USS Intrepid (CV-11), từ ghế sau của một chiếc SB2C thuộc VB-18. Máy bay từ VB-18 đã tấn công các thiết giáp hạm Yamato và Musashi của Nhật Bản vào khoảng 10 giờ 30 phút. Các tàu sau đây có thể nhìn thấy: Intrepid và các tàu sân bay hạng nhẹ USS Independence (CVL-22) và USS Cabot (CVL-28). Phía bên trái và phía trước Intrepid là các thiết giáp hạm USS Iowa (BB-61) và USS New Jersey (BB-62).
Sau thảm họa ở eo biển Palawan, Kurita tiếp tục di chuyển theo hướng đông bắc và nhanh chóng tiến vào eo biển Mindoro. Tại đây, một tàu ngầm Mỹ phát hiện lực lượng này sau nửa đêm ngày 24 tháng 10, nhưng không thể vào vị trí để tấn công. Đến cuối buổi sáng hôm đó, hạm đội IJN được một trong các máy bay trinh sát buổi sáng của TG 38.2 phát hiện lúc 08 giờ 10 phút gần đảo Semirara, ở phía nam Mindoro. Vài phút sau, báo cáo tiếp xúc đã đến tay chỉ huy TG 38.2, và công tác chuẩn bị cho một cuộc tấn công ngay lập tức được tiến hành.
Khi đến lúc giao chiến với Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ nhất vào ngày 24 tháng 10, TG 38.2 trong phần lớn thời gian phải tự mình đảm trách. TG 38.3 ở quá xa phía bắc để có thể tung đòn đánh ngay lập tức và TG 38.4 thì ở quá xa phía nam. TG 38.2 là lực lượng yếu nhất trong bốn nhóm tác chiến của TF 38, gồm tàu sân bay hạm đội Intrepid và các tàu sân bay hạng nhẹ USS Cabot (CVL-28) và USS Independence (CVL-22). Không đoàn trên CVL-22 chuyên dành cho tác chiến ban đêm, vì vậy mà máy bay của nó không tham gia vào các đòn tấn công lực lượng của Kurita.
Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất triển khai đội hình hành quân phòng không vào lúc 10 giờ 30 phút, chia thành hai vòng đồng tâm; Yamato bố trí ở giữa với nhiệm vụ là soái hạm của hạm đội; Musashi được bố trí ở phía mạn phải của hạm đội.
Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất triển khai đội hình hành quân phòng không vào lúc 10 giờ 30 phút, chia thành hai vòng đồng tâm; Yamato bố trí ở giữa với nhiệm vụ là soái hạm của hạm đội; Musashi được bố trí ở phía mạn phải của hạm đội.
Sau khi tái tổ chức lực lượng sau thảm họa tại eo biển Palawan, Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất đã tiến vào eo biển Mindoro. Nhóm tàu Nhật Bản dẫn đầu đội hình bao gồm hai tàu chiến khổng lồ Yamato và Musashi. Yamato với vai trò là soái hạm được bố trí ở trung tâm đội hình, trong khi Musashi (trong hình) thì được bố trí ở bên phải của đội hình. Trong hình minh hoạ, có thể thấy phần sàn trên boong lộ thiên của Musashi có màu đen được sơn từ muội than trong ống khói của con tàu. Lớp ngụy trang này của cả Musashi và Yamato đã được sử dụng từ ngày 18 tháng 10 năm 1944, trước khi tham gia vào Chiến dịch Sho-1.
Sau khi tái tổ chức lực lượng sau thảm họa tại eo biển Palawan, Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất đã tiến vào eo biển Mindoro. Nhóm tàu Nhật Bản dẫn đầu đội hình bao gồm hai tàu chiến khổng lồ Yamato và Musashi. Yamato với vai trò là soái hạm được bố trí ở trung tâm đội hình, trong khi Musashi (trong hình) thì được bố trí ở bên phải của đội hình. Trong hình minh hoạ, có thể thấy phần sàn trên boong lộ thiên của Musashi có màu đen được sơn từ muội than trong ống khói của con tàu. Lớp ngụy trang này của cả Musashi và Yamato đã được sử dụng từ ngày 18 tháng 10 năm 1944, trước khi tham gia vào Chiến dịch Sho-1.
Đòn tấn công đầu tiên của TG 38.2 gồm 45 máy bay – 21 chiếc Hellcat, 12 chiếc Helldiver và 12 chiếc Avenger. Trong số này, 10 chiếc Hellcat (VF-29) và 4 chiếc Avenger (VT-29) xuất phát từ Cabot, số còn lại đến từ Intrepid (VF-18, VB-18 và VT-18). Trung tá William Ellis, chỉ huy của Không đoàn 18 trên Intrepid, dẫn đầu đòn tấn công hợp nhất này. Phần lớn các phi công hải quân tham gia nhiệm vụ này chưa từng tấn công một tàu chiến Nhật Bản trước đây, và giờ họ đang hướng đến đội hình tàu chiến mặt nước lớn nhất mà IJN từng tung ra trong cuộc chiến. Đòn đánh cất cánh lúc 09 giờ 10 phút và bay về phía tây để tấn công Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất ở cách đó khoảng 250 hải lý.
Yamato trong đội hình lúc bắt đầu cuộc tiến công, được chụp từ một máy bay của Intrepid. Ngay từ đợt đầu tiên, phần lớn các phi công hải quân đã chọn Musashi làm mục tiêu, thay vì Yamato có kích thước tương đương. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato trong đội hình lúc bắt đầu cuộc tiến công, được chụp từ một máy bay của Intrepid. Ngay từ đợt đầu tiên, phần lớn các phi công hải quân đã chọn Musashi làm mục tiêu, thay vì Yamato có kích thước tương đương. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato và Musashi bị máy bay từ tàu sân bay USS Intrepid và USS Cabot thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 38 của Hải quân Hoa Kỳ phát hiện ở Biển Sibuyan, và đã thực hiện các thao tác né tránh theo vòng tròn để tránh bị tấn công.
Yamato và Musashi bị máy bay từ tàu sân bay USS Intrepid và USS Cabot thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 38 của Hải quân Hoa Kỳ phát hiện ở Biển Sibuyan, và đã thực hiện các thao tác né tránh theo vòng tròn để tránh bị tấn công.
Khi Ellis tiếp cận lực lượng Nhật, kích thước của YamatoMusashi nổi bật lên – không có gì ngạc nhiên khi những con tàu này trở thành trọng tâm chính của cuộc tấn công ông. Không có máy bay IJN xuất hiện, 21 chiếc tiêm kích được lệnh bắn phá các tàu Nhật để bảo vệ các máy bay ném ngư lôi. Mười hai chiếc Helldiver được lệnh tấn công YamatoMusashi bằng bom 1.000 lb, 6 chiếc bổ nhào được phân cho mỗi tàu. Tám chiếc Avenger từ Intrepid được phân cho phía đông đội hình của Kurita. Hai chiếc được lệnh tấn công tàu tuần dương hạng nặng Myoko, vốn đang làm nhiệm vụ hộ tống chiếc thiết giáp hạm lớp Yamato nằm ở cực đông. Sáu chiếc máy bay ném ngư lôi còn lại được phái tấn công siêu thiết giáp hạm khổng lồ này, chia thành hai biên đội 3 chiếc và tiếp cận mục tiêu từ hai bên trái và phải của mũi tàu phía trước trong một đòn tấn công kiểu "cái đe" kinh điển. Bốn chiếc Avenger cuối cùng từ Cabot được giao nhiệm vụ tấn công chiếc thiết giáp hạm lớp Yamato ở xa nhất.
Vào khoảng 10 giờ, radar của Musashi bắt được tín hiệu các máy bay Hải quân Mỹ đang tiến đến. Trong một ngày trời quang, giữa khung cảnh được tô viền bởi những tán thực vật nhiệt đới tươi tốt của Mindoro và đảo Tablas, cuộc chạm trán đầu tiên giữa máy bay tàu sân bay Mỹ và những thiết giáp hạm lớn nhất thế giới đã diễn ra. Theo lời Ellis, trận đánh mở màn như sau:
Bọn Nhật khai hỏa vào đội hình của chúng tôi từ cự ly rất xa, dùng mọi thứ chúng có, bao gồm cả pháo tháp, và hiệu ứng tổng hợp thật kinh khủng. Các phi công [mô tả] một số loạt pháo phòng không có màu hồng với các tia lửa, số khác thì có màu tím với vạch đạn trắng, và rất nhiều phosphor trắng. Một quả đạn nổ tung bắn ra các hạt kim loại màu bạc.
Khi người Mỹ triển khai cuộc tấn công, các trận địa phòng không của Musashi khai hỏa tạo nên một màn đạn dày đặc tưởng chừng không thể xuyên thủng. Các phi công hải quân tiếp tục lao qua màn đạn của những loạt nổ 5 inch nhiều màu sắc. Đến gần hơn, các máy bay Helldiver và Avenger lọt vào tầm bắn của pháo 25 mm, vốn khai hỏa tạo thành một dòng sáng liên tục được tạo ra bởi các viên đạn vạch đường trong mỗi viên đạn thứ tư hoặc thứ năm.
Đợt tấn công đầu tiên vào Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất được thực hiện bởi máy bay từ TG 38.1. Cuộc tấn công do Trung tá William E. Ellis của không đoàn trên tàu sân bay Intrepid chỉ huy, người đã chọn Musashi làm mục tiêu. Sáu máy bay Helldiver từ VB-18 bắt đầu tấn công. Bay vào những gì được mô tả như một “bức tường” hỏa lực phòng không, các Helldiver chỉ ghi được vài quả bom gần trúng. Để thả vũ khí một cách chính xác, phi công máy bay ném bom bổ nhào sẽ giữ cho đến khi máy bay đạt độ cao 1.500–2.000 ft phía trên mục tiêu. Quả bom 1.000 lb được thả không thể làm tê liệt một thiết giáp hạm bọc giáp nặng, đặc biệt là một con tàu được bảo vệ tốt như Musashi, nhưng nó có thể phá hủy các khẩu pháo phòng không cùng tổ lái trên sàn đáp, từ đó làm cho các đợt tấn công phối hợp của máy bay ném ngư lôi Avenger hiệu quả hơn. Chính xác những gì đã xảy ra với Musashi. Có tới 16 quả bom trúng làm giảm năng lực phòng không của con tàu đến mức các Avenger trong hai đợt tấn công cuối cùng gần như không gặp sự kháng cự nào. (Tranh của Jim Laurier)
Đợt tấn công đầu tiên vào Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất được thực hiện bởi máy bay từ TG 38.1. Cuộc tấn công do Trung tá William E. Ellis của không đoàn trên tàu sân bay Intrepid chỉ huy, người đã chọn Musashi làm mục tiêu. Sáu máy bay Helldiver từ VB-18 bắt đầu tấn công. Bay vào những gì được mô tả như một “bức tường” hỏa lực phòng không, các Helldiver chỉ ghi được vài quả bom gần trúng. Để thả vũ khí một cách chính xác, phi công máy bay ném bom bổ nhào sẽ giữ cho đến khi máy bay đạt độ cao 1.500–2.000 ft phía trên mục tiêu. Quả bom 1.000 lb được thả không thể làm tê liệt một thiết giáp hạm bọc giáp nặng, đặc biệt là một con tàu được bảo vệ tốt như Musashi, nhưng nó có thể phá hủy các khẩu pháo phòng không cùng tổ lái trên sàn đáp, từ đó làm cho các đợt tấn công phối hợp của máy bay ném ngư lôi Avenger hiệu quả hơn. Chính xác những gì đã xảy ra với Musashi. Có tới 16 quả bom trúng làm giảm năng lực phòng không của con tàu đến mức các Avenger trong hai đợt tấn công cuối cùng gần như không gặp sự kháng cự nào. (Tranh của Jim Laurier)
 Theo sau các máy bay ném bom bổ nhào là cuộc tấn công của các máy bay Avenger. Trong 8 chiếc Avenger từ tàu Intrepid, 6 chiếc được phân công tấn công Musashi. Theo kế hoạch, chúng được chia thành 2 tốp ba máy bay để thực hiện tấn công kiểu "cái đe". Hình ảnh này cho thấy hai trong ba máy bay tấn công Musashi từ mạn phải. Bay qua một tàu khu trục hộ tống, một trong ba máy bay bị bắn hạ bởi hỏa lực 5inch trước khi kịp thả ngư lôi. Hai chiếc còn lại thả ngư lôi xuống mặt nước, và chiếc do máy bay dẫn đầu phóng trúng Musashi ngay phía sau cấu trúc thượng tầng khổng lồ của tàu. Cả hai máy bay sau đó tăng tốc tối đa và hạ độ cao xuống 200 ft để rời khỏi đội hình Nhật càng nhanh càng tốt. Quả ngư lôi trúng lúc này gây hư hại ít nhưng là quả đầu tiên trong tổng số khoảng 15 quả trúng Musashi. Không một con tàu nào có thể chịu nổi sức tấn công khủng khiếp như vậy. (Tranh của Jim Laurier)
Theo sau các máy bay ném bom bổ nhào là cuộc tấn công của các máy bay Avenger. Trong 8 chiếc Avenger từ tàu Intrepid, 6 chiếc được phân công tấn công Musashi. Theo kế hoạch, chúng được chia thành 2 tốp ba máy bay để thực hiện tấn công kiểu "cái đe". Hình ảnh này cho thấy hai trong ba máy bay tấn công Musashi từ mạn phải. Bay qua một tàu khu trục hộ tống, một trong ba máy bay bị bắn hạ bởi hỏa lực 5inch trước khi kịp thả ngư lôi. Hai chiếc còn lại thả ngư lôi xuống mặt nước, và chiếc do máy bay dẫn đầu phóng trúng Musashi ngay phía sau cấu trúc thượng tầng khổng lồ của tàu. Cả hai máy bay sau đó tăng tốc tối đa và hạ độ cao xuống 200 ft để rời khỏi đội hình Nhật càng nhanh càng tốt. Quả ngư lôi trúng lúc này gây hư hại ít nhưng là quả đầu tiên trong tổng số khoảng 15 quả trúng Musashi. Không một con tàu nào có thể chịu nổi sức tấn công khủng khiếp như vậy. (Tranh của Jim Laurier)
Những chiếc Helldiver lao vào trước. Hai quả lệch mục tiêu rơi xuống phía mũi tàu, nhưng những cú đánh đó gần như không gây ảnh hưởng gì lên con tàu. Hai quả lệch mục tiêu khác được ghi nhận ở khu vực giữa tàu. Tiếp đến là những chiếc Hellcat, dùng súng bắn dọc theo chiều dài thiết giáp hạm. Sáu chiếc Avenger giáng đòn quan trọng đầu tiên của trận đánh khi ghi được một quả ngư lôi trúng giữa tàu, hơi chếch phía sau đài chỉ huy, ở mạn phải. Khoang trống chứa không khí của Musashi không thể hấp thu được lực nổ; mối nối then chốt giữa đai giáp chính và đai giáp dưới phía dưới nó đã bị phá hỏng. Điều này khiến hai đai giáp bị ép cong vào trong, dẫn đến tình trạng nước tràn chậm vào phòng nồi hơi liền kề. Kết quả là con tàu nghiêng 5,5 độ, sau đó được giảm xuống còn một độ nhờ vào hệ thống bơm của phòng nồi hơi bị ảnh hưởng và việc bơm nước đối trọng ở mạn trái.
Trong cuộc tấn công này, Musashi được báo cáo là đã bắn 48 viên 6,1 inch và 60 viên 5 inch – một con số gây sốc khi đối mặt với một đòn tập kích lớn. Một chiếc Avenger bị bắn rơi trước khi kịp thả vũ khí, và một chiếc thứ hai rơi xuống sau khi đã phóng ngư lôi. Hai chiếc Avenger tấn công Myoko thậm chí còn thành công hơn. Một quả ngư lôi đánh trúng tàu tuần dương hạng nặng, buộc nó phải rời khỏi trận chiến – và rời khỏi cả cuộc chiến. Tuy nhiên, mục tiêu chủ yếu của đợt tấn công đầu tiên vẫn là Musashi, và thử thách dành cho nó mới chỉ bắt đầu.
Một chiếc máy bay ném bom Curtiss SB2C-3 Helldiver của Phi đội ném bom 18 (VB-18) "Sunday Punchers" đang được điều khiển vào vị trí trên tàu sân bay USS Intrepid (CV-11) sau khi trở về từ một nhiệm vụ chiến đấu trong ngày 24 tháng 10 năm 1944. Máy bay bị hư hại phần đuôi do hỏa lực phòng không của Nhật Bản. Chú ý biểu tượng chữ thập trên đuôi máy bay Helldiver , biểu tượng của máy bay trên tàu Intrepid . Phi đội VB-18 hoạt động từ tàu Intrepid trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1944.
Một chiếc máy bay ném bom Curtiss SB2C-3 Helldiver của Phi đội ném bom 18 (VB-18) "Sunday Punchers" đang được điều khiển vào vị trí trên tàu sân bay USS Intrepid (CV-11) sau khi trở về từ một nhiệm vụ chiến đấu trong ngày 24 tháng 10 năm 1944. Máy bay bị hư hại phần đuôi do hỏa lực phòng không của Nhật Bản. Chú ý biểu tượng chữ thập trên đuôi máy bay Helldiver , biểu tượng của máy bay trên tàu Intrepid . Phi đội VB-18 hoạt động từ tàu Intrepid trong giai đoạn từ tháng 8 đến tháng 11 năm 1944.
Đợt tấn công thứ hai (cũng từ TG 38.2) được phóng đi lúc 10 giờ 45 phút, và bắt đầu công kích ngay sau 12 giờ trưa. Có khoảng 42 máy bay tham gia – 19 chiếc Hellcat, 12 chiếc Helldiver và 11 chiếc Avenger. Cuộc tấn công được phối hợp tốt và kết thúc chỉ trong vài phút. Lần này, dựa trên khuyến nghị của Trung tá Ellis cho người chỉ huy đợt đánh mới, cuộc tấn công tập trung hoàn toàn vào Musashi. Hải quân Nhật phát hiện cuộc tập kích trên radar khi còn cách 50 dặm và chuẩn bị đối phó một đợt oanh kích nữa.
Như thường lệ, các máy bay Helldiver vào tấn công đầu tiên. Ít nhất hai quả bom trúng đích được xác nhận, cùng với năm quả suýt trúng. Một quả bom rơi vào phía trước và xuyên qua phần loe mũi của Musashi mà không nổ. Quả bom 1.000lb thứ hai gây sát thương lớn hơn nhiều. Đánh trúng con tàu ngay bên mạn trái của ống khói, nó xuyên qua hai boong trước khi nhiều khả năng chạm đến boong bọc giáp chính và phát nổ. Phòng máy trong cùng bên mạn trái phải bỏ lại vì hơi nước siêu nóng tràn vào khoang, khiến con tàu chỉ còn lại ba trục chân vịt. Một đám cháy cũng bùng lên gần một trong các phòng nồi hơi, nhưng nhanh chóng được dập tắt. Làm tăng thêm sự hỗn loạn và tiếng ồn, còi hơi của con tàu bị hỏng và tiếp tục ré lên từng hồi trong phần còn lại của trận đánh.
Musashi cùng một tàu khu trục hộ tống đang cơ động tránh bom do máy bay từ TG 38.2 thả xuống trong giai đoạn đầu của cuộc đụng độ với Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất. Chú ý bóng dáng đặc trưng của máy bay Avenger in trên đám mây ở bên phải bức ảnh. (Barrett Tillman)
Musashi cùng một tàu khu trục hộ tống đang cơ động tránh bom do máy bay từ TG 38.2 thả xuống trong giai đoạn đầu của cuộc đụng độ với Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất. Chú ý bóng dáng đặc trưng của máy bay Avenger in trên đám mây ở bên phải bức ảnh. (Barrett Tillman)
Musashi cơ động dưới hỏa lực tấn công của các máy bay từ Intrepid trong đợt không kích thứ hai do tàu sân bay này phát động. Sự thiếu vắng tàu hộ tống là điều đáng chú ý, phản ánh học thuyết của IJN theo đó các tàu được kỳ vọng sẽ tự cơ động độc lập khi bị không kích. Điều đáng chú ý khác là hầu như không có các đám nổ của hỏa lực pháo 5 inch từ con tàu. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Musashi cơ động dưới hỏa lực tấn công của các máy bay từ Intrepid trong đợt không kích thứ hai do tàu sân bay này phát động. Sự thiếu vắng tàu hộ tống là điều đáng chú ý, phản ánh học thuyết của IJN theo đó các tàu được kỳ vọng sẽ tự cơ động độc lập khi bị không kích. Điều đáng chú ý khác là hầu như không có các đám nổ của hỏa lực pháo 5 inch từ con tàu. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Chín chiếc Avenger từ Intrepid thực hiện thêm một cuộc tấn công kiểu cái đe. Trong số này, 8 chiếc thả được ngư lôi. Dù các báo cáo khác nhau về vị trí, có vẻ ba quả ngư lôi đã trúng vào mạn trái. Một quả đánh trúng bên mạn trái gần ống khói, tại điểm nối giữa phòng máy ngoài cùng bên trái và khoang máy thủy lực mạn trái. Điều này gây ngập nước chậm nhưng vẫn có thể kiểm soát. Một cú đánh được xác nhận khác trúng vào mạn trái ngay phía trước thành trì bọc giáp. Như thường thấy trên các tàu lớp Yamato, một quả ngư lôi đánh vào khu vực không bọc giáp này khiến nhiều kho chứa lớn bị ngập nước. Cú đánh thứ ba ở phía sau Tháp pháo số 2, cũng ở mạn trái. Con tàu vẫn giữ được thăng bằng, nhưng lượng nước dâng ở phía trước khiến mũi tàu chúi xuống 6,5 ft.
Thiết giáp hạm Musashi đang thực hiện các cuộc bắn thử các khẩu pháo chính 46 cm (18,1 inch) trên biển tại eo biển Iyonada (gần Ōita) vào ngày 26 tháng 7 năm 1942. Cảnh tượng cũng lặp lại lúc Musashi sử dụng đạn Type 3 được khai hỏa từ pháo chính nhằm vào các đợt tấn công ồ ạt của các máy bay Mỹ. Mặc dù trông rất ngoạn mục, nhưng đạn Type 3 lại không hiệu quả khi không ghi nhận bắn hạ được bất kỳ máy bay địch nào.
Thiết giáp hạm Musashi đang thực hiện các cuộc bắn thử các khẩu pháo chính 46 cm (18,1 inch) trên biển tại eo biển Iyonada (gần Ōita) vào ngày 26 tháng 7 năm 1942. Cảnh tượng cũng lặp lại lúc Musashi sử dụng đạn Type 3 được khai hỏa từ pháo chính nhằm vào các đợt tấn công ồ ạt của các máy bay Mỹ. Mặc dù trông rất ngoạn mục, nhưng đạn Type 3 lại không hiệu quả khi không ghi nhận bắn hạ được bất kỳ máy bay địch nào.
Trong cuộc tấn công này, Musashi được ghi nhận đã bắn 54 quả đạn Type 3, 17 quả 6,1 inch và 200 quả 5 inch. Lượng hỏa lực áp đảo của con tàu buộc một chiếc Avenger phải hạ cánh khẩn cấp do trúng đạn khi còn cách 15 dặm, và bắn rơi hai chiếc Helldiver. Các phi công Mỹ ấn tượng khi họ bị bắn bằng đạn pháo hạng nặng ở cự ly 25.000–30.000 yard, nhưng không máy bay nào bị tổn hại.
Sau hai đợt tấn công, Musashi chưa gặp nguy cơ bị đánh chìm, và vẫn giữ được đáng kể khả năng chiến đấu. Việc đối trọng bằng ngập nước đã làm giảm dự trữ lực nổi của con tàu, nhưng nó chỉ nghiêng nhẹ sang trái. Vấn đề lớn nhất là tốc độ giảm xuống 22 hải lý/giờ do chỉ còn ba trục chân vịt hoạt động. Để không bỏ lại Musashi phía sau, Kurita ra lệnh cho lực lượng của ông giảm tốc xuống hải lý/giờ, cho phép con tàu lấy lại vị trí trong đội hình.
Đợt tấn công thứ ba nhắm vào Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ nhất được phóng đi từ TG 38.3 lúc 12 giờ 50 phút. Từ USS Essex (CV-9) và USS Lexington (CV-16), tổng cộng 16 chiếc Hellcat (VF-15 từ CV-9 và VF-19 từ CV-16), 20 chiếc Helldiver (VB-15 từ CV-9 và VB-19 từ CV-16) và 32 chiếc Avenger (VT-15 từ CV-9 và VT-19 từ CV-16) được đưa lên không trung. Cuộc tấn công bắt đầu lúc 13 giờ 30 phút, với mục tiêu là cả YamatoMusashi. Trong loạt tấn công này, ít nhất bốn quả bom đánh trúng Musashi. Ba quả tập trung quanh tháp pháo 18,1 inch phía trước và xuyên qua boong trên làm nổ trong các khoang sinh hoạt không có người ở phía dưới. Thiệt hại không nghiêm trọng và không gây cháy. Quả bom cuối cùng đánh trúng mạn phải gần ống khói và nổ ngay khi va chạm. Nó phá hủy các bệ pháo 25mm gần đó và gây thương vong nặng nề, nhưng không gây hư hại nghiêm trọng.
Cảnh tượng này mô tả thiết giáp hạm Yamato và Nagato ở đằng xa, đang hứng chịu cuộc tấn công dữ dội từ các máy bay Avenger trong đợt tấn công thứ ba của Hải quân Mỹ. Các máy bay ném bom bổ nhào bỏ qua chiếc Musashi đã bị hư hại nặng và chuyển sang tấn công hai thiết giáp hạm còn lại của Phân đội Thứ Nhất, là Yamato và Nagato. Ít nhất ba quả bom đánh trúng phần mũi Yamato. Một quả xuyên vào mũi tàu và phát nổ dưới mực nước, khiến 3.000 tấn nước biển tràn vào, tạo ra độ nghiêng 5° sang mạn trái. Việc bơm nước đối trọng đã làm giảm độ nghiêng xuống còn 1°. Yamato bị chúi mũi nhẹ, nhưng tốc độ không bị ảnh hưởng. Hai quả bom còn lại rơi gần Tháp pháo số 1, song không gây ra thiệt hại đáng kể. Gần như cùng lúc đó, Nagato cũng bị Helldiver tấn công. Con tàu trúng hai quả bom và ba quả khác nổ sượt gần. Quả bom đánh trúng boong xuồng đã phá hủy hoặc làm hư hại năm khẩu pháo 5,5 inch ở hốc pháo mạn tàu, đồng thời làm kẹt một bệ pháo hai nòng Type 89 5 inch. Hư hại tại cửa hút gió của một phòng nồi hơi khiến tốc độ tạm thời giảm xuống còn 22 hải lý/giờ.
Cảnh tượng này mô tả thiết giáp hạm Yamato và Nagato ở đằng xa, đang hứng chịu cuộc tấn công dữ dội từ các máy bay Avenger trong đợt tấn công thứ ba của Hải quân Mỹ. Các máy bay ném bom bổ nhào bỏ qua chiếc Musashi đã bị hư hại nặng và chuyển sang tấn công hai thiết giáp hạm còn lại của Phân đội Thứ Nhất, là Yamato và Nagato. Ít nhất ba quả bom đánh trúng phần mũi Yamato. Một quả xuyên vào mũi tàu và phát nổ dưới mực nước, khiến 3.000 tấn nước biển tràn vào, tạo ra độ nghiêng 5° sang mạn trái. Việc bơm nước đối trọng đã làm giảm độ nghiêng xuống còn 1°. Yamato bị chúi mũi nhẹ, nhưng tốc độ không bị ảnh hưởng. Hai quả bom còn lại rơi gần Tháp pháo số 1, song không gây ra thiệt hại đáng kể. Gần như cùng lúc đó, Nagato cũng bị Helldiver tấn công. Con tàu trúng hai quả bom và ba quả khác nổ sượt gần. Quả bom đánh trúng boong xuồng đã phá hủy hoặc làm hư hại năm khẩu pháo 5,5 inch ở hốc pháo mạn tàu, đồng thời làm kẹt một bệ pháo hai nòng Type 89 5 inch. Hư hại tại cửa hút gió của một phòng nồi hơi khiến tốc độ tạm thời giảm xuống còn 22 hải lý/giờ.
Mặc dù các không đoàn tàu sân bay tập trung tấn công vào Musashi, nhưng Yamato cũng bị tấn công và chịu thiệt hại nhẹ. Trong bức ảnh này, một trong hai quả bom 1.000 lb đánh trúng con tàu phát nổ ở phía trước Tháp pháo số 1. Chú ý khói từ các pháo 25mm và boong gỗ đã được làm đen từ trước, nhằm chuẩn bị cho khả năng thủy thủ đoàn phải giao chiến ban đêm khi đột phá qua eo biển San Bernardino. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Mặc dù các không đoàn tàu sân bay tập trung tấn công vào Musashi, nhưng Yamato cũng bị tấn công và chịu thiệt hại nhẹ. Trong bức ảnh này, một trong hai quả bom 1.000 lb đánh trúng con tàu phát nổ ở phía trước Tháp pháo số 1. Chú ý khói từ các pháo 25mm và boong gỗ đã được làm đen từ trước, nhằm chuẩn bị cho khả năng thủy thủ đoàn phải giao chiến ban đêm khi đột phá qua eo biển San Bernardino. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Nghiêm trọng hơn nhiều, ba quả ngư lôi nữa được ghi nhận. Hai quả đánh trúng hai bên mũi tàu phía trước đai giáp, gây ngập nước diện rộng lan khắp con tàu trên boong giữa. Các tấm thép mạn tàu bị hất bật ra ngoài bởi vụ nổ, khiến mạn tàu trông như một lưỡi cày khổng lồ hất nước lên khi tàu tiến về phía trước. Một quả khác đánh trúng mạn phải gần vị trí trúng ngư lôi trước đó, làm tăng mức độ ngập nước và buộc phòng máy thủy lực mạn phải phải bỏ lại. Có thể có một quả trúng nữa trong khu vực tháp pháo ba nòng 6,1 inch phía trước bên mạn phải, nhưng điều này không thể xác nhận chắc chắn.
Musashi trở thành mục tiêu của các Helldiver từ TG 38.3 – đây là đợt tấn công thứ ba nhằm vào chiếc siêu thiết giáp hạm này. Một đám cháy do đợt ném bom bổ nhào trước đó gây ra đang bốc cháy rõ rệt ở phía sau, tạo ra lượng khói lớn. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Musashi trở thành mục tiêu của các Helldiver từ TG 38.3 – đây là đợt tấn công thứ ba nhằm vào chiếc siêu thiết giáp hạm này. Một đám cháy do đợt ném bom bổ nhào trước đó gây ra đang bốc cháy rõ rệt ở phía sau, tạo ra lượng khói lớn. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Bức ảnh chụp Musashi trong giai đoạn bị tấn công từ các máy bay Mỹ. Trong đây có thể thấy một vụ nổ lớn bên mạn phải của con tàu được gây ra bởi một quả bom hoặc một quả ngư lôi.
Bức ảnh chụp Musashi trong giai đoạn bị tấn công từ các máy bay Mỹ. Trong đây có thể thấy một vụ nổ lớn bên mạn phải của con tàu được gây ra bởi một quả bom hoặc một quả ngư lôi.
Thế nhưng dù bị đánh dồn dập như vậy, độ nghiêng chỉ tăng lên hai độ về mạn phải. Việc đối trọng thêm đã giảm được mức nghiêng này. Tuy nhiên, tốc độ của con tàu đã giảm xuống 16 hải lý/giờ, đồng nghĩa với việc Musashi dần bị tụt lại phía sau đội hình của Kurita. Tốc độ này lại được Inoguchi giảm tiếp xuống 12 hải lý/giờ, vì ông lo sợ rằng mũi tàu có thể bị chúi xuống dưới mặt nước. Độ cao mạn trước từ 32,8 ft nay chỉ còn 19,6 ft, và con tàu chìm xuống mức 50 ft.
Mức độ hư hại từ 7 quả ngư lôi và 6 quả bom có lẽ đã đánh chìm bất kỳ thiết giáp hạm nào khác, và ngay cả Musashi cũng không thể chịu đựng kiểu công phá như vậy mà tiếp tục chiến đấu. Kurita ra lệnh cho con tàu rút về hướng tây cùng hai tàu khu trục hộ tống. Dù hư hại nặng nề như vậy, thiết giáp hạm vẫn chưa đối mặt nguy cơ chìm ngay lập tức, vì không có tình trạng ngập nước lan rộng dần.
Được chụp sau cuộc không kích Yap vào ngày 24 tháng 11 năm 1944, chiếc SB2C-3 dày dạn kinh nghiệm này của VB-20 đã tham gia các đợt tấn công Musashi trong tháng trước. Thực tế, máy bay thuộc Không đoàn Tàu sân bay số 20 của Enterprise chiếm phần lớn lực lượng tấn công. (Tailhook)
Được chụp sau cuộc không kích Yap vào ngày 24 tháng 11 năm 1944, chiếc SB2C-3 dày dạn kinh nghiệm này của VB-20 đã tham gia các đợt tấn công Musashi trong tháng trước. Thực tế, máy bay thuộc Không đoàn Tàu sân bay số 20 của Enterprise chiếm phần lớn lực lượng tấn công. (Tailhook)
Đợt không kích tiếp theo là lớn nhất trong ngày – 65 máy bay xuất kích từ tàu USS Enterprise (CV-6) và USS Franklin (CV-13) thuộc TG 38.4 vào khoảng 13 giờ 15 phút. Lực lượng này bao gồm 26 máy bay Hellcat (14 chiếc từ VF-13 trên tàu CV-13 và 12 chiếc từ VF-20 trên tàu CV-6), 21 máy bay Helldiver (12 chiếc từ VB-13 trên tàu CV-13 và 9 chiếc từ VB-20 trên tàu CV-6) và 18 máy bay Avenger (10 chiếc từ VT-13 trên tàu CV-13 và 8 chiếc từ VT-20 trên tàu CV-6).
Đến thời điểm máy bay Mỹ tiếp tục tấn công, Kurita đã tạm thời rẽ về hướng tây và Musashi bị cô lập. Hơn một nửa lực lượng tấn công đổ dồn vào thiết giáp hạm bị hư hỏng nặng này, số máy bay còn lại nhắm vào lực lượng chủ lực của Kurita. Giờ đây, Musashi không còn khả năng tự vệ, tốc độ giảm xuống còn 12 hải lý/giờ và chỉ khoảng một phần tư số pháo phòng không còn hoạt động được. Con tàu cũng không thể cơ động, biến nó thành mục tiêu dễ dàng.
Như đã lưu ý trước đó, máy bay từ Không đoàn tàu sân bay số 20 của CV-6 chiếm phần lớn lực lượng tấn công nhắm vào Musashi. Trong khi các máy bay tiêm kích được phân công áp chế các tàu khu trục hộ tống, các phi công Helldiver và Avenger đã đẩy mạnh các đợt tấn công ở cự ly gần nhất có thể để đảm bảo tỷ lệ trúng đích. Hậu quả gây ra cho thiết giáp hạm gần như không còn khả năng phòng thủ này thật thảm khốc. Các phi công hải quân xác nhận 11 trong số 18 chiếc Helldiver lao xuống Musashi đã ghi được phát bắn trúng. Lần này, những tuyên bố đó là chính xác. Chỉ trong vài phút, Musashi hứng chịu mười phát trúng từ bom 1.000 lb. Những chiếc SB2C tiếp cận từ phía mũi tàu và dường như tập trung vào cấu trúc thượng tầng phía trước. Cần phải chỉ rõ rằng không quả bom nào xuyên được vào các khu vực trọng yếu của con tàu, nghĩa là hệ thống động lực và khả năng nổi của nó vẫn không bị ảnh hưởng.
Bức ảnh này cho thấy sự tấn công dày đặc của Mỹ nhằm vào Musashi khi có thể nhìn rõ các vụ nổ từ bom và ngư lôi xung quanh con tàu. Bên cạnh Musashi là một tàu tuần dương cũng đang bị máy bay Mỹ tấn công bằng bom.
Bức ảnh này cho thấy sự tấn công dày đặc của Mỹ nhằm vào Musashi khi có thể nhìn rõ các vụ nổ từ bom và ngư lôi xung quanh con tàu. Bên cạnh Musashi là một tàu tuần dương cũng đang bị máy bay Mỹ tấn công bằng bom.
Đi từ mũi đến đuôi tàu, có thể kể lại sự tàn phá với một mức độ chắc chắn. Một quả bom trúng phía trước tháp pháo 18,1 inch phía trước và làm trầm trọng thêm những hư hại từ các đợt tấn công trước đó. Một quả bom khác trúng vào nóc tháp pháo phía trước, dù chỉ tạo ra một vết lõm nhỏ trên lớp giáp dày 10,6 inch. Một quả khác trúng vào mạn phải của tháp pháo phía trước và xuyên thủng hai boong tàu trước khi phát nổ khi chạm vào lớp giáp dày 9 inch trong khu vực này. Hai quả bom trúng cùng một chỗ hơi chếch về mạn phải, giữa tháp pháo 6,1 inch phía trước và cấu trúc thượng tầng, và phát nổ ngay khi tiếp xúc. Hai quả khác trúng vào mạn trái trong cùng khu vực đó, nhưng chúng xuyên thủng hai boong tàu cho đến khi phát nổ khi chạm vào boong giáp dày 7,9 inch. Quả bom thứ tám trúng vào mạn trái của cấu trúc thượng tầng và phát nổ ngay khi tiếp xúc. Điều này gây ra thiệt hại lớn cho các bệ pháo 25mm gần đó và tính mạng của các tổ pháo thủ.
Cấu trúc thượng tầng của Musashi cũng hứng chịu thêm thiệt hại khi một quả bom rơi trúng đỉnh tháp. Vụ nổ phá hủy bộ điều khiển hỏa lực chính của khẩu đội chủ lực cùng kính đo tầm. Vụ nổ cũng gây thương vong nặng nề trên cầu chỉ huy và trong phòng tác chiến, với 78 thủy thủ bị thương hoặc tử nạn. Trong số đó có Inoguchi, người bị mảnh bom găm vào vai. Ông được đưa về cabin trên tàu và sĩ quan chỉ huy, Thuyền trưởng Kenkichi Kato, đảm nhận chỉ huy thay. Quả đánh cuối cùng rơi trên trục giữa phía sau cấu trúc thượng tầng nhưng chỉ gây thiệt hại nhẹ. Ngoài ra, có sáu quả bom gần trúng khiến độ bền dưới nước của tàu giảm thêm.
Musashi là tâm điểm chú ý của phía Mỹ trong các đợt không kích của Mỹ. Trong bức ảnh này, con tàu dường như vừa mới trúng một quả ngư lôi. Tấm ảnh cho thấy sự khó khăn mà các phi công gặp phải trong việc xác định liệu họ có thực hiện một đòn tấn công thành công hay không. Lưu ý rằng hỏa lực phòng không phía trên đội hình tương đối thưa thớt.
Musashi là tâm điểm chú ý của phía Mỹ trong các đợt không kích của Mỹ. Trong bức ảnh này, con tàu dường như vừa mới trúng một quả ngư lôi. Tấm ảnh cho thấy sự khó khăn mà các phi công gặp phải trong việc xác định liệu họ có thực hiện một đòn tấn công thành công hay không. Lưu ý rằng hỏa lực phòng không phía trên đội hình tương đối thưa thớt.
Đáng sợ hơn cả các quả bom 1.000 lb là các đợt tấn công liên tục vào hệ thống phòng thủ dưới nước của Musashi. Hải quân Mỹ tuyên bố rằng trong tám chiếc Avenger của Enterprise tham chiến – bốn chiếc mỗi bên của mũi tàu – cả tám đều đánh trúng mục tiêu. Không thể xác định chính xác có bao nhiêu ngư lôi trúng thiết giáp hạm, nhưng có bốn quả được xác nhận. Một số nguồn Nhật ghi nhận có tới mười quả trúng mục tiêu. Từ thời điểm này, các báo cáo của những người sống sót trên Musashi trở nên không đáng tin cậy, và một số quả trúng có thể xảy ra trong đợt tấn công cuối cùng trong ngày của máy bay của Intrepid.
Từ mũi đến đuôi, quả trúng đầu tiên rơi phía mạn trái khu vực kho đạn của Tháp pháo số 1. Nước tràn vào hai tầng thấp nhất của kho đạn. Một quả trúng mạn trái gần cấu trúc thượng tầng, làm ngập một phòng lò hơi. Quả trúng thứ hai ở mạn trái, ngay phía sau ống khói, ở vị trí từng bị trúng ngư lôi trước đó, làm ngập phòng máy ngoài mạn trái ngay lập tức. Hiệu quả của ba quả trúng mạn trái được giảm phần nào nhờ quả trúng xác nhận ở mạn phải, khu vực Tháp pháo số 2.
Musashi đang trong những giây phút cuối cùng. Một lượng lớn lửa đã lan rộng khắp bề mặt của nó, trong khi tốc độ của nó giảm dần và nó bắt đầu nghiêng về bên trái khi nước tràn vào cấu trúc của nó. Có thể thấy một dòng nước ào ạt phun trào từ thân tàu sau khi một lỗ lớn ở phía trước phát nổ, giải phóng lượng nước bên trong.
Musashi đang trong những giây phút cuối cùng. Một lượng lớn lửa đã lan rộng khắp bề mặt của nó, trong khi tốc độ của nó giảm dần và nó bắt đầu nghiêng về bên trái khi nước tràn vào cấu trúc của nó. Có thể thấy một dòng nước ào ạt phun trào từ thân tàu sau khi một lỗ lớn ở phía trước phát nổ, giải phóng lượng nước bên trong.
Cả Kato và Kỹ sư trưởng - Thuyền trưởng Nakanmura, sống sót sau đợt tấn công, nhưng lời kể của họ thiếu nhất quán, có chỗ sai, chỗ mâu thuẫn, thậm chí không khớp với thời gian tấn công theo hồ sơ Hải quân Mỹ. Ngoài bốn quả ngư lôi xác nhận, có thể còn sáu quả khác, theo Kato ba quả trúng phía trước, hai mạn trái và một mạn phải. Một quả khác có khả năng trúng mạn trái, phía trước Tháp pháo số 3. Hai quả nữa trúng mạn giữa nhưng không nổ. Điều cho thấy hệ thống phòng thủ Musashi đã mất hiệu quả là tất cả máy bay của Enterprise đều trở về an toàn.
Đợt tấn công cuối cùng trong ngày là đợt thứ ba của IntrepidCabot, gồm 16 chiếc Hellcat, 12 chiếc Helldiver và 3 chiếc Avenger. Lúc này VT-18 chỉ còn 4 chiếc Avenger có thể hoạt động, một chiếc buộc phải bỏ cuộc ngay sau khi cất cánh. Điều này chứng tỏ hỏa lực phòng không Nhật dày đặc trong suốt ngày hôm đó. Lực lượng được phóng lúc 13 giờ 50 phút và tấn công lúc 15 giờ 50 phút, ngay sau đợt tấn công của TG 38.4. Trung tá Ellis dẫn đầu nhiệm vụ, nhưng đợt tấn công này hầu như không gây thêm thiệt hại đáng kể cho Musashi.
Các đợt tấn công của máy bay Enterprise đã chứng minh rõ ràng chiếc siêu thiết giáp hạm sẽ chìm. Thiệt hại tổng cộng đến lúc này gồm ít nhất 16 quả bom và có thể 15 ngư lôi. Mức nghiêng tàu tăng lên 10–12 độ, mũi tàu hạ thêm 6,5 feet. Chỉ còn trục chân vịt mạn phải hoạt động, tốc độ tối đa giảm xuống 6 hải lý/giờ. Nakanmura ra lệnh cho ngập ba phòng lò hơi ngoài cùng bên mạn phải, biện pháp quyết liệt này giữ mức nghiêng ở 12 độ. Trong tình trạng này, lúc 17 giờ 15 phút, Kurita ra lệnh Musashi tự đưa vào bờ tại đảo Sibuyan gần đó. Điều này rõ ràng là bất khả thi vì Musashi gần như không thể di chuyển với một trục chân vịt còn lại và nước tràn không thể ngăn cản được. Phần mũi chìm khiến tàu mất lái, con tàu chỉ xoay chậm. Đến 18 giờ, nước tràn vào buộc phòng lò hơi cuối cùng phải bỏ, khiến con tàu mất hoàn toàn nguồn lực.
Bức tranh mô tả Musashi vào khoảng 19 giờ 15 phút. Trên tàu, toàn bộ điện năng đã mất, và việc ngăn nước giữa các khoang bị phá hủy trở nên mất kiểm soát và tiến triển không ngừng. Không còn điện, những khẩu pháo lớn của tàu đứng bất động tại vị trí mà chúng đã bắn lần cuối — trớ trêu thay, đó là khi bắn chế áp để ngăn máy bay phóng ngư lôi. Các tháp pháo hạng hai cũng tương tự, chỉ hướng trơ trọi và bất lực lên bầu trời giờ đã yên tĩnh. Chỉ còn các pháo tự động vận hành bằng tay là còn hoạt động. Tác động của bom, dù chủ yếu là bề mặt, đã gây ra những đám cháy lan rộng bên dưới. Khi điện đã tắt, các đám cháy này không thể được khống chế nữa, và một làn khói mờ dần bốc ra từ nhiều khe hở. Đang chìm dần phần mũi và nghiêng nhanh sang mạn trái, con tàu trở nên cực kỳ mất ổn định và, ở cách xa vùng nước nông an toàn, rõ ràng chỉ còn rất ít thời gian. Nhận thấy điều không thể tránh khỏi, thuyền trưởng — thay mặt Chuẩn đô đốc Inoguchi đã tử trận — ra lệnh bỏ tàu. Thủy thủ đoàn được tập hợp ở đuôi để chào việc hạ cờ hiệu, và bức chân dung Thiên hoàng đã được mang lên boong để cứu. Sau khi giải tán, 2.500 thủy thủ trên thiết giáp hạm di chuyển ra phía trước, khẩn trương nhưng không hoảng loạn, đến nơi sẽ ghép mũi vào mạn tàu. Khi mặt trời chìm xuống đường chân trời, bông cúc vàng trên đuôi Musashi lặn xuống biển. Trong vòng 20 phút nữa, con tàu sẽ trở thành lịch sử.
Bức tranh mô tả Musashi vào khoảng 19 giờ 15 phút. Trên tàu, toàn bộ điện năng đã mất, và việc ngăn nước giữa các khoang bị phá hủy trở nên mất kiểm soát và tiến triển không ngừng. Không còn điện, những khẩu pháo lớn của tàu đứng bất động tại vị trí mà chúng đã bắn lần cuối — trớ trêu thay, đó là khi bắn chế áp để ngăn máy bay phóng ngư lôi. Các tháp pháo hạng hai cũng tương tự, chỉ hướng trơ trọi và bất lực lên bầu trời giờ đã yên tĩnh. Chỉ còn các pháo tự động vận hành bằng tay là còn hoạt động. Tác động của bom, dù chủ yếu là bề mặt, đã gây ra những đám cháy lan rộng bên dưới. Khi điện đã tắt, các đám cháy này không thể được khống chế nữa, và một làn khói mờ dần bốc ra từ nhiều khe hở. Đang chìm dần phần mũi và nghiêng nhanh sang mạn trái, con tàu trở nên cực kỳ mất ổn định và, ở cách xa vùng nước nông an toàn, rõ ràng chỉ còn rất ít thời gian. Nhận thấy điều không thể tránh khỏi, thuyền trưởng — thay mặt Chuẩn đô đốc Inoguchi đã tử trận — ra lệnh bỏ tàu. Thủy thủ đoàn được tập hợp ở đuôi để chào việc hạ cờ hiệu, và bức chân dung Thiên hoàng đã được mang lên boong để cứu. Sau khi giải tán, 2.500 thủy thủ trên thiết giáp hạm di chuyển ra phía trước, khẩn trương nhưng không hoảng loạn, đến nơi sẽ ghép mũi vào mạn tàu. Khi mặt trời chìm xuống đường chân trời, bông cúc vàng trên đuôi Musashi lặn xuống biển. Trong vòng 20 phút nữa, con tàu sẽ trở thành lịch sử.
Bức ảnh chất lượng kém nhưng đầy kịch tính này cho thấy Musashi đã chúi mũi xuống rõ rệt. Con tàu vẫn giữ thăng bằng theo trục ngang, nhưng sẽ sớm chìm do ngập nước tiến triển. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Bức ảnh chất lượng kém nhưng đầy kịch tính này cho thấy Musashi đã chúi mũi xuống rõ rệt. Con tàu vẫn giữ thăng bằng theo trục ngang, nhưng sẽ sớm chìm do ngập nước tiến triển. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Lúc 19 giờ, giai đoạn cuối bắt đầu. Mức độ nghiêng tăng lên 15 độ, nước tràn tới mạn trái của Tháp pháo số 1. Đến 19 giờ 20 phút, độ nghiêng của con tàu đạt 30 độ. Kato ra lệnh bỏ tàu. Phần đuôi khổng lồ của Musashi nhô lên khi mũi tàu chìm sâu, rồi tàu bắt đầu nghiêng chậm về mạn trái. Cuối cùng, tàu lật úp và trượt xuống nước, mũi tàu chìm xuống trước tiên. Đến 19 giờ 36 phút, Musashi biến mất hoàn toàn. Ba tàu khu trục cứu 1.376 người sống sót, nhưng vẫn có 1.023 thủy thủ tử nạn, bảo gồm Inoguchi, người chọn ở lại cùng con tàu.

CHUYẾN XUẤT KÍCH CUỐI CÙNG CỦA YAMATO

Yamato và các đơn vị còn lại của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất tiếp tục bị tấn công vào ngày 26 tháng 10 khi rút lui qua biển Sibuyan. Đây là một bức ảnh chụp thẳng từ trên cao rất đẹp của Yamato, được chụp lúc 11 giờ 15 phút từ độ cao 10.000 feet bởi một máy bay  B-24 Liberator thuộc Phi đoàn ném bom 424 / Liên đoàn ném bom 307. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato và các đơn vị còn lại của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất tiếp tục bị tấn công vào ngày 26 tháng 10 khi rút lui qua biển Sibuyan. Đây là một bức ảnh chụp thẳng từ trên cao rất đẹp của Yamato, được chụp lúc 11 giờ 15 phút từ độ cao 10.000 feet bởi một máy bay B-24 Liberator thuộc Phi đoàn ném bom 424 / Liên đoàn ném bom 307. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Sau trận Vịnh Leyte, Yamato trở về Nhật trong tuần đầu tiên của tháng 12. Con tàu đã trúng hai quả bom ở phần mũi do các SB2C-3 của VB-15 (biên chế trên Essex) ném xuống vào ngày 24 tháng 10. Hai ngày sau, một quả bom thứ ba cũng đánh trúng phía trước Tháp pháo số 1 – đây là quả bom được thả bởi một chiếc Helldiver thuộc VB-11, biên chế trên USS Hornet (CV-12). Thiệt hại gây ra trong ngày 24 khiến 3.000 tấn nước tràn vào tàu, trong khi quả bom hai ngày sau gây hư hại nặng cho vách thép bọc giáp phía trước.
Sau khi việc sửa chữa được tiến hành, con tàu bị máy bay tàu sân bay của Hải quân Mỹ tấn công trong Biển Nội Địa vào ngày 19 tháng 3 năm 1945. Mặc dù Yamato không bị hư hại, rõ ràng Hải quân Đế quốc Nhật Bản không thể tiếp tục che giấu siêu thiết giáp hạm duy nhất còn lại của mình khỏi các đợt tập kích của máy bay Mỹ.
Cuộc đổ bộ của Mỹ lên Okinawa vào ngày 1 tháng 4 đòi hỏi một phản ứng mạnh mẽ từ phía Nhật Bản. Một cuộc tập kích đường không quy mô lớn đã được chuẩn bị sẵn cho tình huống đó, và được ấn định vào ngày 6 tháng 4. Ban đầu, trong chiến dịch này—được đặt tên là Ten-Go (Chiến dịch Thiên Hiệu)—không có thành phần tàu chiến mặt nước. Tuy nhiên, đến ngày 4 tháng 4, Tư lệnh Hạm đội Liên Hợp đã tin rằng cần phải bổ sung Yamato vào Ten-Go. Cần phải có một sự thấu hiểu nhất định đối với tư duy Nhật Bản, đặc biệt là tư duy đang chi phối bộ tham mưu của Hạm đội Liên Hợp, để hiểu vì sao một chiến dịch như vậy thậm chí lại được cân nhắc. Khi Yamato đã trở nên dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công đường không, và với việc lực lượng Mỹ đã ở ngay trước cửa Nhật Bản, việc biểu tượng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản không xuất trận trong khi quốc gia đang chiến đấu để sinh tồn là điều không thể chấp nhận được.
Chiến dịch Ten-Go (天号作戦, Ten-Gō Sakusen) là một hành động vô nghĩa, với rất ít hy vọng thành công. Với một lực lượng nhỏ gồm một tàu tuần dương hạng nhẹ và tám tàu khu trục, Yamato được lệnh rời Nội Hải Nhật Bản và tiến về Okinawa để tấn công lực lượng đổ bộ của Hải quân Mỹ ở khoảng cách hơn 500 hải lý. Do không được yểm trợ đường không, hy vọng duy nhất để Yamato hoàn thành nhiệm vụ đầy rủi ro này là giành được yếu tố bất ngờ – điều gần như không thể, xét tới ưu thế tuyệt đối trên không của Mỹ. Ngay khi lực lượng Yamato ra khơi, họ đã bị máy bay Mỹ phát hiện, rồi tiếp tục bị tàu ngầm Mỹ theo dõi khi rời Biển Nội địa. Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1945, các tàu Nhật bị thủy phi cơ tuần tra Mariner và tiêm kích Hellcat bám sát, những máy bay này đã dẫn đường cho ba đợt không kích của không lực tàu sân bay Hải quân Mỹ đang hoạt động ở phía đông Okinawa. Chưa đầy hai giờ sau khi cuộc tấn công bắt đầu, Yamato phát nổ, khi vẫn còn cách mục tiêu khoảng 200 dặm.
Chiến dịch Ten-Go (天号作戦, Ten-Gō Sakusen) là một hành động vô nghĩa, với rất ít hy vọng thành công. Với một lực lượng nhỏ gồm một tàu tuần dương hạng nhẹ và tám tàu khu trục, Yamato được lệnh rời Nội Hải Nhật Bản và tiến về Okinawa để tấn công lực lượng đổ bộ của Hải quân Mỹ ở khoảng cách hơn 500 hải lý. Do không được yểm trợ đường không, hy vọng duy nhất để Yamato hoàn thành nhiệm vụ đầy rủi ro này là giành được yếu tố bất ngờ – điều gần như không thể, xét tới ưu thế tuyệt đối trên không của Mỹ. Ngay khi lực lượng Yamato ra khơi, họ đã bị máy bay Mỹ phát hiện, rồi tiếp tục bị tàu ngầm Mỹ theo dõi khi rời Biển Nội địa. Sáng ngày 7 tháng 4 năm 1945, các tàu Nhật bị thủy phi cơ tuần tra Mariner và tiêm kích Hellcat bám sát, những máy bay này đã dẫn đường cho ba đợt không kích của không lực tàu sân bay Hải quân Mỹ đang hoạt động ở phía đông Okinawa. Chưa đầy hai giờ sau khi cuộc tấn công bắt đầu, Yamato phát nổ, khi vẫn còn cách mục tiêu khoảng 200 dặm.
Đây là đội hình chính của lực lượng hải quân mặt nước khi hạm đội rời Bungo Suido (kênh Bungo) vào ngày 6 tháng 4 năm 1945. Đội hình tuyến tính hoặc hình chữ V/mũi tên, với Yamato ở vị trí trung tâm phân đội phía sau, các tàu hộ tống như Yahagi, Fuyuzuki, Suzutsuki, Hatsushimo và phân đội trước là các tàu khu trục như Asashimo, Hamakaze, Yukikaze, Isokaze, Kasumi trải rộng ở hai cánh. Khoảng cách lớn (6 km giữa hai phân đội, 1.5 km giữa các tàu). Đội hình rộng giúp các tàu khu trục kiểm tra khu vực rộng lớn để phát hiện và tấn công tàu ngầm. Đây là đội hình tiêu chuẩn cho di chuyển xa ở vùng biển mở, nơi rủi ro tàu ngầm cao hơn tấn công từ trên không.
Đây là đội hình chính của lực lượng hải quân mặt nước khi hạm đội rời Bungo Suido (kênh Bungo) vào ngày 6 tháng 4 năm 1945. Đội hình tuyến tính hoặc hình chữ V/mũi tên, với Yamato ở vị trí trung tâm phân đội phía sau, các tàu hộ tống như Yahagi, Fuyuzuki, Suzutsuki, Hatsushimo và phân đội trước là các tàu khu trục như Asashimo, Hamakaze, Yukikaze, Isokaze, Kasumi trải rộng ở hai cánh. Khoảng cách lớn (6 km giữa hai phân đội, 1.5 km giữa các tàu). Đội hình rộng giúp các tàu khu trục kiểm tra khu vực rộng lớn để phát hiện và tấn công tàu ngầm. Đây là đội hình tiêu chuẩn cho di chuyển xa ở vùng biển mở, nơi rủi ro tàu ngầm cao hơn tấn công từ trên không.
Đội hình vòng tròn xung quanh Yamato ở trung tâm vào ngày 7 tháng 4 năm 1945 trước câc cuộc tấn công của Hải quân Mỹ. Đội hình được sắp xếp các tàu hộ tống như Yahagi, Asashimo, Isokaze, Hamakaze, Yukikaze, Kasumi, Hatsushimo, Fuyuzuki, Suzutsuki, Hatsushimo phân bố đều ở khoảng cách 1,5 km. Đội hình này giúp các tàu tập trung hỏa lực phòng không, tạo "lá chắn" phòng không xung quanh soái hạm.
Đội hình vòng tròn xung quanh Yamato ở trung tâm vào ngày 7 tháng 4 năm 1945 trước câc cuộc tấn công của Hải quân Mỹ. Đội hình được sắp xếp các tàu hộ tống như Yahagi, Asashimo, Isokaze, Hamakaze, Yukikaze, Kasumi, Hatsushimo, Fuyuzuki, Suzutsuki, Hatsushimo phân bố đều ở khoảng cách 1,5 km. Đội hình này giúp các tàu tập trung hỏa lực phòng không, tạo "lá chắn" phòng không xung quanh soái hạm.
Sử dụng Yamato như một chiến binh cảm tử mang tính biểu tượng sẽ bảo vệ danh dự của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, giúp họ tránh khỏi những lời cáo buộc hèn nhát từ Lục quân Đế quốc, và đáp lại câu hỏi của Thiên hoàng vào ngày 29 tháng 3 về việc tại sao không có tàu chiến mặt nước nào tham gia Ten-Go. Một khi quyết định được đưa ra, chuyến xuất kích của Yamato nhằm hỗ trợ lực lượng phòng thủ Okinawa được nhanh chóng lên kế hoạch và ban hành mệnh lệnh vào ngày 5 tháng 4. Tình trạng thiếu nhiên liệu đồng nghĩa với việc chỉ một số ít tàu có thể được bố trí cho nhiệm vụ. Trong Ten-Go, Hạm đội 2 chỉ có thể tập hợp tổng cộng mười tàu chiến. Trái tim của lực lượng là Yamato, và nó được hộ tống bởi tàu tuần dương hạng nhẹ Yahagi cùng các tàu khu trục Asashimo, Fuyutsuki, Hamakaze, Hatsushimo, Isokaze, Kasumi, Suzutsuki Yukikaze. Lực lượng này được chỉ huy bởi Phó Đô đốc Seiichi Ito, với Đại tá Kosaku Aruga là thuyền trưởng của Yamato.
Kế hoạch này là một nhiệm vụ của sự hoang tưởng. Yamato sẽ phải tiến đến khu vực đổ bộ rồi tiêu diệt hạm đội đối phương tại đó. Nếu cần thiết, siêu thiết giáp hạm sẽ được cho mắc cạn và dùng các khẩu pháo của nó để yểm trợ cho quân đồn trú Nhật Bản. Yamato không được bố trí lực lượng không quân yểm trợ cho chuyến đi tương đối ngắn tới Okinawa. Trừ khi đạt được yếu tố bất ngờ—một điều khó có khả năng xảy ra với số lượng máy bay Mỹ hiện có—khả năng Yamato đến được Okinawa là rất mong manh. Mặc dù không được chính thức coi là một nhiệm vụ cảm tử, mọi người đều thừa nhận rằng khả năng Yamato trở về là rất thấp. Toàn bộ chiến dịch chỉ đơn giản là một phương tiện mang tính nghi lễ để dẫn đến sự hủy diệt của biểu tượng cuối cùng còn sót lại của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, chứ không phải một kế hoạch nghiêm túc với hy vọng có thể đóng góp vào chiến thắng. Đây lại là một ví dụ nữa về sự phá sản trong tư duy chiến lược vốn đã phổ biến trong Hải quân Đế quốc Nhật Bản vào thời điểm đó.
Sau khi nhận 3.400 tấn dầu nhiên liệu, Yamato nhổ neo lúc 15 giờ 24 phút vào ngày 6 tháng 4, cùng Hải đội Khu trục số 2 của Chuẩn Đô đốc Keizo Komura (Yahagi và 8 tàu khu trục). Trong vòng 45 phút, một chiếc B-29 đã phát hiện họ đang đi chuyển. Sau đó, tàu ngầm Threadfin (SS-410) phát hiện lực lượng Yamato khi họ đi qua eo biển Bungo lúc 17 giờ 45 phút và gửi báo cáo tiếp xúc — báo cáo này đã bị Yamato chặn thu. Một báo cáo chi tiết hơn của Threadfin được gửi lúc 21 giờ 44 phút. Khi lực lượng của Ito vòng qua Kyushu về phía tây nam, họ bị tàu ngầm Hackleback (SS-295) bám theo suốt đêm; chiếc tàu này gửi thêm bốn báo cáo tiếp xúc và ba lần bị một tàu khu trục hộ tống Yamato truy đuổi ngắn. (Tranh của Stefan Draminski)
Sau khi nhận 3.400 tấn dầu nhiên liệu, Yamato nhổ neo lúc 15 giờ 24 phút vào ngày 6 tháng 4, cùng Hải đội Khu trục số 2 của Chuẩn Đô đốc Keizo Komura (Yahagi và 8 tàu khu trục). Trong vòng 45 phút, một chiếc B-29 đã phát hiện họ đang đi chuyển. Sau đó, tàu ngầm Threadfin (SS-410) phát hiện lực lượng Yamato khi họ đi qua eo biển Bungo lúc 17 giờ 45 phút và gửi báo cáo tiếp xúc — báo cáo này đã bị Yamato chặn thu. Một báo cáo chi tiết hơn của Threadfin được gửi lúc 21 giờ 44 phút. Khi lực lượng của Ito vòng qua Kyushu về phía tây nam, họ bị tàu ngầm Hackleback (SS-295) bám theo suốt đêm; chiếc tàu này gửi thêm bốn báo cáo tiếp xúc và ba lần bị một tàu khu trục hộ tống Yamato truy đuổi ngắn. (Tranh của Stefan Draminski)
Thiết giáp hạm Yamato của Nhật Bản và các tàu hộ tống đang tiến về Okinawa vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Tàu tuần dương hạng nhẹ Yahagi và tàu khu trục Yukikaze đang di chuyển bên mạn phải của Yamato, còn các tàu khu trục Isokaze , Kasumi và Hatsushimo ở bên mạn trái. Tàu khu trục Asashimo được nhìn thấy đang đi chậm lại phía sau do gặp sự cố động cơ. Bức ảnh được chụp từ máy bay trên tàu sân bay USS Essex (CV-9). Bức ảnh này cho thấy loại thời tiết gây khó khăn cho cả máy bay tìm kiếm và tấn công. Hình ảnh này là một phần của album ảnh do Đại tá Carlos W. Wieber thu thập trong thời gian ông chỉ huy tàu sân bay USS Essex (CV-9) từ năm 1944 đến năm 1945.
Thiết giáp hạm Yamato của Nhật Bản và các tàu hộ tống đang tiến về Okinawa vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Tàu tuần dương hạng nhẹ Yahagi và tàu khu trục Yukikaze đang di chuyển bên mạn phải của Yamato, còn các tàu khu trục Isokaze , Kasumi và Hatsushimo ở bên mạn trái. Tàu khu trục Asashimo được nhìn thấy đang đi chậm lại phía sau do gặp sự cố động cơ. Bức ảnh được chụp từ máy bay trên tàu sân bay USS Essex (CV-9). Bức ảnh này cho thấy loại thời tiết gây khó khăn cho cả máy bay tìm kiếm và tấn công. Hình ảnh này là một phần của album ảnh do Đại tá Carlos W. Wieber thu thập trong thời gian ông chỉ huy tàu sân bay USS Essex (CV-9) từ năm 1944 đến năm 1945.
Ngày 6 tháng 4, Yamato tiếp nhiên liệu tại kho xăng dầu hải quân Tokuyama. Bất chấp huyền thoại rằng con tàu và lực lượng hộ tống chỉ được cấp vừa đủ nhiên liệu cho chuyến đi một chiều, giới chức tại Tokuyama đã cấp cho Yamato 4.000 tấn nhiên liệu, đủ cho hành trình khứ hồi. Nó rời vịnh Tokuyama lúc 15 giờ 18 phút và hướng về eo biển Bungo. Một phần ba thủy thủ đoàn ở vị trí tác chiến, số còn lại ngủ gần vị trí chiến đấu của họ do nguy cơ bị tàu ngầm hoặc không kích tấn công.
Trước khi trời tối, lực lượng đã bị hai máy bay ném bom Mỹ phát hiện. Thách thức tiếp theo là vượt qua eo biển Bungo, nơi các tàu ngầm Hải quân Mỹ vốn thường xuyên tuần tra. Việc vượt qua diễn ra bình yên, mặc dù lúc 22 giờ 40 một trong các tàu khu trục hộ tống báo cáo sự hiện diện của một tàu ngầm. Thực tế, lực lượng đã bị phát hiện bởi hai tàu ngầm, USS Threadfin (SS-410) và USS Hackleback (SS-295). Người Nhật đã chặn được báo cáo phát hiện mục tiêu từ các tàu ngầm này, vì vậy không còn nghi ngờ gì rằng người Mỹ đã biết về chiến dịch. Sự thận trọng lẽ ra phải buộc hủy bỏ chiến dịch khi yếu tố bất ngờ không còn, nhưng Hải quân Đế quốc Nhật Bản lại không nghĩ như vậy. Khi không có kế hoạch bố trí lực lượng không quân yểm trợ cho ngày hôm sau, số phận của Yamato coi như đã được định đoạt.
Tàu sân bay USS Yorktown (CV-10) và các tàu khác thuộc Nhóm tác chiến 58.4 đang di chuyển ngoài khơi Kyushu vào ngày 18 tháng 3 năm 1945. Ảnh được chụp từ tàu USS Intrepid (CV-11), tàu USS Independence (CVL-22) có thể nhìn thấy ở phía sau Yorktown . Vào ngày này, 16 tàu sân bay thuộc Lực lượng đặc nhiệm 58 dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Marc A. Mitscher bắt đầu tiến hành các cuộc tấn công nhằm vô hiệu hóa sức mạnh không quân Nhật Bản trước cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào Okinawa ngày 1 tháng 4 năm 1945. Trong năm ngày hoạt động, các phi công hải quân Mỹ đã bắn hạ 482 máy bay địch.
Tàu sân bay USS Yorktown (CV-10) và các tàu khác thuộc Nhóm tác chiến 58.4 đang di chuyển ngoài khơi Kyushu vào ngày 18 tháng 3 năm 1945. Ảnh được chụp từ tàu USS Intrepid (CV-11), tàu USS Independence (CVL-22) có thể nhìn thấy ở phía sau Yorktown . Vào ngày này, 16 tàu sân bay thuộc Lực lượng đặc nhiệm 58 dưới sự chỉ huy của Phó Đô đốc Marc A. Mitscher bắt đầu tiến hành các cuộc tấn công nhằm vô hiệu hóa sức mạnh không quân Nhật Bản trước cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào Okinawa ngày 1 tháng 4 năm 1945. Trong năm ngày hoạt động, các phi công hải quân Mỹ đã bắn hạ 482 máy bay địch.
Tàu sân bay USS Essex (CV-9) đang hoạt động trên biển trong Chiến dịch Okinawa, ngày 20 tháng 5 năm 1945. Chú ý rằng Không đoàn tàu sân bay 83 (CVG-83) của tàu bao gồm cả máy bay chiến đấu Vought F4U-1 Corsair và Grumman F6F-5 Hellcat thuộc các phi đội VBF-83 và VF-83.
Tàu sân bay USS Essex (CV-9) đang hoạt động trên biển trong Chiến dịch Okinawa, ngày 20 tháng 5 năm 1945. Chú ý rằng Không đoàn tàu sân bay 83 (CVG-83) của tàu bao gồm cả máy bay chiến đấu Vought F4U-1 Corsair và Grumman F6F-5 Hellcat thuộc các phi đội VBF-83 và VF-83.
15 chiếc SB2C-4E được biên chế cho VB-82 trên Bennington đã tham chiến liên tục từ cuối tháng 1 đến tháng 6 năm 1945. Bốn chiếc Helldiver của đơn vị này là những máy bay đầu tiên tấn công Yamato vào ngày 7 tháng 4, thả hai quả bom ở khu vực quanh cột buồm chính bên mạn phải, phá hủy một bệ pháo 5 inch. Các quả bom đã thổi tung một lỗ lớn trên boong ngoài. Đổi lại, một chiếc Helldiver đã bị pháo phòng không bắn rơi. (US Navy)
15 chiếc SB2C-4E được biên chế cho VB-82 trên Bennington đã tham chiến liên tục từ cuối tháng 1 đến tháng 6 năm 1945. Bốn chiếc Helldiver của đơn vị này là những máy bay đầu tiên tấn công Yamato vào ngày 7 tháng 4, thả hai quả bom ở khu vực quanh cột buồm chính bên mạn phải, phá hủy một bệ pháo 5 inch. Các quả bom đã thổi tung một lỗ lớn trên boong ngoài. Đổi lại, một chiếc Helldiver đã bị pháo phòng không bắn rơi. (US Navy)
Lúc 07 giờ vào ngày 7 tháng 4, thủy thủ đoàn được dùng bữa sáng mang tính nghi thức rồi nhận lệnh chuẩn bị chiến đấu. Họ không phải chờ lâu để chạm trán đối phương. Lúc 10 giờ, hai thủy phi cơ Martin PBM Mariner xuất hiện trên đội hình và bắt đầu bám theo. Chẳng mấy chốc, chúng được tăng cường bởi các máy bay tiêm kích Hellcat, thuộc nhóm 40 máy bay tiêm kích được TF 58 phóng đi từng tốp bốn chiếc để tìm kiếm ra đến 325 hải lý. Khi thủy thủ đoàn vào vị trí chiến đấu, mọi cửa và cửa hầm đều được đóng kín, hệ thống thông gió bị khóa lại. Yamato bắn ba loạt đạn San-Shiki từ pháo 18,1 inch nhằm vào các máy bay Mỹ đang bám theo, nhưng không trúng mục tiêu.
Ngay cả trước khi Yamato bị xác định vị trí chắc chắn, TF 58 đã bắt đầu tung ra một đòn tấn công quy mô lớn. Tổng cộng 386 máy bay được phóng lên từ 15 tàu sân bay. Máy bay từ năm tàu sân bay không thể tìm thấy mục tiêu do thời tiết xấu, hoặc đến quá muộn để tham gia trận đánh. Số máy bay thực sự tham gia tấn công là 227 chiếc. TG 58.1 là đơn vị phóng đi đầu tiên lúc 10 giờ với 113 máy bay – 52 tiêm kích, 21 máy bay ném bom bổ nhào và 40 máy bay ném ngư lôi. Sau đó là TG 58.3 với 167 máy bay – 80 tiêm kích, 29 máy bay ném bom bổ nhào và 58 máy bay ném ngư lôi. Đơn vị phóng đi cuối cùng là TG 58.4 vào khoảng 10 giờ 45 với 106 máy bay – 48 tiêm kích, 25 máy bay ném bom bổ nhào và 33 máy bay ném ngư lôi – nhiều chiếc trong số này đến muộn so với mục tiêu. Thời tiết khiến việc xác định vị trí lực lượng Nhật trở nên khó khăn, nhưng phần lớn số máy bay tấn công đã được dẫn đường bởi các máy bay bám theo. Các tổ bay Helldiver và Avenger được hỗ trợ trong giai đoạn dẫn đường cuối nhờ radar trang bị trên máy bay.
Lúc 06 giờ 20 phút, ngày 7 tháng 4, sáu chiếc tiêm kích Zero của Không đoàn 203 (203rd Kokutai) đến phía trên Yamato làm nhiệm vụ tuần tra không chiến (CAP). Tổng cộng có mười bốn chiếc Zero thay phiên nhau bay theo từng nhóm nhỏ trên đội hình đặc nhiệm Yamato, nhưng tất cả đều rút đi đúng kế hoạch vào 10 giờ. Lúc 08 giờ 32 phút, một chiếc Hellcat của tàu sân bay Essex báo cáo phát hiện đội hình đặc nhiệm Yamato ở phía tây nam quần đảo Koshiki, đang chạy theo hướng 300 độ. Biên đội Yamato di chuyển với tốc độ 22 hải lý/ giờ và triển khai đội hình hình thoi, với Yamato ở trung tâm và Yahagi ở phía sau. Cùng lúc đó, Yamato cũng báo cáo rằng đã bị phát hiện. Tầm nhìn thay đổi rất thất thường, với các mảng mây thấp rải rác. Chỉ trong vài phút, hai thủy phi cơ PBM-3 Mariner của VPB-21 (đóng tại Kerama Rettō, với tàu tiếp liệu thủy phi cơ Chandeleur) đến nơi, bắt đầu bám theo Yamato và liên tục phát báo cáo tình hình bằng vô tuyến. CAP của Yamato hoặc là không thể, hoặc là không muốn giao chiến với những chiếc Hellcat đang bám theo, và đã rút đi đúng kế hoạch vào 10 giờ. Không lâu sau đó, lúc 10 giờ 14 phút, phía Nhật phát hiện hai chiếc PBM-3 Mariner đang bám theo, đồng thời báo cáo có một tàu ngầm Mỹ đang theo dõi đội hình – đó là USS Hackleback, con tàu đã kịp bắt lại đội hình Nhật đang cơ động ngoằn ngoèo. Lúc 11 giờ 07 phút, radar trinh sát trên không Type 13 của Yamato phát hiện một đội hình lớn đang tiếp cận ở cự ly 63 hải lý, khiến Đô đốc Itō ra lệnh tăng tốc lên 25 hải lý/giờ. Chỉ trong vòng tám phút, đội hình đó đã áp sát còn 44 hải lý, buộc phía Nhật phải bắt đầu các động tác né tránh gắt gao. Yamato cũng nhận được một báo cáo trễ từ trạm quan sát trên đảo Kikaigashima, cho biết 150 máy bay Mỹ đang bay về phía mình. Yamato hành tiến ở trung tâm, được hộ tống bởi các tàu khu trục Kasumi, Suzutsuki, Hamakaze và Yukikaze. Tuần dương nhẹ Yahagi đi ở đội hình mũi, theo sau là các tàu khu trục Hatsushimo, Isokaze và Fuyutsuki. Tàu khu trục Asashimo, soái hạm hải đội của thuyền trưởng Kotaki, đã gặp trục trặc máy móc từ năm giờ trước đó và tụt lại phía bắc đội hình chính 12 hải lý. Lúc 12 giờ 10 phút, Asashimo phát tín hiệu vô tuyến báo rằng mình đang bị máy bay địch tấn công.
Lúc 06 giờ 20 phút, ngày 7 tháng 4, sáu chiếc tiêm kích Zero của Không đoàn 203 (203rd Kokutai) đến phía trên Yamato làm nhiệm vụ tuần tra không chiến (CAP). Tổng cộng có mười bốn chiếc Zero thay phiên nhau bay theo từng nhóm nhỏ trên đội hình đặc nhiệm Yamato, nhưng tất cả đều rút đi đúng kế hoạch vào 10 giờ. Lúc 08 giờ 32 phút, một chiếc Hellcat của tàu sân bay Essex báo cáo phát hiện đội hình đặc nhiệm Yamato ở phía tây nam quần đảo Koshiki, đang chạy theo hướng 300 độ. Biên đội Yamato di chuyển với tốc độ 22 hải lý/ giờ và triển khai đội hình hình thoi, với Yamato ở trung tâm và Yahagi ở phía sau. Cùng lúc đó, Yamato cũng báo cáo rằng đã bị phát hiện. Tầm nhìn thay đổi rất thất thường, với các mảng mây thấp rải rác. Chỉ trong vài phút, hai thủy phi cơ PBM-3 Mariner của VPB-21 (đóng tại Kerama Rettō, với tàu tiếp liệu thủy phi cơ Chandeleur) đến nơi, bắt đầu bám theo Yamato và liên tục phát báo cáo tình hình bằng vô tuyến. CAP của Yamato hoặc là không thể, hoặc là không muốn giao chiến với những chiếc Hellcat đang bám theo, và đã rút đi đúng kế hoạch vào 10 giờ. Không lâu sau đó, lúc 10 giờ 14 phút, phía Nhật phát hiện hai chiếc PBM-3 Mariner đang bám theo, đồng thời báo cáo có một tàu ngầm Mỹ đang theo dõi đội hình – đó là USS Hackleback, con tàu đã kịp bắt lại đội hình Nhật đang cơ động ngoằn ngoèo. Lúc 11 giờ 07 phút, radar trinh sát trên không Type 13 của Yamato phát hiện một đội hình lớn đang tiếp cận ở cự ly 63 hải lý, khiến Đô đốc Itō ra lệnh tăng tốc lên 25 hải lý/giờ. Chỉ trong vòng tám phút, đội hình đó đã áp sát còn 44 hải lý, buộc phía Nhật phải bắt đầu các động tác né tránh gắt gao. Yamato cũng nhận được một báo cáo trễ từ trạm quan sát trên đảo Kikaigashima, cho biết 150 máy bay Mỹ đang bay về phía mình. Yamato hành tiến ở trung tâm, được hộ tống bởi các tàu khu trục Kasumi, Suzutsuki, Hamakaze và Yukikaze. Tuần dương nhẹ Yahagi đi ở đội hình mũi, theo sau là các tàu khu trục Hatsushimo, Isokaze và Fuyutsuki. Tàu khu trục Asashimo, soái hạm hải đội của thuyền trưởng Kotaki, đã gặp trục trặc máy móc từ năm giờ trước đó và tụt lại phía bắc đội hình chính 12 hải lý. Lúc 12 giờ 10 phút, Asashimo phát tín hiệu vô tuyến báo rằng mình đang bị máy bay địch tấn công.
Đội hình của Yamato đang di chuyển vào buổi sáng sớm ngày 7 tháng 4. Xung quanh Yamato là các tàu khu trục hộ tống đang đi chuyển, tạo thành đội hình vòng tròn.
Đội hình của Yamato đang di chuyển vào buổi sáng sớm ngày 7 tháng 4. Xung quanh Yamato là các tàu khu trục hộ tống đang đi chuyển, tạo thành đội hình vòng tròn.
Yamato trong đội hình cùng bốn tàu khu trục, được chụp bởi một máy bay xuất phát từ Bennington. Bức ảnh này được chụp ngay trước đợt tấn công đầu tiên, vào khoảng 12 giờ 30 phút. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato trong đội hình cùng bốn tàu khu trục, được chụp bởi một máy bay xuất phát từ Bennington. Bức ảnh này được chụp ngay trước đợt tấn công đầu tiên, vào khoảng 12 giờ 30 phút. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Với việc phát hiện máy bay Mỹ trong khu vực, Yamato tăng tốc lên 24 hải lý/giờ. Thời tiết xấu, với trần mây thấp chỉ khoảng 3.000 ft, cùng quy mô rất lớn của đợt tấn công, khiến việc hiệp đồng trở nên khó khăn. Tuy nhiên, điều tích cực đối với các phi công hải quân Mỹ là trần mây thấp khiến Yamato gặp khó khăn trong việc sử dụng hiệu quả hệ thống phòng không. Nguyên nhân chủ yếu là các máy điều khiển hỏa lực không có đủ thời gian để tính toán phần tử bắn đối với những máy bay Mỹ lao xuống từ trong mây. Lưới hỏa lực phòng không theo kiểu “rào chắn” như mong muốn đã không thể hình thành, và quyền điều khiển tập trung đối với hệ thống phòng không buộc phải bỏ, chuyển sang điều khiển phân tán tại chỗ.
Những gì diễn ra trong gần hai giờ tiếp theo sẽ không bao giờ được tái dựng đầy đủ. Các tài liệu Nhật Bản liên quan đã không sống sót qua chiến tranh, và chỉ có một số ít lời chứng đáng tin cậy được ghi lại. Những nguồn tốt nhất đến từ một số ít người sống sót được Hải quân Mỹ thẩm vấn sau chiến tranh.
Yamato - thiết giáp hạm lớn nhất thế giới, được thấy vài phút sau khi bước vào trận chiến cuối cùng lúc 12 giờ 45 phút, ngày 7 tháng 4 năm 1945. Con tàu lao nhanh ở tốc độ mạn tối đa 27 hải lý, Yamato cùng 9 tàu hộ tống vừa rơi vào đợt tấn công đầu tiên của 227 máy bay Mỹ thuộc TF 58. Chỉ vài khoảnh khắc trước, Yamato chịu thiệt hại đầu tiên khi các Helldiver từ tàu Bennington thả hai quả bom xuyên giáp 1.000 lb vào giữa tàu. Ngọn lửa bùng lên ngay phía sau cột buồm chính của Yamato và gần phía trên tháp pháo 6,1in. phía sau sẽ tiếp tục cháy suốt trận chiến. Các máy bay TBM Avenger từ VT-17 của tàu Hornet đang tiến hành các đợt ném ngư lôi vào Yamato. Trong đợt tấn công ban đầu này, người Mỹ ghi được quả ngư lôi đầu tiên trúng mạn trái của Yamato. Đến năm 1945, loại ngư lôi Mark 13 vốn nổi tiếng kém hiệu quả đã được cải tiến đáng kể, mang đầu nổ Torpex 600 lb, mạnh hơn 50% so với TNT. Hầu hết hệ thống phòng không của Yamato vẫn còn nguyên vẹn, nổi bật nhất là chín khẩu pháo chính 460mm (18,1 in.) khổng lồ. Chúng khai hỏa loại đạn phòng không đặc biệt Sanshikidan (Type 3) nhắm vào máy bay Mỹ. Mỗi viên đạn 460mm Sanshikidan nặng 2.998 lb, chứa 966 ống cháy và 600 thanh thép. Kíp nổ trì hoãn của đạn 460mm thường được đặt để phát nổ một giây sau khi rời nòng, tương đương 1.000m (1.100 yard). Khi nổ, mỗi viên đạn phát tán 2.846 mảnh, bắn về phía trước trong một nón rộng 20 độ. Mỗi ống cháy trong số 966 ống sẽ phát ra ngọn lửa dài 16 ft, 5.400°F trong năm giây. Về lý thuyết, đạn Sanshikidan có hiệu quả lên tới 3.000 yard phía trước nơi phát nổ, hoặc 4.100 yard tính từ Yamato. Tuy nhiên, mặc dù các vụ nổ Sanshikidan tạo nên cảnh tượng ngoạn mục vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, chúng lại hoàn toàn vô dụng đối với các máy bay cường kích Mỹ.  (Tranh của Adam Tooby)
Yamato - thiết giáp hạm lớn nhất thế giới, được thấy vài phút sau khi bước vào trận chiến cuối cùng lúc 12 giờ 45 phút, ngày 7 tháng 4 năm 1945. Con tàu lao nhanh ở tốc độ mạn tối đa 27 hải lý, Yamato cùng 9 tàu hộ tống vừa rơi vào đợt tấn công đầu tiên của 227 máy bay Mỹ thuộc TF 58. Chỉ vài khoảnh khắc trước, Yamato chịu thiệt hại đầu tiên khi các Helldiver từ tàu Bennington thả hai quả bom xuyên giáp 1.000 lb vào giữa tàu. Ngọn lửa bùng lên ngay phía sau cột buồm chính của Yamato và gần phía trên tháp pháo 6,1in. phía sau sẽ tiếp tục cháy suốt trận chiến. Các máy bay TBM Avenger từ VT-17 của tàu Hornet đang tiến hành các đợt ném ngư lôi vào Yamato. Trong đợt tấn công ban đầu này, người Mỹ ghi được quả ngư lôi đầu tiên trúng mạn trái của Yamato. Đến năm 1945, loại ngư lôi Mark 13 vốn nổi tiếng kém hiệu quả đã được cải tiến đáng kể, mang đầu nổ Torpex 600 lb, mạnh hơn 50% so với TNT. Hầu hết hệ thống phòng không của Yamato vẫn còn nguyên vẹn, nổi bật nhất là chín khẩu pháo chính 460mm (18,1 in.) khổng lồ. Chúng khai hỏa loại đạn phòng không đặc biệt Sanshikidan (Type 3) nhắm vào máy bay Mỹ. Mỗi viên đạn 460mm Sanshikidan nặng 2.998 lb, chứa 966 ống cháy và 600 thanh thép. Kíp nổ trì hoãn của đạn 460mm thường được đặt để phát nổ một giây sau khi rời nòng, tương đương 1.000m (1.100 yard). Khi nổ, mỗi viên đạn phát tán 2.846 mảnh, bắn về phía trước trong một nón rộng 20 độ. Mỗi ống cháy trong số 966 ống sẽ phát ra ngọn lửa dài 16 ft, 5.400°F trong năm giây. Về lý thuyết, đạn Sanshikidan có hiệu quả lên tới 3.000 yard phía trước nơi phát nổ, hoặc 4.100 yard tính từ Yamato. Tuy nhiên, mặc dù các vụ nổ Sanshikidan tạo nên cảnh tượng ngoạn mục vào ngày 7 tháng 4 năm 1945, chúng lại hoàn toàn vô dụng đối với các máy bay cường kích Mỹ. (Tranh của Adam Tooby)
Ảnh chụp Yamato đang khai hỏa đạn phòng không Type 3 Sanshikidan từ pháo chính trong đợt tấn công đầu tiên của Mỹ. Trong ảnh có thể thấy 3 tàu khu trục đang đi chuyển xung quanh Yamato.
Ảnh chụp Yamato đang khai hỏa đạn phòng không Type 3 Sanshikidan từ pháo chính trong đợt tấn công đầu tiên của Mỹ. Trong ảnh có thể thấy 3 tàu khu trục đang đi chuyển xung quanh Yamato.
Ảnh chụp từ máy bay Mỹ về đạn phòng không Type 3 Sanshiki từ Yamato phát nổ trên bầu trời. Có thể thấy rõ các ống kim loại từ loại đạn này bốc cháy và văng ra như loạt pháo hoa. Ở giữa bức ảnh là Yamato và xung quanh con tàu là các tàu hộ tống.
Ảnh chụp từ máy bay Mỹ về đạn phòng không Type 3 Sanshiki từ Yamato phát nổ trên bầu trời. Có thể thấy rõ các ống kim loại từ loại đạn này bốc cháy và văng ra như loạt pháo hoa. Ở giữa bức ảnh là Yamato và xung quanh con tàu là các tàu hộ tống.
Một chiếc Curtiss SB2C Helldiver bay qua Yamato đang bốc cháy cùng một tàu khu trục hộ tống, ngày 7 tháng 4 năm 1945. Lớp mây thấp dày đặc đã ngăn cản các máy bay ném bom bổ nhào thực hiện kiểu tấn công bổ nhào ưa thích từ độ cao khoảng 15.000 ft. Thay vào đó, phi công Mỹ buộc phải tiến hành các đợt ném bom lướt nông từ độ cao dưới 3.000 ft, điều này giải thích cho số lượng trúng bom tương đối thấp mà Yamato phải chịu.
Một chiếc Curtiss SB2C Helldiver bay qua Yamato đang bốc cháy cùng một tàu khu trục hộ tống, ngày 7 tháng 4 năm 1945. Lớp mây thấp dày đặc đã ngăn cản các máy bay ném bom bổ nhào thực hiện kiểu tấn công bổ nhào ưa thích từ độ cao khoảng 15.000 ft. Thay vào đó, phi công Mỹ buộc phải tiến hành các đợt ném bom lướt nông từ độ cao dưới 3.000 ft, điều này giải thích cho số lượng trúng bom tương đối thấp mà Yamato phải chịu.
Cuộc tấn công diễn ra theo trình tự, với không quân của TG 58.1 tấn công đầu tiên. Đợt tấn công ban đầu được radar của Yamato phát hiện lúc 12 giờ 20 phút, ở phía đông nam; khoảng 12 phút sau, những máy bay Mỹ đầu tiên được trông thấy ở khoảng cách tám hải lý. Nhóm đầu tiên tấn công, lúc 12 giờ 37 phút, đến từ USS Bennington (CV-20) khi bốn chiếc Helldiver (thuộc VB-82) tiếp cận từ phía đuôi tàu – nơi vùng phòng không yếu nhất. Những máy bay này thả hai quả bom trúng gần cột chính bên mạn phải và phá hủy một tháp pháo 5 inch. Bom nổ khi chạm, khoét một lỗ lớn trên sàn boong. Ngoài ra, một số bệ pháo 25 mm gần đó cũng bị phá hủy. Một trong các máy bay tấn công bị bắn rơi.
Mười bốn Helldiver thuộc VB-17 trên tàu Hornet là nhóm kế tiếp. Chỉ trong vài phút, thêm hai quả bom nữa đánh trúng khu vực hơi chếch sang mạn trái, ở phía trước tháp pháo 6,1 inch ba nòng phía sau. Cả hai quả bom xuyên xuống boong giáp chính rồi phát nổ. Hỏa hoạn lan tới khu vực chuyển đạn của tháp pháo 6,1 inch và đốt cháy số đạn thuốc dự trữ, giết chết toàn bộ kíp pháo thủ ngoại trừ một người. Tuy nhiên, các cửa ngăn cháy của kho đạn đã chặn không cho lửa lan xa hơn. Vụ nổ và ngọn lửa cũng giết chết đội kiểm soát hư hại phụ trách khu vực này, khiến đám cháy tiếp tục âm ỉ suốt trận chiến. Bên cạnh đó, phòng điều khiển radar phía sau và một số bệ pháo 25 mm cũng bị phá hủy.
Lúc 12 giờ 34 phút, hai tháp pháo 18,1 inch phía trước của Yamato bắt đầu bắn đạn Sanshikidan. Một phút sau, toàn bộ hỏa lực phòng không của Yamato đồng loạt khai hỏa —9 khẩu pháo 18,1 inch, 24 khẩu 127mm, và 152 khẩu pháo 25mm. Theo mọi ghi nhận, hỏa lực phòng không Nhật Bản dày đặc và cực kỳ rực rỡ về mặt thị giác. Các máy bay Helldiver và Avenger của Mỹ đáp trả bằng cách rải “Window” — hàng nghìn dải nhôm dài 18 inch — nhằm gây nhiễu radar điều khiển hỏa lực của Nhật. Yamato đang cơ động gắt ở tốc độ sườn 27 hải lý/giờ, thì vào lúc 12 giờ 40 phút, bốn chiếc Helldiver của VB-82 từ tàu sân bay Bennington đánh trúng hai quả bom 1.000 lb gần cột buồm chính. Quả bom thứ nhất phát nổ trong khu sinh hoạt của thủy thủ đoàn. Quả thứ hai nổ gần trạm chỉ huy phía sau, gây thiệt hại nghiêm trọng, phá hủy một trong hai radar tìm kiếm trên không của Yamato, đài điều khiển pháo hạng hai phía sau, cùng nhiều khẩu pháo phòng không 25mm. Các đám cháy tiếp theo lan tới khu vực nạp thuốc phóng bên dưới tháp pháo 6,1 inch phía sau và làm nổ số thuốc phóng sẵn sàng sử dụng. Vụ hỏa hoạn dữ dội gần như tiêu diệt toàn bộ kíp pháo tháp 6,1 inch, nhưng các cửa chống lửa đã ngăn vụ nổ lan sang phần còn lại của hầm đạn. Tuy nhiên, toàn bộ đội kiểm soát hư hại trong khu vực đều thiệt mạng, đồng nghĩa với việc đám cháy sẽ không thể kiểm soát trong suốt phần còn lại của trận đánh. Phía Mỹ mất một chiếc Helldiver. Lúc 12 giờ 43 phút, tám chiếc Avenger từ Hornet tiến hành các đợt thả ngư lôi vào mạn trái của Yamato, được yểm trợ bởi 14 chiếc Corsair từ Bunker Hill bắn rocket vào con tàu. Hỏa lực phòng không đánh trúng sáu chiếc Avenger, bắn rơi một chiếc, nhưng ít nhất ba quả ngư lôi đã xuống nước. Hai quả đầu trượt mục tiêu, nhưng vào lúc 12 giờ 45, quả ngư lôi thứ ba đánh mạnh vào mạn trái của Yamato, khiến con tàu ngập 2.235 tấn nước biển. Lực lượng kiểm soát hư hại Nhật Bản tiến hành bơm ngập đối xứng 604 tấn nước để hiệu chỉnh độ nghiêng.
Lúc 12 giờ 34 phút, hai tháp pháo 18,1 inch phía trước của Yamato bắt đầu bắn đạn Sanshikidan. Một phút sau, toàn bộ hỏa lực phòng không của Yamato đồng loạt khai hỏa —9 khẩu pháo 18,1 inch, 24 khẩu 127mm, và 152 khẩu pháo 25mm. Theo mọi ghi nhận, hỏa lực phòng không Nhật Bản dày đặc và cực kỳ rực rỡ về mặt thị giác. Các máy bay Helldiver và Avenger của Mỹ đáp trả bằng cách rải “Window” — hàng nghìn dải nhôm dài 18 inch — nhằm gây nhiễu radar điều khiển hỏa lực của Nhật. Yamato đang cơ động gắt ở tốc độ sườn 27 hải lý/giờ, thì vào lúc 12 giờ 40 phút, bốn chiếc Helldiver của VB-82 từ tàu sân bay Bennington đánh trúng hai quả bom 1.000 lb gần cột buồm chính. Quả bom thứ nhất phát nổ trong khu sinh hoạt của thủy thủ đoàn. Quả thứ hai nổ gần trạm chỉ huy phía sau, gây thiệt hại nghiêm trọng, phá hủy một trong hai radar tìm kiếm trên không của Yamato, đài điều khiển pháo hạng hai phía sau, cùng nhiều khẩu pháo phòng không 25mm. Các đám cháy tiếp theo lan tới khu vực nạp thuốc phóng bên dưới tháp pháo 6,1 inch phía sau và làm nổ số thuốc phóng sẵn sàng sử dụng. Vụ hỏa hoạn dữ dội gần như tiêu diệt toàn bộ kíp pháo tháp 6,1 inch, nhưng các cửa chống lửa đã ngăn vụ nổ lan sang phần còn lại của hầm đạn. Tuy nhiên, toàn bộ đội kiểm soát hư hại trong khu vực đều thiệt mạng, đồng nghĩa với việc đám cháy sẽ không thể kiểm soát trong suốt phần còn lại của trận đánh. Phía Mỹ mất một chiếc Helldiver. Lúc 12 giờ 43 phút, tám chiếc Avenger từ Hornet tiến hành các đợt thả ngư lôi vào mạn trái của Yamato, được yểm trợ bởi 14 chiếc Corsair từ Bunker Hill bắn rocket vào con tàu. Hỏa lực phòng không đánh trúng sáu chiếc Avenger, bắn rơi một chiếc, nhưng ít nhất ba quả ngư lôi đã xuống nước. Hai quả đầu trượt mục tiêu, nhưng vào lúc 12 giờ 45, quả ngư lôi thứ ba đánh mạnh vào mạn trái của Yamato, khiến con tàu ngập 2.235 tấn nước biển. Lực lượng kiểm soát hư hại Nhật Bản tiến hành bơm ngập đối xứng 604 tấn nước để hiệu chỉnh độ nghiêng.
Bức ảnh này chụp lúc mà đội hình của Yamato đang cơ động dưới đợt tấn công đầu tiên của quân Mỹ. Việc mỗi tàu tự cơ động giúp tránh né việc bị máy bay tấn công hiệu quả nhưng lại làm đảo lộn các đội hình của mình. Trong ảnh , Yamato đang ở di chuyển theo được ngoằn ngoèo, tách mình ra khỏi các tàu hộ tống.
Bức ảnh này chụp lúc mà đội hình của Yamato đang cơ động dưới đợt tấn công đầu tiên của quân Mỹ. Việc mỗi tàu tự cơ động giúp tránh né việc bị máy bay tấn công hiệu quả nhưng lại làm đảo lộn các đội hình của mình. Trong ảnh , Yamato đang ở di chuyển theo được ngoằn ngoèo, tách mình ra khỏi các tàu hộ tống.
Thiết giáp hạm Yamato của Nhật Bản phát nổ sau khi bị trúng bom và ngư lôi nặng nề từ máy bay của tàu sân bay Hải quân Mỹ, phía bắc Okinawa. Ba tàu khu trục Nhật Bản đang ở gần đó. Ảnh được chụp bởi máy bay từ tàu USS Hornet (CV-12).
Thiết giáp hạm Yamato của Nhật Bản phát nổ sau khi bị trúng bom và ngư lôi nặng nề từ máy bay của tàu sân bay Hải quân Mỹ, phía bắc Okinawa. Ba tàu khu trục Nhật Bản đang ở gần đó. Ảnh được chụp bởi máy bay từ tàu USS Hornet (CV-12).
Yamato cơ động tránh đòn trong lúc chịu cuộc tấn công dữ dội của máy bay tàu sân bay Hải quân Mỹ tại Nội Hải vào ngày 19 tháng 3 năm 1945. Những cú nổ sượt gần như trong ảnh có thể gây thiệt hại nghiêm trọng nếu làm bong các tấm giáp, dẫn tới ngập nước, dù trong trường hợp này con tàu không bị hư hại. Bức ảnh được chụp bởi các Helldiver thuộc VB-17, đang biên chế trên Hornet. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato cơ động tránh đòn trong lúc chịu cuộc tấn công dữ dội của máy bay tàu sân bay Hải quân Mỹ tại Nội Hải vào ngày 19 tháng 3 năm 1945. Những cú nổ sượt gần như trong ảnh có thể gây thiệt hại nghiêm trọng nếu làm bong các tấm giáp, dẫn tới ngập nước, dù trong trường hợp này con tàu không bị hư hại. Bức ảnh được chụp bởi các Helldiver thuộc VB-17, đang biên chế trên Hornet. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Thiết giáp hạm Yamato của Nhật Bản phát nổ sau khi bị trúng bom và ngư lôi nặng nề từ máy bay của tàu sân bay Hải quân Mỹ, phía bắc Okinawa. Ảnh được chụp bởi máy bay từ tàu USS Hornet (CV-12). Ba tàu khu trục của Nhật Bản đang ở gần đó.
Thiết giáp hạm Yamato của Nhật Bản phát nổ sau khi bị trúng bom và ngư lôi nặng nề từ máy bay của tàu sân bay Hải quân Mỹ, phía bắc Okinawa. Ảnh được chụp bởi máy bay từ tàu USS Hornet (CV-12). Ba tàu khu trục của Nhật Bản đang ở gần đó.
Yamato bị máy bay từ Hornet tấn công trong đợt không kích đầu tiên. Chỉ còn ba tàu khu trục bảo vệ siêu thiết giáp hạm, và có thể thấy rõ số lượng ít ỏi các đám nổ từ pháo 5 inch của Nhật. Một quả ngư lôi hoặc bom vừa phát nổ ở phía trước mạn phải. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato bị máy bay từ Hornet tấn công trong đợt không kích đầu tiên. Chỉ còn ba tàu khu trục bảo vệ siêu thiết giáp hạm, và có thể thấy rõ số lượng ít ỏi các đám nổ từ pháo 5 inch của Nhật. Một quả ngư lôi hoặc bom vừa phát nổ ở phía trước mạn phải. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Tàn phá còn khủng khiếp hơn cả những thiệt hại gây ra bởi bom chính là những quả ngư lôi trúng đầu tiên. Một phi công Avenger thuộc VT-17, cũng phục vụ trên Hornet, đã mô tả cuộc tấn công:
Một máy bay báo qua vô tuyến rằng anh ta thấy một tín hiệu [trên màn hình radar] phía mạn phải, cách chừng 50 dặm, thế là chúng tôi rẽ phải. Rồi chúng tôi thấy chúng. Trời đất thánh thần ơi! Yamato trông như cả tòa nhà Empire State đang cày xới trên mặt nước vậy.
Chúng tôi không có nhiều độ cao lắm. Tôi ở mức cao nhất là 12.000 feet, trong khi thường thích bắt đầu cuộc tấn công bằng ngư lôi ở độ cao 18.000 feet – một đường tiếp cận dốc, rồi bổ nhào thấp trên mặt nước để thả ngư lôi, trước khi phóng thật nhanh ra khỏi đó. Trong lúc đó, các máy bay ném bom cũng sẽ bổ nhào xuống, để tất cả cùng tấn công con tàu cùng một lúc.
Chúng tôi dàn đội hình ra, và tôi tiếp tục bổ nhào về phía những đám khói khác nhau từ những quả đạn pháo đã nổ – lẽ ra ở đó sẽ không còn nguy hiểm nữa. Tôi lao xuống, thả quả ngư lôi của mình và bay ngang qua mũi tàu Yamato. Con tàu đang quay trở, nhưng trong đợt tấn công này, chúng tôi luôn thả ngư lôi theo đội hình hình quạt, nên dù con tàu có quay theo hướng nào thì nó cũng sẽ trúng đòn.
Nhóm 8 chiếc Avenger từ Hornet tiếp cận từ mạn trái của Yamato. Một bài học rút ra từ trường hợp Musashi là phải tập trung toàn bộ ngư lôi vào một phía, để khiến con tàu chìm nhanh hơn. Trong tám chiếc, sáu chiếc trúng đạn trong lúc tấn công và một chiếc lao xuống biển trước khi kịp thả vũ khí. Bảy chiếc còn lại thả ngư lôi theo hình quạt vào Yamato, và bốn quả chạy đúng hướng – người Mỹ tuyên bố cả bốn đều trúng. Một quả đánh trúng phía sau chân đế của cầu chỉ huy, và một quả khác phía sau cột chính. Một quả có khả năng đã trúng phía sau Tháp pháo số 3. Một số nhân chứng sống sót nói rằng có quả ngư lôi thứ tư trúng trong đợt này, nhưng điều đó không thể xác nhận được. Những cú đánh này làm ngập các khoang rỗng phía ngoài và khiến con tàu nghiêng trái 5–6 độ, nhưng được chỉnh lại còn khoảng 1 độ nhờ biện pháp cho nước đối trọng. Yamato vẫn còn khả năng chiến đấu, tốc độ không bị ảnh hưởng.
Các Avenger thuộc VT-82 đã đánh chìm tàu khu trục Hamakaze trong cùng trận đánh dẫn tới sự kết thúc của Yamato. Chú ý máy quay ghi hình đòn đánh được gắn ở thân máy bay phía trước buồng lái trên chiếc TBM ở tiền cảnh. Những máy bay này được chụp trong một chuyến tuần tra xuất phát từ Bennington, không lâu sau ngày 7 tháng 4 năm 1945. (Pete Clayton)
Các Avenger thuộc VT-82 đã đánh chìm tàu khu trục Hamakaze trong cùng trận đánh dẫn tới sự kết thúc của Yamato. Chú ý máy quay ghi hình đòn đánh được gắn ở thân máy bay phía trước buồng lái trên chiếc TBM ở tiền cảnh. Những máy bay này được chụp trong một chuyến tuần tra xuất phát từ Bennington, không lâu sau ngày 7 tháng 4 năm 1945. (Pete Clayton)
Trong lúc Yamato bị đánh phá dữ dội, Hamakaze bị trúng ngư lôi từ một chiếc Avenger thuộc VT-82 của tàu Bennington và chìm rất nhanh. Những chiếc TBM-1C/3 thuộc VT-45, phục vụ trên tàu sân bay hạng nhẹ USS San Jacinto (CVL-30), đã đánh chìm Asashimo chỉ trong vài phút bằng một đợt tấn công kết hợp bom và ngư lôi. Yahagi cũng bị trúng một quả ngư lôi ở giữa tàu và bị đánh tê liệt.
Vào lúc 12 giờ 59 phút, đợt tấn công thứ hai từ TG 58.3 đến nơi, bao gồm máy bay từ Essex, USS Bunker Hill (CV-17) và các tàu sân bay hạng nhẹ USS Bataan (CVL-29) và Cabot. Nhóm tấn công (VB-6 và VT-6) từ USS Hancock (CV-19) xuất phát trễ và sau đó bị lạc, nên không tiến hành được cuộc tấn công nào. Các chiếc Helldiver của VB-83 từ Essex lao vào trước, bổ nhào từ độ cao 6.200 ft. Mặc dù phía Mỹ tuyên bố khác đi, nhưng dường như không có quả bom nào đánh trúng trực tiếp, tuy nhiên các máy bay Avenger vẫn tiếp tục cuộc tấn công ngư lôi vào mạn trái của Yamato. Cuộc tấn công của 15 chiếc TBM-3/3E từ Essex đặc biệt hiệu quả, với chín chiếc cuối cùng áp sát mục tiêu trong “một thế bổ nhào hoàn hảo để phóng ngư lôi” khi Yamato đang thực hiện một cú ngoặt chậm. Chín phát trúng được tuyên bố. VT-84 từ Bunker Hill cũng tuyên bố chín phát trúng từ 13 quả ngư lôi thả xuống, trong khi các phi công Avenger của Cabot (thuộc VT-29) tuyên bố thêm bốn quả nữa. Tổng cộng, các phi công ném ngư lôi của TG 58.3 tuyên bố 29 phát trúng.
Đợt tấn công thứ hai vào Yamato được thực hiện bởi lực lượng gồm 50 máy bay Mỹ từ Essex và Bataan (TG-58.3). Lúc 13 giờ 22 phút, một chiếc Corsair từ Essex đánh trúng mũi mạn trái của Yamato bằng một quả bom nổ mạnh 1.000 lb. Tuy nhiên, mười hai chiếc Helldiver vẫn tuyên bố đã đánh trúng nhiều quả bom gần đài chỉ huy của Yamato, mặc dù hỏa lực phòng không Nhật Bản đã gây hư hại cho năm chiếc Helldiver. Mặc dù đợt tấn công thứ hai có sự tham gia của nhiều máy bay ném bom bổ nhào nhưng hầu như không có ghi nhận quả bom đánh trúng con tàu trong đợt này. (Tranh của Craig Tinder)
Đợt tấn công thứ hai vào Yamato được thực hiện bởi lực lượng gồm 50 máy bay Mỹ từ Essex và Bataan (TG-58.3). Lúc 13 giờ 22 phút, một chiếc Corsair từ Essex đánh trúng mũi mạn trái của Yamato bằng một quả bom nổ mạnh 1.000 lb. Tuy nhiên, mười hai chiếc Helldiver vẫn tuyên bố đã đánh trúng nhiều quả bom gần đài chỉ huy của Yamato, mặc dù hỏa lực phòng không Nhật Bản đã gây hư hại cho năm chiếc Helldiver. Mặc dù đợt tấn công thứ hai có sự tham gia của nhiều máy bay ném bom bổ nhào nhưng hầu như không có ghi nhận quả bom đánh trúng con tàu trong đợt này. (Tranh của Craig Tinder)
Trong đợt tấn công thứ hai vào Yamato thì các máy bay ném ngư lôi lại ghi nhận thành tích đánh trúng mục tiêu tốt hơn so với các máy bay ném bom, khi được ghi nhận là đã đánh trúng 5 quả ngư lôi vào con tàu. Cảnh tượng này cho thấy Yamato đang bị tấn công bởi một TBM-3 Avenger ném ngư lôi từ VT-84, biên chế trên tàu sân bay hạm đội lớp Essex USS Bunker Hill (CV-17). Chiếc Avenger này chuẩn bị thả ngư lôi ở khoảng cách khoảng 1.500 yard từ thiết giáp hạm. (Tranh của Jim Laurier)
Trong đợt tấn công thứ hai vào Yamato thì các máy bay ném ngư lôi lại ghi nhận thành tích đánh trúng mục tiêu tốt hơn so với các máy bay ném bom, khi được ghi nhận là đã đánh trúng 5 quả ngư lôi vào con tàu. Cảnh tượng này cho thấy Yamato đang bị tấn công bởi một TBM-3 Avenger ném ngư lôi từ VT-84, biên chế trên tàu sân bay hạm đội lớp Essex USS Bunker Hill (CV-17). Chiếc Avenger này chuẩn bị thả ngư lôi ở khoảng cách khoảng 1.500 yard từ thiết giáp hạm. (Tranh của Jim Laurier)
GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI MỸ: Để trở thành một phi công ném ngư lôi hiệu quả, phi công của Avenger phải vừa can đảm vừa thành thạo kỹ năng. Góc nhìn buồng lái này cho thấy thiết lập lý tưởng cho một đòn tấn công ngư lôi. Phi công phải đồng thời tính đến nhiều yếu tố để lựa chọn hướng tiếp cận chính xác, bao gồm tốc độ, độ cao, góc bổ nhào và cự ly thả vũ khí thích hợp so với mục tiêu. Ngư lôi Mark 13 đòi hỏi phải được xử lý hết sức cẩn trọng: nếu góc bổ nhào quá dốc, ngư lôi có thể bị hư hại khi chạm nước; còn nếu góc quá nông, cơ cấu điều khiển của ngư lôi có thể trục trặc. Nếu phi công đủ kỹ năng để đánh giá chính xác tất cả các yếu tố này, Avenger sẽ tiếp cận mục tiêu ở tốc độ 260 hải lý/giờ và độ cao 800 feet. Ở tốc độ và độ cao đó, ngư lôi sẽ rơi trong 7 giây với góc 28 độ, đồng thời đi được 3.000 ft từ lúc được thả cho đến khi chạm mặt nước. Để bảo đảm Mark 13 có đủ thời gian kích hoạt, nó phải chạy 1.200 feet trước khi tới mục tiêu. Khi tổng hợp toàn bộ các dữ liệu này, cự ly thả chính xác sẽ là 4.200 feet (1.400 yard) tính từ vị trí mà phi công ước đoán mục tiêu sẽ ở đó. Trong hình minh họa này, một chiếc Avenger thuộc VT-84 đang tiếp cận từ mạn phải của Yamato khi con tàu đang chạy tốc độ cao và tuyệt vọng dựng lên một màn hỏa lực dày đặc từ các pháo 5 inch và 25 mm. Ở thời điểm này của đường công kích, phi công phải giữ hướng bay ổn định về phía mục tiêu để bảo đảm thả ngư lôi chính xác. Ngay khi ngư lôi rời giá treo, phi công sẽ chúi xuống sát mặt biển và rời khỏi khu vực nhanh nhất có thể. (Tranh của Jim Laurier)
GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI MỸ: Để trở thành một phi công ném ngư lôi hiệu quả, phi công của Avenger phải vừa can đảm vừa thành thạo kỹ năng. Góc nhìn buồng lái này cho thấy thiết lập lý tưởng cho một đòn tấn công ngư lôi. Phi công phải đồng thời tính đến nhiều yếu tố để lựa chọn hướng tiếp cận chính xác, bao gồm tốc độ, độ cao, góc bổ nhào và cự ly thả vũ khí thích hợp so với mục tiêu. Ngư lôi Mark 13 đòi hỏi phải được xử lý hết sức cẩn trọng: nếu góc bổ nhào quá dốc, ngư lôi có thể bị hư hại khi chạm nước; còn nếu góc quá nông, cơ cấu điều khiển của ngư lôi có thể trục trặc. Nếu phi công đủ kỹ năng để đánh giá chính xác tất cả các yếu tố này, Avenger sẽ tiếp cận mục tiêu ở tốc độ 260 hải lý/giờ và độ cao 800 feet. Ở tốc độ và độ cao đó, ngư lôi sẽ rơi trong 7 giây với góc 28 độ, đồng thời đi được 3.000 ft từ lúc được thả cho đến khi chạm mặt nước. Để bảo đảm Mark 13 có đủ thời gian kích hoạt, nó phải chạy 1.200 feet trước khi tới mục tiêu. Khi tổng hợp toàn bộ các dữ liệu này, cự ly thả chính xác sẽ là 4.200 feet (1.400 yard) tính từ vị trí mà phi công ước đoán mục tiêu sẽ ở đó. Trong hình minh họa này, một chiếc Avenger thuộc VT-84 đang tiếp cận từ mạn phải của Yamato khi con tàu đang chạy tốc độ cao và tuyệt vọng dựng lên một màn hỏa lực dày đặc từ các pháo 5 inch và 25 mm. Ở thời điểm này của đường công kích, phi công phải giữ hướng bay ổn định về phía mục tiêu để bảo đảm thả ngư lôi chính xác. Ngay khi ngư lôi rời giá treo, phi công sẽ chúi xuống sát mặt biển và rời khỏi khu vực nhanh nhất có thể. (Tranh của Jim Laurier)
GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI NHẬT: Bức minh họa này mô tả một bệ pháo phòng không ba nòng Type 96 cỡ 25mm trên Yamato đang khai hỏa vào các máy bay ném ngư lôi Avenger của VT-84 vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Để vận hành khẩu pháo này cần một kíp chín người – trong đó sáu người là tiếp đạn, có nhiệm vụ liên tục nạp các hộp tiếp đạn 15 viên cho ba nòng pháo. Khung cảnh cho thấy các tiếp đạn viên làm việc một cách điên cuồng, lấy các hộp tiếp đạn từ những tủ đạn sẵn sàng bố trí xung quanh vị trí pháo nhằm duy trì tốc độ bắn của bệ pháo. Pháo Type 96 có nhiều nhược điểm, cuối cùng khiến nó trở nên kém hiệu quả với tư cách là vũ khí phòng không tầm gần chủ lực của Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN). Một trong những nhược điểm đó là yêu cầu thay hộp tiếp đạn rất thường xuyên, làm cho tốc độ bắn thực tế giảm xuống chỉ còn 100–110 phát/phút. Ngoài ra, đạn 25mm nặng chưa tới 9 ounce, nên trong nhiều trường hợp gây sát thương rất hạn chế ngay cả khi trúng phải những chiếc Avenger có kết cấu bền chắc. Vì vậy, pháo 25mm chỉ phù hợp cho giao chiến ở cự ly rất gần. Theo học thuyết tác chiến, điều này đồng nghĩa với việc chỉ khai hỏa vào máy bay đang tiếp cận ở cự ly khoảng 2.750 yard. Hệ thống điều khiển hỏa lực cho pháo Type 96 do máy ngắm Type 95 hoặc Type 4 đảm nhiệm, nhưng các thiết bị này nhìn chung không hiệu quả trong việc bám bắt các mục tiêu di chuyển nhanh. Như một phương án thay thế, bệ pháo có thể bắn dưới chế độ điều khiển tại chỗ (local control). Để hỗ trợ việc ngắm bắn, cứ mỗi năm viên đạn thì có một viên đạn vạch đường (tracer), giúp kíp pháo theo dõi đường đạn so với mục tiêu. Bất chấp các nhược điểm của mình, Type 96 vẫn là vũ khí phòng không hiệu quả nhất của IJN. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự kém hiệu quả tổng thể của Type 96 đã khiến các tàu mặt nước Nhật Bản dễ bị tổn thương nghiêm trọng trước các cuộc không kích. Hệ quả là trong suốt ngày 24 tháng 10 năm 1944, Hải quân Mỹ chỉ mất 18 máy bay khi tấn công Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ nhất, và toàn bộ lực lượng Yamato chỉ bắn rơi được 10 máy bay vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. (Tranh của Jim Laurier)
GÓC NHÌN CỦA NGƯỜI NHẬT: Bức minh họa này mô tả một bệ pháo phòng không ba nòng Type 96 cỡ 25mm trên Yamato đang khai hỏa vào các máy bay ném ngư lôi Avenger của VT-84 vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. Để vận hành khẩu pháo này cần một kíp chín người – trong đó sáu người là tiếp đạn, có nhiệm vụ liên tục nạp các hộp tiếp đạn 15 viên cho ba nòng pháo. Khung cảnh cho thấy các tiếp đạn viên làm việc một cách điên cuồng, lấy các hộp tiếp đạn từ những tủ đạn sẵn sàng bố trí xung quanh vị trí pháo nhằm duy trì tốc độ bắn của bệ pháo. Pháo Type 96 có nhiều nhược điểm, cuối cùng khiến nó trở nên kém hiệu quả với tư cách là vũ khí phòng không tầm gần chủ lực của Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJN). Một trong những nhược điểm đó là yêu cầu thay hộp tiếp đạn rất thường xuyên, làm cho tốc độ bắn thực tế giảm xuống chỉ còn 100–110 phát/phút. Ngoài ra, đạn 25mm nặng chưa tới 9 ounce, nên trong nhiều trường hợp gây sát thương rất hạn chế ngay cả khi trúng phải những chiếc Avenger có kết cấu bền chắc. Vì vậy, pháo 25mm chỉ phù hợp cho giao chiến ở cự ly rất gần. Theo học thuyết tác chiến, điều này đồng nghĩa với việc chỉ khai hỏa vào máy bay đang tiếp cận ở cự ly khoảng 2.750 yard. Hệ thống điều khiển hỏa lực cho pháo Type 96 do máy ngắm Type 95 hoặc Type 4 đảm nhiệm, nhưng các thiết bị này nhìn chung không hiệu quả trong việc bám bắt các mục tiêu di chuyển nhanh. Như một phương án thay thế, bệ pháo có thể bắn dưới chế độ điều khiển tại chỗ (local control). Để hỗ trợ việc ngắm bắn, cứ mỗi năm viên đạn thì có một viên đạn vạch đường (tracer), giúp kíp pháo theo dõi đường đạn so với mục tiêu. Bất chấp các nhược điểm của mình, Type 96 vẫn là vũ khí phòng không hiệu quả nhất của IJN. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng sự kém hiệu quả tổng thể của Type 96 đã khiến các tàu mặt nước Nhật Bản dễ bị tổn thương nghiêm trọng trước các cuộc không kích. Hệ quả là trong suốt ngày 24 tháng 10 năm 1944, Hải quân Mỹ chỉ mất 18 máy bay khi tấn công Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ nhất, và toàn bộ lực lượng Yamato chỉ bắn rơi được 10 máy bay vào ngày 7 tháng 4 năm 1945. (Tranh của Jim Laurier)
Thực tế, chỉ có ba quả ngư lôi được xác nhận – một ở ngang khu vực ống khói, quả tiếp theo ở ngang tháp chỉ huy, và một quả khác phía trước ống khói. Một cú đánh có khả năng trúng nữa xảy ra ở mạn trái, tại khu vực cột buồm chính. Cũng có một phát trúng được xác nhận ở mạn phải, tại khu vực tháp chỉ huy vào lúc 13 giờ 09 phút. Đây là kết quả của 9 chiếc Avenger thuộc VT-47 từ Bataan. Loạt ngư lôi này khiến Yamato nghiêng trái 15–16 độ, mặc dù độ nghiêng này được giảm xuống còn 5 độ nhờ xả nước đối trọng và nhờ tác động của cú đánh ngư lôi vào mạn phải. Tuy nhiên, để làm được điều này, toàn bộ các khoang trống phía mạn phải đã phải sử dụng hết. Tốc độ giảm xuống còn 18 hải lý/giờ do nước tràn vào và mất một trục chân vịt. Ở thời điểm này, thiệt hại của Yamato là rất lớn, nhưng chưa phải là chí mạng.
Giai đoạn của đợt không khí lần 1 và lần 2 của Hải quân Mỹ vào Yamato từ 12 giờ 34 phút - 12 giờ 57 phút.
Giai đoạn của đợt không khí lần 1 và lần 2 của Hải quân Mỹ vào Yamato từ 12 giờ 34 phút - 12 giờ 57 phút.
Yamato cơ động một cách tuyệt vọng dưới hỏa lực tấn công khi một quả bom phát nổ bên mạn trái. Có thể thấy rõ đám cháy ở khu vực tháp pháo 6,1 inch phía sau. Lưu ý khói bốc lên từ các bệ pháo 25mm ba nòng. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Yamato cơ động một cách tuyệt vọng dưới hỏa lực tấn công khi một quả bom phát nổ bên mạn trái. Có thể thấy rõ đám cháy ở khu vực tháp pháo 6,1 inch phía sau. Lưu ý khói bốc lên từ các bệ pháo 25mm ba nòng. (Naval History and Heritage Command, Photo Archives, Naval Subject Collection)
Trên siêu thiết giáp hạm, các thủy thủ chiến đấu dữ dội chống lại các đợt tấn công đường không không ngừng nghỉ. Như đã đề cập trước đó, lớp mây thấp dày đặc vừa ngăn máy bay Mỹ thực hiện các pha bổ nhào đầy đủ, vừa khiến hệ thống điều khiển hỏa lực không thể có được lời giải bắn. Các tháp pháo chiến đấu ở chế độ điều khiển cục bộ, bắn vào bất cứ mục tiêu nào xuất hiện. Đến đợt tấn công thứ hai, chỉ còn một nửa số pháo thủ còn hoạt động; các loạt bắn càn quét của các máy bay Hellcat và bom của máy bay Helldiver đã tỏ ra cực kỳ hiệu quả khi gây ra cảnh tàn sát trên mặt boong tàu. Các pháo thủ không được che chắn và vì thế chịu thương vong khủng khiếp. Trong khi trận chiến diễn ra dữ dội bên trên, các đội kiểm soát hư hỏng vật lộn trong một cuộc chiến dường như không thể thắng để giữ cho con tàu còn giữ được trạng thái cân bằng.
Yamato đang thực hiện các thao tác né tránh với tốc độ từ 15 đến 20 hải lý/giờ trước khi bị tấn công. Có thể quan sát thấy một đám cháy ở giữa thân tàu từ các cuộc tấn công trước đó, nhưng tại thời điểm này, tàu chưa bị nghiêng. (Bộ sưu tập của Đô đốc Hạm đội Chester W. Nimitz, USN)
Yamato đang thực hiện các thao tác né tránh với tốc độ từ 15 đến 20 hải lý/giờ trước khi bị tấn công. Có thể quan sát thấy một đám cháy ở giữa thân tàu từ các cuộc tấn công trước đó, nhưng tại thời điểm này, tàu chưa bị nghiêng. (Bộ sưu tập của Đô đốc Hạm đội Chester W. Nimitz, USN)
Bức ảnh chụp Yamato (bên phải) ngay trước cuộc tấn công bằng ngư lôi của VT-9 (USS Yorktown ), lúc này đã nghiêng sang mạn trái do tác động của các tấn công ngư lôi trước đó. Con tàu hiện đang di chuyển với tốc độ từ 10 - 15 hải lý/giờ. Một tàu khu trục Nhật Bản đang đi phía trước. (Bộ sưu tập của Đô đốc Hạm đội Chester W. Nimitz, USN)
Bức ảnh chụp Yamato (bên phải) ngay trước cuộc tấn công bằng ngư lôi của VT-9 (USS Yorktown ), lúc này đã nghiêng sang mạn trái do tác động của các tấn công ngư lôi trước đó. Con tàu hiện đang di chuyển với tốc độ từ 10 - 15 hải lý/giờ. Một tàu khu trục Nhật Bản đang đi phía trước. (Bộ sưu tập của Đô đốc Hạm đội Chester W. Nimitz, USN)
 Ảnh chụp từ máy bay ném ngư lôi về thiết giáp hạm Yamato . Đây là hình ảnh của tàu chiến hùng mạnh nhất Nhật Bản khi sáu máy bay ném ngư lôi đơn độc của Hải quân Mỹ lao vào để tiêu diệt nó. Nó vẫn đang di chuyển với tốc độ từ 10 đến 15 hải lý/giờ, mặc dù lửa vẫn tiếp tục cháy ở giữa thân tàu. (Bộ sưu tập của Đô đốc Hạm đội Chester W. Nimitz, USN).
Ảnh chụp từ máy bay ném ngư lôi về thiết giáp hạm Yamato . Đây là hình ảnh của tàu chiến hùng mạnh nhất Nhật Bản khi sáu máy bay ném ngư lôi đơn độc của Hải quân Mỹ lao vào để tiêu diệt nó. Nó vẫn đang di chuyển với tốc độ từ 10 đến 15 hải lý/giờ, mặc dù lửa vẫn tiếp tục cháy ở giữa thân tàu. (Bộ sưu tập của Đô đốc Hạm đội Chester W. Nimitz, USN).
Vào lúc 13 giờ 42 phút, đợt tấn công cuối cùng bắt đầu, lần này từ TG 58.4, với máy bay từ Intrepid, USS Yorktown (CV-10) và tàu sân bay hạng nhẹ USS Langley (CVL-27). Mười bốn chiếc Helldiver thuộc VB-10, biên chế trên Intrepid, lao vào trước, nhưng một lần nữa thiệt hại do bom gây ra dường như khá nhỏ. Có thể ba quả bom đánh trúng mạn trái ở khu vực giữa tàu, nhưng những quả bom này phát nổ khi chạm mục tiêu và không gây hư hại nghiêm trọng.
Thiệt hại lớn hơn nhiều đến từ các đợt tấn công ngư lôi tiếp theo. Hai quả ngư lôi (do VT-9 của Thiếu tá Herbert Houck từ Yorktown tuyên bố) được xác nhận đánh trúng mạn trái, một gần ống khói và một gần cột buồm chính. Những cú đánh này khiến phòng máy trong bên trái và phòng nồi hơi mạn trái bị ngập nước, cùng với việc mất thêm một trục chân vịt nữa. Có lời kể về một quả ngư lôi đánh trúng mạn trái ngay phía trước Tháp pháo số 3, nhưng không thể xác nhận. Một phát trúng khác được xác nhận ở mạn phải tại khu vực cột buồm chính. Không còn khả năng dự trữ để thực hiện xả nước đối trọng được nữa, thủy thủ đoàn đành bất lực nhìn độ nghiêng tăng lên 16–18 độ. Dù vậy, hai phòng nồi hơi còn lại ở mạn phải và phòng máy thủy lực mạn phải cũng bị cho ngập nước để bù lại. Điều này tạm thời ngăn chặn độ nghiêng tiếp tục gia tăng.
Hình minh họa này tái hiện lại cuộc tấn công và mô tả các máy bay Avenger từ tàu USS Yorktown đang bắn phá con tàu. Lúc 13 giờ 33 phút, làn sóng tấn công thứ ba xuất hiện, gồm 110 máy bay từ Yorktown, Intrepid và Langley, thuộc đòn đánh bị chậm của TG-58.4. Lần này, người Mỹ tập trung áp đảo vào Yamato đang choáng váng. Hai mươi chiếc Avenger tấn công mạn trái Yamato. Khoảng 13 giờ 37 phút, đợt tấn công thứ ba ghi nhận ba cú đánh ngư lôi chắc chắn, cùng một cú đánh có khả năng cao, làm độ nghiêng mạn trái tăng lên 15–16 độ. Lúc 13 giờ 42 phút, các Avenger thuộc TG-58.4 thả thêm bốn quả ngư lôi.Yamato bắn rơi một chiếc Avenger, nhưng hai quả ngư lôi vẫn lao vào mạn trái, nâng tổng số lên năm cú đánh ngư lôi chỉ trong năm phút. Người Mỹ đã cố ý nhắm vào khu vực đuôi tàu nhằm phá hủy khả năng điều khiển, và canh bạc này đã thành công. Bánh lái của Yamato bị vô hiệu hóa, khiến con tàu kẹt trong một vòng quay vĩnh viễn sang mạn phải. Mọi hy vọng tiếp cận Okinawa đều chấm dứt. (Tranh của Stan Stokes)
Hình minh họa này tái hiện lại cuộc tấn công và mô tả các máy bay Avenger từ tàu USS Yorktown đang bắn phá con tàu. Lúc 13 giờ 33 phút, làn sóng tấn công thứ ba xuất hiện, gồm 110 máy bay từ Yorktown, Intrepid và Langley, thuộc đòn đánh bị chậm của TG-58.4. Lần này, người Mỹ tập trung áp đảo vào Yamato đang choáng váng. Hai mươi chiếc Avenger tấn công mạn trái Yamato. Khoảng 13 giờ 37 phút, đợt tấn công thứ ba ghi nhận ba cú đánh ngư lôi chắc chắn, cùng một cú đánh có khả năng cao, làm độ nghiêng mạn trái tăng lên 15–16 độ. Lúc 13 giờ 42 phút, các Avenger thuộc TG-58.4 thả thêm bốn quả ngư lôi.Yamato bắn rơi một chiếc Avenger, nhưng hai quả ngư lôi vẫn lao vào mạn trái, nâng tổng số lên năm cú đánh ngư lôi chỉ trong năm phút. Người Mỹ đã cố ý nhắm vào khu vực đuôi tàu nhằm phá hủy khả năng điều khiển, và canh bạc này đã thành công. Bánh lái của Yamato bị vô hiệu hóa, khiến con tàu kẹt trong một vòng quay vĩnh viễn sang mạn phải. Mọi hy vọng tiếp cận Okinawa đều chấm dứt. (Tranh của Stan Stokes)
Yamato bị đánh trúng hai quả ngư lôi, có thể nhìn thấy vụ nổ ở bên mạn trái của con tàu.
Yamato bị đánh trúng hai quả ngư lôi, có thể nhìn thấy vụ nổ ở bên mạn trái của con tàu.
Giai đoạn của đợt không kích lần 3 của Hải quân Mỹ vào Yamato từ 13 giờ 33 phút - 14 giờ 22 phút, thời điểm mà con tàu bị đánh chìm.
Giai đoạn của đợt không kích lần 3 của Hải quân Mỹ vào Yamato từ 13 giờ 33 phút - 14 giờ 22 phút, thời điểm mà con tàu bị đánh chìm.
Tuy nhiên, tình trạng ngập nước dần không thể kiểm soát được. Phát ngư lôi thứ hai bên mạn phải khiến phòng máy ngoài mạn phải bị ngập, và sau đó bị bỏ lại rồi chìm trong nước. Ngập nước lan dần cũng được báo cáo ở phòng máy trong mạn trái. Ở thời điểm này, độ nghiêng sang trái tăng lên 22–23 độ và tốc độ bị giảm xuống còn 8 hải lý/giờ, chỉ còn chạy được bằng một trục. Con tàu giờ chỉ có thể chạy vòng tròn với một bán kính lớn.
Không lâu sau 14 giờ, toàn bộ nguồn điện bị mất. Kết cục giờ chỉ còn là vấn đề thời gian, khi Yamato nằm chết máy với mạn trái chìm sâu dưới nước. Độ nghiêng không thể khống chế được nữa và tiếp tục tăng, nên thuyền trưởng Aruga ra lệnh cho thủy thủ đoàn rời tàu. Nhưng đã quá muộn. Ngay sau khi lệnh được ban ra, con tàu bắt đầu lật – đến 14 giờ 20 phút, Yamato đã nằm nghiêng hẳn sang một bên. Khi độ lật đạt 120 độ, một vụ nổ khổng lồ tại khu vực kho đạn phía sau xé toạc con tàu thành từng mảnh. Đến 14 giờ 23 phút, chiếc thiết giáp hạm nổi tiếng nhất thế giới chìm dưới làn sóng đại dương. Chỉ có 276 người được cứu từ các vị trí chiến đấu trên boong; khoảng 3.055 người đã thiệt mạng. Ngôi mộ nước của họ được đánh dấu bằng một cột khói cao gần 20.000 feet, có thể nhìn thấy từ Nhật Bản ở cách xa khoảng 120 dặm.
Sau khi mất toàn bộ nguồn điện ngay sau 14 giờ, Yamato nằm gần như nghiêng hẳn, với mạn phải không bọc giáp trồi cao khỏi mặt nước. Trung tá Herbert Houk của Yorktown điều biên đội sáu chiếc Avenger của Trung úy Thomas Stetson thực hiện đòn tấn công ngư lôi cuối cùng vào sống tàu mạn phải không bọc giáp. Các phi công điều chỉnh độ sâu chạy của ngư lôi xuống 20 ft và tiến công. Lúc 14 giờ 07 phút, Yamato trúng quả ngư lôi thứ bảy vào mạn phải đang lộ ra. Đến 14 giờ 17 phút, Yamato trúng quả ngư lôi thứ tám và thứ chín vào mạn trái. Trong khi đó, các bơm trên tàu đã ngừng hoạt động, chuông báo động vang lên: nhiệt độ trong các hầm đạn pháo 18,1 inch đang tiến gần mức nguy hiểm.
Sau khi mất toàn bộ nguồn điện ngay sau 14 giờ, Yamato nằm gần như nghiêng hẳn, với mạn phải không bọc giáp trồi cao khỏi mặt nước. Trung tá Herbert Houk của Yorktown điều biên đội sáu chiếc Avenger của Trung úy Thomas Stetson thực hiện đòn tấn công ngư lôi cuối cùng vào sống tàu mạn phải không bọc giáp. Các phi công điều chỉnh độ sâu chạy của ngư lôi xuống 20 ft và tiến công. Lúc 14 giờ 07 phút, Yamato trúng quả ngư lôi thứ bảy vào mạn phải đang lộ ra. Đến 14 giờ 17 phút, Yamato trúng quả ngư lôi thứ tám và thứ chín vào mạn trái. Trong khi đó, các bơm trên tàu đã ngừng hoạt động, chuông báo động vang lên: nhiệt độ trong các hầm đạn pháo 18,1 inch đang tiến gần mức nguy hiểm.
Yamato phát nổ vào khoảng 14 giờ 23 phút ngày 7 tháng 4 năm 1945, sau khi phải hứng chịu cuộc không kích dữ dội của máy bay tàu sân bay Mỹ. Cột khói khổng lồ đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên thiết giáp hạm và cũng là sự cáo chung của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. (Naval History and Heritage Command)
Yamato phát nổ vào khoảng 14 giờ 23 phút ngày 7 tháng 4 năm 1945, sau khi phải hứng chịu cuộc không kích dữ dội của máy bay tàu sân bay Mỹ. Cột khói khổng lồ đánh dấu sự kết thúc của kỷ nguyên thiết giáp hạm và cũng là sự cáo chung của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. (Naval History and Heritage Command)
Đứng chết máy trên mặt nước, chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ bất hạnh Yahagi bị nhiều vụ nổ bom Mỹ bao vây. Với lượng choán nước 6.652 tấn, Yahagi hầu như không có giáp bảo vệ và kích thước chưa bằng một phần mười Yamato, nhưng dẫu vậy vẫn chịu đựng một mức độ hư hại khủng khiếp trước khi bị đánh chìm — 12 quả bom và bảy quả ngư lôi.
Đứng chết máy trên mặt nước, chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ bất hạnh Yahagi bị nhiều vụ nổ bom Mỹ bao vây. Với lượng choán nước 6.652 tấn, Yahagi hầu như không có giáp bảo vệ và kích thước chưa bằng một phần mười Yamato, nhưng dẫu vậy vẫn chịu đựng một mức độ hư hại khủng khiếp trước khi bị đánh chìm — 12 quả bom và bảy quả ngư lôi.
Nguyên nhân vụ nổ vẫn chưa rõ ràng. Sĩ quan điều hành của tàu, Đại tá Nomura Jiro, quy trách nhiệm cho việc đạn pháo 18,1 inch phát nổ khi con tàu lật và các ngòi nổ của chúng va vào sàn boong. Tuy nhiên, các thử nghiệm sau chiến tranh cho thấy đây không phải là nguyên nhân. Ngọn lửa ở đuôi tàu có vẻ là nguyên nhân hợp lý hơn. Khi con tàu bị lật, các thang nâng từ kho đạn có thể đã bị mở ra bởi sức nặng của các đầu đạn 18,1 inch, và lửa lọt vào kho đạn theo cách đó. Các cuộc khảo sát xác tàu Yamato năm 1985 và ngay sau đó xác nhận rằng phần phía trước còn khá nguyên vẹn cho đến khu vực tháp pháo 6,1 inch phía trước, nhưng phần giữa tàu cho đến đoạn đuôi tàu còn nguyên thì đã bị xé nát.
Cùng chìm với Yamato xuống đáy Biển Hoa Đông là Yahagi và 4 trong số 8 tàu khu trục hộ tống. Thương vong đặc biệt nặng nề trên tàu tuần dương hạng nhẹ, vốn bị phá hủy gần như hoàn toàn. Tổng cộng 1.187 người thiệt mạng trên các tàu hộ tống.

THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH

Việc thiết giáp hạm Hiei bị đánh chìm vào ngày 14 tháng 11 năm 1942 đã cho Hải quân Mỹ nếm trải phần nào mức độ khó khăn khi tìm cách đánh chìm các chiến hạm bọc giáp nặng bằng không quân. Mặc dù đã được hiện đại hóa, Hiei vẫn là một thiết kế có từ trước Thế chiến I. Nó cũng chỉ có lượng giãn nước bằng chưa đến một nửa so với YamatoMusashi. Tuy vậy, trong hai lần đối đầu giữa máy bay tàu sân bay và những thiết giáp hạm lớn nhất thế giới, người chiến thắng rõ ràng lại là sức mạnh không quân hải quân.
Phải cần đến những đợt tấn công quy mô lớn từ nhiều không đoàn tàu sân bay để đánh chìm những con tàu lớn nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Cả hai cuối cùng đều bị kết liễu bằng ngư lôi. Bom tuy không đóng góp đáng kể vào việc đánh chìm các thiết giáp hạm, nhưng chúng làm suy yếu khả năng phòng không của tàu và do đó gián tiếp giúp các đợt tấn công của máy bay ném ngư lôi trở nên hiệu quả hơn.
Các thợ vũ khí thuộc VB-14 chuẩn bị nạp một quả bom xuyên giáp AN-Mk 33 nặng 1.000 lb vào khoang bom của một chiếc Helldiver trên USS Wasp (CV-18) năm 1944. Loại bom này có thể nhận biết nhờ mũi hình nón, và AN-Mk 33 được dành riêng để tấn công các tàu chiến bọc giáp dày. Ngoài ra còn có các loại bom bán xuyên giáp và bom thông thường nặng 500 và 1.000 lb, với vỏ mỏng hơn và lượng thuốc nổ lớn hơn – các loại sau có các cỡ 100, 250, 500, 1.000 và 2.000 lb, và đều có thể mang bởi Helldiver và Avenger. (Real War Photos)
Các thợ vũ khí thuộc VB-14 chuẩn bị nạp một quả bom xuyên giáp AN-Mk 33 nặng 1.000 lb vào khoang bom của một chiếc Helldiver trên USS Wasp (CV-18) năm 1944. Loại bom này có thể nhận biết nhờ mũi hình nón, và AN-Mk 33 được dành riêng để tấn công các tàu chiến bọc giáp dày. Ngoài ra còn có các loại bom bán xuyên giáp và bom thông thường nặng 500 và 1.000 lb, với vỏ mỏng hơn và lượng thuốc nổ lớn hơn – các loại sau có các cỡ 100, 250, 500, 1.000 và 2.000 lb, và đều có thể mang bởi Helldiver và Avenger. (Real War Photos)
Những cuộc tấn công vào Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất hồi tháng 10 năm 1944 là trận không – hải chiến lớn nhất trong lịch sử cho đến thời điểm đó. 29 tàu của lực lượng Kurita đã phải chịu một loạt các đợt tấn công của 259 máy bay tàu sân bay. Đổi lại với tổn thất 18 máy bay, Hải quân Mỹ đã đánh chìm Musashi, bắn hỏng và buộc tàu tuần dương hạng nặng Myoko phải quay về căn cứ, và gây hư hại nhẹ bằng bom đối với ba thiết giáp hạm khác. Đây rõ ràng là một chiến thắng của phía Mỹ, nhưng một số vấn đề vẫn đáng để xem xét kỹ hơn.
Kết luận hiển nhiên nhất là Musashi đã chứng tỏ khả năng chịu đựng mức độ tàn phá phi thường, vượt xa cả những gì mà các nhà thiết kế dự tính. Ngay cả sau ba đợt tấn công đầu tiên, Musashi vẫn có thể quay về cảng. Đợt tấn công thứ tư, khi con tàu gần như không còn được bảo vệ và không thể cơ động, chính là phát súng ân huệ. Không có tàu chiến nào khác trong lịch sử từng chịu thiệt hại nặng đến mức đó – ít nhất 11 và có thể tới 15 quả ngư lôi, cùng 16 quả bom trúng đích, chưa kể rất nhiều quả nổ gần. Không một con tàu nào đang hoạt động vào thời điểm đó có thể sống sót trước mức độ sát thương như vậy.
Bức ảnh này cho thấy tàu tuần dương hạng nặng Kumano bị Helldiver tấn công, thả bom 1.000 lb vào ngày 26 tháng 10 năm 1944, khi Lực lượng Tiến công Nghi binh Thứ Nhất rút lui qua biển Sibuyan. Trận đánh diễn ra tại eo biển Tablas, gần mũi nam đảo Mindoro. Nguồn tư liệu Nhật Bản cho biết ba quả bom (loại 500 lb – nếu đúng, thì chúng được thả bởi 12 chiếc F6F Hellcat tham gia đợt tấn công) đã đánh trúng con tàu, gây thiệt hại nghiêm trọng. Không chiếc TBM-1C ném ngư lôi nào ghi được cú đánh trúng bằng ngư lôi. Tàu tuần dương này vẫn có thể về cảng và sửa chữa, một lần nữa cho thấy sự khó khăn trong việc đánh chìm các tàu cỡ lớn chỉ bằng bom. (Real War Photos)
Bức ảnh này cho thấy tàu tuần dương hạng nặng Kumano bị Helldiver tấn công, thả bom 1.000 lb vào ngày 26 tháng 10 năm 1944, khi Lực lượng Tiến công Nghi binh Thứ Nhất rút lui qua biển Sibuyan. Trận đánh diễn ra tại eo biển Tablas, gần mũi nam đảo Mindoro. Nguồn tư liệu Nhật Bản cho biết ba quả bom (loại 500 lb – nếu đúng, thì chúng được thả bởi 12 chiếc F6F Hellcat tham gia đợt tấn công) đã đánh trúng con tàu, gây thiệt hại nghiêm trọng. Không chiếc TBM-1C ném ngư lôi nào ghi được cú đánh trúng bằng ngư lôi. Tàu tuần dương này vẫn có thể về cảng và sửa chữa, một lần nữa cho thấy sự khó khăn trong việc đánh chìm các tàu cỡ lớn chỉ bằng bom. (Real War Photos)
Thứ hai, hệ thống phòng không của Nhật Bản tỏ ra không hiệu quả. Chỉ 6,9% số máy bay Hải quân Mỹ tấn công vào khu vực tập trung hỏa lực phòng không dày đặc nhất của IJN trong toàn bộ cuộc chiến bị bắn rơi. Đạn phòng không Type 3 dành cho pháo 18,1 inch hoàn toàn vô dụng. Vì lý do học thuyết, pháo Type 89 5 inch chỉ được sử dụng ở mức hạn chế. Điều này khiến việc phòng thủ chủ yếu phụ thuộc vào các khẩu pháo 25mm nhẹ và thiếu chính xác.
Ở một khía cạnh khác, hơn 250 phi vụ mà Lực lượng Đặc nhiệm 38 (TF 38) tung ra nhằm vào Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất lại thu về kết quả tương đối khiêm tốn. Ở điểm này, Musashi đã phục vụ một vai trò có giá trị đối với kế hoạch của Nhật Bản, bởi phần lớn các cuộc tấn công của không đoàn tàu sân bay Mỹ trong ngày 24 tháng 10 đều tập trung vào một mục tiêu duy nhất. Nguyên nhân chủ yếu là vì không có một điều phối viên chung cho các đợt không kích của Mỹ – mỗi không đoàn tàu sân bay tấn công riêng rẽ. Từng không đoàn muốn giành lấy một mục tiêu “ngoạn mục”, và Musashi rõ ràng là một trong hai mục tiêu lớn nhất có thể thấy. Một khi Musashi bị hư hại, rõ ràng chúi đầu xuống nước hoặc tách ra, di chuyển chậm khỏi đội hình chính, thì cám dỗ muốn kết liễu nó là không thể cưỡng lại.
Kết quả là Musashi phải hứng chịu phần lớn các đợt tấn công do TF 38 tung ra ngày hôm đó. Trong khi nó bị dập vùi đến chìm xuống, các tàu chủ lực khác của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất lại chịu rất ít thiệt hại. YamatoNagato mỗi tàu chỉ trúng hai quả bom, còn thiết giáp hạm Haruna dễ dàng chịu đựng năm quả bom nổ gần – và cả ba con tàu đều có thể tiếp tục giữ đội hình.
Tuy nhiên, các phi công hải quân Mỹ lại nhìn nhận khác. Họ báo cáo rằng cả hai thiết giáp hạm lớp Yamato đều bị tê liệt, trong đó một chiếc có thể đã bị đánh chìm; Nagato cũng bị trúng đạn và hư hỏng nặng; và một thiết giáp hạm lớp Kongō bị tê liệt. Ngoài ra, họ còn báo cáo bốn tàu tuần dương hạng nặng, hai tàu tuần dương hạng nhẹ và sáu tàu khu trục bị đánh chìm hoặc hư hại. Những thiệt hại như vậy chỉ có thể là lực lượng của Kurita đã bị đánh gãy hoàn toàn. Khi đợt tấn công cuối cùng của Hải quân Mỹ rời khu vực, lực lượng Nhật được quan sát thấy đang rối loạn và dường như chuẩn bị rút lui.
Sự đánh giá hoàn toàn sai lầm này của các phi công hải quân Mỹ đã dẫn tới những diễn biến kịch tính nhất của trận chiến vịnh Leyte. Dựa vào các báo cáo đó, Halsey lao đi truy kích lực lượng tàu sân bay Nhật vào ngày hôm sau, tạo cơ hội để Kurita vượt qua eo biển San Bernardino và tiến xuống Leyte. Tất cả những điều này đã không xảy ra theo cách đó nếu không có khả năng chịu đựng sát thương không thể tin nổi của Musashi và quyết định của phía Mỹ dồn sức tấn công vào một mục tiêu duy nhất đầy hấp dẫn.
Trong hơn năm giờ vào ngày 24 tháng 10 năm 1944, Musashi đã phải hứng chịu những đợt không kích dữ dội. Không thể đưa ra một bản thống kê hoàn toàn chính xác về mức độ thiệt hại mà con tàu phải chịu trong khoảng thời gian này, nhưng các số liệu thể hiện trong sơ đồ đã tổng hợp báo cáo của Hải quân Mỹ và lời kể của những người sống sót phía Nhật. Rõ ràng là từ 11 đến 15 cú đánh ngư lôi mới đủ để đánh chìm con tàu. Con số lớn này xuất phát từ kích thước khổng lồ và lớp giáp dày của Musashi, công tác kiểm soát hư hỏng xuất sắc của thủy thủ đoàn, cũng như việc các cú đánh ngư lôi phân bố ở cả hai mạn, giúp kiềm chế độ nghiêng sang mạn trái, nơi hứng chịu phần lớn thiệt hại. Số lượng lớn bom trúng đích không đe dọa trực tiếp tính kín nước của Musashi, nhưng chúng đã làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống hỏa lực phòng không, khiến các máy bay ném ngư lôi dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ hơn.
Trong hơn năm giờ vào ngày 24 tháng 10 năm 1944, Musashi đã phải hứng chịu những đợt không kích dữ dội. Không thể đưa ra một bản thống kê hoàn toàn chính xác về mức độ thiệt hại mà con tàu phải chịu trong khoảng thời gian này, nhưng các số liệu thể hiện trong sơ đồ đã tổng hợp báo cáo của Hải quân Mỹ và lời kể của những người sống sót phía Nhật. Rõ ràng là từ 11 đến 15 cú đánh ngư lôi mới đủ để đánh chìm con tàu. Con số lớn này xuất phát từ kích thước khổng lồ và lớp giáp dày của Musashi, công tác kiểm soát hư hỏng xuất sắc của thủy thủ đoàn, cũng như việc các cú đánh ngư lôi phân bố ở cả hai mạn, giúp kiềm chế độ nghiêng sang mạn trái, nơi hứng chịu phần lớn thiệt hại. Số lượng lớn bom trúng đích không đe dọa trực tiếp tính kín nước của Musashi, nhưng chúng đã làm suy yếu nghiêm trọng hệ thống hỏa lực phòng không, khiến các máy bay ném ngư lôi dễ dàng hoàn thành nhiệm vụ hơn.
Đến thời điểm Yamato xuất phát, Hải quân Mỹ đã rút ra được một số bài học quan trọng. Mỗi không đoàn tàu sân bay được phái đi tấn công Yamato đều có một sĩ quan điều phối. Điều này giải quyết vấn đề tập trung hỏa lực quá mức vào một mục tiêu duy nhất. Quan trọng hơn, các phi đội Avenger chỉ nhắm một bên của chiếc siêu thiết giáp hạm để thả ngư lôi. Dẫu vậy, Yamato vẫn có thể chịu đựng 9 đến 12 quả ngư lôi và 7 quả bom. Ngược lại, tổn thất của phía Mỹ là rất nhỏ – chỉ 10 máy bay (4 chiếc Helldiver, 3 chiếc Hellcat và 3 chiếc Avenger) cùng 12 thành viên phi hành đoàn thiệt mạng (4 phi công và 8 phi hành đoàn).
Sự hy sinh của Yamato là vô nghĩa. Nếu nhiệm vụ của con tàu được phối hợp với các đợt tấn công kamikaze nhằm vào TF 58, thì chuyến xuất kích cuối cùng này có thể đã mang lại chút giá trị. Nhưng trên thực tế, chỉ có 54 máy bay kamikaze được phóng đi trong ngày 7 tháng 4, và chỉ một nửa trong số đó tìm thấy mục tiêu.
So với cuộc tấn công vào Musashi hồi tháng 10 năm 1944, các phi công hải quân đã hành động hiệu quả hơn trong đòn tiến công nhằm vào Yamato vào tháng 4 năm 1945. Như thể hiện trong sơ đồ thiệt hại, ba đợt tấn công đều tập trung vào mạn trái của thiết giáp hạm, nhanh chóng tạo ra độ nghiêng và cuối cùng khiến con tàu lật úp. Phần lớn thiệt hại do ngư lôi tập trung vào cùng một khu vực của thành giáp bọc, nơi đã vượt qua hệ thống phòng thủ chống ngư lôi của Yamato. Đợt tấn công thứ hai đặc biệt chết người, khi ghi nhận ba cú đánh ngư lôi chắc chắn cùng một cú đánh có khả năng cao vào mạn trái. Cũng như trường hợp của Musashi, số lượng chính xác các cú trúng đích sẽ không bao giờ được biết rõ. Do thời tiết xấu làm giảm độ chính xác của ném bom bổ nhào, Yamato chỉ phải hứng chịu khoảng bảy cú đánh bom.
So với cuộc tấn công vào Musashi hồi tháng 10 năm 1944, các phi công hải quân đã hành động hiệu quả hơn trong đòn tiến công nhằm vào Yamato vào tháng 4 năm 1945. Như thể hiện trong sơ đồ thiệt hại, ba đợt tấn công đều tập trung vào mạn trái của thiết giáp hạm, nhanh chóng tạo ra độ nghiêng và cuối cùng khiến con tàu lật úp. Phần lớn thiệt hại do ngư lôi tập trung vào cùng một khu vực của thành giáp bọc, nơi đã vượt qua hệ thống phòng thủ chống ngư lôi của Yamato. Đợt tấn công thứ hai đặc biệt chết người, khi ghi nhận ba cú đánh ngư lôi chắc chắn cùng một cú đánh có khả năng cao vào mạn trái. Cũng như trường hợp của Musashi, số lượng chính xác các cú trúng đích sẽ không bao giờ được biết rõ. Do thời tiết xấu làm giảm độ chính xác của ném bom bổ nhào, Yamato chỉ phải hứng chịu khoảng bảy cú đánh bom.
Cần phải khách quan rằng không có một con tàu nào trong thời kỳ đó có thể sống sót trước mức độ hư hại mà Yamato hoặc Musashi phải hứng chịu, nhưng vẫn có các khiếm khuyết trong thiết kế góp phần dẫn đến sự mất mát của chúng. Điểm yếu chính nằm ở hệ thống phòng thủ chống ngư lôi. Vấn đề có hai mặt – mối ghép lỗi giữa giáp đai trên và giáp đai dưới và hệ thống khoang rỗng trong các bầu chống ngư lôi. IJN biết có vấn đề với mối ghép của giáp mạn, nhưng họ lại chọn không xử lý vì điều đó sẽ làm chậm tiến độ hoàn tất con tàu. Hiệu quả của các khoang rỗng cũng có thể được cải thiện nếu chúng được bơm đầy chất lỏng, giống như các hải quân khác, vì điều này sẽ tăng khả năng chống lại vụ nổ dưới nước. Nhật Bản đặt nặng việc xả nước đối trọng để giảm thiểu thiệt hại do ngư lôi gây ra, nhưng trong thiết kế của họ thì điều này cũng không tối ưu. Với độ nghiêng nặng, hệ thống xả nước đối trọng và bơm nước chỉ có thể làm đầy 55% khoang rỗng phía mạn tàu còn nguyên vẹn.
Cuối cùng, khu vực mũi tàu không được bọc giáp của siêu thiết giáp hạm cũng là một vấn đề. Một khi bị hư hại, nước tràn vào rất lớn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ cân bằng và tư thế nổi của con tàu. Nguyên nhân là do các khoang mũi quá lớn.
Khi thiết kế lớp Yamato, Hải quân Nhật đã không tiên liệu sự xuất hiện của loại ngư lôi mang 600 lb Torpex (mạnh hơn thuốc nổ TNT). Loại đầu đạn này tạo ra sức nổ vượt xa khả năng chịu đựng mà hệ thống phòng thủ chống ngư lôi của các thiết giáp hạm được thiết kế để đối phó. Ngay cả với trọng lượng khổng lồ của YamatoMusashi, vẫn phải có những thỏa hiệp về giáp. Không một con tàu nào có thể bọc giáp đến mức chịu đựng nổi những trận mưa bom ngư lôi không ngừng nghỉ mà Hải quân Mỹ có thể tung ra trong giai đoạn 1944 – 45.

KẾT QUẢ

Việc đánh chìm Yamato đã mang đến một dấu mốc mang tính biểu tượng cho sự kết thúc của kỷ nguyên thiết giáp hạm; sự diệt vong của nó, cùng với sự tiêu diệt của con tàu chị em Musashi, chứng minh rằng không có loại tàu chiến chủ lực nào là “không thể đánh chìm”.
Tình trạng của xác tàu đắm Yamato khi được phát hiện vào ngày 14 tháng 12 năm 1999.
Tình trạng của xác tàu đắm Yamato khi được phát hiện vào ngày 14 tháng 12 năm 1999.
Những đạn AP 46 cm nằm ở phần dưới đã sụp đổ của tháp pháo chính Yamato.
Những đạn AP 46 cm nằm ở phần dưới đã sụp đổ của tháp pháo chính Yamato.
Yamato đã trở thành một khoản đầu tư thảm họa, đúng như nỗi lo của một số người trong IJN trước khi con tàu được chế tạo. Nó chưa từng bắn vào một thiết giáp hạm nào của Hải quân Mỹ như mục đích thiết kế ban đầu. Trong sự nghiệp ngắn ngủi và kém năng suất, Yamato chỉ khai hỏa pháo chính 18,1 inch vào đúng một mục tiêu – một tàu sân bay hộ tống không đáng kể của Hải quân Mỹ ở ngoài khơi Samar vào ngày 25 tháng 10 năm 1944. Thậm chí còn có nghi vấn liệu pháo thủ của siêu thiết giáp hạm có bắn trúng mục tiêu mà họ nhắm tới hay không.
Trận chiến cuối cùng của Yamato đặc biệt đáng chú ý vì tính chất vô nghĩa của nó. Không thể tự bảo vệ mình, con tàu bị đánh chìm bởi không lực tàu sân bay Hải quân Mỹ với tổn thất phía Mỹ chỉ ở mức rất nhỏ. Ngay cả ý tưởng cho rằng Yamato sẽ thu hút sự chú ý của các tàu sân bay Hạm đội Thái Bình Dương về phía nó — từ đó mở đường cho các máy bay cảm tử Nhật — cũng tỏ ra sai lầm. Với sự diệt vong của con tàu, IJN gần như hoàn toàn phải dựa vào các cuộc tấn công cảm tử chống lại lực lượng đổ bộ Mỹ trong kế hoạch phòng thủ Nhật Bản.
Tình trạng của xác tàu đắm Musashi khi được phát hiện vào ngày 2 tháng 3 năm 2015 và được đoàn thám hiểm Paul G. Allen khảo sát.
Tình trạng của xác tàu đắm Musashi khi được phát hiện vào ngày 2 tháng 3 năm 2015 và được đoàn thám hiểm Paul G. Allen khảo sát.
Mỏ neo mạn phải nặng 15 tấn, còn neo mạn trái được thả xuống biển khoảng hai giờ trước khi tàu chìm, nhằm mục đích giảm độ nghiêng của Musashi.
Mỏ neo mạn phải nặng 15 tấn, còn neo mạn trái được thả xuống biển khoảng hai giờ trước khi tàu chìm, nhằm mục đích giảm độ nghiêng của Musashi.
Musashi đã chiến đấu khá kiên cường và cho thấy nó khó bị đánh chìm đến mức nào với tư cách là con tàu bọc giáp nặng nhất thế giới. Ít nhất cái chết của nó vẫn mang lại một đóng góp quan trọng cho nỗ lực chiến tranh của Nhật Bản, bởi các đòn tấn công của Mỹ trong ngày 24 tháng 10 ở biển Sibuyan chủ yếu tập trung vào siêu thiết giáp hạm này. Điều đó cho phép phần còn lại của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất vượt qua biển Philippine với tổn thất tối thiểu, đem lại cho Nhật Bản ảo tưởng về một chiến thắng vào ngày hôm sau. Tuy nhiên, như đã được làm rõ, ngay cả khi Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất đột phá được vào Vịnh Leyte, họ cũng sẽ chẳng đạt được điều gì đáng kể. Đổi lại, gần như chắc chắn toàn bộ lực lượng của Kurita sẽ bị dồn vào bẫy và tiêu diệt. Các con tàu và thủy thủ của Lực lượng Tấn công Nghi binh Thứ Nhất xứng đáng có một kế hoạch tương xứng hơn với sự hy sinh của họ.
Đối với người Mỹ, tàu sân bay bước ra khỏi cuộc chiến với tư cách là trung tâm sức mạnh của Hải quân Mỹ. Vị thế này của tàu sân bay vẫn không thay đổi xuyên suốt Chiến tranh Lạnh và thậm chí cho đến tận ngày nay. Sự cáo chung của thiết giáp hạm cũng đồng nghĩa với sự kết thúc của máy bay ném ngư lôi. Sự nghiệp hậu chiến của Avenger và Helldiver tương đối ngắn ngủi, khi các tiêm kích–cường kích như F4U Corsair trở thành lực lượng chủ đạo nhờ tính linh hoạt của chúng. Những loại máy bay cường kích mới như AD Skyraider, được thiết kế mà không bị những hạn chế từng gây khó khăn cho Helldiver, tỏ ra vượt trội hơn nhiều.
Máy bay Curtiss SB2C-5 Helldiver của Lực lượng Không quân Tưởng niệm, số hiệu N92879 / 32 83725 trong Triển lãm hàng không NAS Pensacola năm 2011.
Máy bay Curtiss SB2C-5 Helldiver của Lực lượng Không quân Tưởng niệm, số hiệu N92879 / 32 83725 trong Triển lãm hàng không NAS Pensacola năm 2011.
Mặc dù việc ngừng bắn tại Thái Bình Dương đã đột ngột chấm dứt vai trò tấn công của Avenger, loại máy bay này vẫn tiếp tục hoạt động trên sàn bay của các tàu sân bay trong vai trò do thám và chống tàu ngầm đến năm 1954, và còn lâu hơn nữa trong vai trò hỗ trợ kỹ thuật.
Trớ trêu thay, sau khi từng bị chỉ trích vì những thiếu sót của mình, Helldiver lại trở thành máy bay cường kích chủ lực của Hải quân Mỹ trong giai đoạn hậu chiến. Tuy nhiên, điều này chỉ mang tính tạm thời, khi chiếc Helldiver cuối cùng rời biên chế hạm đội vào năm 1949. SB2C cũng phục vụ khá thành công, giống như Avenger, trong lực lượng không quân của một số quốc gia khác.
Link phần 1: