Còn có một châu Âu khác, và nó giải thích vì sao chủ nghĩa đế quốc thực dân Nga không được thiện cảm tại đây (P4)
Phần 4 vẫn sẽ từ 1939-45, với phần này chú trọng đến các nước Đông Âu khác, trong cuộc chiến tranh lớn nhất và tàn bạo nhất lịch sử loài người.

Hậu khởi nghĩa Warsaw 1944. Thành phố bị hủy diệt tới 90% sau cuộc nổi dậy
Trong khoảng thời gian tạm lắng giữa 1920 và 1939, Đông Âu vẫn đang luôn trong trạng thái của một quả bom nổ chậm, đặc biệt khi Đức Quốc Xã và Liên Xô trỗi dậy, và nó sẽ phát nổ bất cứ lúc nào. Và khi phát nổ, nó sẽ biến thành nơi đẫm máu và tang thương nhất. Đây là Phần 4 của toàn bộ câu chuyện về lịch sử Đông Âu được tóm tắt gọn nhất có thể, để hiểu vì sao người dân Đông Âu không ưa Nga.
Số phận hẩm hiu của Ba Lan

Các thành viên Quân đội Quê hương (Armia Krajowa) năm 1942
Khi thỏa thuận Molotov-Ribbentrop được phê chuẩn, Ba Lan đã được mặc định là mục tiêu chính cho cuộc phân chia, với cả chế độ Hitler của Đức Quốc Xã và Stalin của Liên Xô đều muốn hủy diệt quốc gia này. Bản thân nội tình Ba Lan cũng không thiếu những người dân tộc chủ nghĩa, chủ yếu là người Ukraine và Lithuania, cũng căm hận Ba Lan và chỉ chờ Warsaw sụp đổ.
Đúng 1/9/1939, Đức khai chiến và phát động cuộc xâm lược Ba Lan. Ngay lập tức, Ba Lan triển khai quân đội và chiến tranh bùng nổ. Đó là lúc người Ba Lan được chứng kiến cú đấm blitzkrieg đầu tiên, và, tuy kháng cự điên cuồng, Ba Lan cũng không thể đứng vững sau gần bốn tuần giao tranh. Để làm xấu thêm tình hình, Anh và Pháp, tuy gọi là Đồng Minh của Ba Lan, đã gần như không làm gì cả, bỏ mặc Ba Lan một mình. Lợi dụng tình hình này, Liên Xô liền đem quân tấn công từ phía đông và xóa sổ Ba Lan nhanh chóng, khiến nhiều người dân thường và quân nhân Ba Lan phải tị nạn, trong khi người Đức và Nga làm lễ diễu binh tại Brest-Litovsk ăn mừng sự xóa sổ của Ba Lan.
Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể chạy thoát được. Vẫn có quá nhiều binh lính và thường dân bị bắt sống, và Ba Lan là nơi hai chế độ quỷ dữ bắt đầu tiến hành khủng bố. Người Đức và Nga đều tìm cách cưỡng bức và đồng hóa. Trong khi người Đức sử dụng logic chủng tộc thượng đẳng Aryan và đưa người Ba Lan vào các trại tập trung, một trong số đó là trại Auschwitz tai tiếng, nơi người Ba Lan bị xịt khí độc, treo cổ, bị bỏ đói và hành hạ cùng người Roma, Do Thái, và các nhóm dân Đông Âu kha thì người Liên Xô lại tìm cách cộng sản hóa, Nga hóa và Xô viết hóa có hệ thống nhằm tiêu diệt xã hội Ba Lan, hoặc lưu đày người Ba Lan ra Siberia làm lao động nô lệ ở các gulag (trại tập trung) cho chế độ Stalin.
Điển hình của việc này là vào năm 1940, những mật vụ NKVD tiến hành đưa hơn 20,000 tù binh, tri thức và thường dân Ba Lan ra rừng Katyn và bí mật xử bắn trong một vụ thảm sát nổi tiếng là Thảm sát Katyn, sau đó bí mật chôn vùi các tù nhân bị giết trong các khu mộ tập thể trước khi quân Đức phát hiện năm 1943.
Tuy nhiên, người Ba Lan không cam chịu và thành lập chính phủ lưu vong ở London, với phần lớn nội các vẫn tồn tại. Cùng lúc đó, các tàn quân Ba Lan tập hợp, lập nên Quân đội Quê hương (Armia Krajowa) và bắt đầu một loạt các cuộc kháng chiến chống lại cả hai kẻ chiếm đóng và cướp nước. Cùng thời điểm đó, họ phải chống lại cả những lực lượng dân tộc chủ nghĩa người Lithuania, những người căm thù Ba Lan vì vụ Vilnius, và cả những người Ukraine Chính Thống giáo, vốn không ưa dân Ba Lan.
Vào năm 1940, quân Ba Lan lưu vong ở Anh đã phải đối mặt với hành động đánh bom dữ dội của Luftwaffe vào nước Anh, và lúc này, Anh rơi vào tình trạng thiếu thốn và rất nhiều phi công kinh nghiệm đã tử trận, trong khi huấn luyện phi công mới mất rất nhiều thời gian. Các phi công Ba Lan đã quyết định tình nguyện và, dù người Anh có tư tưởng khinh thường những phi công Ba Lan, nhưng thái độ của người Anh sau đó phải thay đổi khi chính các phi công Ba Lan này đã bắn cháy rất nhiều máy bay Đức, làm phá sản Chiến dịch Sư tử Biển mà Hitler đã soạn thảo, cứu lấy nước Anh khỏi họa xâm lăng ở bên kia eo biển Anh.
Đến năm 1941, Đức bất ngờ xâm lược Liên Xô, và Stalin mới vội vàng tìm cách liên minh với Ba Lan. Lúc đó, người Ba Lan, vốn căm ghét Stalin tột độ, miễn cưỡng chấp nhận theo dạng thỏa thuận Sikorski-Maisky ở London, do ngoại trưởng Ba Lan Władysław Sikorski và đại sứ Liên Xô ở Anh Ivan Maisky kí kết, chính thức kết nạp Liên Xô vào phe Đồng Minh. Tuy nhiên, bản tính toàn trị và tư tưởng ghét Ba Lan của Stalin khiến hai bên luôn đề phòng, và cũng không ai tìm cách lộ bí mật kế hoạch tác chiến với nhau.
Ở Uzbekistan, các tàn quân Ba Lan bị lưu đày, khi nghe tin thỏa thuận Sikorski-Maisky, đã được phép tập trung để tái lập thành Quân đội Anders, do Tướng Władysław Anders chỉ huy. Tuy nhiên, bản thân Anders không ưa gì người Nga do hành động xâm lược của Liên Xô, và quan hệ giữa ông với các quan chức Liên Xô là vô cùng căng thẳng. Đến tháng 3 năm 1942, sau khi Anh can thiệp, đạo quân của Tướng Anders rời khỏi Liên Xô và, qua những cuộc hành quân gian khổ, đã đến xứ Ủy trị Palestine thuộc Anh, chính thức chiến đấu trong biên chế Quân đội Hoàng gia Anh.
Các nhóm quân Ba Lan thoái lui này sau này đã trở thành nỗi khiếp đảm của người Đức. Các đạo binh Ba Lan được người Đức đặt biệt danh là "những con quỷ bóng đêm" (Black Devil) vì tinh thần không biết run sợ và sẵn sàng tham chiến của lính Ba Lan. Điển hình của việc này là quân đội Ba Lan tham gia đánh bại quân Đức ở Monte Cassino đầu năm 1944, khi lính Ba Lan xả thân phản công lên ngọn đồi thánh mà quân Đức đang đóng quân, trước khi tự tay cắm một ngọn cờ tại đây. Sau đó, quân Đức cũng bị quân đội Ba Lan phản công dữ dội ở Pháp, Bỉ và Hà Lan từ giữa và cuối năm 1944, và các binh lính Ba Lan còn cùng với các quân nhân Canada tiến đến giải phóng Hà Lan khỏi ách chiếm đóng của người Đức. Sau này, khi Đức thua trận, các Đội quân Ba Lan đã đứng trong hàng ngũ những người lính thắng trận tri ân.
Tại mặt trận tình báo, người Ba Lan cũng tỏ ra là những người vô cùng xuất sắc. Các kỹ sư Ba Lan, người đầu tiên là Marian Rejewski, đã xuất sắc bẻ khóa mật mã Enigma của Đức, thứ mà Hitler vẫn thường ngạo nghễ cho rằng nó không thể bị phá. Chính việc Enigma bị bẻ khóa giúp quân Đồng Minh dò ra được các kế hoạch tác chiến của Đức, khiến nhiều chiến dịch của Đức sau đó bị phá hỏng; mặc cho Hitler đã yêu cầu phải nâng cấp và phát triển nó tốt hơn, người Đức vẫn không thể khắc phục được các lỗ hổng trên.
Trong khi đó, ngay tại Ba Lan bị chiếm đóng, Quân đội Quê hương cũng hoạt động chui và cộng tác với các lực lượng nghĩa quân nhỏ hơn để theo dõi và chống lại quân Đức. Nhiều người Do Thái, Roma và các nạn nhân đàn áp của chế độ Hitler cũng đã được ngầm giải cứu hoặc che giấu nhân thân bằng các thân phận giả. Trong số các người hùng của Ba Lan, một trong số đó là Witold Pilecki, một sĩ quan quân đội Ba Lan đã tự nộp mình làm nô lệ trong trại Auschwitz để đưa báo cáo ngầm về các trại tập trung của Đức, khiến lần đầu tiên trong lịch sử, thế giới biết về chiến dịch Diệt chủng Holocaust có hệ thống.
Năm 1943, người Do Thái ở Warsaw quyết định phát động một cuộc nổi dậy nhằm chống lại ách đàn áp tàn bạo của chế độ Hitler, trước khi bị đàn áp khốc liệt bởi quân Đức. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy thất bại này đã làm nền cho một cuộc khởi nghĩa lớn gấp nhiều lần, cuộc Khởi nghĩa Warsaw 1944, khi những chỉ huy Quân đội Quê hương quyết định dấy binh nổi dậy, với hy vọng khi Hồng Quân đang thực hiện Chiến dịch Bagration, thì họ sẽ được hưởng lợi bằng việc Liên Xô phải hợp tác với các nhóm quân này và phải tôn trọng quyền tự quyết của dân tộc Ba Lan.
Nhưng trong một trong những hành động dơ bẩn và nhơ nhuốc nhất trong toàn bộ cuộc chiến, Stalin đã hạ lệnh cho Hồng Quân dừng lại trước ngưỡng cửa Warsaw vì sợ rằng việc buộc phải hợp tác với lực lượng Quân đội Quê hương vốn chống cộng sản sẽ làm phá sản kế hoạch của hắn nhằm biến Ba Lan thành một chư hầu cộng sản. Phần cho việc này là sau khi thảm sát Katyn bị phanh phui bởi quân Đức, Stalin cắt đứt quan hệ với chính phủ Ba Lan lưu vong ở London và bắt đầu thành lập một chính phủ cộng sản Ba Lan chư hầu ở Moscow.
Quân Đức, lợi dụng việc này, liền tái tổ chức và, với vũ khí và trang bị tối tân đến vượt trội, họ dần nghiền nát những người Ba Lan kháng chiến. Đến đầu tháng 10 năm 1944, cuộc khởi nghĩa thất bại và phần lớn những người Ba Lan bị giết hoặc bắt sống. Tức giận với việc này, Đức Quốc Xã quyết định hủy diệt toàn bộ Warsaw, khiến gần 90% thành phố bị phá hủy và đưa Warsaw trở thành thành phố bị hủy diệt tàn bạo nhất Thế chiến II. Với các lực lượng chính của Quân đội Quê hương bị hủy diệt, chính phủ Ba Lan lưu vong đã gần như bất lực nhìn Hồng Quân tiến đến "giải phóng" mà không ra giải phóng sau này.
Tuy nhiên, người Ba Lan còn phải đối mặt với các nhóm quân ly khai người Ukraine và Lithuania. Cả hai nhóm này đều không có thiện cảm với người Ba Lan, đặc biệt là người Lithuania vì tranh chấp Vilnius. Sau khi Liên Xô trả lại thành phố này cho Lithuania năm 1939, người Ba Lan không bao giờ chấp nhận nổi việc này và tiến hành kháng cự. Các nhóm quân Ba Lan và Lithuania liên tục xung đột và va chạm nhau; vì người Lithuania phần đông thân Đức và có quan hệ tốt hơn với chính quyền Quốc Xã, người Ba Lan đã miệt thị người Lithuania là những tên chư hầu của Đức Quốc Xã.
Với người Ukraine, dẫu vậy, tình cảm là phức tạp hơn. Các lực lượng kháng chiến Ukraine, không giống Ba Lan, là không hợp nhất và bị chia rẽ thành rất nhiều nhóm, phần lớn vốn cực đoan hơn, và là nhóm hay xung đột với Quân đội Quê hương Ba Lan nhiều nhất và thậm chí đã dẫn đến các cuộc thảm sát, nổi tiếng là vụ thảm sát Galicia và Volhynia từ năm 1943-44. Sự thù địch sắc tộc chỉ bắt đầu dịu dần khi mối đe dọa từ Liên Xô lộ ra trước mắt. Tuy nhiên, nó đến quá trễ.
Chia rẽ, máu, nước mắt và sự muộn màng

Những người lính Quân đội Khởi nghĩa Ukraine trong Thế chiến II
Cho đến trước năm 1939, Ukraine còn không có một quốc gia và bị chia làm hai, phần phía tây do Ba Lan và phía đông do Liên Xô kiểm soát. Dân Ukraine có một sự chia rẽ vô cùng lớn, khi có những người dân tộc chủ nghĩa rục rịch đòi nổi dậy do di chứng áp bức từ Liên Xô, nổi tiếng nhất là nạn đói Holodomor trước đó, và cả các chính sách đồng hóa và Công giáo hóa từ Ba Lan; trong khi cũng có người Ukraine trong bộ máy hành chính của cả Ba Lan và Liên Xô.
Chính sự chia rẽ này cũng mon men đến Tổ chức Những người Quốc gia Ukraine (Organisation of Ukrainian Nationalists, OUN) và cánh vũ trang của họ, Quân đội Kháng chiến Ukraine (Ukrainian Insurgent Army, hay UPA theo phiên âm tiếng Ukraine "Українська повстанська армія"). Cụ thể, lực lượng OUN, khi vào năm 1939, đã bị phân hóa thành hai nhóm chính là nhóm Andriy Melnyk, người theo chủ trương bảo thủ thực dụng, gọi là OUN-M; và nhóm Stepan Bandera, người theo chủ nghĩa cực đoan, gọi là OUN-B. Sự thiếu nhất quán này sẽ đóng vai trò rất quan trọng cho việc tại sao người Ukraine lại không thể thống nhất về lý tưởng sau đó.
Khi Đức và Liên Xô xâm lược Ba Lan, lần đầu tiên, phần lớn các vùng đất thuộc về Ukraine nay đã được Liên Xô sáp nhập vào bản đồ. Người Ukraine ban đầu đón nhận những người Nga từ phía đông như những người giải phóng, chỉ ít là tạm thời, vì đã thống nhất Đông và Tây Ukraine làm một. Tuy nhiên, Liên Xô dần lộ bản mặt xảo trá, tiến hành Nga hóa cưỡng bức và áp đặt pháp luật Liên Xô, trong khi cũng tìm cách đàn áp văn hóa Ukraine. Vì lẽ này mà người Ukraine oán hận, nên sau khi Đức bất ngờ xâm lược đầu mùa hè 1941, thì người Ukraine lại chọn chào đón những người Đức thay thế. Một bộ phận người Ukraine thậm chí còn gia nhập Wehrmacht, SS, hoặc các lực lượng cảnh sát do Đức dựng nên.
Tuy nhiên, người Đức cũng dần lộ ra là họ chẳng khá hơn người Nga là bao. Sau khi Stepan Bandera, thủ lĩnh của OUN-B cực đoan hơn, tuyên bố tuyên ngôn lập quốc một tuần sau Chiến dịch Barbarossa, Bandera bị bắt giam và bị giữ vào trong các trại tập trung của Đức. Tuy nhiên, phần lớn quân của OUN-B đã kịp chạy thoát và, tiêm nhiễm tư tưởng cực đoan mạnh, dần phác thảo các kế hoạch nhằm diệt chủng các nhóm dân không phải người Ukraine Chính Thống giáo.
Cùng lúc đó, ở Kyiv, sau khi Đức thắng trận năm 1941, các thành viên OUN-M liền thành lập một chính quyền thân Đức, với thị trưởng là Volodymyr Bahaziy, nhưng ông bị cách chức vào tháng 1 năm 1942 và phần lớn ban lãnh đạo OUN-M bị Gestapo bắt giam. Sự kiện này làm suy yếu đáng kể OUN-M, bởi những người Ukraine ôn hòa và thực dụng đã phần lớn bị loại bỏ bởi chế độ Quốc Xã, những người không coi người Ukraine là đồng minh. Nhánh OUN-B, vì thế, dần trở thành phái thống trị nhất của phong trào kháng chiến Ukraine.
Khi OUN-M suy yếu, OUN-B liền tìm cách gieo giắt nỗi sợ với tuyên bố sẽ giết những người nào không ủng hộ họ. Sự bạo lực này được thể hiện bằng các hoạt động thanh trừng đẫm máu nhắm vào các lực lượng đối lập khác như OUN-M, hay các đội quân theo chủ nghĩa ôn hòa của Taras Bulba-Borovets. Để làm trầm trọng hơn, OUN-B còn thậm chí khuyến khích giết hại người Do Thái, Roma, Ba Lan, Hungary, và cả người Belarus và Nga đồng hương, gây ra vụ thảm sát ở Volhynia và Galicia từ 1943-44. Điều đáng nói là nó được tiến hành ngay cả khi Stepan Bandera vẫn đang bị bắt giam bởi người Đức lúc đó, cho thấy sức ảnh hưởng của Bandera trong OUN-B đã gần như không thể thay thế. Cuộc thảm sát Volhynia và Galicia này đã trở thành một vết nhơ trong quan hệ Ba Lan-Ukraine cho đến bây giờ, nhất là khi các hoạt động kháng chiến chống Đức của OUN-B là không nhất quán và thay đổi tùy theo thời gian.
Tuy nhiên, người Ukraine không chỉ bị chia rẽ bởi sự chia bè kéo phái của OUN, mà còn là bởi lòng trung thành không rõ ràng. Không chỉ những người Ukraine theo chủ nghĩa quốc gia ở phía tây, những người Ukraine, chủ yếu ở phía đông, phần lớn phục vụ trong quân đội Liên Xô, và sự ủng hộ cho OUN là vô cùng thấp. Thay vào đó, họ coi OUN bán đứng Ukraine cho Đức và khiến những người Ukraine ở phía đông bị tàn sát. Có tới 1/3 các binh sĩ trong Hồng Quân là người gốc Ukraine (bao gồm ông của Tổng thống Volodymyr Zelensky, Semyon), và một số chỉ huy quân sự tài năng nhất của Hồng Quân như Semyon Timoshenko, Ivan Konev và Rodion Malinovsky, là những người gốc Ukraine. Nữ bắn tỉa thiện xạ Lyudmila Pavlichenko cũng có gốc Ukraine.
Các binh lính người Ukraine đã tham gia cố thủ vô cùng quyết liệt, từ trận Moscow năm 1941, cho đến các trận đánh ở Caucasus năm 1942, và đặc biệt là trân Stalingrad, khi Nikita Khrushchev (một người gốc Ukraine khác) tham gia cố thủ tại thành phố và sống sót. Sau khi quân Đức phần lớn bị đẩy lùi, các binh lính người Ukraine của Hồng Quân cũng là những người tiên phong đi đầu trong chiến dịch như trận Kursk năm 1943, và thậm chí là chiến dịch Bagration năm 1944 nổi tiếng khi quân Đức phần lớn bị hủy diệt tại đó. Những người lính Ukraine sau này cũng tham chiến tại mặt trận Balkan và đánh đuổi quân Đức ra khỏi xứ này. Khi Berlin sụp đổ năm 1945, một nữ quân nhân Hồng Quân gốc Ukraine còn nhảy mùa ba lê tại Cổng Brandenburg.
Bán đảo Crimea, bị Nga sáp nhập năm 2022 nhưng vẫn được quốc tế coi là một phần Ukraine, là nơi có cộng đồng thiểu số người Tatar Crimea lớn. Cộng đồng này vốn bị đàn áp từ thời Sa hoàng và cả Stalin, nên họ cũng rất ủng hộ người Đức ngay từ đầu. Tuy nhiên, người Tatar Crimea nhận ra người Đức không hề tôn trọng bản sắc Thổ và Hồi giáo của họ, và người Đức thay vào đó biến họ thành nô lệ. Oán hận, nhiều người Tatar Crimea tìm cách chống lại người Đức, và một số trong đó đã gia nhập Hồng Quân, như chỉ huy Uzeir Abduramanov, phi công Ahmet-khan Sultan và quân nhân Ahmet Özenbaşlı.
Mặc cho những hành động phản kháng Đức ngày càng quyết liệt, Stalin gán toàn bộ dân tộc Tatar Crimea là ủng hộ Quốc Xã. Sau khi Crimea được giải phóng tháng 5 năm 1944, nghe theo lời Lavrentiy Beria, Stalin tiến hành trục xuất toàn bộ người Tatar Crimea khỏi bán đảo trong một hành động mà được gọi là "Sürgünlik" (lưu đày), trước khi đưa dân Nga và Ukraine vào thay thế; những người Tatar Crimea bị lưu đày đều phần lớn chết thê thảm và còn bị xúc phạm bởi người Uzbek đồng hương ở Trung Á, nơi họ bị đày xuống. Để làm nhục người Tatar Crimea hơn nữa, chính phủ Moscow còn hạ lệnh xóa bỏ tên tiếng Tatar Crimea, đập phá nghĩa trang, và cải tạo các nhà thờ Hồi giáo thành các nhà kho. Hành động nhơ nhuốc, đẫm máu và nhuốm đầy tội ác của Stalin bị lên án bởi chính Khrushchev sau này, nhưng cũng phải đến năm 1989, cộng đồng người Tatar Crimea mới được trở về quê hương.
Chính vì tính phức tạp, nhạy cảm và phân chia nghiêm trọng của người Ukraine, mà sự thống nhất của họ đến quá trễ. Khi nhận ra Liên Xô đã ập đến gần, thì những người Ukraine ở phía tây mới vội vàng tìm cách gác lại thù xưa để hiệp lực chống những người Liên Xô áp bức. Và tất nhiên, nó không đủ để cứu vãn tham vọng lập quốc Ukraine.
Caucasus dấy loạn

Các chiến binh Chechnya trong phong trào khởi nghĩa Hasan Israilov
Trong khi đó, vùng núi Caucasus, vốn bị đô hộ bởi Nga từ đầu đến giữa thế kỷ 19, đã cố gắng nổi dậy hậu Thế chiến I, nhưng bất thành. Nhưng chế độ Xô viết cũng chả cho thấy họ khá hơn chế độ Sa hoàng, và thậm chí còn đàn áp thậm tệ hơn do tư tưởng thực dân Nga, và tăng cường di dân Slav và không phải Hồi giáo vào Caucasus. Để nó thêm phần nghiệt ngã, có tới hai người gốc Caucasus đang đứng đầu nước Liên Xô lúc đó, chính là Joseph Stalin và Lavrentiy Beria (tất cả đều gốc Gruzia), nhưng khi đã nắm quyền ở Moscow, thì họ đều theo đuổi tư tưởng Đại Nga hơn là đồng cảm với người Caucasus đồng hương.
Trong bối cảnh áp bức đó, một lãnh đạo cộng sản người Chechen tên là Hasan Israilov, vốn là một người thiện cảm với lý tưởng Trotsky và thù địch với Stalin, đã vừa phải chịu cảnh lưu đày liên tục ở Siberia khi đã viết luận cáo buộc chính phủ Stalin phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề kinh tế-xã hội của Liên Xô. Đến năm 1940, Israilov, được tha bổng từ Siberia trở lại quê hương, giờ đã vô cùng bất mãn với nhà nước Liên Xô, đã quyết định từ bỏ lý tưởng cộng sản và chuyển sang lý tưởng lập quốc Chechnya và Ingushetia. Truyền cảm hứng từ thất bại của Liên Xô nhằm xóa sổ Phần Lan độc lập, Israilov kêu gọi khởi nghĩa chống lại ách đô hộ của Liên Xô, khai mào phong trào nổi dậy miền núi Caucasus.
Kinh hoàng trước thông tin này, Joseph Stalin phái NKVD và các đạo quân cử đến từ Moscow hòng dẹp loạn, nhưng những chiến binh người Chechen và Ingush, vốn quen thuộc địa hình, dễ dàng hạ gục các toán quân đông đảo nhưng thiếu tổ chức của Hồng Quân. Đến năm 1941, sau khi Đức phát động xâm lược Liên Xô, các lực lượng miền núi của Caucasus như hổ mọc thêm cánh, và nhiều binh lính Hồng Quân có gốc gác Caucasus đào ngũ. Năm 1942, Mairbek Sharipov, cũng là một người cựu cộng sản khác, quyết định nổi dậy làm phản chống lại Liên Xô, hợp nhất với quân của Israilov và trở thành phong trào phản loạn chống Liên Xô nghiêm trọng nhất trong phần lớn Thế chiến II, thậm chí hơn hẳn so với những gì đã xảy ra ở Ukraine và Baltic.
Tuy nhiên, trong khi Đức hỗ trợ quốc phòng và quân sự cho các lực lượng kháng chiến Chechnya, và các lực lượng Đức đã ngầm mở kênh liên lạc với những người kháng chiến Chechnya và Ingushetia, thì quan hệ giữa Israilov và Đức Quốc Xã khá căng thẳng. Do phần nào được giáo dục bởi lý tưởng cộng sản, Israilov xem Đức Quốc Xã không đáng tin cậy vì dù sao thì Đức cũng là một chế độ phát xít cực đoan. Vì lẽ đó, Israilov chỉ chấp nhận liên minh Đức-Chechnya với điều kiện là phải công nhận Bắc Caucasus độc lập. Tức tối, người Đức quyết định sử dụng quân cộng tác Cossack, những người Slav du mục, để tuần tiễu miền núi Caucasus; những người Cossack và Caucasus đều thù địch với Stalin, nhưng họ lại khá xa lý tưởng khi người Cossack theo lý tưởng Nga phát xít trong khi người Caucasus chỉ muốn độc lập toàn vẹn. Các lực lượng miền núi Caucasus do Đức dựng nên cũng thù địch với Israilov vì trong khi Israilov nhấn mạnh quyền tự quyết, thì những cộng tác viên Caucasus mà Berlin dựng nên lại chỉ làm tay sai cho người Đức.
Tuy nhiên, ý trời không ưng, đến những năm 1943, Đức đang bị đẩy lui và buộc phải rút lui khỏi vùng núi Caucasus. Lúc này, Joseph Stalin, đem theo mối hận với Hasan Israilov, bắt đầu chuyển hướng sang trả thù người dân miền núi. Do bản thân Stalin vốn có gốc gác Caucasus, ông ta quá hiểu những người Chechen, Ingush, và các dân tộc Bắc Caucasus khác vì văn hóa không khoan nhượng của họ, nên Stalin quyết định cần trục xuất tất cả dân Caucasus ra Trung Á. Hậu quả là chiến dịch cưỡng bức di cư tàn bạo bậc nhất của Stalin, diễn ra vài tháng trước thảm kịch Sürgünlik của người Tatar Crimea, mà dân Chechen và Ingush gọi đó là "Aardakh". Đây là tấn bị kịch lớn nhất của dân Caucasus và họ vẫn sẽ phải sống trong đau đớn ở Trung Á cho đến năm 1957, khi Khrushchev cho phép họ được trở về quê hương.
Trước các chính sách trấn áp bạo lực của Stalin, phong trào nổi dậy Chechnya và Ingushetia, và rộng hơn là Caucasus, đã hoàn toàn bị vùi dập bằng sự tàn bạo khát máu của bàn tay Liên Xô. Hasan Israilov, tuy vậy, không cam chịu đầu hàng cho đến khi ông bị phản bội và ám sát cuối tháng 12 năm 1944. Với việc bị ám sát, phong trào kháng chiến của người dân Caucasus đã tan rã, dù các ổ kháng cự lẻ tẻ tiếp tục tồn tại cho đến những năm 1950.
Tiệp Khắc kháng chiến trong phân chia

Xe của Reinhard Heydrich khi hắn bị ám sát năm 1942
Tiệp Khắc là xứ đầu tiên trong thời kỳ 1920-39 bị phân chia làm hai, với đất công nghiệp của người Séc ở Bohemia và Moravia bị đặt làm xứ bảo hộ do người Đức đứng tên, với Konstantin von Neurath được chọn làm Người Bảo Trợ (Reichsprotektor) đầu tiên; Slovakia nông nghiệp và nghèo nàn hơn trở thành một quốc gia chư hầu thân Đức. Chính từ Tiệp Khắc mà Hitler có thể tự tin gây ra chiến tranh như vậy sau này.
Tại Bohemia và Moravia, thời kỳ của von Neurath, nơi sự cai trị bằng sắt được thiết lập, đã không được lòng nhiều người Séc vốn căm ghét sự áp bức của Đức, nhất là khi von Neurath đã đề cập đến việc người sắc tộc Séc phải bị đồng hóa vào xã hội Đức bằng mọi giá nào. Nhưng so với Ba Lan không bị tàn phá toàn bộ, Séc may mắn hơn vì nền tảng công nghiệp của xứ này là quá quan trọng, nên thay vì phá hủy, von Neurath chọn chính sách đồng hóa vì muốn giữ nền tảng này. Thêm nữa, von Neurath cũng chọn chính sách lấy lòng mềm dẻo hơn chút, bằng việc hạn chế quyền lực của Cảnh sát trưởng Xứ Bảo hộ, Karl Frank. Hitler ban đầu miễn cưỡng chấp nhận, nhưng khi Hitler cảm thấy von Neurath quá mềm mỏng, hắn lo ngại và quyết định cách chức von Neurath vào tháng 9 năm 1941 (dù trên thực tế, von Neurath vẫn không từ chức cho đến tháng 8 năm 1943), và thay vào đó, phó tướng của von Neurath, Reinhard Heydrich, lên thay thế.
Reinhard Heydrich là một trong những bộ mặt tăm tối và tàn bạo nhất của chế độ Quốc Xã. Là con quái vật của bộ máy phát xít, hắn đã nghiền nát các lực lượng chống đối trong Đảng Quốc Xã, và sau đó là trùm tình báo của Đệ tam Đế chế, hắn được gọi là "Người đàn ông có trái tim sắt", hoặc "Thành Cát Tư Hãn" vì sự không khoan dung với bất kỳ nỗ lực chống đối nào. Cùng Heinrich Himmler, hắn là kẻ dựng nên "Chiến dịch Himmler", một chiến dịch mà "quân Ba Lan" do hắn dựng nên tấn công đồn binh Đức ở biên giới, mở màn chiến tranh. Chính hắn là kẻ chủ mưu đằng sau ý tưởng Holocaust, đề cập việc nên giết người Do Thái theo cách hệ thống phía sau song sắt, cũng như kế hoạch diệt chủng quy mô lớn các dân tộc Đông Âu theo ý thức hệ Lebensraum. Sau khi nắm quyền chính thức tại Bohemia và Moravia, Heydrich cũng chia sẻ cùng quan điểm với Hitler, và công khai nói rằng "chúng ta sẽ Đức hóa bọn sâu bọ Séc này".
Heydrich không nói suông. Sau khi nắm quyền chính thức, hắn sớm cho thấy quyền lực của mình: hắn thiết quân luật, xử tử những người Tiệp Khắc kháng chiến, và trấn áp mạnh tay các phong trào và tổ chức của người Séc. Cuộc trấn áp tàn bạo tới mức mà khi đến đầu những năm 1942 thôi, thì tới gần 4,000-5,000 người bị bắt, mà phần lớn bị xử tử hoặc bị lôi vào các trại lao động khổ sai, khiến hặn bị coi là "Đồ tể của Prague" vì sự máu lạnh.
Tuy nhiên, Heydrich cũng rất biết tầm quan trọng của các cơ sở công nghiệp Séc, nên hắn cũng biết sử dụng chính sách "cây gậy và củ cà rốt", như tăng lương, tổ chức các ngày nghỉ lễ cho công nhân, trang bị trang phục và dày dép tốt nhất, bảo hiểm lao động cho người thất nghiệp cũng được thiết lập, và chợ đen bị đàn áp thẳng tay; những lao động chống đối bị gán là "tội phạm kinh tế" hoặc "kẻ thù của nhân dân". Để thể hiện hơn nữa quyền uy, hắn tự tay xuất hiện trên xe mui trần để thể hiện hắn tôn trọng nguyện vọng của người Séc.
Chính phủ Tiệp Khắc lưu vong ở London, trong khi đó, rất muốn đóng một vai trò nào đó, khi so với Ba Lan đã tỏ ra mạnh dạn hơn và quyết liệt hơn rất nhiều sau khi cũng mất nước cùng năm. Tuy nhiên, chính việc Heydrich ngày càng trở nên hiệu quả trong việc trấn áp các phong trào dân tộc Séc khiến chính quyền Tiệp Khắc quyết định phải hành động. Ngay từ tháng 10 năm 1941, tình báo Tiệp Khắc gửi điện tín mật kêu gọi giết Heydrich bằng mọi giá. Hai tháng sau, chính phủ Tiệp Khắc phê chuẩn, và tuyên bố Heydrich phải bị giết chết trong chiến dịch gọi là "Anthropoid", tạm dịch là "Chiến dịch Đười ươi", vì không ai coi Heydrich là người cả.
Hai sĩ quan của quân đội Tiệp Khắc là Jozef Gabčík và Jan Kubiš, cùng với bảy người khác, được bí mật nhảy dù xuống Tiệp Khắc vào cùng tháng 12 năm 1941, và chia làm hai đội "Bạc A" và "Bạc B". Ở đó, họ bí mật hoạt động mà quân Đức không biết. Đến tháng 5 năm 1942, khi nhận ra Hitler cần Heydrich để trấn áp phong trào nổi dậy Pháp, tất cả các sĩ quan Tiệp Khắc quyết định phải xử tử ngay hoặc nếu không thì hắn sẽ là hiểm họa cho cả châu Âu. Tuy nhiên, không phải ai cũng đồng thuận khi một số lo sợ rằng nếu người Đức mà biết Heydrich bị giết thì họ sẽ trả thù dã man, nhưng trước việc chính phủ Tiệp Khắc lưu vong quá quyết tâm, họ đành bất lực.
Heydrich bị bắn vào 27/5/1942 khi hắn đang tuần tiễu trên xe mui trần hở, bởi chính Jozef Gabčík và Jan Kubiš, khi họ thấy hắn ở đó. Tuy nhiên, do hỗn loạn, cả hai không nhận ra Heydrich đã bị bắn và tưởng rằng cận vệ và xe mui trần đã bảo vệ hắn, và nghĩ rằng hắn chỉ bị thương. Chỉ một tuần sau, dẫu vậy, Heydrich chính thức đột tử vào 4/6/1942, hưởng dương 38 tuổi; các bác sĩ kết luận hắn đã bị trọng thương nặng vì những viên đạn và qua đời.
Với tin về cái chết của Heydrich ập tới Berlin, Hitler vừa khiển trách, vừa sốc vì Heydrich đã từ trần. Để trả thù, hắn ra lệnh tiến hành chiến dịch Reinhard để tưởng niệm Heydrich quá cố. Quân Đức liền tràn vào hai ngôi làng là Lidice và Ležáky, thảm sát tàn bạo thường dân và bắt trẻ em vào các gia đình Đức. Vụ việc này và việc truyền thông Đức tung hộ vụ thảm sát sau đó đã làm thế giới tức giận.
Sau khi đó, cả Gabčík và Kubiš, cùng với các thành viên kháng chiến khác, đều bị dò tìm cho đến khi họ bị phát hiện ở Thánh đường Chính Thống Thánh Cyril và Methodius bởi sự phản bội của một thành viên kháng chiến vào 17/6/1942. Thay vì đầu hàng, các thành viên kháng chiến của Tiệp Khắc chống trả quyết liệt trong nhiều giờ đồng hồ trước khi thiệt mạng. Cha xứ Gorazd xin tìm cách toàn mạng cho những người Tiệp Khắc đã chiến đấu, và điều này khiến Cha bị bắt giữ và sau này bị hành hình.
Chiến dịch Đười ươi là chiến dịch duy nhất mà một quan chức cao cấp của Đức Quốc Xã bị ám sát trong toàn bộ cuộc chiến, và Bohemia và Moravia vẫn sẽ bị Đức kiểm soát cho đến khi Hồng Quân ập tới vào năm 1945.
Với Slovakia, câu chuyện lại hoàn toàn khác. Kể từ khi "độc lập" năm 1939, Slovakia đã nằm dưới sự kiểm soát của Jozef Tiso, một giáo sĩ Công giáo thân Đức. Việc dùng quốc kỳ Đế quốc Nga cũ làm quốc kỳ Slovakia cũng là để mua tình cảm Slav với nhau, một chiến lược thực dụng của Hitler để mua chuộc tình người. Chính điều này cho phép Đức Quốc Xã có thể giải phóng binh lực khi có một chế độ chư hầu làm cho tiện tay.
Vì là chư hầu của Đức, Slovakia phải tham gia vào cuộc xâm lược Ba Lan 1939, khi quân Slovakia đóng góp một số lượng không đáng kể binh sĩ tham chiến hỗ trợ Đức. Sau đó, Slovakia tiếp tục đóng vai là lực lượng hỗ trợ hậu cần cho quân đội Đức trong các chiến dịch xâm lược Nam Tư sau đó vào đầu năm 1941.
Những chiến dịch xâm lược lẻ tẻ này đã giúp tôi luyện quân đội Slovakia non trẻ, nhưng việc họ vẫn chỉ là những kẻ học việc trong con mắt người Đức khiến họ vẫn phải đóng vai là quân hỗ trợ cho người Đức khi quân Đức xâm lược Liên Xô hè năm 1941. Chính việc phải tiếp tục đóng vai là "bọn học việc" khiến Slovakia bị coi như trò hề trong con mắt các nước Đồng Minh; thậm chí, Hoa Kỳ còn coi thỏa thuận Munich 1938 là bất hợp pháp.
Trong khi đó, Jozef Tiso ngày càng cho thấy hắn không ngần ngại trong việc tham gia tư tưởng diệt chủng Do Thái và Roma. Khi có nhiều bằng chứng cáo buộc Slovakia giúp Đức diệt chủng dân Do Thái, Tiso thậm chí còn ủng hộ hành động này nhân danh đức tin Công giáo. Hắn cũng thiết lập chế độ chư hầu ngày càng giống với nước Đức như Vệ binh Hlinka (dựa vào SS) và những người Hlinka Trẻ (dựa vào Hitler Youth). Sự cuồng tín và ủng hộ chế độ Quốc Xã của Tiso ban đầu được người Slovak khoan dung vì họ tin là họ sắp thắng trận.
Tuy nhiên, thất bại của phe Trục tại Liên Xô đã làm rạn nứt thiện cảm với chế độ Tiso và nhiều người Slovak bắt đầu tìm cách gia nhập phe kháng chiến. Giận giữ với quân Đức và chế độ Tiso đẩy nhiều người Slovak dần ngả theo kháng chiến. Vào giữa mùa hè 1944, các lực lượng dân tộc chủ nghĩa Slovak mong muốn tái lập Tiệp Khắc đã quyết định liên minh với nhau và tiến hành tấn công quân Đức trên khắp Slovakia, tạo ra cuộc khởi nghĩa chống Đức lớn nhất Tiệp Khắc lúc đó. Chế độ Tiso không thể kham nổi tình hình và phải cầu viện người Đức ứng cứu; quân Đức, nhận ra tình hình đang xấu đi ở Slovakia, lập tức can thiệp quân sự. Sự can thiệp của Đức khiến phong trào kháng chiến dần bị đè bẹp, song nó cũng phải đến tháng 10 năm 1944 thì Đức mới chiếm đóng hoàn toàn.
Nhưng thay vì trả lại độc lập cho Slovakia, người Đức nhận ra Slovakia không thể tự quản lý được nữa, và quyết định chiếm đóng toàn diện chứ không dựa vào cái mác bảo hộ nữa. Người Đức sẽ không rời đi cho đến tháng 4 năm 1945, khi Hồng Quân tràn vào, nhưng vẫn kịp chở đi nhiều người Slovak, Do Thái và Roma vô tội vào các trại tập trung tử thần của chế độ Quốc Xã.
Hungary lận đận

Lãnh thổ Hungary mở rộng từ 1938-41
Cho đến khi Thế chiến II nổ ra, Miklós Horthy đang là Nhiếp chính vương của Vương quốc Hungary, một vương quốc trên giấy tờ nhưng không ai làm vua cả, mà Horthy trực tiếp lãnh đạo. Tuy nhiên, Horthy rất muốn quan hệ tốt với Ba Lan vì tình cảm bàng hữu trong lịch sử, trong khi cũng muốn đòi đất của Romania, Nam Tư và Tiệp Khắc do mất quá nhiều sau Thế chiến I.
Vì lẽ này, Hungary gia nhập phe Đức, nhưng Budapest từ chối chuyển quân giúp Đức xâm lược Ba Lan vì danh dự trong quan hệ Ba Lan-Hungary. Người Đức cũng chả bận tâm bởi sau đó, Đức và Liên Xô giải quyết Ba Lan gọn gàng. Thế nhưng, Đức cũng miễn cưỡng chấp nhận cho Hungary mở rộng lãnh thổ để khiến Slovakia và sau này là Romania và Croatia phải chịu cảnh bị Đức đè đầu cưỡi cổ và lệ thuộc, trong khi cũng không quên phải kiểm soát chính phủ Hungary trong tầm tay; Hungary sau đó còn sáp nhập thêm phần đất Transylvania của Romania năm 1940 và sau đó là một phần Vojvodina năm 1941. Horthy biết rõ âm mưu thâm độc của Hitler, nhưng không có sức mạnh để chống lại, đành ngậm bồ hòn làm ngọt nhận quà trong vị thế chư hầu của Đức, và thậm chí còn ký Hiệp ước Trục năm 1940, đất nước thứ tư làm điều đó.
Quân đội Hungary sau đó tham gia vào cuộc xâm lược Liên Xô năm 1941, và, giống như vị thế của một quân đội chư hầu, lính Hungary thường chỉ được phân vào các cuộc tấn công quy mô nhỏ và cùng lắm thì do người Đức quản lý. Lính Hungary cũng tham gia vào kế hoạch đánh chiếm Moscow thất bại, trước khi cũng được điều động vào trận Stalingrad lịch sử và đẫm máu; lính Hungary được đánh giá là khá chuyên nghiệp và tổ chức với vũ khí và trang bị khá hạn chế.
Tuy nhiên, phe Trục do Đức dẫn đầu đại bại sau nhiều tháng giao tranh ở Stalingrad và lúc đó, Horthy mới nhận ra là Hungary có nguy cơ thua trận. Lo sợ, Horthy bí mật phái Thủ tướng Miklós Kállay đến đàm phán bí mật với Anh và Hoa Kỳ vào thu 1943, và sau đó là với Liên Xô. Tuy nhiên, Đức nhận ra được âm mưu này và tiến hành bắt cóc con trai của Nhiếp chính vương, buộc Horthy phải hủy bỏ Hiệp ước hòa bình với Liên Xô. Tuy nhiên, Hitler xem hành động đó là phản bội, và lập tức tuyên bố Hungary là pháo đài cần bị chiếm đóng, dẫn đến việc quân Đức tràn vào Hungary vào tháng 3 năm 1944. Horthy tiếp tục cai trị trong sự giám sát nghiêm ngặt của Đức cho đến tháng 10, khi Horthy bị ép thoái vị và lưu đày sang Bavaria do đã tuyên bố đình chiến với Liên Xô, với một chế độ phát xít do Đức dẫn đầu thay thế.
Với việc Hungary bị quản lý trực tiếp, Đức biến cả đất nước thành một pháo đài quân sự. Liên Xô áp sát Budapest cuối năm 1944 và sau đó nổ súng phản công. Quân Hungary dưới trướng Đức chiến đấu quyết liệt, tuy nhiên, sau 50 ngày vây hãm, Budapest thất thủ và Hungary rơi vào tay Liên Xô. Tuy nhiên, giống như những con thú tính bạo lực và khát máu, lính Liên Xô bắt đầu hành xử như lũ du côn, tham gia dở thói đồi bại và cưỡng hiếp vào phụ nữ và trẻ em gái sau khi Budapest rơi vào tay Liên Xô. Bản tính cầm thú này sau đó sẽ theo các đội quân Liên Xô đến phần còn lại của Đông Âu khi chúng tiến vào.
Nhưng lính Hungary cũng không phải là hoa hồng để tôn vinh, dù nó phức tạp hơn rất nhiều. Các cuộc chiếm đóng của lính Hung ở Vojvodina của Nam Tư, hay một phần Transylvania của Romania, đầy rẫy sự đẫm máu và bắn giết hàng loạt, nổi tiếng như cuộc thảm sát Novi Sad năm 1942, hay các cuộc thanh trừng sắc tộc Romania ở Transylvania, cũng như đàn áp người Slovak trong nội quốc. Cũng chính vì điều đó, cả Slovakia, Romania và Croatia lúc đó đã sợ hãi tới mức họ bí mật ký một Hiệp ước chống Hungary để đề phòng việc Hungary có thể gây chiến trong tương lai.
Tuy nhiên, lính Hungary lại tỏ ra vô cùng đồng cảm với những người dân Ba Lan, và tình bàng hữu của hai quốc gia này đã buộc người Hungary phải rất thận trọng. Vì lẽ đó, quân đội Hungary đã từ chối xâm lược Ba Lan, và khi nổi dậy Warsaw nổ ra năm 1944, lính Hungary cũng bí mật chu cấp chỗ trú chân cho các binh lính Ba Lan, thậm chí còn ngầm chuyển vũ khí cho Quân đội Quê hương Ba Lan. Khi quân Đức phát hiện ra chuyện này, Wehrmacht đã xử bắn một số quân nhân Hungary, trong khi điều chuyển phần lớn các binh lính Hungary ra khu vực khác.
Ngoài ra, Hungary và Ba Lan còn chia sẻ chung quan điểm về János Esterházy, chính trị gia người Hungary gây tranh cãi. Trong khi sử sách Séc và Slovakia cáo buộc Esterházy là kẻ mang âm mưu xóa sổ Tiệp Khắc và đồng hóa các dân tộc không phải người Hungary, thì Ba Lan và Hungary lại coi Esterházy là một anh hùng dân tộc cho cả hai đất nước.
Chính vì thế mà vì sao người dân vùng Balkan, Séc và Slovakia có cái nhìn khá ác cảm về Hungary trong Thế chiến II, do sự chiếm đóng của quân Hungary. Mặt khác, người Ba Lan vẫn xem người Hungary là dân tộc anh em và đồng hương trong một thế giới bạo tàn mà họ phải hứng chịu.
Nam Tư xé lẻ, rồi hợp nhất trong hình hài khác

Nữ du kích quân Nam Tư trong Thế chiến II, năm 1944
Nam Tư, vào năm 1939, đang là một quốc gia bị chia rẽ từ bên trong, với người Serbia chiếm quá nhiều quyền lực trong khi người Croatia, Bosnia, Slovenia và Albania bị phân biệt đối xử. Sự thù địch ẩn trong vương quốc là một vấn đề an ninh lớn, và Nam Tư đã chọn trung lập trong hai năm đầu (1939-41) để tránh rắc rối.
Đến năm 1941, Đức lấy cớ muốn giúp Ý xâm lược Hy Lạp, để ngỏ cho Nam Tư mở đường. Lo ngại chọc giận Hitler, chính phủ Nam Tư đồng ý gia nhập Hiệp ước Trục vào 25/3/1941, chỉ để cho một cuộc đảo chính quân sự do các sĩ quan ủng hộ phe Đồng Minh hai ngày sau đó làm nổi giận Hitler, khiến Nam Tư bị xâm lược một tuần sau. Nam Tư ngay lập tức tan rã và họ bị chia thành các tiểu quốc nhỏ, với người Croatia chiếm lãnh thổ lớn nhất, trong khi Serbia bị trực tiếp nằm trong chính phủ bù nhìn quân quản của Đức.
Nhà nước Độc lập Croatia, một chư hầu của Đức, trở thành kẻ thù không đội trời chung với các dân tộc Serbia. Dưới trướng Ante Pavelić, thủ lĩnh đảng Ustaše, Croatia trở thành quốc gia phát xít Công giáo, lợi dụng đức tin Công giáo để đàn áp người bất đồng chính kiến. Cái nhìn của Pavelić là vô cùng tàn bạo với các nhóm dân thiểu số người Serbia, Do Thái, Roma và Montenegro, cho rằng họ là mọi dân cần bị đồng hóa. Chế độ Pavelić cho xây dựng Trại tập trung Jasenovac, một trong những trại tập trung tàn ác nhất Thế chiến II, đáng sợ tới mức mà đến cả người Đức còn tỏ ra kinh hoàng.
Tuy nhiên, bản chất các dân tộc ở vùng núi Balkan không cho phép họ thống nhất. Thay vào đó, các nhóm lại gắn mình với những dân tộc riêng biệt, vốn cũng theo những đức tin đối lập. Người Croat, Slovenia và một bộ phận người Hồi giáo Bosnia phần lớn ủng hộ chế độ Pavelić. Trong khi đó, người Serb và Montenegro lại nổi dậy khởi nghĩa. Người Macedonia thì bị sáp nhập vào Bulgaria và lại phải trải qua quá trình đồng hóa lần hai; bản thân Bulgaria từ lâu thù hận Serbia vì quá trình đồng hóa ở Macedonia trước kia. Người Albania ở Kosovo phần lớn ủng hộ phe phát xít do Đức và Ý cầm đầu vì người Albania nuôi mộng lập đại quốc bao gồm phần lớn tây Balkan. Chính sự chia rẽ này khiến các dân tộc Balkan quay súng bắn nhau, một điều mà người Đức chắc chắn nở nụ cười để nghĩ tới.
Phong trào khởi nghĩa ở Serbia và Montenegro ban đầu là do lực lượng Chetnik, một lực lượng kháng chiến nổi tiếng trong Thế chiến I. Người đứng đầu phong trào này là một sĩ quan quân đội Nam Tư tên là Dragoljub Mihailović, biết tới với mật danh "Draža", người luôn mong muốn tìm cách tái lập lại chế độ quân chủ Nam Tư cũ và là một người đặc biệt chống cộng sản, và muốn tìm cách giải phóng Nam Tư bằng chính sức mạnh của mình nhân danh Hoàng gia.
Tuy nhiên, nếu như Thế chiến I cho phép Chetnik chiến đấu hiệu quả nhất có thể vì họ đã có tư tưởng muốn giải phóng Serbia, thì họ lại thiếu hiệu quả trong Thế chiến II. Một phần cho việc này là vì chính quyền Đức và lực lượng chư hầu Croatia, cùng với người Ý, chọn tìm cách mua chuộc để làm yên thân cho sự cai trị của họ. Một mặt khác, tính chất đa sắc tộc của Nam Tư, so với lại Serbia trước đó, đồng nghĩa Draža buộc phải thuyết phục những người Croat, Bosnia, Slovenia và Albania đứng về chung chiến tuyến, một điều gần như không thể do khác biệt dân tộc và tôn giáo quá lớn. Vì lẽ đó, Chetnik buộc phải dựa vào nguồn lực từ người Serbia và Montenegro, vốn quá hạn chế về nhân khẩu lúc đó.
Nhưng, ngoài hai yếu tố đấy ra, Chetnik còn phải đối mặt với một phong trào kháng chiến mới nổi cạnh tranh khác: phong trào Du kính quân Nam Tư của những người Cộng sản do Josip Broz Tito lãnh đạo. Điều này gây ra cực kỳ nhiều căng thẳng cho phong trào Chetnik, vì Josip Broz Tito lại là một người thuộc sắc dân Croat-Slovenia, một dân tộc gốc Công giáo đối đầu với những người Chetnik Chính Thống giáo. Chính vì điều này mà dù cho cả hai nhóm Du kích và Chetnik hợp tác lúc sớm đầu của Thế chiến II, sự cộng tác này nguội lạnh dần theo thời gian do khác biệt ý tưởng, và thậm chí, cả hai xung đột nhau dữ dội. Đến năm 1943, phe Đồng Minh công nhận phe Du kích của Tito là một đồng minh và giảm bớt viện trợ cho phe Chetnik, khiến Draža cảm thấy bị phản bội và quyết định đổi sang phe Đức, qua đó khiến Chetnik mất đi nhiều tính chính danh sau này.
Tuy nhiên, Josip Broz Tito lại không phải là một con rối hoàn toàn của Joseph Stalin, thậm chí là ngược lại. Mặc dù chia sẻ quan điểm cộng sản, nhưng Tito và Stalin đã ngày càng bất hòa ngay từ ngày đầu Thế chiến II. Ngay từ tháng 6 năm 1941, Stalin cho rằng Tito đang định sử dụng biểu tượng cộng sản để làm cách mạng riêng cho mình, điều mà Stalin không ưng thuận; thay vào đó, Stalin ép Tito phải chiến đấu nhân danh Chính phủ Hoàng gia đang lưu vong ở London để tạm làm yên lòng những người Chetnik. Vì lẽ đó, các thành viên Du kích Nam Tư của Tito tỏ ra tức giận khi truyền thông Liên Xô tiếp tục ca ngợi quân Chetnik của Draža từ năm 1941-43.
Căng thẳng giữa Tito và Stalin tiếp tục dâng trào ngay cả khi Tito đã được coi là một phần của phe Đồng Minh. Năm 1943, Tito tuyên bố chuyển đổi Hội đồng chống Phát Xít thành chính phủ lâm thời Nam Tư, và tuyên bố chính phủ Hoàng gia Nam Tư ở London là bất hợp pháp. Stalin đã ngầm nổi giận khi nghe tin và ông ta cáo buộc Tito hành động ngang tàng, chống lại mệnh lệnh từ Moscow, và ép Tito phải tìm cách hợp tác với các chính trị gia ôn hòa trên khắp châu Âu trước. Tuy nhiên, Tito chọn phớt lờ, nhất là khi Du kích quân của ông ta đang ngày một lớn mạnh mà không nhờ Liên Xô giúp.
Tito cũng là một thủ lĩnh Du kích tinh quái. Ông ta rất biết cách chiều lòng những người dưới trướng bằng việc tha chết cho những người từng cộng tác với Chetnik hoặc Ustaše, qua đó mở rộng ảnh hưởng của những người Du kích. Tito cũng rất chủ động đón chào bất kỳ người thuộc sắc tộc Nam Tư nào, chứ không chỉ riêng người Serb; việc bản thân Tito cũng là người Croat-Slovenia mở rộng sự ủng hộ và cho thấy không phải người Croat nào cũng là Ustaše. Ngoài ra, quân Du kích Nam Tư, với chiến lược vừa đánh vừa lui, rồi bất ngờ hiện diện ở nơi khác, đã làm kinh hoàng quân Đức. Tức tối, Hitler thậm chí đã phải phái sát thủ và các đạo binh truy quét mà vẫn không diệt nổi quân Du kích của Tito.
Thế nhưng, Stalin ngày càng trở nên lo sợ việc Tito ngày càng khó bảo. Vấn đề ngày càng trở nên rõ ràng khi giới lãnh đạo Liên Xô, cùng với Anh, đã ngầm ký kết một thỏa thuận ngay tháng 10 năm 1944 ở Moscow, qua đó sẽ chia đôi Nam Tư thành hai phần. Lúc đó, Hồng Quân đang phản công ở Belgrade hòng đuổi đánh quân Đức, nhưng Du kích quân Nam Tư, không giống như các lực lượng cộng sản chư hầu khác của Stalin, lại hoàn toàn độc lập tác chiến mà không dựa vào Liên Xô quá nhiều. Chính sự hiệu quả này mà sau khi Belgrade được giải phóng, chính phủ lâm thời Nam Tư của Tito tỏ ra cứng rắn: ông tuyên bố Hồng Quân phải bị đặt dưới sự quản lý của các lực lượng Du kích, và phải chấp nhận luật pháp Nam Tư ở đây.
Chính những yếu tố này mà sau này, Stalin đặc biệt lo sợ Tito. Do Tito tự làm mọi thứ mà phần lớn chả cần dựa vào Liên Xô, Stalin bắt đầu nghĩ đến ý tưởng cực đoan nhất: ám sát Tito. Ông ta sẽ không tìm cách ám sát Tito ngay lập tức, dẫu vậy, cho đến khi Thế chiến II khép lại.
Vậy còn dân Croat, Bosnia, Slovenia, Montenegro, Macedonia và Albania thì sao? Với Montenegro, chắc ai cũng biết vì sự gắn chặt với số phận Serbia. Trong khi đó, Croatia dần lụi tàn khi Thế chiến II ngày càng trở nên bất lợi: quân đội chư hầu Croatia thua liên tiếp và ngày càng trở nên khó khăn, đặc biệt khi nạn đào ngũ gia tăng. Cuối cùng, Ante Pavelić buộc phải bỏ trốn cùng với những kẻ ủng hộ Đức Quốc Xã khác, và Nhà nước Độc lập Croatia cũng tan rã. Người Bosnia và Slovenia sau đó cũng tái hợp với nhà nước Nam Tư sau khi Thế chiến khép lại. Người Macedonia thì chỉ được giải phóng muộn hơn, do nằm ở vùng do Bulgaria quản lý. Tuy nhiên, Nam Tư này không còn là một Nam Tư quân chủ của gia tộc Karađorđević như trước, mà lại là một Nam Tư... rất khác lạ, có chất riêng của Tito.
Nhưng người Albania ở Kosovo, thì họ lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.
Albania, bảo tàng Trung cổ của Đông Âu

Du kích Albania ở Tirana sau khi Albania được giải phóng, năm 1944
Nếu các bạn biết về Albania, chắc bạn đã biết về tiểu thuyết Harry Potter của J. K. Rowling. Nhưng Albania không lãng mạn như thế.
Đến trước Thế chiến II, Albania đã là quốc gia nghèo nhất châu lục, chứ không riêng gì Đông Âu. Dưới sự cai trị của Hoàng gia Albania của Vua Zog (Ahmet Zogu), Albania bị gán với biệt danh "bảo tàng Trung cổ của châu Âu", với tới 90% dân số làm nghề nông, và phần lớn không biết chữ, cũng như không có nền tảng kinh tế. Tháng 4 năm 1939, Ý chiếm Albania chỉ sau năm ngày giao tranh, mà bản thân Albania thì cũng chả có nổi quân đội hay các lực lượng kháng chiến khác mà lần.
Chính tình trạng lạc hậu của Albania mà người Ý dễ dàng sử dụng tư tưởng Đại Albania để khuếch đại sự ủng hộ cho chế độ Mussolini. Người dân Albania, phần lớn nghèo khổ và thất học, dễ tin lời của Mussolini và nhiều thanh niên Albania đã gia nhập quân đội viễn chinh Ý xâm lược Hy Lạp năm 1940. Tuy nhiên, quân Ý thất bại thảm hại và thậm chí Hy Lạp còn chiếm miền nam Albania trong một khoảng thời gian ngắn. Quá thất vọng, những người Ý van xin Đức cứu viện, và Đức chấp nhận gửi quân, qua đó chiếm được Hy Lạp.
Tất nhiên, người Albania không có học thức để nhận ra rằng họ đang bị Đức lợi dụng. Để chiều lòng người Albania, người Đức cũng sử dụng chiêu thức truyền thông nói rằng họ sẽ "phục hưng" Đại Albania, nhưng kỳ thực là kìm kẹp Albania trong tay Đức bằng các lực lượng tay sai, nổi bật hơn cả là Balli Kombëtar, một tổ chức quân phiệt của những người dân tộc chủ nghĩa Albania do Mid'hat Frashëri đứng đầu. Cũng cùng thời điểm, người Đức cho lập đội quân SS mang tên Skanderbeg, người hùng dân tộc Albania từng kháng chiến chống lại quân Thổ xâm lược ở thế kỷ 14.
Cả hai quân đoàn Albania này đều ủng hộ Đức và có quan hệ cộng sinh hơi phức tạp với Ý. Tuy nhiên, họ thực sự thù ghét các dân tộc láng giềng. Tại Hy Lạp, vùng Chameria do người Chăm Albania (không có chung nguồn gốc với người Chăm Nam Đảo ở Việt Nam và Campuchia), một nhánh thiểu số của dân tộc Albania rộng lớn, có thù địch sâu sắc với người Hy Lạp. Trong khi đó, Kosovo và tây Macedonia có cộng đồng người Albania lớn, lai tạp với người Bosniak Hồi giáo nên tạo ra văn hóa hỗn tạp, nên họ có sự ức chế với cả dân Bosniak vì đã làm xói mòn gốc gác Albania riêng biệt, cùng với cả sự thù ghét với dân Serb, Montenegro và Macedonia vì họ có tư tưởng muốn tàn sát người Albania trong lịch sử (cách đây năm 1912, chính phủ Serbia tiến hành diệt chủng người Albania ở Kosovo vì cáo buộc người Albania là tay sai của người Thổ). Điều này châm ngòi cho bạo lực sắc tộc ở đây, và người Đức thường ủng hộ dân Albania.
Tất nhiên, không phải người Albania nào cũng ủng hộ Đệ tam Đế chế, và một số chọn kháng chiến. Trong số đó, bao gồm phong trào Cộng sản do những người Cộng quân của phe Cộng sản Albania kháng chiến. Tuy nhiên, quân Cộng sản không thống nhất ngay từ đầu, khi có đấu đá nội bộ giữa những lãnh đạo Cộng sản như Mehdi Frashëri, Enver Hoxha, Mehmet Shehu, Myslym Peza, Qemal Stafa và Haxhi Lleshi, khi không ai chịu nhân nhượng ai.
Cuộc kháng chiến của phong trào Cộng sản Albania có liên hệ chặt chẽ với những người Nam Tư bởi nó được mở rộng nhờ sự tiếp tay của Tito nhằm chống ách cai trị của Đức. Tuy nhiên, sự hỗn loạn của Albania vẫn tiếp diễn vì tình trạng phân liệt của cộng đồng Albania và sự thiếu hụt học thức, dẫn đến việc họ có thể thay đổi lòng trung thành bất kỳ lúc nào.
Trong chính kẽ hở này, Enver Hoxha thực sự nổi lên một cách ngấm ngầm. Do không quá nổi bật, ông không bị coi là kẻ nguy hiểm trong phong trào Cộng sản Albania. Tuy nhiên, vị cựu giáo viên này thực ra đã có tham vọng muốn thiết lập quyền lực cho riêng mình, và ái mộ cách Stalin đã tạo ra Liên Xô độc tài. Nhưng ông ta lại che giấu mình quá giỏi, khiến không ai nhận thức được âm mưu thâm độc của ông ta; dần dần, ông ta loại bỏ thành công các lãnh đạo cộng sản đối lập trước khi ông ta làm chủ phong trào kháng chiến Albania.
Từ 1944, Đức ngày càng thất thế và lúc này, người Đức cũng không còn đủ lực lượng. Điều này buộc Đức phải lui binh khỏi Hy Lạp và Albania. Đến lúc này, phần lớn các lực lượng kháng chiến Albania đã nằm dưới trướng của Hoxha. Các lực lượng khác như SS Skanderbeg và Balli Kombëtar, vốn chống cộng, buộc phải thoái lui, dù họ vẫn tiếp tục kháng cự vì biết không có lựa chọn nào khác nếu như không muốn Albania rơi vào tay Hoxha. Trên thực tế, họ vẫn tiếp tục chiến đấu nhân danh phe Trục của Đức Quốc Xã cho đến khi hết Thế chiến II ở châu Âu.
Tuy nhiên, quân Đồng Minh do Anh và Hoa Kỳ chỉ huy lại chỉ dừng lại ở biên giới Hy Lạp và không có động thái gì thêm. Thật vậy, số phận của Albania đã được định đoạt khi quân kháng chiến của phe cộng sản tràn vào Tirana vào cuối năm 1944.
Vùng Baltic bị xé nát

Quân Đức ở Riga, năm 1941
Ba quốc gia Baltic thuộc Đông Âu là Lithuania, Latvia và Estonia, là những nước hiếm hoi trong Đế quốc Nga xưa cũ bảo toàn được độc lập sau khi Thế chiến I khép lại, cùng với Ba Lan và Phần Lan. Tuy nhiên, số phận của cả ba quốc gia này lại khá hẩm hiu do nằm giữa hai thế lực là Đức và Liên Xô. Thực tế, cả ba nước này đã tuyên bố trung lập khi Đức và Liên Xô xâm lược Ba Lan năm 1939, vì biết rất rõ họ không thể chiến thắng nổi hai thế lực này. Thậm chí, Lithuania còn cảm ơn Liên Xô vì đã trao trả Vilnius (vốn nằm dưới quyền kiểm soát của Ba Lan lúc đó) vào tay họ.
Nhưng Stalin là một kẻ gian trá điển hình và, viện dẫn đúng lý do thực hiện Hiệp ước Molotov-Ribbentrop, hắn xua quân xâm lược ba xứ quốc Baltic nhỏ con một năm sau đó. Đúng như dự đoán, cả ba nước Baltic này đều không thể sống sót và Liên Xô cưỡng bức cả ba quốc gia này sáp nhập trở lại Liên Xô, viện dẫn các nước này "ly khai trái phép" khỏi đất của Sa hoàng vào năm 1918.
Sự chiếm đóng của Hồng Quân mở màn cho chuỗi ngày địa ngục của ba nước Baltic nhỏ con. Bộ Dân ủy Nội vụ (NKVD) bắt bớ và đàn áp người dân Baltic khốc liệt vì tư tưởng chống cộng sản của ba dân tộc này; rất nhiều người dân Baltic đã bị bỏ tù hoặc bị chở ra vùng Siberia lạnh giá, nơi họ chịu cảnh lầm than kiếp nô lệ trong các trại lao động cưỡng bức (gulag) của Stalin.
Chính sự đàn áp dã man của Liên Xô mà khi quân Đức xâm lược Liên Xô năm 1941, người dân Baltic tỏ ra niềm nở đón quân Đức xâm lược. Thái độ của chính phủ Quốc Xã ở Berlin với các nhóm dân Baltic có thể coi là mềm mỏng hơn so với phần lớn các dân tộc Đông Âu khác, khi Latvia và Lithuania có chung nguồn gốc Aryan mà Hitler theo đuổi; Estonia thì lại là hơi ngoại lai nhưng vẫn còn có Phần Lan (vốn chia sẻ văn hóa và gốc gác với Estonia) là đồng minh của Đức nên họ cũng được tin dùng.
Thực tế, mọi thứ khá giống hệt với những gì đã xảy ra, chí ít là phần đầu của cuộc xâm lược Liên Xô của Đức. Nhiều người Baltic xem thời kỳ chiếm đóng của Liên Xô tồi tệ khủng khiếp, và họ đổ lỗi cho các nhóm dân Slav và Do Thái đứng sau việc này, mà đặc biệt nặng nề ở Latvia và Lithuania. Viktors Arājs, một thủ lĩnh cực hữu Latvia, cho ra đời Đội đặc nhiệm Arājs nhằm giết hại người Do Thái và Slav khác ở Latvia, gây ra cái chết của gần 100,000 người. Tại Lithuania, nơi dân chúng ở đây không thực sự được Hitler coi trọng quá mức dù không bị phân biệt như dân Ba Lan, Belarus và Nga, người Lithuania đã tham gia giết hại gần như 90% dân số Do Thái với mức độ cực kỳ dã man. Estonia, trong khi đó, có các lữ đoàn do SS thành lập và chiến đấu dưới trướng quân Đức, và cũng là nơi người Do Thái bị đàn áp tàn khốc, dù cho khi so với số lượng người Do Thái bị giết ở Latvia (70%) và Lithuania (90%), con số ở Estonia chỉ là 25%, song nó vẫn là quá tàn khốc với cộng đồng Do Thái nhỏ bé (4,500 người) của nước này. Cả ba nước này cũng bạc đãi người Roma và dân Đông Slav như Nga, Belarus và Ukraine vô cùng nặng nề, xem họ là tiện dân cần phải bị loại bỏ.
Nhưng khi chiến tranh đổi chiều thì người dân Baltic bắt đầu vô cùng sợ hãi. Họ đã phải chứng kiến cảnh Liên Xô chiếm đóng, còn lính Đức thì, dù bạo lực, cũng vẫn khoan dung hơn cho dân Baltic. Tuy nhiên, một số cộng đồng ở Baltic bắt đầu nhận ra quy mô thật của các hành động bạo lực của lính Đức, và hiểu rằng Hồng Quân sẽ tìm cách trả thù. Những người Estonia là những người đầu tiên phản ứng, khi họ nhận ra quân Đức cũng chỉ là những kẻ cướp nước, và Liên Xô sắp tái xâm lược để thay quân Đức cướp nước lần nữa. Để tránh thảm kịch lặp lại, họ cho tiến hành thành lập Quân đoàn Bộ binh 200, tập hợp bởi các binh lính Estonia không có thiện cảm với Đức Quốc Xã và Liên Xô. Để tri ân, các nhóm lính Estonia còn sáng tác bài hát "Soomepoiste laul" (Những Cậu bé Phần Lan) để thể hiện bàng hữu với Phần Lan.
Vào năm 1944, trước nguy cơ Đức thua trận hiển hiện và bóng ma áp bức từ Liên Xô lại tái hiện, dân chúng các nước Baltic đã quyết định tháo chạy lên các tàu chở người tị nạn của Đức và các nước trung lập khác như Thụy Điển để lánh nạn, hoặc tháo chạy đường bộ nhanh nhất có thể để tìm về phía tây, nơi quân Anh và Hoa Kỳ đang giao chiến ở Pháp, Hà Lan và Bỉ. Khi Chiến dịch Bagration nổ ra, Wehrmacht bị đẩy lui và mất quyền kiểm soát phần lớn Baltic, trừ Courland ở Latvia, nơi quân Đức bị cô lập, trước khi họ bị đánh bại năm 1945, đánh dấu sự tái chiếm đóng và sáp nhập của vùng Baltic vào lãnh thổ Liên Xô.
Romania và Bulgaria cô độc giữa bầy thú dữ

Lính Romania và Đức đứng cùng nhau, năm 1942
Romania và Bulgaria ở phía đông Balkan cũng đã trải qua đầy thăng trầm giữa Thế chiến I và II, nhưng năm 1939 dần trở thành biến động căng thẳng cho họ. Cả hai nước này đã bị rúng động với thông tin Ba Lan bị Đức và Liên Xô xâu xé, và nó khiến chính quyền Bucharest và Sofia lo sợ. Nhưng số phận của hai nước cũng không hoàn toàn tương đương nhau.
Romania trong vùng nguy hiểm

Lãnh thổ Romania trong Thế chiến II
Romania đặc biệt lo sợ hơn cả vì họ có chung biên giới với Liên Xô, còn chưa kể tranh chấp lãnh thổ với Hungary về vùng Transylvania, và vấn đề Dobruja với chính Bulgaria. Bản thân Romania trước đó đã ngỏ ý muốn giúp Ba Lan chống lại Wehrmacht và Hồng Quân, nhưng Ba Lan từ chối vì muốn Romania an toàn, nhưng nó cũng chả có giá trị gì khi Ba Lan bị phân chia. Trong khi đó, quân đội Romania lại không được huấn luyện căn cơ, và thiếu kỹ năng chiến thuật, nên Vua Charles II cố hy vọng giữ quan hệ tốt nhất có thể trong khi hy vọng Anh và Pháp sẽ cứu mình. Tuy nhiên, Pháp lại bị Đức hạ gục vào hè 1940, và Anh bị cô lập, khiến Romania không có ai bảo trợ.
Liên Xô, nhân cơ hội, ép Romania phải từ bỏ Bessarabia và Bắc Bukovina cho họ, và chính quyền Romania quá yếu để chống lại yêu sách chủ quyền vô lý của Stalin. Để làm khổ thêm Romania, các nước lân bang, nhận ra sự yếu đuối của nước này, liền xâu xé; Hungary sáp nhập một phần Transylvania, còn Bulgaria gặm nhấm vùng đất Dobruja. Chính quyền Romania bất ổn, còn dân chúng bất mãn, và Vua Charles II phải thoái vị để con trai Michael I quay trở lại quyền lực. Nhưng trong cảnh tuyệt vọng, Michael I buộc phải cầu cứu Đức khi Anh và Pháp đã bỏ rơi Romania; và để chiều lòng Hitler, Vua Michael I bổ nhiệm Ion Antonescu, một người cực hữu thân phát xít, làm Thủ tướng.
Việc này giúp Hitler mừng thầm khi Đức cần vựa dầu mỏ khổng lồ ở Romania mà chế độ Quốc Xã cần để phát động xâm lược Liên Xô bằng mọi giá, và quân Đức đưa quân vào cuối năm 1940 theo nghĩa "đảm bảo an ninh". Trên thực tế, Romania đã trở thành một xứ bảo hộ của Đức mà không nói ra. Tại đó, các chỉ huy Đức giúp tái tổ chức quân đội Romania, hòng chuẩn bị cho chiến tranh xâm lược Liên Xô. Người Romania cũng tỏ ra khá nổi bật về khâu tổ chức lại quân đội, bởi khi Thế chiến II nổ ra, thì Romania sẽ có đội quân lớn thứ tư của phe Trục, sau Đức, Nhật, và Ý.
Romania tuyên chiến chống Liên Xô ngay sau khi Barbarossa bắt đầu, và quân Romania đóng một vai trò đáng kể khi cùng với lính của các xứ chư hầu Hungary, Ý, Croatia và Slovakia, đánh bại các đội quân ô hợp và thiếu tổ chức của Hồng Quân, trước khi bị chặn đứng ở Moscow. Cho đến năm 1942, quân Romania đóng vai trò thứ yếu song quan trọng khi họ tấn công Caucasus để giúp Đức chiếm các vựa dầu ở vùng núi cao này.
Tuy nhiên, quân đội Romania sẽ có một trong những thất bại xấu hổ nhất quân sử nước này, và nó nằm ngay tại chính Stalingrad. Trong trận chiến này, quân Romania dưới trướng người Đức chiến đấu vô cùng can đảm và thậm chí họ còn được cho bảo vệ những khu vực trọng yếu. Nhưng căng thẳng với quân đội Hungary đồng nghĩa là những nỗ lực phối hợp của quân Trục liên tục gặp trở ngại. Hồng Quân đã lợi dụng kẽ hở này để tấn công và hủy diệt các đạo quân ở cánh phía bắc khi họ thi hành chiến dịch phản công lớn, và Romania buộc phải rút phần lớn quân đội khỏi Liên Xô sau khi Stalingrad kết thúc thất bại cho phe Trục.
Sau khi Ý đầu hàng cuối năm 1943, Romania trở thành đồng minh chủ lực của Đức, và còn từng chế tạo xe tăng và vũ khí. Sự quan trọng của Romania ngày càng lớn vì đây là vựa dầu mỏ của Đức. Tuy nhiên, Romania đã trở thành các mục tiêu ném bom liên tục của không quân Anh, Hoa Kỳ và Liên Xô, và quân đội Romania, vốn vẫn không được trang bị tốt so với bất kỳ các lực lượng nào khác, đã bị buộc phải dàn trải ngày càng nhiều quân để chống lại các đợt oanh tạc của phe Đồng Minh. Với tình trạng ngày càng khó khăn, người Romania bắt đầu nghi kỵ người Đức, mặc dù thiện cảm với Liên Xô là vô cùng ít ỏi do vụ mất Bessarabia và Bắc Bukovina.
Nhưng khi Đức bị phản công liên tiếp từ năm 1944, Vua Michael I của Romania hiểu rằng Đức Quốc Xã không thể thắng, bèn lén chuyển phe và đồng ý liên minh với phe Đồng Minh nhằm đảm bảo an ninh cho Romania, và khi Liên Xô tràn vào Romania, quân đội Romania bất ngờ đổi phe và tấn công quân Đức trên khắp lãnh thổ. Điều này đồng nghĩa Romania cuối cùng đã được giải phóng, và Romania thậm chí còn chiến đấu bên cạnh Liên Xô trong phần lớn phần cuối Thế chiến II, nhưng sự "giải phóng" mà Liên Xô đem lại sẽ dần trở thành một mầm mống hiểm họa hơn là tự do.
Bulgaria cố gắng tránh né định mệnh

Lính Bulgaria trong Thế chiến II
Với Bulgaria, sự sụp đổ gây sốc của Ba Lan đã khiến Bulgaria ngày càng tỏ ra bất mãn với cách Anh và Pháp ứng xử, và giống như Romania, sau khi Pháp sụp đổ, thì họ đã chọn đồng ý tham gia phe Trục. Sau khi tham gia phe Trục, Đức và Bulgaria đã giúp đỡ và tương trợ quân sự liên tục cho đến trước Barbarossa.
Tuy nhiên, dù quan hệ giữa Bulgaria và Đức cũng dần nồng ấm, thì khác so với Romania do bị Liên Xô trực tiếp đe dọa, Bulgaria không có tranh chấp lãnh thổ nào với Moscow, nên Bulgaria gần như nằm ngoài tầm ngắm của chế độ Stalin. Thêm nữa, Bulgaria có tranh chấp chính với Romania, Nam Tư và Hy Lạp, nên sau khi các nước này bị Đức chiếm hoặc chọn sang phe Đức, và hiềm khích duy nhất với Liên Xô là các lực lượng cộng sản có âm mưu lật đổ chính phủ Sa hoàng Bulgaria, thì Bulgaria gần như rất khó bị Liên Xô tấn công, chỉ ít là nửa đầu của nó. Vì lẽ đó, Bulgaria được Đức đánh cược để mở rộng ảnh hưởng ở vùng Balkan trước, nên Đức khoan dung để cho Bulgaria không phải ngốn quân sang Liên Xô làm gì. Vì thế, trong khi Bulgaria tuyên chiến chống Anh và Hoa Kỳ, thì họ lại không làm vậy với Liên Xô.
Sự chiếm đóng của Bulgaria với các phần đất của Romania, Nam Tư và Hy Lạp đã khiến người dân tộc thiểu số ở đây bị cưỡng ép đồng hóa vào xã hội Bulgaria, và các chính sách của Sofia đặc biệt hà khắc ở Macedonia và lãnh thổ Hy Lạp bị chiếm đóng vì Bulgaria coi đây là các lãnh thổ chính thống của nước Bulgaria. Các phong trào kháng chiến của người Hy Lạp và Nam Tư cũng là dữ dội nhất, khiến Bulgaria phải tìm cách đánh dẹp. Tuy nhiên, Bulgaria cũng cố tỏ ra khoan hồng nhất có thể, và tránh tìm cách đàn áp quá đà, đặc biệt về chuyện gửi người Do Thái vào các trại tập trung của Đức.
Tuy nhiên, tin dữ ập đến ở phía đông khi Đức Quốc Xã đại bại ở Stalingrad đầu năm 1943. Kinh hoàng, Hitler bắt đầu gây sức ép ép buộc Bulgaria phải tuyên chiến chống Liên Xô, và thậm chí còn trực tiếp điều khiến một số đội quân Bulgaria ra mặt trận Balkan. Tuy nhiên, Bulgaria vẫn không chịu tuyên chiến chống Liên Xô, gây ức chế cho Berlin. Đến tháng 8 cùng năm, Sa hoàng Boris III bất ngờ đột tử mà không rõ lý do, và Simeon II phải lên ngôi vua bất đắc dĩ. Nhiều lãnh đạo Bulgaria bắt đầu nghi ngờ Đức tìm cách ép Bulgaria tham chiến, nên họ quyết định lén tìm cách rút lui khỏi phe Trục và chờ đợi quân đội Đồng Minh tham chiến.
Thế nhưng, Liên Xô lại là kẻ đến trước. Do thỏa thuận phân chia ảnh hưởng của Anh và Liên Xô, Bulgaria bị lôi vào hệ của Liên Xô. Và chuyện gì xảy ra sau đó thì giống hệt Romania, khi Liên Xô "giải phóng" bằng việc cài cắm một chế độ thân Liên Xô vào trong bộ máy chính phủ Bulgaria, mở đường cho một thời kỳ đàn áp bạo lực sắp tới.
Phần 3: Link
Phần 5:

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất