Còn có một châu Âu khác, và nó giải thích vì sao chủ nghĩa đế quốc thực dân Nga không được thiện cảm tại đây (P3)
Phần 3 sẽ đi vào từ 1939-45, với phần này chú trọng đến hai nhân vật chính là Đức và Liên Xô, trong cuộc chiến tranh lớn nhất và tàn bạo nhất lịch sử loài người.

Trong khoảng thời gian tạm lắng giữa 1920 và 1939, Đông Âu vẫn đang luôn trong trạng thái của một quả bom nổ chậm, đặc biệt khi Đức Quốc Xã và Liên Xô trỗi dậy, và nó sẽ phát nổ bất cứ lúc nào. Và khi phát nổ, nó sẽ biến thành nơi đẫm máu và tang thương nhất. Đây là Phần 3 của toàn bộ câu chuyện về lịch sử Đông Âu được tóm tắt gọn nhất có thể, để hiểu vì sao người dân Đông Âu không ưa Nga.
Phát súng đầu tiên

Quân Đức phá rào biên giới với Ba Lan, 1/9/1939
Khi Hitler và Stalin phe chuẩn thỏa thuận Molotov-Ribbentrop, cả Đức và Liên Xô đã tạm thời ngưng cuộc chiến tranh lạnh giữa họ để bắt đầu bành trướng ảnh hưởng của mình. Theo thỏa thuận, Đông Âu sẽ phải bị xé nát thành nhiều phần, với Ba Lan bị chia đôi, vùng Baltic và Phần Lan sẽ rơi vào tay Liên Xô, trong khi vùng Balkan sẽ được chia vào vùng ảnh hưởng của Đức. Người Đức thì đã biến Tiệp Khắc làm hai từ trước đó, với đất của người Séc biến thành Xứ bảo hộ Bohemia và Moravia, trong khi Slovakia là một nền Cộng hòa chư hầu. Hungary sau đó cũng nhập hội với phe Đức.
Một tuần sau thỏa thuận, ngày 1/9/1939, quân Wehrmacht Đức bất ngờ khai súng tấn công Ba Lan, khơi mào Thế chiến II. Đây cũng là lúc mà người Đức trình làng một đặc sản chiến tranh hiện đại đời mới mà chưa ai nhìn thấy bao giờ: blitzkrieg. Học thuyết này, dịch là "chiến tranh chớp nhoáng" do Heinz Guderian kiến tạo, đã gây ra cú sốc cực lớn cho Anh và Pháp khi cả hai nước này, vốn là đồng minh của Ba Lan, đã không được chuẩn bị cho điều này. Tuy nhiên, sự kháng cự của Ba Lan là dữ dội hơn dự đoán, vì Ba Lan vẫn kỳ vọng rằng Anh và Pháp sẽ tấn công Đức. Tuy nhiên, những gì Anh và Pháp làm được chỉ là tuyên chiến với Đức, và tiến hành cái gọi là "Chiến tranh Kỳ lạ" (Phoney War), khi Anh và Pháp khẩu chiến bằng... mồm rồi ngồi đơ ra không làm gì cả.
Liên Xô, trong khi đó, tạm chờ để xem phe Đồng Minh sẽ làm gì để cứu Ba Lan, nhưng sau gần bốn tuần mà Anh và Pháp vẫn không cứu Ba Lan, thì Stalin mới chớp thời cơ, phát động cuộc xâm lược ở phía đông. Lúc này, Ba Lan bị kẹp ở hai phía và, biết không chống nổi, phần lớn quân đội và thường dân Ba Lan tị nạn buộc phải trốn qua ngả Romania và Hungary. Ba Lan chính thức bị phân chia lần đầu tiên kể từ khi vong quốc năm 1795, và Đức cùng với Liên Xô liền tiến hành cuộc diễu binh tại Brest-Litovsk, cũng chính là nơi mà chế độ Bolshevik của Lenin từng ký Hòa ước 1918 với Đức.
Đó chính là lúc mà bản chất của hai chế độ tàn ác bậc nhất Thế chiến II bắt đầu bộc lộ. Từ khoảng những năm 1939-40, hai lực lượng cảnh sát mật chính là Gestapo của Đức Quốc Xã và NKVD (Bộ Dân ủy Nội vụ) của Liên Xô tiến hành các cuộc gặp cấp cao trong bí mật. Trong các cuộc gặp của những con quỷ dữ này, Gestapo và NKVD đã bí mật đề cập đến các chiến dịch diệt chủng hay thanh lọc toàn bộ khu vực Đông Âu này. Mặc dù mục tiêu chủ yếu là nghiền nát sự tồn tại của Ba Lan, nhưng những bộ óc tàn bạo của cả hai cũng không ngần ngại tính kế loại trừ mối họa tương lai trong trường hợp có các phong trào kháng chiến khác.
Liên Xô, sau khi đã chắc thắng tại Ba Lan, quyết định xâm lược Phần Lan, một xứ quốc Bắc Âu mà ngày xưa từng thuộc Đế chế Nga Sa hoàng, theo thỏa thuận Molotov-Ribbentrop. Nhưng Phần Lan, dưới sự lãnh đạo của chính một cựu quân nhân Nga là Carl Gustaf Emil Mannerheim, tỏ ra quá hiệu quả trong chiến đấu và khiến Hồng quân Liên Xô thương vong lớn. Tuy nhiên, Phần Lan cuối cùng vẫn phải nhượng bộ và, theo Hòa ước Moscow ký tháng 3 năm 1940, thì phải cắt 10% lãnh thổ, nhất là vùng Karelia vốn gần gũi với Phần Lan về văn hóa đã bị lấy đi. Song, Phần Lan có thể coi là một trường hợp may mắn vì họ mất đất, nhưng không mất nước. Trong khi đó, vị thế của Liên Xô đã bị làm nhục ở Phần Lan, và Stalin buộc Hồng quân phải cải tổ quân đội, và các chức danh quân sự cũ được phục hồi.
Đến mùa hè 1940, Liên Xô đưa tối hậu thư cho Estonia, Latvia, Lithuania và Romania, đòi khôi phục lại lãnh thổ của Sa hoàng bị lấy mất. Cả ba nước Baltic đều sau đó bị thôn tính và bị đàn áp tàn bạo bởi những kẻ chiếm đóng phía đông một lần nữa, và người dân Baltic dần nhận ra Liên Xô đến để cướp nước, liền bắt đầu kháng cự. Ở Romania, Stalin ép chính phủ nước này phải nhượng bộ về vùng lãnh thổ Bessarabia và Bukovina, khiến Romania phải từ bỏ lãnh thổ. Lợi dụng điều này, Hungary và Bulgaria cũng lao vào xâu xé lãnh thổ Romania, sáp nhập một phần Transylvania và Dobruja vào bản đồ. Romania không mất nước, nhưng so với Phần Lan, họ mất quá nhiều lãnh thổ. Trong cơn vô vọng, Thủ tướng Gheorghe Tătărescu phải xin từ chức và Vua Charles II buộc phải thoái vị cùng năm. Thất vọng, tân vương là Michael I quyết định bổ nhiệm Ion Antonescu, một người cực hữu, làm Thủ tướng Romania vào tháng 9.
Trong khi đó, Đức lại đang trải qua những ngày tháng bay cao. Đến năm 1940, Đức đã làm chủ Na Uy, Hà Lan, Bỉ và cả Pháp, đẩy Anh trở thành thành viên Đồng Minh cô độc còn lại. Đức cũng có Ý đứng bên cạnh chiến đấu cùng, và sự ngầm ủng hộ của Tây Ban Nha. Để xây chắc hơn nữa, Đức cũng làm chủ Bắc Phi, khiến cho kế hoạch chiến tranh của Đức thuận lợi hơn. Tuy nhiên, đà tiến của Đức bị chặn lại sau khi các chiến dịch đánh bom Anh từ trên không đã không thành công, khiến Đức phải tạm hoãn Chiến dịch Sư tử biển vô thời hạn.
Sự chuẩn bị cho cuộc chiến cuối cùng

Quân Đức tiến vào Nam Tư, tháng 4 năm 1941
Tuy Đức và Liên Xô hài lòng với những gì họ đã có trong năm 1940, nhưng bên trong, cả hai ngầm chuẩn bị cho chiến tranh chống lại lẫn nhau. Bản thân cả Hitler và Stalin đều biết là họ phải đánh nhau đến chết lần này, nhất là khi Hitler công khai thù ghét Liên Xô và cả Đông Âu đến xương tủy, trong khi Stalin cũng coi Đức là một hiểm họa cần phải bị nhổ bỏ.
Ngay từ những năm 1940, Hitler và các Tham mưu trưởng bắt đầu lên kế hoạch xâm lược Liên Xô. Mặc cho các tiếng nói phản đối, Hitler vẫn không buồn để tâm và tiếp tục với kế hoạch. Để bảo vệ cho điều đó, Hitler còn viện dẫn cuộc xâm lược Phần Lan thất bại của Liên Xô như là bằng chứng cho sự yếu kém và què quặt của Hồng quân, và Liên Xô đơn giản chỉ là một cái vỏ rỗng mà thôi. Thế nhưng, để làm Stalin không nghi ngờ, người Đức sử dụng chiến thuật đánh lạc hướng bằng việc dựng nên hai "Chiến dịch" là Haifisch (Cá mập) và Harpune (Lao móc) để khiến giới lãnh đạo Liên Xô tưởng rằng Đức đang lên kế hoạch tấn công Anh. Đức cũng móc nối Romania và Phần Lan và đưa hai nước này vào cùng một phe chống lại Liên Xô, viện dẫn lý do chính trị và đảm bảo an ninh. Cùng lúc đó, máy bay Luftwaffe của Đức cũng bí mật trinh sát trên không trên khắp bầu trời Liên Xô để theo dõi xem Liên Xô đang chuẩn bị thế nào.
Nhưng khi người Đức đang rục rịch cho cuộc xâm lược Liên Xô, thì Ý lại gặp thảm họa ở Hy Lạp khi quân Ý thất thế trước quân đội Hy Lạp yếu hơn. Lo ngại Anh có thể sử dụng Hy Lạp để đe dọa Đức từ vùng Balkan, đặc biệt là Romania giàu dầu mỏ, Hitler miễn cưỡng phái binh lực đến ứng cứu, với mục tiêu đầu tiên là Nam Tư để mở đường tới Albania thuộc Ý. Nam Tư, vốn dĩ ban đầu chấp nhận làm đồng minh của Đức, nhưng chỉ sau hai ngày ký hiệp ước phe Trục, một cuộc đảo chính bởi các sĩ quan thân phe Đồng Minh vào ngày 27/3/1941 đã khiến Hitler nổi giận, và ông thề sẽ hủy diệt Nam Tư bằng mọi giá. Cuộc xâm lược Nam Tư của Đức diễn ra một tuần sau đó, và quân đội Nam Tư, vốn bị chia rẽ sắc tộc nặng nề, đã dễ dàng tan rã và Đức chiếm đóng Nam Tư, trong khi tạo ra các nhà nước chư hầu như Croatia hay phân chia lãnh thổ Nam Tư cho Bulgaria và Hungary.
Với Nam Tư bị xóa sổ, Đức có thể yên tâm giúp Ý ở Albania. Và lần này, Hy Lạp không thể đứng vững. Quân Đức, vượt trội về năng lực chiến đấu và tổ chức, nghiền nát Hy Lạp vào 1/6/1941, giương cao lá cờ Đức tại Athens. Bất mãn với sự yếu kém của Ý, Đức quyết định chia Hy Lạp thành ba vùng chiếm đóng do họ, Ý và Bulgaria điều hành, chứ không phải toàn bộ Hy Lạp cho Ý. Tuy nhiên, trên thực tế, Đức đứng đầu và quân Đức kiểm soát cả ba vùng này. Bản thân Hitler đã xác định mật danh cho Chiến dịch xâm lược Liên Xô là Barbarossa, để tôn vinh Hoàng đế La Mã Thần thánh Frederick I, biết tới Frederick Râu đỏ (Barbarossa trong tiếng Ý), nhưng việc phải giúp Ý giải quyết Hy Lạp khiến Hitler bực bội và làm trì hoãn cuộc tấn công Liên Xô một lúc.
Không phải là Liên Xô không biết điều này, dẫu vậy. Ngay từ năm 1940, Nguyên soái Semyon Timoshenko đã cảnh báo về hiểm họa xâm lăng từ Đức, trong khi Tham mưu trưởng Stavka là Boris Shaposhnikov cũng dự đoán rằng Đức sẽ xâm lược từ ba hướng. Cho đến năm 1941, tình báo Anh cũng bí mật gửi điện tín tới Moscow, cảnh báo cuộc xâm lăng sắp tới của Đức, và một điệp viên Trung Quốc là Diêm Bảo Hằng cũng gửi điện tín tới Mao Trạch Đông, cảnh báo âm mưu xâm lược Liên Xô đã được Hitler phê duyệt, mà sau đó Chu Ân Lai gửi đến Moscow sau đó. Ngay tại Tokyo, Richard Sorge, một gián điệp khác của Liên Xô, cũng cảnh báo rằng Đức sắp tấn công quy mô lớn thông qua những dữ liệu ông nhận được khi đang ngụy trang làm nhà báo.
Tuy nhiên, Stalin, dù cũng đã bí mật chuẩn bị cho chiến tranh, lại không nhận thức được rằng Hitler sẽ tìm đến ông sớm hơn dự đoán, và cho rằng Đức sẽ chỉ bắt đầu tấn công từ năm 1943 mà thôi. Thêm nữa, việc Stalin tiếp tục các chiến dịch khủng bố và thanh trừng nội bộ khiến Hồng quân yếu đi rõ rệt, với một số những Tướng quân giỏi nhất, nổi bật như Mikhail Tukhachevsky (người phát triển học thuyết "Deep Battle" hay "Chiến tranh chiều sâu") thì đã bị giết hại hay lưu đày. Trong khi đó, việc thanh trừng nội bộ cũng khiến quân đội Liên Xô, dù đông đảo và có nhiều khí tài, cũng tỏ ra thiếu tổ chức và thậm chí, cho đến trước trước tháng 6 năm 1941, nhiều công sự của Liên Xô còn đang trong tình trạng dang dở, xe tăng thì không có thiết bị liên lạc vô tuyến, binh lính thiếu hụt vũ khí trầm trọng, và công tác huấn luyện chuẩn bị cho chiến tranh gặp nhiều bất ổn. Chính sự lủng củng của quân đội và thiếu tin tưởng vào tin tình báo, cũng như cách cai trị độc tài của Stalin, sẽ khiến Liên Xô gặp rắc rối lớn trong thời kỳ đầu của cuộc đại chiến toàn cục giữa hai quốc gia toàn trị này.
Cuộc quyết chiến bắt đầu

Xe tăng Đức tiến vào Liên Xô, hè năm 1941
Trước khi phát động Chiến dịch Barbarossa, vào tháng 6 năm 1941, Hitler phát biểu rằng "chúng ta chỉ cần gõ cửa, và cả cái nhà sẽ sụp đổ", tin tưởng rằng Liên Xô sẽ hoàn toàn bị xóa sổ và nước Đức vĩ đại mà Hitler đã liên tưởng sẽ thống trị toàn cõi Âu lục theo khái niệm Lebensraum (Không gian sống), nơi mà các dân tộc Slav, Do Thái, Roma (Di gan) và toàn bộ dân tộc Đông Âu khác sẽ bị hủy diệt để dân Aryan Đức thay thế. Hitler cũng cho phép quân đội Đức được quyền giết chết bất kỳ tù binh Liên Xô nào, như một bằng chứng cho chính sách tận diệt của hắn.
Khi Đức bất ngờ tấn công vào 22/6/1941, quân Đức khai pháo vào pháo đài Brest, nơi mà chính quân Đức và Liên Xô từng diễu binh mừng sự kiện xóa sổ Ba Lan gần hai năm trước. Brest thất thủ sau một tuần chiến đấu và, trên đà thắng lợi, Đức tiến công liên tiếp, đánh phá vào các công sự được xây dựng sơ sài của Liên Xô. Hồng quân, bất ngờ bởi các đợt tấn công như vũ bão của Đức và đồng minh Trục, ban đầu tan rã nhanh chóng và phần lớn bị tiêu diệt hoặc bắt làm tù binh. Đến đầu tháng 8, Đức thậm chí đã chiếm được Smolensk và vùng Baltic, trực tiếp uy hiếp Leningrad, thành phố từng là thủ đô của chế độ Sa hoàng trước kia. Moscow bỗng trở nên rộng mở cho quân Đức. Những tù binh và thường dân Liên Xô bị Đức tóm được đều bị đối xử đầy tàn bạo, mở màn cho chuỗi hệ thống diệt chủng hàng loạt mà Hitler tham vọng theo đuổi cho giấc mộng Đại Đức của ông ta.
Tuy nhiên, điều mà người Đức không lường được là số quân Liên Xô đông hơn dự đoán. Mặc cho các thắng lợi như trẻ tre, phần lớn binh lính Hồng quân vẫn kịp tháo chạy, tiếp tục chiến đấu, với mức độ dần dần điên cuồng hơn dự đoán. Sự chống trả của Hồng Quân, mặc cho thương vong ngày càng cao và tình trạng đào ngũ hàng loạt, đã khiến Hitler buộc phải thay đổi kế hoạch, thay vào đó chuyển trọng tâm sang bình định vùng đồng bằng Ukraine, nhằm cắt nguồn tiếp tế quân nhu cho Liên Xô. Điều này gây ra Trận Kyiv do Heinz Guderian chỉ huy vây hãm quân đội Liên Xô; vào tháng 9 cùng năm, Liên Xô nhận một thất bại quân sự tủi hổ với thương vong gấp ba so với Đức.
Thảm họa ở Kyiv khiến tàn quân Liên Xô sống sót buộc phải tháo chạy, và gần như cùng lúc, bỗng chốc nước Nga rộng mở cho Hitler, và cảm giác chiến thắng của người Đức đang đến gần. Đó mới là lúc Hitler đồng ý chuyển trọng tâm sang tấn công Moscow, hiểu rằng nếu đầu não của chế độ cộng sản sụp đổ, thì sẽ không còn ai ngăn cản Đức làm gỏi châu Âu và tiến công Anh được nữa.
Tuy nhiên, Hitler lại đánh giá sai sự cố thủ của Stalin. Mặc cho các thất bại nặng nề ở Ba Lan, Baltic, Ukraine và Belarus, và những lời van xin từ Stavka và các quan chức Liên Xô là lánh nạn sang dãy núi Ural để tiếp tục điều hành và chiến đấu, Stalin nhất quyết không chịu rời bỏ Moscow, mà thay vào đó chọn quyết chiến đến cùng. Sau khi đạt thỏa thuận tương trợ lẫn nhau với Anh vào tháng 7, qua đó trở thành thành viên phe Đồng Minh trong một khoảng thời gian tạm thời, Stalin cũng phái người tới Hoa Kỳ, lúc đó đang trung lập, để xin hỗ trợ khí giới để kháng Đức, khi phần lớn các cơ sở công nghiệp của Liên Xô đã bị phá hủy hoặc phải di dời vội vã tới vùng Ural hoặc Trung Á. Stalin còn tự tay đưa ra hai bài phát biểu toàn quốc kêu gọi kháng chiến chống Đức, bài đầu tiên diễn ra hơn 10 ngày sau khi Chiến dịch Barbarossa bắt đầu, và bài thứ hai (và cũng là nổi tiếng nhất) vào 7/11/1941, khi quân Đức áp sát Moscow. Thậm chí, đúng ngày 7/11/1941, Stalin còn hạ lệnh tổng duyệt binh toàn quốc tại Moscow
Sự ngoan cố của Stalin, vào thời điểm đó, bị coi là điên rồ. Tuy nhiên, việc Stalin nhất quyết không từ bỏ Moscow khiến các cuộc chiến đấu trở nên đẫm máu hơn, nhưng quân Đức vẫn tiếp tục tiến. Hitler trở nên tự tin tới mức đã tuyên bố sẽ chuẩn bị mời các phóng viên và nhà báo từ khắp thế giới đến Moscow để chứng minh chiến thắng lịch sử của người Đức đang đến gần. Chính sự tự tin đó mà quân Đức quyết định tạm hoãn các đợt tiến công để tái tổ chức, cho rằng Liên Xô không còn đủ binh lực để chiến đấu nữa.
Nhưng một phép màu chợt tới với Stalin khi chính Richard Sorge gửi một điện tín bí mật tới Moscow từ Tokyo, nói rằng Nhật Bản sẽ không tham chiến trừ khi Liên Xô thất trận, cho phép Stalin được điều các sư đoàn thiện chiến nhất từ Siberia về phía tây. Chính điều này và tin tình báo sai lệch mà Đức nhận được khiến quân Đức bị bất ngờ khi Liên Xô bất ngờ phản công quy mô lớn. Cuộc phản công tháng 11 cho đến đầu tháng 12 của Liên Xô đã khiến quân Đức đang hừng hực khí thế, bỗng tan vỡ và hỗn loạn tháo chạy. Cú sốc này làm người Đức bị một đòn choáng váng, và làm sụp đổ niềm tin rằng Liên Xô sắp lụi tàn. Giận dữ khi kế hoạch chiếm Moscow thất bại, Adolf Hitler cách chức Tham mưu trưởng Walter von Brauchitsch, và tự đôn mình lên vị trí Tham mưu trưởng.
Cuộc tắm máu của những con quái vật

Quân Đức ở Stalingrad, giữa năm 1942
Mặc dù Đức thất bại trong việc chiếm Moscow, quân Đức vẫn chiếm thế thượng phong khi đã lấy phần lớn đất phía tây của Liên Xô, và ách áp bức của người Đức đã thực sự diễn ra theo cách tàn bạo nhất có thể, và tù binh Liên Xô bị đối xử như cỏ rác. Trong khi đó, Liên Xô, vốn cũng chả phải thánh thiện gì vì sự tàn ác với các dân thiểu số và láng giềng trước đó, cũng chả nhẹ tay gì với những lính Đức hay Trục quốc khác bị bắt sống.
Bản thân Stalin và Hitler cũng xem đây là cuộc chiến ý thức hệ và chỉ có một phe chiến thắng, càng khiến cuộc chiến thêm nhuốm màu bạo lực. Cả hai nhà độc tài tàn bạo và khát máu này cũng nhúng tay vào các hoạt động chỉ huy quân đội của cả hai bên, khiến những lợi thế ban đầu đều không thể được tận dụng.
Vào đầu năm 1942, khi Thế chiến II đã chính thức bùng nổ toàn cầu, Stalin lên kế hoạch tấn công quy mô và toàn tuyến hòng giành lại đất đai đã bị Đức lấy mất, nhưng sự thiếu chuẩn bị và can thiệp quá sâu vào quyền chỉ huy của chính nhà độc tài Liên Xô (bản thân Stalin vẫn cho rằng Moscow có thể bị tấn công lần nữa) đã khiến phần lớn các cuộc tái phản công thất bại nặng nề. Nổi tiếng nhất chính là Trận Rzhev kéo dài hơn một năm, khi quân Liên Xô phản công quy mô lớn, nhưng lại phải nhận thương vong tới quá nửa trong tổng số hơn 3,6 triệu quân, trong khi quân Đức, với gần 1,7 triệu quân, chỉ tổn thất gần 700,000 người mà vẫn tạm giữ vững phòng tuyến, trước khi rút lui chiến lược với lực lượng phần lớn toàn vẹn. Cho đến mùa hè 1942, Liên Xô cũng chả thể tiến hơn được mấy, trong khi vẫn loay hoay tìm lời giải để đuổi hết quân Đức đi; Stalin, trong cơn khó chịu, còn nhiều lần than vãn rằng Anh và Hoa Kỳ (lúc này đã tham chiến trong phe Đồng Minh) cần phải mở mặt trận phía Tây để giúp giảm gánh nặng cho Liên Xô.
Trong khi đó, Hitler, vì quá nóng vội, cũng rất mong muốn chiếm được thêm đất, và sau khi không thành công với Moscow, hắn bắt đầu đề ý đến vựa dầu mỏ ở Grozny, Maykop và Baku, và nhận ra rằng cần phải cắt nguồn tiếp tế dầu khí của Liên Xô bằng vũ lực mạnh. Thêm nữa, Đức cũng cần phải làm chủ sông Volga, khiến cho Liên Xô không còn đủ sức mạnh để chiến đấu. Ý thức được điều này, Hitler liền hạ lệnh cho Bộ tham mưu chuẩn bị cho chiến tranh bằng việc tấn công toàn tuyến phía nam, với mật danh là "Fall Blau", hoặc "Case Blue", dịch tạm là "Chiến dịch Xanh Lam". Hitler ý thức rõ rệt chiến dịch đấy đến thế nào cho ông ta, khi hắn từng phát biểu,
Nếu mà các mỏ dầu ở Maikop và Grozny mà không chiếm được thì ta buộc phải chấm dứt chiến dịch này!Adolf Hitler
Ngay sau đó, Chiến dịch Xanh Lam bắt đầu và, giống y hệt Barbarossa, quân Đức thắng to trong những ngày đầu của chiến dịch. Nhưng cũng giống như Barbarossa, quân Đức lại gặp phải kháng cự dữ dội, và lần này, nó còn dữ dội hơn gấp bội bởi Hồng Quân biết quá rõ điều gì đang chờ đợi họ nếu Liên Xô thua. Hồng Quân cũng chủ động đốt phá các giếng dầu ở Maykop, Grozny, và các mỏ khác ở Gruzia, nhằm thực thi chiến lược "Vườn không nhà trống", gây khó khăn lớn cho Đức bởi để sửa chữa các giếng dầu này cần mất tới gần hai năm.
Trong khi đó, quân Đức cũng áp sát tới sông Volga, nơi họ sẽ đối diện với một địa điểm mà sau này sẽ nổi tiếng với một trong những trận chiến tiền nguyên tử cuối cùng trong lịch sử nhân loại: Stalingrad (nay là Volgograd). Đổi tên từ Tsaritsyn năm 1925 để tôn vinh Stalin (theo ý thức hệ sùng bái cá nhân), thành phố chính là huyết mạch của Liên Xô tại sông Volga, và chỉ cần Stalingrad bị chiếm, thì số phận của Liên Xô sẽ an bài. Không chần chờ, quân Đức quyết định mở chiến dịch đổ bộ Stalingrad, khai màn trận đánh lớn nhất Thế chiến II.
Đại chiến ở Stalingrad

Một tù binh Đức bị bắt bởi Hồng Quân ở Stalingrad
Từ tháng 7 năm 1942, quân Đức đã bắt đầu các chiến dịch truy quét để chuẩn bị cho cuộc tổng tấn công Stalingrad. Sau hơn một tháng, phần lớn các ổ kháng cự nhỏ lẻ của Liên Xô bị loại bỏ, mở đường cho quân Đức xâm nhập thẳng vào thành phố. Lực lượng tiên phong cho chiến dịch này của Hitler là Tập Đoàn quân số 6, tập đoàn quân tinh nhuệ nhất của Đức trong chiến tranh, do Friedrich Paulus chỉ huy và thị sát bởi Thống soái Erich von Manstein, một chỉ huy quân sự lão làng.
Cùng lúc đó, Stalin chỉ bắt đầu nhận ra ý đồ của Hitler từ chính tháng 7, và vội vã phái Tướng Andrey Yeryomenko đến để chuẩn bị phòng thủ. Đi cùng Yeryomenko là Ủy viên (Commissar) và sau này là lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev, và cả hai lên kế hoạch phòng thủ Stalingrad. Để ứng phó, Stalin hạ Mệnh lệnh số 227, qua đó cấm việc rút lui, đồng nghĩa chỉ có quyết tử tới cùng mà thôi; một trong những câu nói trong Mệnh lệnh, "Ни шагу назад!" (Không lùi một bước), trở thành câu mệnh lệnh biểu tượng của trận chiến sinh tử này.
Nhưng, khi quân Đức chính thức tràn vào từ cuối tháng 8, thì Hồng Quân vẫn còn chưa tổ chức bài binh bố trận xong. Chính sự thiếu chuẩn bị kỹ càng mà Hồng Quân đã hoàn toàn bị đánh bại trong tháng 8, khi các máy bay Luftwaffe dội bom trong khi Không quân Liên Xô gần như không tồn tại. Sau khi đảm bảo sự thống trị trên không, đến tháng 9, quân Đức chính thức càn quét Stalingrad.
Dẫu vậy, sức chiến đấu của Hồng Quân vẫn không suy giảm, mặc cho tổn thất gia tăng. Sự điên cuồng của binh lính Liên Xô đã làm đến cả những chỉ huy dày dạn trận mạc của Đức bối rối. Trong một số khu nhà kho lương thực, lính Hồng Quân còn đốt cả thóc gạo và lúa để ngăn cản quân Đức lấy lương thực. Tại đồi Mamayev Kurgan, quân Đức và Liên Xô thay phiên nhau đổi chủ. Trong khi đó, ngay ở bờ sông Volga, một tòa nhà vô danh khoảng 300 mét vuông trở nên nổi tiếng do sự chống cự điên cuồng của Hồng Quân do Sĩ quan Yakov Pavlov chỉ huy, và quân Đức không tài nào chiếm nổi được tòa nhà này. Trong các khu công nghiệp của thành phố, quân Đức cũng phải mất gần hai tháng mới loại bỏ được phần lớn quân Liên Xô trong khu vực nhà máy và xí nghiệp này, nhưng với cái giá vô cùng nặng nề; ngay cả khi đó, tại một mảnh đất nhỏ sau Nhà máy Barrikady, Đại tá Ivan Lyudnikov chỉ huy Sư đoàn Bộ binh 138 tiếp tục chiến đấu trong khi quân Đức cũng không thể loại bỏ.
Tuy vậy, sự yếu thế về không quân khiến Liên Xô không thể tiếp tục duy trì lâu dài kháng cự mà không gặp rủi ro. Từ tháng 9 đến tháng 11, Luftwaffe tiếp tục kiểm soát bầu trời, đã vậy lại còn được hỗ trợ bởi các máy bay được điều động từ vùng Caucasus; trong khi không lực Liên Xô phải dựa vào ban đêm để đánh bom quân Đức hoặc tiếp tế Hồng Quân, phần lớn là không chính xác mục tiêu. Tuy nhiên, sức ép từ sức mạnh phòng không mặt đất của Liên Xô, cộng với việc phải liên tục tiếp tế không ngừng, bắt đầu làm bất ổn Luftwaffe khi họ liên tục bị tấn công bởi các súng pháo mặt đất của Liên Xô. Trong khi đó, các đợt tấn công lạc hướng khác của Liên Xô cũng làm phân tán Luftwaffe, và đến tháng 11, thì Luftwaffe cũng đã mất tới một nửa sức mạnh.
Trong khi đó, diễn biến ở Stalingrad đã nhận được chú ý bởi báo chí Anh và Hoa Kỳ, những người xem trận Stalingrad là biểu tượng sinh tử cho cuộc chiến mà phe Đồng Minh đang phải giành giật sự sống còn trước cỗ máy chiến tranh của Đức và Nhật Bản. Tất cả các tờ báo đều khẳng định trận chiến này là một phiên bản hỗn tạp của Verdun, Somme, và các trận chiến cổ xưa khác cộng lại, nhưng với mức độ tàn bạo chưa từng thấy. Đến giữa tháng 11, tình hình ở Stalingrad đã trở nên bi quan cho phe Đồng Minh, khi Đức đã làm chủ 90% thành phố và cảm giác Liên Xô sắp thua trận chỉ là vấn đề thời gian.
Nhưng khi quân Đức đang tập trung chờ ăn mừng, thì người Liên Xô đã nhìn ra được sự sai lầm chí tử của Đức: các binh lực chính của Đức thì là ở phía nam, trong khi mạn bắc thì lại do quân chư hầu Trục là Ý, Hungary và Romania bảo vệ; nhưng Hungary và Romania lại có hục hặc nên thiếu phối hợp, nên họ sẽ đánh vào mạn bắc mà quân chư hầu Trục quản lý.
Kết quả là Chiến dịch Sao Thiên Vương, do chính Georgi Zhukov đứng đầu chỉ huy, phát động vào 19/11/1942, tấn công đúng các lực lượng chư hầu trước tiên. Mặc cho lính Romania đã cảnh báo về nguy cơ phản công, người Đức đã hạ thấp tính nghiêm trọng và phải trả giá khi quân Liên Xô liên tiếp nghiền nát các đạo quân Trục lỏng lẻo ở phía bắc Stalingrad, trước khi bất ngờ bao vây và tiêu diệt các tập đoàn quân Đức nhỏ hơn ở phía nam.
Đến lúc này, Tập đoàn Quân số 6 của Đức đã chính thức bị bao vây. Kinh hoàng trước tin tức này, Thống soái Erich von Manstein hạ lệnh phá vây bằng mọi giá. Tuy nhiên, mệnh lệnh này bị bỏ qua bởi Hitler, khi ông đòi binh lính của cụm Tập đoàn Quân số 6 phải tử thủ trong khi hy vọng Luftwaffe sẽ không viện bằng máy bay. Chiến lược này của Hitler thất bại thảm hại, và Hồng Quân siết chặt vòng vây. Sau khi thuyết phục Hitler mãi không được, von Manstein buộc phải bỏ rơi Tập đoàn Quân số 6 và hy vọng nhóm quân này sẽ trụ vững đủ lâu để giúp quân Đức thoái lui khỏi vùng Caucasus nhằm tái tổ chức. Tuy nhiên, cũng phải mất hơn hai tháng để cuối cùng, người Liên Xô mới dẹp được các ổ nhóm Đức kháng cự cuối cùng, chấm dứt trận Stalingrad.
Tin tức về thất bại ở Stalingrad đã gây sốc cho bộ máy cầm quyền của chế độ Quốc Xã. Hitler chọn không phát biểu khi tin dữ báo về, phó mặc việc này cho phó tướng là Bộ trưởng Tuyên truyền Joseph Goebbels đại diện thay. Tin tức này cũng làm rúng động Nhật Bản, khi Nhật đã lén chuẩn bị tới một triệu quân và hàng ngàn khí tài cũng như vũ khí sinh hóa tối tân nhất tới giờ để chuẩn bị xâm lược Liên Xô từ phía đông, từ sông Hắc Long; nhưng việc Đức thảm bại ở Stalingrad buộc Nhật phải từ bỏ ý định này. Tây Ban Nha của Francisco Franco, vốn đồng cảm với Đức nhưng không đủ tiềm lực hay kinh tế vì di chứng nội chiến, chọn tiếp tục né tránh tuyên chiến ủng hộ Đức. Thổ Nhĩ Kỳ, trung lập khi Thế chiến II bắt đầu, nhưng vẫn có đại sứ tại Moscow, đã nhận ra rằng cuộc chiến đã được định đoạt, và bị thuyết phục rằng tham chiến là bản án tử, quyết định ngồi ngoài.
Trong khi đó, phe Đồng Minh như vỡ òa với chiến thắng ở Stalingrad. Tham mưu trưởng quân đội Anh, Alan Brooke, nói,
Tôi cảm thấy Nga không bao giờ có thể giữ vững được, Caucasus chắc chắn sẽ bị xuyên thủng, và Abadan (điểm yếu chí mạng của chúng ta) sẽ bị chiếm, dẫn đến sự sụp đổ của Trung Đông, Ấn Độ, v.v. Sau thất bại của Nga, chúng ta sẽ xử lý thế nào với lực lượng lục quân và không quân Đức được giải phóng? Anh Quốc sẽ lại bị oanh tạc, mối đe dọa xâm lược lại trỗi dậy... Và bây giờ! Chúng ta bắt đầu năm 1943 trong những điều kiện mà tôi chưa bao giờ dám hy vọng.Alan Brooke
Các tờ báo Anh và Hoa Kỳ giật tít ăn mừng đại thắng Stalingrad, nói rằng "châu Âu đã được cứu", và tất cả đều xem Stalingrad là bước ngoặt lịch sử, khi số phận đã sang trang. Vua George VI còn hạ lệnh đúc Thanh gươm Stalingrad để tri ân chiến thắng của Hồng Quân; Thanh gươm sau đó sẽ được Churchill trao cho Stalin tại Hội nghị Tehran cuối năm 1943.
Cơn bão từ phía đông

Trận Kursk năm 1943
Tuy nhiên, mặc cho chiến thắng lớn ở Stalingrad, quân Đức vẫn chưa bị đẩy lui hoàn toàn khỏi Liên Xô. Thêm nữa, Erich von Manstein đã sớm tái tổ chức đầy hiệu quả, bảo đảm tuyến hậu cần của Đức tiếp tục vận hành sau cú sốc Stalingrad. Minh chứng là nỗ lực tấn công của Liên Xô vào Kharkiv tháng 3 năm 1943 kết thúc trong thất bại. Trước tình thế này, Stalin mới chịu lắng nghe và bắt đầu cho phép các Tướng quân được nhiều quyền tự chủ hơn; nhưng trong lòng, hắn vẫn đặc biệt lo sợ các tướng lĩnh dưới trướng có ảnh hưởng hơn sẽ khiến hắn mất quyền lực.
Trong khi đó, đối trọng phía tây, Hitler, cũng trở nên ngày càng căng thẳng và can thiệp vào hoạt động của các tướng lĩnh cũng chả kém Stalin. Sau khi thua ở Stalingrad, quân Đức cần một cuộc tái tổ chức toàn diện. Chiến thắng tại Kharkiv đem lại cho Hitler một cơ hội để lật ngược thế cờ: hoặc là chờ thời cơ như Kharkiv lặp lại, hoặc phản công luôn. Và hắn chọn lựa chọn thứ hai, dẫn đến Trận Kursk tại đồng bằng Nga vào tháng 7, tròn đúng một năm Hitler khai hỏa Trận Stalingrad. Hitler cũng miễn cưỡng cho phép các chỉ huy Đức tự do chỉ huy trận mạc với hy vọng đảo ngược tình hình. Vì không có đủ quân, các lực lượng thiết giáp Đức trở thành nguồn lực chính cho trận chiến này trong chiến dịch gọi là "Citadel", Chiến dịch Pháo Đài.
Tuy nhiên, với sự tự do mà các tướng lĩnh Liên Xô mới tận hưởng, họ sớm nhận ra âm mưu của Hitler và đã chuẩn bị kỹ càng cho cuộc tấn công mà Hitler đã lên kế hoạch tại Kursk. Vì vậy, khi người Đức nổ súng phản công tại Kursk, Hồng Quân, giờ đã tốt hơn rất nhiều, đã dễ dàng hơn trong việc hứng chịu những đòn đánh phủ đầu của quân Đức. Việc này buộc Đức phải thay đổi chiến lược, và, vì sự bằng phẳng của đồng bằng Đông Âu, Kursk lập tức trở thành nơi diễn ra những trận đấu tăng đáng sợ nhất. Trong trận chiến này, Wehrmacht và Hồng Quân tận dụng tối đa sức mạnh thiết giáp cơ giới hòng tạo lợi thế cho nhau và tiêu diệt sinh lực kẻ bên kia nhiều nhất có thể.
Wehrmacht, với các đội binh thiết giáp tối tân và lực lượng không quân cơ động, ban đầu nắm ưu thế chủ động. Nhưng việc không thể loại bỏ được các thiết giáp Liên Xô khỏi vòng chiến đấu, cũng như việc trước đó không thể hủy diệt được 100% nền tảng công nghiệp của Liên Xô, và sự viện trợ ngày càng liên tục của Hoa Kỳ, đã dần bào mòn sức mạnh quân sự của Đức. Dẫu vậy, dưới trướng Erich von Manstein, quân Đức đang cho thấy dấu hiệu đột phá về chiến thuật và chiến lược, và Chiến dịch Roland, một chiến dịch hỗ trợ cho Pháo Đài, đang tiến triển. Và một lần nữa, quân Đức lại sắp vây hãm một lượng lớn quân Liên Xô.
Tuy nhiên, Anh và Hoa Kỳ bất ngờ mở cuộc tấn công vào Sicily đúng lúc mọi thứ đang căng thẳng ở Kursk. Hitler, lo ngại Anh và Mỹ có thể chiếm được Ý, hạ lệnh chấm dứt phần lớn các hoạt động trên tiền tuyến và phải thoái lui để cứu đồng minh Ý đang hấp hối. Liên Xô nhận ra cơ hội, liền tiến hành các đợt phản công, trong đó, nổi tiếng nhất là Chiến dịch Kutuzov (lấy tên từ vị Tướng Mikhail Kutuzov từng đánh bại quân Pháp năm 1812), một cuộc phản công thành công về cả chiến thuật lẫn chiến lược khi nó giúp Liên Xô nắm thế chủ động toàn diện về sau, mặc cho thương vong nặng nề. Với Đức, việc Ý bị xâm lược bởi Anh và Mỹ, cùng với các chiến dịch dội bom liên miên của không quân hai nước này vào lãnh thổ chính quốc, khiến Đức Quốc Xã không thể đạt được mục tiêu ở Kursk, qua đó, đẩy Đức vào thế bị động trong phần còn lại của chiến tranh.
Cơn lốc hủy diệt tất cả

Bản đồ Chiến dịch Bagration năm 1944
Bước sang năm 1944, quân Đức ngày một trở nên bị động khi bị vây đánh ở hai mặt trận. Đúng vào đầu mùa hè, bất ngờ phe Đồng Minh do Anh và Hoa Kỳ chỉ huy mở Chiến dịch Chúa Tể (Overlord) ở phía Tây, đổ bộ vào bờ biển Normandy của Pháp. Tuy nhiên, điều người Đức lo sợ nhất lại là ở phía đông, khi Liên Xô đang giữ thế chủ động. Để làm rối thêm tình hình, Hitler bắt các đội quân Wehrmacht phải tử thủ đến chết tại bất cứ cứ điểm nào mà họ đang chiếm. Đây chính là sai lầm chết người mà Hitler không nhận ra khi đưa ra mật lệnh đó.
Phía bên kia, Stavka của Hồng Quân đã quyết định phát động cuộc tổng phản công quy mô lớn, với tên chiến dịch được gọi là "Bagration", tôn vinh cố Hoàng tử người Gruzia Peter Bagration, người đã chiến đấu cùng Kutuzov năm 1812 chống người Pháp. Để gây choáng váng người Đức hơn nữa, Liên Xô trình làng chiến thuật của riêng mình, một phiên bản blitzkrieg nhưng quy mô lớn hơn do chính cố Tướng Tukhachevsky phát triển, gọi là "Deep Battle", hay "Chiến tranh chiều sâu". Trong chiến thuật này, quân đội Liên Xô phải phối hợp đặc biệt chặt chẽ và chiều sâu giữa các tập đoàn quân binh chủng, và đột phá ở nhiều lớp, đặc biệt là hậu phương kẻ thù, gây rối loạn và làm tan rã quân địch, điều mà đến cả blitzkrieg cũng chưa nghĩ đến.
Chiến dịch Bagration khởi động vào cuối tháng 6 năm 1944, và ngay lập tức, Hồng Quân tổng phản công ở một loạt các mặt trận. Wehrmacht, vốn đang lúng túng ở phía tây, bất ngờ bị tổng tấn công trên toàn khu vực Belarus, Ukraine và Baltic. Đợt đầu tiên đánh ở Vitebsk và Mogilev; đợt hai đánh ở Minsk và Polotsk; đợt ba là tổng tấn công Vilnius và Lublin. Trong tất cả các đợt phản công này, quân Đức đều đã bị đánh lừa bởi tình báo Liên Xô, những người đưa các tin tức giả để khiến quân Đức không nhận ra quy mô thực sự của cuộc tấn công cho đến khi quá trễ. Kết quả là quân Đức đã phải hứng tổn thất quá lớn, lên tới hơn 400,000 thương vong, và người Đức không bao giờ có thể phục hồi được sức mạnh năm xưa được nữa. Liên Xô hứng thương vong gấp đôi Đức, nhưng Liên Xô vẫn có thể thay thế được nhờ dân số đông và nhiều vũ khí hơn.
Cùng lúc đó, trong các đợt tiến công này, Liên Xô cũng miễn cưỡng móc nối với một số nhóm quân Đông Âu như của người Ba Lan và Ukraine, cũng như vùng Baltic, để cùng nhau chống Đức. Tuy nhiên, phần lớn người dân Baltic, vốn oán hận sự cai trị của Đức nhưng cũng căm ghét Liên Xô đến xương tủy do hành động xâm lược cách đây bốn năm, chọn biện pháp tìm cách lánh nạn cùng lính Đức vì quá sợ hãi trước binh lính Liên Xô. Trong khi đó, quan hệ của Liên Xô với các nhóm du kích Ba Lan, Ukraine, và sau này là toàn bộ Đông Âu, ngày càng trở nên căng thẳng do tư tưởng độc đoán và tàn bạo của Stalin chống lại các tham vọng tự do dân chủ của những nhóm Đông Âu này.
Đức Quốc Xã cáo chung, Liên Xô lộ dần bản chất bạo chúa

Lính Liên Xô cắm cờ tại Reichstag, 1945
Tuy nhiên, Liên Xô cũng không đến để giải phóng Đông Âu. Ngay từ những năm 1943, người Nga đã đề cập đến việc chia vùng ảnh hưởng, và Đông Âu phải rơi vào vùng thống trị của Moscow bằng bất cứ giá nào.
Đầu tháng 2 năm 1945, Stalin mời Churchill và Roosevelt đến bán đảo Crimea tham dự một hội nghị ở Yalta. Tại đó, Stalin lộ rõ dã tâm muốn thống trị khu vực phía đông và, với Anh và Hoa Kỳ đã quá mỏi mệt, Stalin không ngại lộ rõ bản chất xảo trá bằng việc yêu cầu đưa gần như khu vực Trung và Đông Âu, cũng như Balkan, vào vùng ảnh hưởng là các thuộc quốc chư hầu của Liên Xô, và các phe cộng sản ở đây phải là các đảng phái chính thức trong khu vực. Churchill và Roosevelt không phải là những kẻ ngốc khi họ nhận ra được âm mưu nham hiểm của Stalin, nhưng vì không có đâu sức mà lần, họ phải chấp nhận đầy miễn cưỡng.
Trong khi đó, ở trên thực địa Đông Âu, Liên Xô gia tăng tấn công Đức ở cả vùng Balkan và thậm chí là Hungary và Tiệp Khắc. Các đội quân Đức đang bị buộc phải thoái lui trong vô vọng, và Hồng Quân áp sát Berlin. Adolf Hitler, trong cơn cuồng nộ, gào lên tên của các tập đoàn quân đã chỉ còn tồn tại về lý thuyết trên giấy tờ.
Đến giữa tháng 4, Hồng Quân tiến vào Berlin, sau nhiều tháng oanh tạc bằng máy bay của Không lực Liên Xô. Khi người Đức thất bại trong việc chiếm Moscow, người Nga đã không ngần ngại trả thù bằng các đợt tấn công bạo lực vào thủ đô của Đức Quốc Xã. Lính Liên Xô, ám ảnh bởi sự độc ác và dã man mà Wehrmacht gây ra trên đất Liên Xô, đã chọn biện pháp trả thù y hệt, cưỡng hiếp phụ nữ Đức và các nhóm dân Baltic tị nạn khác, và bắn phá không thương tiếc mọi địa điểm ở Berlin mà họ thấy. Quân Đức chiến đấu điên loạn, hòng nhằm đuổi đi các lực lượng Liên Xô đang tiến vào, nhưng mọi nỗ lực với Đức chỉ càng trở nên vô vọng. Nhiều người Đức, vì quá sợ hãi, liền bỏ chạy về phía tây, hòng nhằm đầu hàng người Anh và Mỹ vốn khoan hồng hơn so với người Nga.
Sau đó, đến đúng 30/4/1945, Adolf Hitler quyết định kết liễu chính mình, chứ không muốn bị người Nga bắt sống. Sau khi Hitler chết, Đức Quốc Xã cũng chính thức cáo chung với Đô đốc Karl Dönitz cầm quyền. Thế chiến II ở châu Âu đã chính thức khép lại, và Liên Xô là bên chiến thắng cuối cùng, cùng Anh và Hoa Kỳ. Nước Đức chính thức bị chia làm hai.
Đến đó, chắc mọi người sẽ tin rằng, nếu chỉ xem sơ sài, thì một số sẽ lại cho rằng người Nga không có lỗi, và các hành động của Liên Xô chỉ là phản ứng lại. Nhưng Đông Âu trong Thế chiến II không đơn giản chỉ có Đức và Liên Xô, mà còn rất nhiều phe phái khác, và đi sâu vào di sản này mới giúp ta hiểu được, tại sao Nga, đến nay, vẫn bị căm ghét ghê gớm ở đây.
Phần 2: Link
Phần 4: Link

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất