Khi bạn nói về châu Âu, bạn đã từng hỏi rằng, khái niệm châu Âu của bạn là như thế nào? Với những người với học vấn căn bản, thì hình ảnh của Hy Lạp, Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Đức, Ý, Nga, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Bỉ hay Thụy Sĩ sẽ nổi lên trước tiên. Với bạn nào căn cơ hơn và sâu rộng hơn, thì bạn có thể kể thêm các cái tên như Séc, Thụy Điển, Đan Mạch, Hungary, Ba Lan, Ukraine, Serbia, Croatia, Thổ Nhĩ Kỳ, Gruzia, Phần Lan, Na Uy, v.v. Và chắc các bạn sẽ thú nhận họ học được từ địa lý, sách vở, báo đài, và cả thể thao. Nó không sai một tý nào.
Nhưng khi các bạn được hỏi sâu hơn, chẳng hạn như về việc sử thi, chính trị và thời sự châu Âu, thì điều đầu tiên các bạn biết được là gì? Có lẽ sẽ là các câu chuyện về văn minh Hy Lạp cổ đại, đế chế La Mã, và các cuộc chinh phạt hàng hải của đế quốc Tây Âu như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Đức, Ý, hay nổi tiếng nhất là Pháp và Anh. Và đến ngay cả chính trị ngày nay, các nước Tây hoặc Tây Nam Âu vẫn thống trị mặt báo và phát sóng. Vì thế, khi mà người ta thường thấy các vấn đề thời sự, thì cái suy nghĩ thoáng qua đầu tiên là các nước Tây Âu lại làm gì trước tiên. Trên thực tế, chính các nước ở phía tây Âu lục mới là nguồn gốc cho khái niệm "phương Tây" của chúng ta, nhất là khi người Anh và Pháp đô hộ nhiều ngóc ngách trên thế giới, nên cái khái niệm phương Tây mà chúng ta có ngày nay thường được dùng để bao hàm cả châu Âu như bây giờ. Cũng có thể đúng đó nếu bạn có kiến thức căn bản, mặc dù nó rất méo mó và mơ hồ.
Nhưng nếu như tôi bảo, vẫn có một châu Âu khác, hay đơn giản chỉ là "the other Europe", thì sao? Một châu Âu mà nó ít khi được hiểu, một châu Âu mà có thể làm khái niệm "phương Tây" của chúng ta phải suy nghĩ lại? Một châu Âu mà nó không giống như Anh, Pháp, hay các nước Tây Âu khác? Một châu Âu mà nó giải thích cho các hành vi thực sự của các nước này với người Nga, đặc biệt kể từ cuộc xâm lược Ukraine mà Putin gây ra từ năm 2022, chứ không phải do bị Anh hay Pháp gây ảnh hưởng?
Tất cả chắc chắn sẽ bị choáng váng và phải hỏi "đã có một châu Âu, sao lại có một châu Âu khác?" Nhưng đúng vậy, đó là một châu Âu hoàn toàn khác, không giống như những gì chúng ta đã học trên sách vở. Đó chính là khu vực phía Đông của châu Âu, gọi chung chung là Đông Âu, hoặc Trung và Đông Âu, một khu vực bị ngó lơ và bị bỏ qua, nhưng cực kỳ quan trọng, để hiểu tại sao các nước này lại không có thiện cảm với Nga.

Đông Âu là vùng gì?

Một bản đồ về Đông Âu
Một bản đồ về Đông Âu
Đông Âu là một khu vực mà đến nay vẫn gây tranh cãi về địa lý, do nó không có một đường biên giới cố định. Tuy nhiên, các quốc gia lõi bao gồm Nga, Ukraine, Belarus, Moldova, Lithuania, Latvia và Estonia. Tuy nhiên, một số nước như Ba Lan, Séc, Slovakia và Hungary cũng được coi là một phần của vùng này.
Nếu mở rộng ra, vẫn còn nhiều quốc gia khác thi thoảng được coi là một phần của Đông Âu, chẳng hạn như là Gruzia, Armenia và Azerbaijan ở vùng Caucasus, hay là các xứ Balkan như Romania, Bulgaria, Serbia, Croatia và Slovenia. Trong vài trường hợp, Đức, Phần Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Áo và Hy Lạp cũng được tính vào Đông Âu, dù nó tùy thuộc theo hoàn cảnh và thường không được coi là một phần của nó.
Để thuận tiện cho bài đọc, tôi sẽ gộp toàn bộ các nước Caucasus, Baltic, Đông và Trung Âu, và các nước Balkan vào thành một khối Đông Âu chung, và thi thoảng xen lẫn Hy Lạp, Đức, Thổ Nhĩ Kỳ và Áo, cho dễ hình dung đại cục Đông Âu.

Lịch sử thời kỳ đầu của Đông Âu

Sa hoàng Simeon Đại đế của Đệ nhất Đế quốc Bulgaria
Sa hoàng Simeon Đại đế của Đệ nhất Đế quốc Bulgaria
Do Đông Âu có khá nhiều quốc gia, nên tôi sẽ tóm tắt ngắn gọn nhất có thể để có thể hình dung lịch sử phức tạp của vùng đất mà vẫn bị coi nhẹ của châu Âu này, với phần 1 bắt đầu từ thời cổ xưa cho đến hết thế kỷ 19.
Đông Âu có một lịch sử cực kỳ bi tráng, với nhóm dân đa số ở đây là người Slav, dân tộc chủ đạo ở nhiều quốc gia như Nga, Ukraine, Ba Lan, Croatia và Serbia. Tuy nhiên, các nhóm dân nói ngôn ngữ Romance/Latin như người Romania, người Ural như Estonia và Hungary, và các ngữ hệ Hy Lạp, Thổ, Caucasus và Baltic, cũng cùng tồn tại. Nó tạo ra một hệ văn hóa và nhân khẩu sinh thái cực kỳ đa dạng, song chính sự đa dạng đấy đã đặt nền móng cho những bất ổn sau này.
Trong lịch sử, các nhóm dân cổ đại như người Thrace, Dacia, Hy Lạp, Illyria và thậm chí là người Đức, Celt, Viking, Armenia và La Mã cũng đến định cư tại đây, và có những nhà nước của người La Mã, Hy Lạp và cả của người di dân Đức ở đây. Tuy nhiên, các cuộc Tây chinh của các dân tộc Slav, Ural và Thổ dần thay đổi cơ cấu nhân khẩu học ở đây, và các cuộc hôn nhân cũng dẫn đến sự ra đời của một loạt các nhóm dân tộc mới lai tạp theo chủng tộc của các bộ lạc xưa để hình thành lên các nhóm người như người Séc, Ukraine, Armenia, Bulgaria, Nga, Serbia và Ba Lan như ngày nay.
Trong những khoảng thời gian đó, các nhóm dân này đã hình thành các nhà nước cổ như Đế chế Bulgaria, Vương quốc Hungary, Vương quốc Ba Lan, Vương quốc Gruzia, hay Rus' Kiev. Các nhà nước này thường nhỏ lẻ và thường duy trì quan hệ thông qua hôn nhân, giao thương kinh tế, hay là các cuộc chinh phạt nhân danh hoàng thất hơn là xung đột chính trị, mang nặng tính quân chủ không thống nhất. Vì nhỏ lẻ nữa, các nhà nước này cũng ít khi bị coi là các mối hiểm họa với nhau.
Nhưng mọi thứ thay đổi khi người Mông Cổ tràn vào châu Âu từ thế kỷ 13. Dưới vó ngựa của Thành Cát Tư Hãn và các hậu duệ của ngài, quân đội Mông Cổ đã hủy diệt nhà nước Rus' Kiev, tàn phá vùng đồng bằng Đông Âu, trong khi cũng hung hãn cướp phá và hủy diệt các nhà nước của người Gruzia và Armenia, cũng như xâm lược đất nước của người Circassia và Durdzuk, dân tộc tổ tiên của người Chechen ngày nay. Quân Mông Cổ cũng dày xéo lên đất Balkan của người Serbia và Bulgaria, và cả đế chế Byzantine và Latin rộng lớn. Các cuộc chinh phạt tàn khốc này ghê gớm tới mức mà người dân Tây Âu, vốn ít bị ảnh hưởng, còn phải kinh hoàng. Cũng chính những binh lính Mông Cổ sau này gieo mềm cho bệnh dịch hạch chết chóc, thêm một lần nữa tàn phá Đông Âu sau khi Đế quốc Mông Cổ đã lụi tàn một thế kỷ sau.
Tất cả những lần đó đã vĩnh viễn thay đổi lịch sử Đông Âu, và khiến cấu trúc chính trị và xã hội ở đây bị đảo lộn lớn kể từ khoảnh khắc người Mông Cổ "gõ cửa đến nhà".

Khi người Ba Lan và Lithuania giữ thế thượng phong

Kỵ binh Mọc cánh của Ba Lan trong thế kỷ 17
Kỵ binh Mọc cánh của Ba Lan trong thế kỷ 17
Sau thời kỳ Mông Cổ dày xéo Đông Âu, thì các đế chế của người Serbia, Bulgaria, Byzantine và Armenia dần suy tàn và sẽ không thể hồi phục lại được sức mạnh năm xưa, mở đường cho quân Thổ của đế chế Ottoman (cũng được gọi là Thổ Nhĩ Kỳ theo một số tài liệu) tràn vào sau này.
Cùng lúc đó, một nhà nước mới nổi lên ở vùng đồng bằng Đông Âu có tên là Công quốc Lithuania. Công quốc này dần trở thành nhà nước đa sắc tộc và từng là đất nước lớn nhất châu Âu thời kỳ Trung Cổ. Thành lập bởi Đại Công tước Mindaugas, đất nước của ông phát triển từ từ nhưng lớn mạnh theo thời gian, đặc biệt khi bước vào thời kỳ trị vì của Vytautas Đại đế. Tại đó, quân đội Lithuania, liên minh với những người Ba Lan đồng đạo Công giáo La Mã, đã đánh bại quân đội của những người Đức theo dòng Hiệp sĩ Teuton tại trận Grunwald năm 1410, qua đó làm suy yếu dòng Hiệp sĩ Teuton và khiến người Đức, những kẻ xâm lăng từ phía Tây, lần đầu tiên bị quy phục bởi một dân tộc Đông Âu. Sau này, liên minh Lublin năm 1569 đặt nền móng cho sự ra đời của nhà nước Thịnh Vượng Chung Ba Lan-Lithuania, nhà nước lớn nhất châu Âu trong một khoảng thời gian, mà Ba Lan là bên chủ đạo.
Cùng thời điểm đó, người Thổ theo Hồi giáo cũng tràn vào. Sau khi chinh phạt các nhà nước của người Armenia và Gruzia, người Thổ đè bẹp Đế chế Byzantine tại Constantinople vào năm 1453. Điều này đã giải phóng quân Thổ để họ tràn vào vùng Balkan, đè bẹp các phong trào nổi dậy của người Bulgaria, Serbia, Romania và Albania. Người Thổ thi hành một chính sách phân biệt giữa người Hồi giáo và người không theo đạo Hồi, với hy vọng mở rộng ảnh hưởng của Hồi giáo ra toàn cõi châu Âu, mà Đông Âu là mục tiêu đầu tiên. Hỗ trợ bởi những người Crimea Tatar đồng hương, người Thổ tiến hành các cuộc chinh phạt liên miên vào đất của người Hungary và Croatia. Để chống lại, các liên minh Cơ Đốc, hậu thuẫn bởi Vatican tại Rome, đã tham gia vào các series chiến tranh chống người Thổ. Ba Lan không phải là ngoại lệ khi đức tin Công giáo đã kéo họ vào cuộc chiến vì sự sống còn của đức tin Cơ Đốc.
Trong khi đó, ở phía tận cùng của khu vực Đông Âu, sau khi gạt bỏ ách thống trị và đàn áp của người Mông Cổ và Hãn quốc Kim Trướng, những người Đông Slav, hậu duệ của Rus' Kiev, đã bị phân tán thành nhiều nhóm nhỏ như người Ruthenia và người Nga. Phần lớn thần phục nhà nước Lithuania và Ba Lan sau này, nhưng một bộ phận khác quay ra thành lập các nhà nước như Đại Công quốc Moscow và Cộng hòa Novgorod. Sự chia rẽ giữa các nhà nước Đông Slav đã khiến các xứ quốc này không có liên minh hay ý thức hệ rõ ràng. Các xứ này thi thoảng giao thương, hoặc lại đánh nhau, hoặc đôi khi lại liên minh với nhau chống lại ngoại bang, nhưng sự thiếu thống nhất vẫn ngăn trở sự hình thành của một nước Nga tập trung cho đến khi Ivan III của Moscow bắt đầu tiến hành các cuộc chinh phạt nhằm thống nhất các xứ quốc của người Nga, cũng như tấn công các nhà nước hậu duệ của Kim Trướng như Kazan và Astrakhan. Ông cũng bắt đầu nhòm ngó đến vùng núi Caucasus, với hy vọng sẽ mở rộng quyền lực Nga tới đây.
Đến thế kỷ 16 ở Nga, cháu của Ivan III là Ivan IV lên kế vị và được nhớ tới là Ivan Bạo chúa vì tính khí thất thường. Dù cho rất có năng lực trị quốc và đã giúp mở rộng Moscow đến cực thịnh, cũng như biến đổi Công quốc Moscow thành Sa quốc Nga và bành trướng vào Siberia, nhưng sự bất ổn tâm lý khiến ông mắc sai lầm khi quyết định lao thẳng vào cuộc chiến tranh Livonia chống lại một Ba Lan-Lithuania đang hưng thịch, khiến Nga phải đối mặt với một series các liên minh do Ba Lan-Lithuania kêu gọi từ Thụy Điển đến Phổ. Cuộc chiến tranh của Ivan IV thất bại thảm hại, mở rộng ảnh hưởng của Ba Lan ra sát Sa quốc Nga. Ngoài ra, Ivan IV cũng cố gắng tham chiến chống đế quốc Ottoman nhưng cũng không thành công. Các cuộc chiến thất bại liên tiếp đã làm kiệt quệ nền kinh tế Nga, và càng làm bất ổn thêm nhân cách bạo lực của Ivan IV, và sau này, khi ông qua đời, nó đã châm ngòi cho những bất ổn trong Sa quốc sau này khi không có nổi một hậu duệ nối dõi ra hồn, dẫn đến thời kỳ gọi là Đại Loạn Nga.
Trong khi đó, Ba Lan, sau chiến thắng trước người Nga, ngày càng thịnh thế. Đất nước này bước thời kỳ hoàng kim về văn hóa, khoa học và nghệ thuật. Cùng lúc đó, quân đội Thịnh Vượng chung đã được xếp vào hàng ngũ các cường quốc quân sự châu Âu bấy giờ, thậm chí còn tham gia giao chiến chống lại cả người Thụy Điển và người Thổ cùng thời điểm giao tranh với người Nga. Khi đến thế kỷ 17, với Thụy Điển chật vật mở rộng ảnh hưởng và Nga đã suy yếu, Ba Lan quyết định viễn chinh theo lời kêu gọi nhân danh phục hưng vương triều Rurik của một số thành viên gọi là các Dmitry Giả mạo, những kẻ mạo danh mình là con của Ivan IV đã thoát chết kỳ diệu (Dmitry thật đã qua đời năm 1591) vào năm 1610. Người Ba Lan sẽ còn ở lại trong vòng hai năm trước khi bị đánh bại năm 1612, và đó là lần cuối cùng một đội quân Ba Lan có thể đặt chân lên đất Nga.

Sự nổi lên của Nga

Sa hoàng Peter I của Nga
Sa hoàng Peter I của Nga
Trong khi Ba Lan đang hưng thịnh, thì thời kỳ Đại Loạn tại Nga khép lại vào năm 1618 khi một tân Sa hoàng, bầu lên từ Zemsky Sobor (Nghị viện Nga) năm năm trước là Michael Romanov lên nắm quyền. Lúc này, nước Nga vừa hết đại nạn, lại khá hỗn loạn, nên họ cần một sự thống nhất quốc gia, và nhà Romanov hiểu điều đó. Sa hoàng Michael quyết định tái khởi động cuộc xâm lược Siberia và gây ra cuộc chiến tranh Smolensk (1632-34) nhằm giành lại phần đất của Sa quốc Nga đã mất. Nhưng trước Ba Lan đang quá mạnh lúc đó, Nga thất bại, và phải cắt đất thêm cho kẻ thù. Tuy vậy, Sa hoàng Michael đã thành công trong việc giữ ngôi báu khi Vua Ba Lan quyết định từ bỏ ngai vàng của Sa quốc Nga.
Thế nhưng, trong nhung lụa, Ba Lan lại tỏ ra không chủ động khi những người Cossack của thảo nguyên Ukraine bắt đầu rục rịch nổi dậy, và tất cả bắt đầu chỉ vì một vụ việc rất ngớ ngẩn. Hoàng tử Aleksander Koniecpolski, người thừa kế đất đai Cossack từ người cha Stanisław Koniecpolski (một chỉ huy quân đội Ba Lan nổi tiếng), có hục hặc với Bohdan Khmelnytsky, một thuộc hạ của chính Stanisław. Khi Bohdan khiếu nại với chính quyền địa phương thì họ lại chẳng làm gì cả. Đó là vì lúc đó, giới thượng lưu Ba Lan, gọi là các szlachta, đang tìm cách cưỡng ép người Ruthenia theo Chính Thống giáo cải sang Công giáo La Mã và đồng hóa họ vào xã hội Ba Lan.
Chính vì sự áp bức này mà Bohdan Khmelnytsky bắt đầu nghi ngờ giới cầm quyền Ba Lan không tôn trọng văn hóa Cossack Chính Thống giáo, nên ông đã ngầm tìm kiếm liên minh quân sự với Hãn quốc Crimea của người Tatar Crimea và người Nga ở phía đông, đặc biệt là người Nga vì, với người Cossack bấy giờ, người Nga là anh em cùng đức tin và cảnh ngộ. Sau khi được ngầm đồng thuận, những người Cossack hợp nhất dưới trướng Khmelnytsky và nổi dậy chống Ba Lan năm 1648. Cuộc nổi dậy đã gây sốc Ba Lan-Lithuania, và khởi phát một thời kỳ rối loạn của quốc gia này.
Trong khi Ba Lan-Lithuania đang phải chật vật ứng phó với cuộc phản loạn của Khmelnytsky, Nga và Thụy Điển nhận thấy thời cơ và bắt đầu can thiệp. Nga phát động xâm lược năm 1654, và Thụy Điển nối gót một năm sau đó. Hai cuộc xâm lược đầy bất ngờ khiến Ba Lan gần như kiệt quệ khi đất nước này bị tàn phá nặng nề bởi các kẻ xâm lược từ phía bắc và phía đông. Chính vì điều này mà dù sau đó, người Nga và Thụy Điển đều bị đẩy lui, nhưng Thịnh Vượng chung đã hoàn toàn suy yếu sau những sự việc trên. Tất nhiên, Ba Lan-Lithuania sẽ không hoàn toàn suy vong nhanh như vậy, khi họ vẫn còn đủ lực lượng để làm nên cuộc viễn chinh vĩ đại cuối cùng, khi đội Kỵ binh Mọc cánh của Ba Lan tiến đến đánh bại quân Thổ đang vây hãm Viên năm 1683, chấm dứt tham vọng Âu chinh của đế quốc Ottoman và giải cứu liên quân Cơ Đốc đang cố thủ tại thủ đô của Áo.
Thời kỳ cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18 đánh dấu sự nổi lên của Nga, và nó đánh dấu bằng sự đăng cơ của Sa hoàng Peter I. Peter I đã quyết định gây chiến với Thụy Điển vào năm 1700 hòng tranh giành ảnh hưởng với đế chế Bắc Âu. Sau chiến thắng trước người Thụy Điển tại Poltava năm 1709, ảnh hưởng và quyền lực Nga dần mở rộng và không ai còn bàn cãi về sức mạnh của Nga sau năm 1721, khi Sa quốc Nga chính thức đổi tên thành Đế quốc Nga. Từ vị thế mới, Nga trực tiếp tham gia vào chính trị Âu lục nhiều hơn, và thậm chí còn tham chiến trong Chiến tranh Bảy Năm, cuộc chiến mà thi thoảng còn được coi là Thế chiến 0 vì tính chất toàn cầu của nó, để mở rộng quyền lực. Nhưng thứ mà Nga thèm khát nhất lại chính là sự mở rộng quyền lực ở Đông Âu.
May mắn cho Nga, việc Ba Lan-Lithuania suy yếu đã cho phép Nga bắt đầu nhúng tay sâu hơn vào can thiệp chính trị ở Ba Lan trong quá trình Tây tiến của Nga. Chính trường Ba Lan cũng bị chao đảo bởi thể chế nghị viện (Sejm) sử dụng quyền phủ quyết "liberum veto", cho phép phủ quyết mọi đạo luật hay đề xuất nào từ chính phủ, điều mà Nga đã lợi dụng triệt để. Trong khi đó, nội bộ hệ thống quý tộc Ba Lan szlachta ngày càng bị chia rẽ và một số chọn thần phục Sa hoàng Nga. Phổ và Áo sau đó cũng lao vào tranh giành ảnh hưởng và xâu xé một nước Ba Lan đang ngày càng suy tàn, khi đất đai liên tục bị nhượng cho cả ba quốc gia.
Người Ba Lan không cam chịu ngồi yên dù sao đi chăng nữa, họ đã là thần dân của một Thịnh Vượng chung độc lập, nên họ đã cố tổ chức các cuộc kháng cự. Đỉnh cao cuộc việc kháng cự này, dẫu vậy, lại chính là bản Hiến pháp 3/7/1791, bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử châu Âu và là bản Hiến pháp thứ hai trên thế giới, sau chính bản Hiến pháp Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sự ra đời của bản Hiến pháp này lại chính là bản án tử dành cho Thịnh Vượng chung Ba Lan-Lithuania, và đất nước bị xóa sổ ba năm sau đó giữa Nga, Phổ và Áo. Chính sự xóa sổ của Ba Lan khiến Nga trở thành cường quốc lớn nhất và mạnh nhất khu vực Đông Âu, một vị trí mà Nga vẫn sẽ còn nắm giữ tới nay. Lợi dụng vị thế mới, Nga gia tăng bành trướng, và bắt đầu bằng việc chiếm giữ bán đảo Crimea, trước khi xâm lược vùng núi Caucasus nhằm chiếm giữ đất của dân bản địa như người Ingush, Circassia, Chechen và Dagestan.
Với người Ba Lan, số phận mới với tư cách là những người vong quốc không khiến người Ba Lan nản lòng. Thay vào đó, người Ba Lan đã nhiều lần dấy binh nổi dậy chống lại ách đô hộ của người Nga, Phổ và Áo. Trong cuộc chiến tranh Napoleon, người Ba Lan đóng vai trò mạnh mẽ trong các sư đoàn bộ binh của Đế chế Pháp chinh phạt khắp châu Âu trước khi thất bại tại Nga năm 1812. Người Ba Lan cũng cùng lúc nổi dậy chống lại ách áp bức của nước Phổ và sau này là Đức, và thậm chí cũng tham gia vào cuộc cách mạng Hungary năm 1848 nhằm chống lại quân đội Áo và Nga, trước khi bị đàn áp dã man bởi cả hai đế chế này.

Vùng Balkan dấy loạn

Trận đánh Đèo Shipka ở Bulgaria năm 1877
Trận đánh Đèo Shipka ở Bulgaria năm 1877
Tại vùng núi Balkan, đế quốc Áo và Thổ đã cai trị, mà người Thổ là kẻ mạnh hơn. Nhưng đến thế kỷ 19, nước Thổ Ottoman đã rơi vào suy thoái trầm trọng. Một phần cho việc này là vì đế chế Ottoman là một nhà nước Hồi giáo, trong khi phần đông dân bản địa Balkan như người Hy Lạp, Serbia, Romania và Bulgaria, là dân gốc Chính Thống giáo. Năm 1821, người Hy Lạp khởi binh chống ách đô hộ của người Thổ và sau đó thì thành công, trở thành nước Balkan đầu tiên giành được độc lập. Thành công của Cách mạng Hy Lạp năm 1830 đã buộc chính quyền Ottoman phải thay đổi và tiến hành cải cách Tanzimat với hy vọng níu giữ đế chế. Tuy nhiên, Tanzimat của người Thổ lại không được triệt để, và khiến xung đột sắc tộc chưa bao giờ thực sự dừng lại.
Cùng lúc đó, đế chế Áo cũng đã bị lung lay dữ dội sau cuộc Cách mạng Hungary năm 1848, nhưng điều mà Áo không chuẩn bị được lại là sự trỗi dậy của Phổ. Người Phổ tham vọng lập đế quốc của riêng mình và, dưới trướng Otto von Bismarck, nước Phổ tiến hành chiến tranh chống lại Đan Mạch, và sau đó là chính Áo, trước khi giải quyết nốt với Pháp về sau. Phổ, được cơ giới hóa và hiện đại hóa nhanh hơn hẳn so với Áo, đã đè bẹp Áo trong trận Königgrätz năm 1866. Thất bại nhục nhã này khiến Áo suy yếu và, để cứu lấy đế chế, họ quyết định thống nhất với Hoàng gia Hungary để lập đế chế kép Áo-Hung mà Áo là bên mạnh hơn, và tham gia vào quá trình công nghiệp hóa hòng bắt kịp với phần còn lại của Âu lục. Tuy nhiên, bất chấp tăng trưởng cao, nền kinh tế Áo được phân bổ không đều, với dân gốc Đức và Hungary được hưởng lợi trong khi dân Slav như người Croatia, Serbia và Slovak vẫn sống dựa vào nghề nông hoặc thương nhiệp nhỏ.
Đến năm 1877, lợi dụng việc người Bulgaria, Serbia, Montenegro và Romania dấy loạn, gây ra cuộc Khủng hoảng phương Đông, Nga viện cớ bảo vệ dân Chính Thống giáo, lao vào chiến tranh chống Thổ. Kết quả là đế quốc Ottoman thua trận và phải từ bỏ phần lớn vùng Balkan, trừ các vùng trọng yếu khác, theo Hiệp ước San Stefano năm 1878 thiên về hướng có lợi cho Bulgaria. Thế nhưng, khi Nga nhận ra Bulgaria rộng lớn có thể chống lại ảnh hưởng của họ, và lo ngại việc Anh và Áo không ưng thuận, liền gây sức ép buộc Bulgaria phải ký vào Hiệp ước Berlin cùng năm căn cứ lại bản đồ lãnh thổ, khiến Bulgaria nhận ít hơn so với phần lãnh thổ ban đầu; trong khi lời hứa độc lập của Bulgaria bị dìm xuống nước khi Bulgaria chỉ được hưởng quy chế nhà nước tự trị Thân Vương quốc (Principality) trong đế chế Ottoman, khác xa so với Hiệp ước San Stefano ban đầu.
Chính vì điều này mà mối quan hệ giữa Nga với các nhà nước Balkan mới không thực sự tốt đẹp. Ở Bulgaria, sau vụ scandal ở Berlin, nhiều người Bulgaria đặt dấu hỏi về thái độ của Nga, nhất là khi Nga muốn kiểm soát nước này thông qua một chính phủ thân Nga, điều mà vị Hoàng tử Alexander xứ Battenberg và sau này là Ferdinand của nhà Saxe-Coburg đều không chấp nhận; ở Romania, Nga ép nước này phải từ bỏ vùng Bessarabia vào tay của đế chế, khiến người Romania bực tức. Chỉ có Serbia, dù đang thân Áo, là lại có quan hệ gần gũi với Nga vì Serbia xem Nga là người bảo trợ đức tin và văn hóa mạnh mẽ, và vì cả hai dòng họ cai trị Serbia, Nhà Obrenović và Nhà Karađorđević, đều là nòi giống Serbia gốc chứ không phải là các gia tộc gốc Đức như ở các nước Balkan khác.
Trong khi Nga đang phải vật lộn để tìm tiếng nói chung với các tân nhà nước ở Balkan, thì Áo lại nhảy vào cuộc khủng hoảng ở Balkan bằng việc sáp nhập Bosnia từ đế chế Ottoman, mặc cho những phản đối từ Istanbul. Người Bosnia, phần lớn cũng là dân Slav nhưng cải sang Hồi giáo từ thời Ottoman, ban đầu miễn cưỡng, nhưng chính sách cai trị đa nguyên của nhà Habsburg đã khéo léo cân bằng được lợi ích, và người Áo thành công trong việc thu phục dân Bosnia theo họ.
Người Thổ không phải người duy nhất ức chế về vụ sáp nhập Bosnia. Giống Thổ Nhĩ Kỳ, Serbia lại chưa bao giờ ưng thuận với việc Áo sáp nhập Bosnia. Nhà Obrenović, triều đại Hoàng gia Serbia đầu tiên sau độc lập, ban đầu cân bằng lợi ích để chiều lòng Viên trong khi giữ quan hệ gần gũi với Nga. Cùng lúc đó, Serbia bắt đầu vướng vào tranh chấp với Bulgaria về vấn đề chủ quyền của vùng Đông Rumelia và Macedonia, nên Serbia chuẩn bị cho chiến tranh. Được Áo chấp thuận và Nga làm ngơ có chủ ý, Serbia quyết định bất ngờ tấn công Bulgaria vào tháng 11 năm 1885. Tuy nhiên, quân đội Serbia tỏ ra thiếu tổ chức và, do quá chủ quan, đã bị đánh bại và phải chấp nhận các điều khoản mà Bulgaria yêu cầu, khiến Áo và Nga choáng váng. Vụ việc này là vết nứt lớn trong quan hệ Bulgaria-Serbia, hai quốc gia đồng văn về lịch sử Chính Thống giáo và nòi giống Slav, khiến hai nước trở nên thù địch sau này.
Chính những bất ổn này mà thậm chí Otto von Bismarck, Thủ tướng của Phổ và sau này là Đế chế Đức thống nhất, còn phải than thở đến mức mà, ngay từ năm 1888, ông đã cảnh báo rằng "một cuộc đại chiến Âu lục sẽ nổ ra chỉ vì một sự việc ngớ ngẩn ở Balkan," một lời tiên tri mà sau này biến thành sự thật khi Thế chiến I nổ ra.

Vấn đề Armenia

Thảm sát người Armenia ở Erzurum trong những năm 90 của thế kỷ 19
Thảm sát người Armenia ở Erzurum trong những năm 90 của thế kỷ 19
Cùng lúc đó, một vấn đề nhạy cảm đang diễn ra ở vùng Caucasus và Tiểu Á, đó là người Armenia, dân tộc Cơ Đốc cổ nhất thế giới. Cộng đồng này đã sống dưới ách cai trị của người Thổ trong vòng 400 năm kể từ khi đế quốc Ottoman mở rộng vào thế kỷ 15, nhưng cộng đồng này không bị xem là một mối hiểm họa ngay từ đầu. Trên thực tế, từ giữa thế kỷ 19, người Armenia còn được coi là các nhà thương buôn và doanh nhân kiểu mẫu ở đế chế Hồi giáo này.
Nhưng kể từ khi Nga ngày càng mở rộng vào Caucasus, và việc Sa hoàng coi Nga là "La Mã thứ ba", người Armenia bắt đầu rục rịch hành động nhằm đòi thêm quyền lợi. Trong khi đó, các tri thức Thổ Nhĩ Kỳ du học ở châu Âu cũng bắt đầu tiếp thu các tư tưởng dân tộc và quốc gia mới, và họ bắt đầu nghi ngờ các nhóm dân không thuộc hệ văn hóa Thổ là mối hiểm họa quốc gia, dẫn đến lo ngại bắt đầu chĩa vào người Armenia và các nhóm thiểu số Do Thái, Ả Rập, Kurd, Alevi, Assyria và Hy Lạp.
Cuộc chiến năm 1877-78 giữa Nga và Thổ Nhĩ Kỳ đã làm tình trạng trở nên nghiêm trọng, và sau khi Nga thắng trận, tư tưởng bài Nga tràn ngập đế chế Thổ. Đi kèm với đó là sự nghi ngờ về tâm lý bất trung với đế chế của các nhóm thiểu số này từ những người theo chủ nghĩa dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ. Quốc vương Abdulhamid II, vị Quốc vương chuyên chế cuối cùng của Đế quốc Ottoman, một mặt vừa cân bằng lợi ích, nhưng một mặt cũng dùng những tư tưởng dân tộc này để chĩa mũi giày vào cộng đồng dân thiểu số, nhất là với người Armenia, Hy Lạp, Ả Rập và Assyria. Để làm được việc này, chính phủ Istanbul liền viện cớ tăng thuế má và đòi các nhóm dân không theo Hồi giáo phải nộp nhiều hơn khoản thuế jizya của họ. Abdulhamid II cũng cho phép các lực lượng du mục người Kurd và Thổ được tự do lộng hành tại vùng Anatolia cướp bóc hàng hóa của người Armenia, và đôi khi lại được trang bị tận răng các nhóm này; những nhóm quân người Kurd và Thổ du mục này được gọi là các "Trung đoàn của Hamid" (Hamidian Regiments).
Năm 1894, tại Sasun, một tranh chấp về quyền lợi giữa những người Thổ và Armenia bùng phát thành bạo lực, và chính quyền Ottoman đã cố ý kích động thêm bạo lực chống người Armenia để bảo vệ giáo lý Hồi giáo. Vụ bạo loạn Sasun được coi là khởi nguồn của cuộc thảm sát người Armenia của Abdulhamid II (Hamidian Massacres), mà nó sẽ chỉ chấm dứt sau năm 1897 sau khi sức ép từ Nga, Anh và Pháp buộc Thổ phải nhượng bộ, nhưng với gần 300,000 người thiệt mạng, phần đông là người Armenia. Vụ việc này đã phủ bóng đen lên quan hệ giữa người Armenia thiểu số và người Thổ đa số, và được cho là sẽ châm lửa cho một thảm kịch lớn hơn sắp tới.
Phẩn 2: Link