Đến đầu thế kỷ 20, quả bom Balkan và Caucasus, cũng như những phong trào đòi lập quốc của các dân tộc bị áp bức dưới ách cai trị của bốn Đế quốc chính trong vùng là Nga, Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman, Đức và Áo-Hung, đang chỉ chờ phát nổ. Đây là Phần 2 của toàn bộ câu chuyện về lịch sử Đông Âu được tóm tắt gọn nhất có thể, để hiểu vì sao người dân Đông Âu không ưa Nga.

Sự lung lay của Sa hoàng

Cách mạng Nga năm 1905
Cách mạng Nga năm 1905
Cho đến đầu thế kỷ 20, Đế chế Nga là đế quốc lục địa lớn nhất thế giới, cai trị nhiều dân tộc trong bản đồ, và có một vị thế khổng lồ trên chính trường Á-Âu. Nó đã tham gia vào các hoạt động can thiệp chính trị, tranh giành ảnh hưởng với Pháp và Anh. Và nó cũng đã từng có liên minh chính trị với Đế chế Đức đang nổi lên.
Tuy nhiên, đó chỉ là vẻ ngoài sáo rỗng. Bên trong, Đế chế Nga vẫn là một đế chế nông nghiệp lạc hậu, có nền tảng công nghiệp hóa không vững chắc và chậm chạp. Sự yếu kém của Nga, tuy vậy, đã được che đậy khéo léo bởi các vị Sa hoàng chuyên chế như Nicholas I hay Alexander III. Tuy nhiên, bước ngoặc lịch sử sang trang vì một vụ việc gây sốc ở tận Viễn Đông: quân đội Nga đông đảo đã bị đánh bại tơi tả bởi quân đội Nhật Bản trong chiến tranh Nga-Nhật năm 1905, qua đó phải từ bỏ cả Mãn Châu và Triều Tiên.
Cú sốc thua trận đã gây phẫn nộ trên toàn nước Nga rộng lớn. Vì lẽ đó, người dân tràn xuống đường biểu tình, đòi chính phủ giải quyết các vấn đề khó khăn kinh tế và thất bại quân sự trước một đế chế da vàng châu Á. Sa hoàng lúc đó, Nicholas II, lại tỏ ra khá bất lực trước những đề xuất của người biểu tình, và các lực lượng cảnh sát quyết định sử dụng vũ lực mạnh đàn áp. Vụ việc này gây làn sóng bạo loạn toàn quốc sau đó, và thậm chí là các vụ xung đột sắc tộc cũng đã xảy ra trên Đế chế.
Để xoa dịu, Sa hoàng Nicholas II chấp thuận cho tái cấu trúc toàn bộ hệ thống. Điều này dẫn đến sự ra đời của bản Hiến pháp Nga năm 1906, Hiến pháp đầu tiên của Nga trong lịch sử (Alexander II từng có ý định này nhưng bị ám sát trước khi nó được đưa ra), và họp Nghị viện quốc gia (Duma) lần đầu tiên. Tuy nhiên, Nicholas II trong lòng không ưa gì chuyện này, và nhiều lần cố gắng làm khó các nghị sĩ bằng việc đưa các tay chân của mình vào chính phủ mới. Xung đột giữa Nicholas II và các nghị sĩ sẽ còn tiếp diễn cho đến khi Đế chế Nga sụp đổ.

Chiến tranh ở Balkan

Quân Bulgaria tiến đánh quân Thổ ở Adrianopolis trong chiến tranh Balkan thứ nhất
Quân Bulgaria tiến đánh quân Thổ ở Adrianopolis trong chiến tranh Balkan thứ nhất
Đến năm 1908, chính sách cai trị khoan dung chiến lược của Hoàng đế Áo Francis Joseph I đã thành công, và Bosnia đã nằm gọn trong bản đồ của Áo mặc cho các nỗ lực phản đối của Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman và Serbia. Nhận ra đế quốc Ottoman đã thực sự suy yếu và chỉ phản kháng bằng miệng, Bulgaria liền tuyên bố độc lập và nâng cấp chính thể từ Thân Vương quốc thành Vương quốc vào năm 1908; cùng lúc đó, Áo chính thức sáp nhập Bosnia vào đế quốc của mình. Để làm nguôi các cái đầu nóng ở Istanbul, Áo và Bulgaria đều chấp nhận trả một lượng tiền lớn cho việc này.
Nhưng nếu như Thổ Nhĩ Kỳ đã từ bỏ chủ quyền với Bosnia, thì Serbia lại chưa. Tuy nhiên, quan hệ Áo-Serbia vào năm 1908 đã không còn mặn nồng, mà đầy căng thẳng. Đó là vì vụ đảo chính Tháng Năm năm năm trước, khi các thành viên hoàng thất Nhà Obrenović bị ám sát bởi các sĩ quan cực hữu của quân đội Serbia, dẫn đến sự chuyển đổi triều đại sang Nhà Karađorđević. Nếu Nhà Obrenović còn giữ mối quan hệ giao hảo với cả Viên và St. Petersburg, thì Nhà Karađorđević lại không tử tế như vậy, khi họ nghiêng hẳn về phe Nga để chống Áo-Hung. Vụ đảo chính khiến Viên tức giận và quan hệ giữa Áo và Serbia ngày càng đi xuống. Vì vậy, Áo-Hung quyết định mở rộng ngoại giao với các nhà nước đối thủ của người Serbia là Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ, hòng cố gắng cô lập Serbia và ngăn cản Nga mở rộng quyền lực.
Trong khi đó, sự ủng hộ của Nga với Nhà Karađorđević tăng lên đáng kể, và chính sự tốt đẹp trong quan hệ Nga-Serbia khiến nó mạnh lên. Nga trở thành đối tác và là nhà cung cấp vũ khí chính cho Serbia, cùng với Anh, Pháp và Bỉ. Điều này càng khiến Serbia mạnh dạn đối đầu với Áo-Hung rộng lớn hơn, tin rằng Nga sẽ luôn bảo vệ mình. Cùng lúc đó, Nga cũng tích cực hơn trong việc cố gắng hòa giải quan hệ với Bulgaria, và là nhân tố chính hình thành lên liên minh quân sự bí mật Balkan giữa bốn quốc gia là Bulgaria, Serbia, Montenegro và Hy Lạp, với một mục tiêu ngầm duy nhất là chống lại sự xâm nhập của Áo-Hung vào Balkan.
Tuy nhiên, cả Nga và Áo đều không tính được việc các nước Balkan sẽ tìm cách đánh nhau với Thổ trước tiên. Đó là vì cả bốn nước Balkan chủ đạo là Hy Lạp, Bulgaria, Serbia và Montenegro đã ngầm đặt mục tiêu là xóa sổ toàn diện sự hiện diện của nước Thổ tại Balkan do ký ức bị chiếm đóng trước đây. Vì vậy, thay vì chống lại Áo, họ bất ngờ tấn công các đồn binh Thổ năm 1912, châm ngòi cho Chiến tranh Balkan đầu tiên, và sau này đánh bại Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman với thiệt hại chỉ bằng 1/4 so với quân Thổ chỉ sau một năm. Cuộc chiến này là một thảm họa quân sự của người Thổ, một phần vì quân đội Thổ mới chỉ được tái huấn luyện sau vài năm bị cấm đoán bởi vị Quốc vương Abdulhamid II đã bị lật đổ, nên được tổ chức kém trước các đội quân Balkan vũ trang tốt hơn.
Tuy nhiên, sau khi thắng trận, Bulgaria tỏ ra bất mãn khi nhận được quá ít, trong khi vùng Macedonia mà Bulgaria coi là của mình thì lại bị nhượng cho Serbia, và đặc biệt là Istanbul, thủ đô của nước Thổ bất giờ và là khát vọng lớn nhất của Bulgaria, thì Nga lại ép dừng tiến công. Điều này khiến Bulgaria nổi giận lao vào đánh nhau lần nữa, bùng nổ Chiến tranh Balkan lần thứ hai. Lần này, Bulgaria rơi vào cảnh bị đánh ở mọi mặt, khi liên tiếp bị Serbia, Montenegro, Hy Lạp và cả Romania lẫn Thổ Nhĩ Kỳ đánh úp, nên thua trận và phải cắt rất nhiều đất cho các nước thắng trận. Điều này khiến Bulgaria bực bội và cảm giác bị Nga phản bội đã đẩy nước này gần với phe Đức và Áo hơn, khi người Bulgaria cảm thấy mình có thể bị xâm lược hoặc bị bao vây bất cứ lúc nào.

Thế chiến I bùng nổ

Một trận đánh trong Thế chiến I ở Đông Âu
Một trận đánh trong Thế chiến I ở Đông Âu
Khi những bất ổn ứ đọng mà không thể thoát ra, chiến tranh là điều sẽ xảy ra. Như von Bismarck từng cảnh báo, "một vụ việc ngớ ngẩn ở Balkan" sẽ châm ngòi, và đúng như vậy. Tại Sarajevo, 28/6/1914 sẽ là ngày đen tối nhất, khi một sinh viên theo chủ nghĩa dân tộc Serbia là Gavrilo Princip bắn chết Thái tử Francis (Franz) Ferdinand và phu nhân của ngài ngay trên xe. Tức giận, Áo-Hung đổ lỗi cho Serbia đã phái người ám sát, và tổng động viên quân đội. Nga liền tiếp ứng bảo vệ Serbia bằng lệnh tương tự, rồi đến Đức, Anh, Pháp, và sau này là Bỉ và các nước Âu lục khác. Dần dần, nó chia thành hai phe: phe Hiệp ước (Entente) do Anh, Pháp, Nga và các nước như Ý, Serbia và Bỉ; trong khi phe Liên minh Trung tâm (Central Powers) bao gồm Đức và Áo-Hung.
Cuối cùng, chiến tranh nổ ra ở Đông Âu khi Áo chính thức xâm lược Serbia, dưới sự chỉ huy của Tướng Oskar Potiorek. Tuy nhiên, Serbia lại tỏ ra can đảm hơn dự đoán và quân Áo phải hứng thương vong quá lớn mà không thể đạt được mục tiêu chính trị sau năm 1914. Để làm xấu hổ vương triều Áo-Hung, chính Serbia là nước đầu tiên mang về chiến thắng cho phe Hiệp ước với chiến thắng tại Núi Cer vào tháng 8. Tuy nhiên, Serbia không thể đứng vững khi Đức quyết định can thiệp, và khi Bulgaria nhảy vào chung thuyền với phe Đức, thì Serbia bị chinh phục bởi liên quân Đức-Áo-Bulgaria vào năm 1915; tàn quân Serbia buộc phải vượt gian khổ chạy nạn vào vùng núi Albania trước khi được tàu chiến Anh-Pháp giải cứu đến đảo Corfu ở Hy Lạp trú chân. Vùng Balkan, trừ Hy Lạp không tham chiến cho đến năm 1917, sẽ không được giải phóng cho tới khi chiến tranh khép lại.
Trong khi đó, người Nga lại tỏ ra vô cùng lúng túng trước Đức. Trong khi quân đội Nga dễ dàng hạ gục được các đội quân ô hợp của Áo, thì quân Đức lại là một chủng loại ở đẳng cấp khác. Sau chiến dịch xâm lược Đông Phổ thất bại thảm hại, quân Nga liên tiếp bị đẩy lui trong khoảng năm 1915, với số lượng thiệt hại phần lớn là đông hơn hẳn so với quân đội Đức chuyên nghiệp và tổ chức tốt hơn.
Tại vùng Caucasus, đế quốc Ottoman ban đầu tuyên bố trung lập, nhưng nước Thổ đã nằm dưới trướng của ba vị Thống chế là Djemal Pasha, Talaat Pasha và Enver Pasha, và cả ba cùng ngầm đồng ý sẽ tham gia phe Đức và bất ngờ tấn công hạm đội Biển Đen của Nga vào tháng 10 năm 1914, gây ra chiến tranh. Tuy nhiên, người Nga tỏ ra vượt trội hơn hẳn người Thổ do có nhiều kinh nghiệm trận mạc. Quân đội Thổ phải hứng thương vong lớn trong những ngày đầu của Thế chiến I, và lúc này, Enver Pasha bắt đầu đặt câu hỏi về việc tại sao Thổ lại đang thất thế trước người Nga.
Khi đó, Enver Pasha bắt đầu quy tội người Armenia, Assyria và Hy Lạp, đặc biệt là người Armenia, vì đã cấu kết với Nga. Để trả thù, Enver Pasha tiến hành một chiến dịch ngầm bắt bớ các quan chức và doanh nhân người Armenia tại Istanbul vào đúng ngày 24/4/1915, trong khi cũng tận tay ra lệnh cho quân đội "bắt nhầm còn hơn bỏ sót" với người Armenia tại vùng Anatolia, tạo ra vụ diệt chủng hệ thống đầu tiên trong lịch sử hiện đại. Người Thổ cũng không dừng lại với người Armenia, khi họ gây ra nạn đói ở Lebanon và giết hại các nhóm người Hy Lạp, Assyria, Ả Rập và thậm chí là người Kurd. Tuy nhiên, người Thổ tỏ ra cực kỳ tàn bạo với người Armenia vì người Armenia kháng cự lâu nhất, và cũng vì sợ người Armenia có thể đòi chủ quyền Anatolia nếu họ thành công.
Cùng thời điểm cuộc thảm sát Armenia chính thức bắt đầu, Anh và Pháp mở Chiến dịch Gallipoli hòng nhằm loại bỏ Thổ Nhĩ Kỳ và mở đường tiếp tế biển cho Nga, và nó được làm thuận tiện hơn khi Ý đã tham gia phe Hiệp ước, giúp tàu chiến Anh có thể tìm chỗ neo đậu tại một nơi thuận lợi hơn trong trường hợp bị Thổ đe dọa ở Ai Cập. Tuy nhiên, quân Thổ đã kháng cự điên cuồng hơn dự đoán, và những tính toán sai lầm của Anh và Pháp khiến họ thất bại và buộc phải từ bỏ eo biển Bosphorus, qua đó khiến Anh và Pháp chỉ có một đường tiếp tế cho Nga duy nhất là qua biển Baltic đầy rủi ro do hoạt động của tàu ngầm Hải quân Đức.
Đến giữa năm 1916, Tướng Alexei Brusilov quyết định mở mặt trận tổng tấn công lớn nhất nhằm đẩy đi các đạo quân Đức và Áo. Cuộc tổng tấn công mang tính bất ngờ này là chiến thắng lớn nhất của Nga, khiến quân Áo đại bại trong khi quân Đức hứng thương vong lớn. Tuy nhiên, trong khi Áo đã hoàn toàn kiệt quệ và không còn có thể tiếp tục cuộc chiến một mình, thì Đức vẫn có đủ binh lực và khí giới để tiếp tục chiến tranh, nên quân Đức thống lãnh liên minh Đức-Áo trong phần còn lại của cuộc chiến. Với Nga, mặc dù thắng lớn, nhưng thiệt hại của Nga cũng chả khá hơn là bao, và với tiềm lực cũng bị tổn hại nặng. Chính những thương vong lớn này châm ngòi cho một làn sóng giận giữ trong xã hội Nga, chuẩn bị châm ngòi cho những cuộc cách mạng lớn ở Nga vào năm sau.

Sự lụi tàn của các đế chế

Vladimir Lenin trong cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917
Vladimir Lenin trong cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga năm 1917
Mọi thứ bất ngờ thay đổi khi vào tháng 2 (theo lịch Julius) năm 1917.
St Petersburg, giờ đổi tên thành Petrograd, chứng kiến một cuộc cách mạng đảo chính. Những người đảo chính bấy giờ là một liên minh hỗn hợp, bao gồm các nhóm người mà chủ yếu là hai phe chính là Menshevik, những người theo chủ nghĩa Cộng hòa, và Bolshevik, những người mang tư tưởng Cộng sản. Sau khi cướp ngôi, những người Cách mạng, dẫn đầu khi đó là Alexander Kerensky, tuyên bố giải thể chính phủ hoàng gia và thiết lập một nhà nước Cộng hòa. Tuy nhiên, Cộng hòa Nga vẫn tiếp tục chiến tranh với tư cách là một thành viên Hiệp ước.
Để chứng minh cho điều đó, chính Alexander Kerensky đã cho phê chuẩn một cuộc tổng tấn công lớn mang mật danh ông vào tháng 7. Tuy nhiên, do tình trạng rối loạn chính trị ở Nga, các binh lính Nga tỏ ra luống cuống nên cuộc tổng tấn công thất bại, và thay vào đó, quân Đức còn phản công ngược và chiếm rất nhiều đất từ Nga. Cuộc tổng tấn công thất bại này là giọt nước tràn ly cho chính phủ Cộng hòa, và Vladimir Lenin, thủ lĩnh của Bolshevik, sử dụng điều này để kích động quần chúng Nga nổi dậy, dẫn đến Cách mạng Tháng 10 sau đó lật đổ nền Cộng hòa non nớt của Kerensky. Tuy nhiên, những người ủng hộ chính thể Cộng hòa ở Nga từ chối thừa nhận Lenin là lãnh đạo hợp pháp, coi Lenin cướp quyền vi hiến, và kêu gọi những người ủng hộ nổi dậy, lập ra phong trào Bạch vệ chống phe Bolshevik cộng sản, chính thức mở màn cuộc nội chiến Nga. Lo sợ điều này, những người Bolshevik đề nghị hòa đàm với Đức và từ bỏ cuộc chiến với Hòa ước Brest-Litovsk vào tháng 3 năm 1918, nhượng một phần lớn lãnh thổ cực tây của Đế quốc Nga đã sụp đổ cho Đức.
Tuy nhiên, Áo-Hung và Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman chẳng có lý do để ăn mừng sự rút lui của Nga, bởi bản thân cả hai đế chế cũng đều đang khủng hoảng trầm trọng. Tại Áo-Hung, đế chế này đang thoi thóp và Hoàng đế Francis Joseph I thì đã qua đời năm ngoái, để lại một nhà nước đang mục ruỗng cho Charles I kế vị. Tuy nhiên, Charles I lại gặp khó khăn trong việc gắn kết các dân tộc khi ông không thể hòa hợp các nhóm dân đối lập. Thêm nữa, việc Đức nắm quyền kiểm soát chủ đạo trong liên minh Đức-Áo khiến Charles I thêm phần bất lực khi nỗ lực tìm cách đàm phán bí mật với phe Hiệp ước nhằm giúp Áo-Hung thoát khỏi chiến tranh và gìn giữ đế chế thất bại. Cuối cùng, mặc cho mọi nỗ lực thoát chiến tranh, Charles I đã không thành công và sau đó, đế chế Áo-Hung tan rã sau khi chiến tranh khép lại.
Tại vùng Tiểu Á và Caucasus, đế chế Ottoman cũng đang ngày càng teo dần do các chính sách đàn áp bạo lực chống người Armenia, Ả Rập, Hy Lạp, và Assyria, khiến các nhóm dân này ngày một thù ghét chính quyền Istanbul. Đến tháng 7 năm 1918, Quốc vương Mehmed V băng hà, và Mehmed VI kế vị, nhưng cũng không thể ngăn cản sự sụp đổ của đế chế Thổ. Sau khi thua trận, nước Thổ buộc phải ký Hòa ước Mudros.
Tại Đức, các cuộc phong tỏa của Hải quân Anh và sự tham chiến của Hoa Kỳ, một cường quốc trẻ đang nổi ở Tây Bán cầu, trong phe Hiệp ước, khiến Đức rơi vào vô vọng. Các công nhân Đức nổi loạn vào tháng 1 năm 1918 để phản đối chiến tranh. Chính những bất ổn nội bộ và nguy cơ kinh tế sụp đổ từ bên trong cuối cùng buộc Hoàng đế Đức là William II tuyên bố đình chiến và qua đó quy hàng trước phe Hiệp ước, đánh dấu sự cáo chung của phe Liên minh Trung tâm.
Với sự sụp đổ của Đức, Thế chiến I khép lại bằng sự lụi tàn của bốn đế quốc chỉ sau bốn năm chiến tranh. Hòa ước Versailles, ký vào năm 1919-20 tại cung điện từng là biểu tượng quyền lực của nước Pháp, buộc các nhà nước Đức, Hungary, Áo, Bulgaria và Thổ Nhĩ Kỳ phải chịu trách nhiệm cho chiến tranh và phải bồi thường nặng nề, trong khi các lãnh thổ của họ cũng bị teo nhỏ lại theo đề xuất của các điều ước trong Hòa ước.

Sự khai sinh trong mớ hỗn độn

Lễ thành lập Vương quốc Serbia, Croatia và Slovenia vào 1/12/1918
Lễ thành lập Vương quốc Serbia, Croatia và Slovenia vào 1/12/1918
Thế chiến I khép lại và lập tức, một mớ hỗn độn hiện ra trên toàn Đông Âu. Cả bốn đế quốc từng xâu xé Đông Âu đã tan thành nhiều mảnh, và ngay lập tức, một số quốc gia mới ra đời như Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Vương quốc Serbia, Croatia và Slovenia, và đặc biệt, là nước Nga Xô viết.
Người Ba Lan, sau khi lợi dụng sự sụp đổ của cả Đức, Áo và Nga, tuyên bố tái lập tổ quốc vào 16/11/1918, dưới sự thống lĩnh của Józef Piłsudski. Là một người theo đường lối xã hội chủ nghĩa nhưng nặng tư tưởng dân tộc Ba Lan, ông ta xem chế độ Bolshevik của Lenin là một hiểm họa quốc gia và đề xuất ý tưởng tái lập nhà nước Thịnh Vượng chung Ba Lan-Lithuania theo quan điểm Intermarium, hay trong tiếng Ba Lan là "Międzymorze", nghĩa là "Giữa các bờ biển". Piłsudski tin rằng nhà nước này, trải dài từ Biển Baltic tới Biển Đen và Địa Trung Hải, sẽ là một đại quốc chống lại sự đe dọa của Đức và Nga.
Tuy nhiên, Piłsudski lại đánh giá thấp sự chống đối của các dân tộc khác trong cùng một khu vực với ý tưởng của ông. Lithuania, sau khi sống sót khỏi ách đô hộ của Nga, muốn một nhà nước độc lập và xem ý tưởng của Piłsudski là hiểm họa cho nhà nước Lithuania non trẻ, nhất là khi ký ức Thịnh Vượng chung của người Lithuania lại là cảm giác bị Ba Lan đè đầu cưỡi cổ. Tại Ukraine, ý tưởng của Piłsudski cũng bị phản đối vì nó đại diện cho ý thức hệ Công giáo Ba Lan, vốn đối lập với tư tưởng Chính Thống giáo của Ukraine. Tiệp Khắc cũng lo sợ Ba Lan tìm cách nuốt chửng họ do họ có văn hóa khác biệt và không chịu cảnh áp bức như người Ba Lan phải chịu. Chỉ có Hungary là niềm nở đón chào do liên minh giữa hai quốc gia này. Khi nỗ lực ngoại giao bất thành, Piłsudski liền lựa chọn vũ lực và Ba Lan đánh nhau với Ukraine và Lithuania để mở rộng lãnh thổ, và Ba Lan toàn thắng, sáp nhập những thành phố như Vilnius và Lwów, nhưng để lại hậu quả chính trị nghiêm trọng khi nó phá tan giấc mộng Intermarium.
Ở Hungary, sau khi lập nền Cộng hòa không được lâu, đất nước này rơi vào chiến tranh với láng giềng Romania vì tranh chấp Transylvania. Sau đó, chính phủ Cộng hòa Hungary bất ngờ bị những người Cộng sản bất ngờ nhảy vào tiếm quyền sau một cuộc đảo chính đột ngột vào 20/3/1919, dẫn đến sự ra đời của quốc gia Hungary Xô viết. Sự kiện này gây chấn động châu Âu, khiến các nước này ủng hộ Romania can thiệp. Đến tháng 8 cùng năm, chế độ Cộng sản Hungary sụp đổ và quân đội Romania tràn vào Budapest, chiếm đóng Hungary cho đến năm 1920.
Trong khi đó, ở Balkan, cuộc thành lập nhà nước Serbia, Croatia và Slovenia diễn ra suôn sẻ hơn chút, và nhà nước mới cũng ổn định nhanh hơn so với các người láng giềng phía bắc. Tuy nhiên, ở phía nam, Hy Lạp, nuôi tham vọng tái lập đế chế Byzantine, đề xuất cái gọi là Megali Idea (Μεγάλη Ιδέα), nghĩa là "Ý tưởng Vĩ đại", với mục tiêu phải chiếm đóng toàn bộ phần phía tây của Tiểu Á, với mục tiêu chính là tái chiếm Istanbul, cố đô của nhà nước Byzantine. Hy Lạp dựa theo Hiệp ước Sèvres mà họ Anh, Pháp, Ý và cả Armenia được thừa hưởng từ ý tưởng xâu xé nhà nước Thổ bại trận, với hy vọng phục quốc. Tuy nhiên, những người theo chủ nghĩa dân tộc Thổ, đứng đầu là một chỉ huy trẻ có tên là Mustafa Kemal, quyết định dấy binh phát động chiến tranh chống lại những người Anh, Pháp, Ý và cả Hy Lạp lẫn Armenia đang muốn xâu xé nước Thổ, châm ngòi cho cuộc Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ năm 1919. Mặc dù Hy Lạp có được sự ngầm ủng hộ từ các cường quốc Tây Âu, họ lại phải nhận thất bại cay đắng trước quân Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ và qua đó, buộc phải ký Hiệp ước Lausanne năm 1923, và hình dạng biên giới Thổ Nhĩ Kỳ-Hy Lạp được định hình như ngày nay, với Istanbul vẫn thuộc chủ quyền nước Thổ cho đến bây giờ.
Tại Caucasus, tình hình cũng không khấm khá hơn. Cả ba xứ quốc Nam Caucasus là Gruzia, Azerbaijan và Armenia đều tuyên bố độc lập, và thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, những tranh chấp lịch sử sau đó châm ngòi cho cuộc chiến tranh ngắn ngày giữa Armenia và Gruzia năm 1918, trước khi Armenia và Azerbaijan lao vào một cuộc chiến tranh đẫm máu hơn từ năm 1918-20. Tại Bắc Caucasus, các dân tộc miền núi liền tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Vùng núi Bắc Caucasus, với Temir-Khan-Shura làm thủ đô, và Abdulmajid Tapa Tchermoev trở thành Thủ tướng đầu tiên. Nhưng nền Cộng hòa non trẻ này tỏ ra yếu ớt hơn dự đoán và nó bị quân Bạch vệ Nga chiếm giữ năm 1919, và phần lớn lãnh đạo buộc phải lưu vong.
Nhưng chính sự xuất hiện của nhà nước Cộng sản Nga ở Petrograd mới là yếu tố gây sửng sốt nhất cho các nước Đông Âu. Lực lượng Bolshevik mạnh lên theo thời gian nhờ chiêu nạp được nhiều thành phần trong quần chúng, từ các binh lính bất mãn với chế độ Sa hoàng cho đến những nông dân nghèo. Mặc cho sự kháng cự dữ dội của phe Bạch vệ và sau đó là những người Menshevik bất đồng chính kiến được các cường quốc Tây Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ bảo trợ, phe Bolshevik dần thắng thế và chiếm lại các vùng đất mà phe Bạch vệ hoặc các lực lượng dân tộc chủ nghĩa đòi độc lập từng quản lý. Đến năm 1920, Nga Xô viết đã làm chủ trở lại toàn bộ vùng Caucasus, xóa sổ nền độc lập non trẻ của Cộng hòa Bắc Caucasus, Gruzia, Armenia và Azerbaijan, cũng như đè bẹp các phong trào quốc gia của người Belarus và Ukraine.
Bản thân chính phủ Bolshevik của Lenin cũng coi Hòa ước Brest-Litovsk của năm 1918 là vô hiệu do Đế chế Đức đã sụp đổ, nên họ xem các quốc gia mới độc lập như Estonia, Latvia, Lithuania và Ba Lan là bất hợp pháp. Kết hợp cả yếu tố chủ nghĩa đế quốc Sa hoàng và tư tưởng Cộng sản, Vladimir Lenin tuyên bố sẽ đem chủ nghĩa cộng sản tới Berlin, và các đội quân Xô viết bắt đầu Tây chinh hòng bành trướng ảnh hưởng và lãnh thổ. Mục tiêu chính của Nga Xô viết chính là Ba Lan, và nếu chiếm được Warsaw, thì nhà nước Cộng sản ở Petrograd sẽ không thể bị ngăn cản trong cuộc Tây chinh tới Berlin.
Tuy nhiên, Józef Piłsudski lại không hề nao núng trước đà tiến công vũ bão của quân đội Nga Xô viết, khi phần lớn các binh lính Ba Lan cũng là những cựu binh của quân đội Đức, Áo và Nga trước đó, và có tinh thần cực kỳ cao. Quân đội Ba Lan dụ người Nga đến sông Vistula đối diện với Warsaw, và tại đó, một trận đánh lớn đã xảy ra vào tháng 8 năm 1920. Cuối cùng, sau nhiều ngày giao tranh, những người Cộng sản Nga thua to và phải tháo chạy về phía đông, qua đó Ba Lan bảo toàn độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Chiến thắng này được gọi là "Phép màu Vistula", khi quân Ba Lan chiến thắng với tổn thất chỉ bằng chưa đến một nửa của quân Nga Xô viết. Lenin sau đó đã cay đắng thú nhận đây là thất bại xấu hổ nhất trong lịch sử chế độ Xô viết của ông ta, trong khi Ba Lan nhân đà thăng tiến, chiếm thêm được đất và dẫn đến việc Ba Lan và Nga Xô viết buộc phải phân chia biên giới, chia đôi Belarus và Ukraine. Cuộc chiến này cũng giúp Lithuania, Latvia và Estonia giữ được nền độc lập khỏi ách chiếm đóng của Nga Xô viết.

Khi quả bom lại hẹn giờ lần nữa

Miklós Horthy, cựu đô đốc hải quân hóa Nhiếp chính vương của Vương quốc Hungary
Miklós Horthy, cựu đô đốc hải quân hóa Nhiếp chính vương của Vương quốc Hungary
Thời kỳ từ những năm 1920-39 ở Đông Âu là một bầu không khí vô cùng căng thẳng khi không ai có thiện cảm với nhau, và chủ nghĩa dân tộc cực đoan thống trị phần lớn khu vực này.
Với nhà nước Nga Xô viết, họ đổi tên sang Liên Xô vào cuối năm 1922 và dời đô về lại Moscow để thể hiện bản chất mới, nhưng những ngày tháng sau đó lại là đấu đá nội bộ khi sức khỏe của Lenin đã suy yếu nhiều. Tháng 1 năm 1924, Lenin qua đời, và Alexei Rykov được bầu vào vị trí Thủ tướng. Tuy nhiên, nhân vật chính mới là Joseph Stalin, một người Bolshevik tới từ Gruzia, người được bầu vào vị trí Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô cùng năm. Stalin bắt đầu cuộc tranh đoạt quyền lực, đặc biệt là với một trong những tay chân thân cận nhất của Lenin là Leon Trotsky, người được coi là có tư tưởng ôn hòa hơn và nhiều thù địch với Stalin. Chính thù địch giữa Stalin và Trotsky khiến Stalin quyết định trục xuất Trotsky khỏi Bộ Chính trị hai năm sau đó và phải trải qua lưu đày trên khắp Liên Xô cho đến năm 1929, khi Trotsky chính thức bị trục xuất khỏi đất nước.
Sau khi đã loại bỏ Leon Trotsky khỏi Đảng Cộng sản, Stalin bắt đầu tìm cách loại bỏ các đối thủ chính trị khác, cũng như các mầm mống dân tộc chủ nghĩa nguy hiểm. Stalin tiến hành chính sác tập thể hóa cưỡng bức nhằm đàn áp người dân Ukraine, gây ra thảm họa nạn đói Holodomor từ 1932-33 khiến hơn năm triệu người Ukraine và các nhóm dân khác như người Belarus, Kazakhstan, Nga bị chết đói. Đến năm 1936, Stalin mở chiến dịch thanh trừng tàn bạo nhắm vào các lãnh đạo trong bộ máy cầm quyền Liên Xô, khiến gần một triệu người bị sát hại. Ngoài ra, chính phủ Stalin cũng tiến hành cuộc thanh trừng sắc tộc đẫm máu chống người Ba Lan, Romania, Lithuania, Phần Lan, và các nhóm dân khác như người Chechen và Circassia vì lo sợ các nhóm dân này bất trung với chế độ cộng sản.
Trong khi đó, nội tình Đông Âu cũng không khá khẩm hơn. Tại vùng Balkan, Nam Tư vốn được kỳ vọng là một quốc gia bình đẳng giữa các nhóm dân tộc Nam Slav, nhưng rồi người Serbia theo Chính Thống giáo đa số lại nắm quyền là chủ yếu, gây bất mãn trong một bộ phận không nhỏ người Croatia, Bosnia và cả người Slovenia. Cùng lúc đó, quan hệ giữa nhà nước Nam Tư và Bulgaria là vô cùng căng thẳng khi Bulgaria chưa bao giờ thực sự thừa nhận Macedonia là một phần của Nam Tư; các tổ chức dân tộc chủ nghĩa Bulgaria như IMRO có liên hệ với phong trào Ustaše của người Croatia cũng gia tăng hoạt động ám sát các lãnh đạo Nam Tư, đỉnh điểm là vụ ám sát Vua Alexander I tại Marseille, Pháp năm 1934 bởi Vlado Chernozemski.
Ngoài ra, tại Ba Lan, người thiểu số như dân Đức, Do Thái, Ukraine, Lithuania, Belarus và Séc đã phải trải qua một quá trình áp bức văn hóa nặng nề do họ cũng bị nghi ngờ làm gián điệp cho nước ngoài. Józef Piłsudski sau đó làm cuộc đảo chính năm 1926 và thi hành một chính sách đồng hóa mềm dẻo hơn nhằm thu phục lại lòng các dân tộc thiểu số, nhưng cái chết của ông vào năm 1935 khiến các chính sách này bị đảo ngược. Lithuania, vẫn tức giận vụ mất Vilnius vào tay Ba Lan năm 1920, đã tiến hành các chính sách đồng hóa khắc nghiệt với người Belarus, Nga và Ba Lan thiểu số. Tại Romania, người Hungary tại Transylvania cũng bị đàn áp khốc liệt vì nó đại diện cho ý thức hệ phục hưng Đại Hungary mà Romania đặc biệt lo lắng. Tại Hungary, chính phủ của Miklós Horthy ngày càng trở nên cực hữu do Hungary đã bị trừng phạt quá nặng nề trong Thế chiến I, khiến họ mất gần 80% lãnh thổ và dân số; khái niệm phục hưng Đại Hungary cũng ra đời vì tình cảnh này. Chỉ có Tiệp Khắc, Estonia và Latvia là những quốc gia dân chủ duy nhất ở khu vực Đông Âu đầy biến động này.
Trong khi đó, Đức lại vừa trải qua một thời kỳ hỗn loạn của nền Cộng hòa Weimar, và nó làm nền cho một người đàn ông Áo có tên là Adolf Hitler, một cựu quân nhân trong Thế chiến I trước đó, nổi lên. Mang nặng tư tưởng dân tộc Đức, Hitler có mối thù hằn lớn với các dân tộc Đông Âu mà ông coi là đã cướp đất của dân tộc Đức, một mối thù mà ông đem theo khi lập ra Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa, sau này gọi là Đảng Quốc Xã. Trong khoảng thời gian ngồi tù chín tháng từ năm 1923-24 vì vụ đảo chính Nhà hàng bia thất bại, ông viết cuốn tự truyện "Mein Kampf" (Đời đấu tranh của tôi), và qua đó không giấu nhẹm ý định sẽ hủy diệt Đông Âu để lấy đất cho người Đức sinh sống. Bản thân nhiều người Đức cũng oán hận Hòa ước Versailles 1920 vì Đức cũng bị trừng phạt quá khắc nghiệt, khiến người Đức thêm phần hứng thú với các ý tưởng của Hitler.
Đến những năm 1930, biến động kinh tế toàn cầu do cú Đại suy thoái tại Hoa Kỳ trở thành món hời vàng mà Hitler không bỏ lỡ. Năm 1932, Hitler chạy đua cho ghế Tổng thống và đối đầu với Paul von Hindenburg, một người hùng trong Thế chiến I trước đó. Hitler thất bại trong cuộc bầu cử, nhưng với 36,77% số phiếu ủng hộ, Hitler đã trở nên vô cùng nổi tiếng trong chính trường Đức. Von Hindenburg vốn không ưa gì Hitler và xem Hitler là một kẻ nguy hiểm, nhưng việc không có nổi một chính phủ thống nhất hậu bầu cử buộc von Hindenburg phải bổ nhiệm Hitler vào ghế Thủ tướng. Hitler sử dụng vị thế mới để dần dần đàn áp các phe phái đối lập, và sau khi von Hindenburg từ trần năm 1934, Hitler quyết định xóa bỏ chức Tổng thống và Thủ tướng nền Cộng hòa, và thiết lập một chế độ độc đảng do Đảng Quốc Xã lãnh đạo, với Hitler đôn lên làm Quốc trưởng (Führer).

Sự chuẩn bị cho chiến tranh

Hitler đến Sudetenland năm 1938
Hitler đến Sudetenland năm 1938
Tình hình Đông Âu ngày một căng thẳng hơn khi những dấu hiệu chiến tranh sắp tái diễn.
Với Ba Lan, họ tham gia vào một liên minh quân sự với Pháp từ năm 1921 với hiệp ước tương trợ lẫn nhau, đồng nghĩa là Pháp sẽ hỗ trợ Ba Lan và ngược lại nếu một trong hai nước bị tấn công, ngụ ý là sẽ kìm kẹp và phong tỏa Đức. Ba Lan, cùng thời điểm đó, cố gắng tìm kiếm liên minh khác ngoài Pháp, và một trong số đó là liên minh quân sự với Hungary và Romania để thành lập một khối thống nhất chống lại Đức và Liên Xô. Cùng lúc đó, Ba Lan cũng chấp nhận ký các thỏa thuận không xâm phạm lẫn nhau với hai quốc gia này trong những năm 1930 để đảm bảo ổn định đất nước. Đến tận tháng 3 năm 1939, Ba Lan mới có nổi một hiệp định đồng minh với Anh, tạo tiền đề cho sự ra đời của phe Đồng Minh với ba thành viên ban đầu là Anh, Pháp và Ba Lan.
Trong khi đó, Liên Xô bí mật cung cấp chỗ trú cho các đội quân của Đức được huấn luyện tại đây do Liên Xô không có quan hệ ngoại giao với bất kỳ nước châu Âu nào khác ngoài Đức vì tư tưởng cộng sản của Lenin và Stalin. Quan hệ bí mật này vẫn tiếp tục cho đến năm 1933, khi Hitler đàn áp những người cộng sản Đức, và quan hệ giữa hai nước đi xuống rõ rệt. Để thể hiện lập trường ngày một cứng rắn, Hitler quyết định liên kết với Nhật Bản, đất nước Viễn Đông cũng đang mang tham vọng bành trướng và đang có xung đột biên giới với Liên Xô, và lập ra liên minh chống Quốc tế Cộng sản nhằm cô lập Liên Xô. Lo sợ điều này, Stalin tìm cách nối liên lạc với Pháp và Anh, và thậm chí là cả kẻ thù cũ Ba Lan, hòng để ngỏ một liên minh chống Đức. Tuy nhiên, các nước này tỏ ra nghi ngờ thiện ý của Stalin khi ông từng cùng Lenin chủ mưu Tây chinh hòng mang chủ nghĩa cộng sản vào Tây Âu trước kia, và đều bị từ chối.
Trong khi đó, Đức và Liên Xô cũng tiếp tục đối đầu nhau gián tiếp tại cuộc nội chiến Tây Ban Nha từ những năm 1936-39. Liên Xô hỗ trợ quân sự và tài chính cho phe Cộng hòa, trong khi Đức trực tiếp gửi quân tình nguyện đến giúp phe Quốc gia, ban đầu do Emilio Mola và José Sanjurjo lãnh đạo, trước khi chiến đấu dưới trướng Francisco Franco. Tuy nhiên, khi phe Cộng hòa tỏ ra quá bất lực, Liên Xô chấm dứt viện trợ cho phe Cộng hòa và phe Quốc gia mà Đức đánh cược đã giành chiến thắng cuối cùng.
Đến năm 1938, Đức bắt đầu thử nghiệm các cuộc chinh phạt bằng cú Anschluss nước Áo, quê hương của Hitler, vào lãnh thổ Đức. Thành công của Anschluss cho phép Đức nghĩ đến vùng Sudeten (Sudetenland), vốn thuộc Tiệp Khắc nhưng có dân số Đức đông đảo, và Hitler đề ra tối hậu thư ép Prague phải nhượng đất. Quá sợ hãi, chính phủ Tiệp Khắc đề nghị Anh và Pháp dàn xếp, nhưng những gì nhận được từ London và Paris lại là Tiệp Khắc nên từ bỏ chủ quyền. Ấm ức nhưng bất lực, Tiệp Khắc đành từ bỏ Sudetenland cho Đức. Lợi dụng điều này, Hungary và Ba Lan cũng lao vào sáp nhập các phần đất khác của Tiệp Khắc, biến nước này thành đất nước châu Âu đầu tiên trong thời kỳ căng thẳng của những năm 1920 và 1939 bị phân chia thành nhiều mảnh. Đến tháng 3 năm 1939, Slovakia cũng tách khỏi Tiệp Khắc, tuyên bố thành lập nền Cộng hòa bù nhìn của Đức do Jozef Tiso lãnh đạo, lấy quốc kỳ của Đế quốc Nga cũ (trắng-xanh lam-đỏ) làm quốc kỳ của Slovakia.
Tuy nhiên, Hitler cũng ý thức được rằng nếu xung đột ngay với Liên Xô thì rất nguy hiểm. Vì vậy, ông ta đồng ý nối lại quan hệ với Liên Xô sau thời kỳ đóng băng từ năm 1933. Vào cuối tháng 8 năm 1939, một đoàn ngoại giao Đức do ngoại trưởng Joachim von Ribbentrop dẫn đầu đến Moscow và bất ngờ đề nghị hòa hoãn. Với Stalin, đó là cơ hội ngàn năm có một, chỉ ít là một khoảng thời gian ngắn; thế là ngoại trưởng Vyacheslav Molotov ký thỏa thuận không xâm phạm lẫn nhau vào ngày 23/8/1939, qua đó xác định vùng phân chia ảnh hưởng giữa hai bên trên toàn châu Âu, mà Đông Âu là đặc biệt bị ảnh hưởng vì cả hai đều muốn xâu xé. Hiệp ước không xâm phạm Đức-Xô đã gây sốc cả châu Âu, khi hai chế độ không đội trời chung đã bất ngờ hòa hoãn với nhau. Đó cũng là lúc mà một cuộc chiến toàn cầu mới cũng đang rục rịch chuẩn bị nổ ra, mà Đông Âu sẽ lại phải hứng chịu hậu quả nặng nề từ nó.
Phần 1: Link
Phần 3: Link