Bitcoin, giải thích
Cuối cùng thì ta cũng đến được bài viết cuối của series Hiểu hơn về Bitcoin qua hiểu hơn về tiền . Với cả hai phần trước đó dành riêng...
Cuối cùng thì ta cũng đến được bài viết cuối của series Hiểu hơn về Bitcoin qua hiểu hơn về tiền. Với cả hai phần trước đó dành riêng cho việc giải thích tiền tệ và lịch sử của chúng một cách khái quát nhất có thể. Chúng ta giờ đây đã nắm được ít nhiều hiểu biết cơ bản để thực sự hiểu được Bitcoin. Nhưng hẳn một số độc giả có thể cho rằng, tại sao người viết không tiến thẳng vào việc giải thích Bitcoin ngay luôn đi? Cần gì phải lê thê đến hơn 15,000 chữ trước đó mà gần như không nói gì về nó cả?
Dẫu nhận định này cũng có tính hợp lý, nhưng tôi tin và cũng đã nói đến ở bài đầu rằng, cách tốt nhất để tìm hiểu về Bitcoin, và cũng như nhiều thứ khác, nên là học từ gốc rồi mới đến ngọn. Bằng việc xem xét kỹ lưỡng phát minh mới của thời đại số này qua lăng kính của tiền tệ. Và bằng việc đặt Bitcoin vào bối cảnh lớn hơn như công nghệ, lịch sử, kinh tế và chính trị. Người đọc chỉ khi đó mới nắm được những đặc điểm quan trọng mà một đồng tiền mạnh nên có là đáp ứng tốt các tính thanh khoản theo quy mô, theo không gian, có giá trị không thể bị suy giảm, cho phép người sở hữu có quyền tự chủ, riêng tư và có khả năng kháng cự trước sự thao túng.
Xuyên suốt lịch sử loài người, tổ tiên chúng ta đã sử dụng vô số hàng hóa khác nhau để sử dụng như tiền. Từ vỏ sò, răng cá voi, hạt thủy tinh, đá tảng cho đến vật nuôi, muối, đường và rất nhiều loại tiền cổ đại khác. Ta đã thấy được sự phát triển của luyện kim đã đưa ra nhiều giải pháp cho tiền tệ với nhiều lợi thế bỏ xa các cổ vật trước đó. Và sự xuất hiện của kỹ thuật đúc tiền đã cho phép vàng và bạc tiến lên trở thành thứ tiền tệ vượt trội mà nhiều kim loại khác không chạm đến được. Ta còn thấy được hệ thống ngân hàng với tiền giấy bảo chứng bằng vàng đã giúp kim loại này trở thành tiêu chuẩn tiền tệ toàn cầu và cũng dẫn đến việc bạc bị phi tiền tệ hóa. Nhưng rồi, để vàng đáp ứng được các chức năng của tiền tệ, nó phải bị tập trung dưới tay của các ngân hàng trung ương và chính phủ, cho phép họ có nhiều sự kiểm soát và quyền lực hơn.
Mỗi bước đi trên hành trình, hiện thực và đổi mới công nghệ đã định hình nên các chuẩn mực tiền tệ mà con người sử dụng, và hệ quả đối với kinh tế và xã hội con người trên những bước đi ấy đều vô cùng to lớn. Từ các xã hội ở châu Âu phát triển rực rỡ, thịnh vượng trong nhiều thời đại khi sử dụng đồng tiền mạnh. Cho đến những cái giá đắt phải trả khi sử dụng đồng tiền kém bền vững hoặc lỗi thời về mặt công nghệ như ở đảo Yap với đá Rai, người Tây Phi với chuỗi hạt, hay Đông Dương dưới thời bản vị bạc vào cuối thế kỷ 19.
Bài viết này, như tựa đề đã mô tả, được thực hiện để giải thích những thứ cơ bản và khái quát nhất về Bitcoin. Đây vốn dĩ là một chủ đề rất rộng để có thể viết được chi tiết. Thế nên, tôi mong các bạn đọc chỉ nên coi bài viết như một nguồn để tham khảo, hay một điểm bắt đầu cho chuyến hành trình khám phá của mình về phát minh này. Nếu bạn sau khi đọc xong và rút ra rằng bitcoin là thứ gì đó đáng để sở hữu. Thì khoản đầu tư đầu tiên bạn đặt vào không nên là mua bitcoin, mà là dành thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng về nó, cách để mua, lưu trữ và sở hữu một cách an toàn. Không có lựa chọn nào khác ngoài trách nhiệm cá nhân đối với bất kỳ ai muốn sử dụng mạng lưới này, và đó mới là khoản đầu tư thực sự cần thiết để bắt đầu với Bitcoin.
Chúng ta cùng bắt đầu.

1. Tiền kỹ thuật số
Cuộc cách mạng viễn thông toàn cầu, bắt đầu với sự ra đời của chiếc máy tính có thể lập trình hoàn chỉnh đầu tiên vào thập niên 1950, đã dần xâm nhập vào ngày càng nhiều lĩnh vực vật chất của đời sống, mang lại các giải pháp kỹ thuật số cho những vấn đề tưởng chừng đã tồn tại muôn đời. Trong khi các ngân hàng và startup ngày càng áp dụng công nghệ và mạng lưới máy tính cho thanh toán và ghi chép sổ sách. Thì những đổi mới ấy cũng chỉ dừng lại ở phương thức giao dịch chứ chưa tạo ra một dạng tiền tệ mới nào cả. Suốt nhiều thập kỷ, từ những năm 1980 đến 2000, rất nhiều lập trình viên đã tìm cách tạo ra một loại tiền kỹ thuật số với những thành công nhất định. Nhưng tất cả chúng đều sau cùng cũng rơi vào thất bại hay bị đình trệ. Dẫu vậy, những nỗ lực đó cũng đã xây dựng nên một nền tảng tốt cho thứ xuất hiện về sau - Bitcoin. Để hiểu được tầm quan trọng của một công nghệ tạo ra “tiền mặt số” (digital cash), trước hết cần nhìn lại thế giới trước khi Bitcoin xuất hiện, khi các phương thức thanh toán có thể được chia gọn thành hai loại hoàn toàn tách biệt:
Thanh toán bằng tiền mặt, là diễn ra trực tiếp giữa hai bên. Ưu điểm của nó là tức thời, dứt điểm. Không bên nào phải đặt niềm tin vào bên kia, không có độ trễ trong việc thực hiện và cũng không có bên thứ ba nào có thể can thiệp để ngăn chặn giao dịch. Nhưng nhược điểm lớn nhất là cả hai bên phải có mặt tại cùng một lúc, tại cùng một địa điểm. Điều này ngày càng trở thành trở ngại lớn trong bối cảnh công nghệ viễn thông rất phát triển, từ đó nhu cầu giao dịch từ xa tăng cao.

Thanh toán qua trung gian, sẽ cần một bên thứ ba đáng tin cậy để xử lý. Cách thanh toán này bao gồm séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, chuyển khoản ngân hàng, dịch vụ chuyển tiền, hay mới nhất là PayPal. Ưu điểm chính là cho phép thanh toán mà không cần hai bên gặp mặt, đồng thời người trả tiền cũng không phải mang theo tiền bên mình. Nhược điểm là giao dịch phải phụ thuộc vào niềm tin dành cho bên trung gian. Rủi ro mà bên trung gian bị xâm phạm, cùng với chi phí và thời gian để giao dịch được hoàn tất và người nhận thực sự có thể sử dụng số tiền đó.
Cả hai hình thức thanh toán này đều có ưu và nhược điểm riêng. Và trong thực tế, hầu hết mọi người đều kết hợp cả hai trong các nhu cầu giao dịch kinh tế của mình. Trước khi Bitcoin ra đời, tất cả các hình thức thanh toán kỹ thuật số đều thuộc loại thanh toán qua trung gian. Nguyên nhân nằm ở bản chất của một vật thể số, chúng có thể được sao chép, “ctrl+c ctrl+v” đến vô hạn. Chính vì vậy, việc tạo ra một loại tiền kỹ thuật số đã dường như là điều bất khả thi khi việc gửi đi một đơn vị tiền chỉ đơn thuần là tạo ra một bản sao thay vì thực sự chuyển giao giá trị.
Mọi hình thức thanh toán điện tử trước đây đều buộc phải thực hiện qua một bên trung gian vì nguy cơ gọi là double-spending (chi tiêu kép): không có cách nào để đảm bảo rằng người trả tiền trung thực với số dư của mình, và không sử dụng cùng một khoản tiền nhiều lần. Trừ khi có một bên thứ ba đáng tin cậy giám sát tài khoản anh ta và xác minh tính hợp lệ của giao dịch. Trong khi các giao dịch tiền mặt bị giới hạn trong phạm vi vật lý với sự tiếp xúc trực tiếp, thì mọi hình thức thanh toán kỹ thuật số đều phải đặt dưới sự giám sát của một bên trung gian.
Việc giao dịch thông qua bên thứ ba có nhiều bất lợi, và đó cũng là lý do việc giao dịch không cần thông qua họ trở thành một ý tưởng rất hấp dẫn với nhiều người. Thứ nhất, bản chất của việc có thêm một bên trung gian đã là một điểm yếu về bảo mật - càng nhiều bên tham gia, nguy cơ trộm cắp hoặc lỗi kỹ thuật càng cao. Thứ hai, thanh toán qua trung gian khiến các bên dễ bị giám sát hoặc cấm đoán bởi chính quyền, bởi bất kỳ giao dịch số nào cũng đồng nghĩa với việc phải tin tưởng bên thứ ba và cả cơ quan chính trị kiểm soát nó. Đồng thời cũng chấp nhận rủi ro khoản thanh toán có thể bị ngăn chặn bởi lý do “an ninh,” “chống khủng bố” hay “chống rửa tiền.” Thứ ba, các khoản thanh toán trung gian luôn tiềm ẩn nguy cơ gian lận, dẫn đến chi phí giao dịch cao hơn và việc chậm trễ trong khâu quyết toán cuối cùng.
Trong khi thanh toán qua trung gian làm mất đi một số đặc tính đáng mong muốn của tiền tệ, thì những hạn chế trên lại không tồn tại trong việc giao dịch bằng tiền mặt. Dẫu vậy, khi mà thương mại và việc làm ngày càng diễn ra từ xa nhờ công nghệ hiện đại, việc trao tay nhau tiền mặt đã dần trở nên bất khả thi. Xu hướng chuyển sang thanh toán kỹ thuật số đã buộc con người phải phụ thuộc vào các bên trung gian mà họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải tin tưởng.
Kể từ ngày Internet được phát triển, rất nhiều nhà khoa học máy tính, mật mã học đã cố gắng tìm ra cách để tạo ra một loại tiền kỹ thuật số có thể giải quyết được các vấn đề trên. Năm 1982, David Chaum đã xuất bản một bài nghiên cứu về cách làm thế nào để nhiều nhóm không tin tưởng lẫn nhau nhưng vẫn có thể cùng duy trì một cơ sở dữ liệu chung. Với chuyên môn về mật mã học (cryptography) của mình, một lĩnh vực chuyên sử dụng toán học để đảm bảo thông tin an toàn trước bên thứ ba, vào năm 1983, Chaum phát minh ra e-cash, sử dụng kỹ thuật do chính ông phát triển gọi là blind signatures (chữ ký mù). Nó cho phép người dùng thực hiện các giao dịch điện tử một cách riêng tư khi mà bên trung gian xử lý giao dịch không thể thấy chi tiết nhưng vẫn có thể xác minh giao dịch ấy.
Năm 1989, ông thành lập công ty với tên DigiCash để thương mại hóa ý tưởng này. Tuy nhiên, dự án đã không thành công, và DigiCash về sau bị phá sản vào năm 1998. Nó đã không được đón nhận nhiều bởi người dùng để có thể tạo ra hiệu ứng mạng lưới tự củng cố. Và theo như Chaum nhận xét, khi internet phổ biến hơn, nhu cầu về tính riêng tư trong giao dịch lại không còn cao, do mức độ am hiểu công nghệ trung bình của người dùng ngày càng giảm. [1]
Năm 1996, tập đoàn Gold and Silver Reserve (G&SR) ra mắt e-gold, cho phép người dùng mở tài khoản trực tuyến dựa theo khối lượng vàng (gram). Người dùng có thể chuyển giá trị tức thì giữa các tài khoản, đến mức nhỏ hơn 1 gram. Ở thời đỉnh cao, e-gold có hơn 5 triệu tài khoản với lượng giao dịch hằng năm lên đến 2 tỷ USD. Tuy nhiên, sang thập niên 2000, e-gold bắt đầu vướng phải rắc rối pháp lý. Sau vụ khủng bố 11/9, chính phủ Mỹ thông qua Đạo luật Patriot, trong đó siết chặt quy định đối với các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chuyển tiền. Cuối cùng, chính phủ Mỹ đã kiện G&SR, và đến năm 2009, e-gold buộc phải đóng cửa. [2]
Sự kiện này lại minh họa rõ hạn chế cố hữu của vàng và lý do nó thất bại trong quá khứ. Để lưu thông nhanh chóng trong thế giới hiện đại, vàng phải được “trừu tượng hóa” thông qua một tổ chức giám hộ tập trung. Nhưng một khi đã bị tập trung, tổ chức đó có thể bị chính quyền kiểm soát, thao túng, hoặc cho đóng cửa. Từ đó làm mất đi tính độc lập và bền vững của kim loại này như một dạng tiền.
Vào những năm cuối của thập niên 1990 và đầu 2000, một số chuyên gia như Adam Back, Nick Szabo và Hal Finney đã khám phá nhiều cách thức để tạo ra một tài sản kỹ thuật số có tính khan hiếm sử dụng hệ thống gọi là proof-of-work. Ý tưởng của proof-of-work là buộc máy tính phải tiêu tốn năng lực tính toán và điện năng đáng kể để tạo ra một “chứng chỉ số” khó giả mạo, nhưng lại dễ dàng được xác minh bởi bất kỳ ai khi được trình ra. Dù trong cùng những năm đó, đã có nhiều đề xuất khác cho sự phát triển của một loại tiền số, nhưng chính hướng đi của Back-Szabo-Finney lại đóng vai trò quan trọng nhất.
Và vào ngày 31 tháng 10 năm 2008, một hoặc một nhóm các nhà phát triển bí ẩn dưới cái tên Satoshi Nakamoto đã áp dụng những kỹ thuật của người đi trước và cho xuất bản một bài luận vào mailing list với nhan đề Bitcoin: A Peer-to-Peer Electronic Cash System.
Bài luận ấy chỉ dài 9 trang, được viết ra với lối viết học thuật, cùng 8 trích dẫn liên quan đến các kỹ thuật mật mã học khác nhau. Trong một vài tuần sau khi được công bố, các nhà mật mã đã đọc, phản biện và đặt ra nhiều câu hỏi với thái độ hoài nghi và chất vấn. Tất cả đều được Satoshi trả lời một cách lịch sự và rõ ràng, góp phần làm sáng tỏ ý tưởng của mình trước cộng đồng chuyên môn. Những email trao đổi giữa họ giờ đã trở thành tư liệu công khai [3], và khi đọc qua chúng, người ta có cảm giác như đang theo dõi một buổi bảo vệ luận án với những câu hỏi và trả lời sắc bén giữa các chuyên gia. Trái với việc nhiều người nghi ngờ về Satoshi dù chưa bao giờ xem qua cuộc trao đổi trên, ở bất kỳ thời điểm nào, ông chưa bao giờ tỏ ra mình là một dân bán hàng hay đưa ra hứa hẹn làm giàu nào cả. Satoshi viết với phong cách đậm tính học thuật, điềm đạm và thuyết phục, nhưng cũng khẳng định rõ ràng mục tiêu của công trình này là tự do.
2. Tiền kỹ thuật số đầu tiên - Bitcoin
Phần viết sau đây dùng để giải thích cách Bitcoin hoạt động theo cách dễ hiểu nhất có thể cho người nhập môn và sẽ không đi sâu vào những thứ phức tạp, chuyên môn hơn. Giống như khi giải thích chế độ bản vị vàng mà không đi sâu vào các đặc điểm hóa học của nó. Tôi có thể sẽ giải thích chi tiết hơn trong một bài khác nếu độc giả quan tâm. Bạn đọc cũng nên chú ý rằng, trong bài viết này tôi viết chữ ‘Bitcoin’ với chữ B viết hoa là nói đến hệ thống, còn viết thường ‘bitcoin’ sẽ nói đến đơn vị tiền tệ đó (trừ trường hợp phải viết hoa ở đầu câu).
Bitcoin là một phần mềm mã nguồn mở và miễn phí mà bất cứ ai với một chiếc laptop cơ bản và có kết nối internet cũng đều có thể tải về và tham gia vào mạng lưới với tư cách là một node. Thông qua node, người dùng có thể thực hiện giao dịch trực tiếp với nhau mà không cần qua sự cho phép bên thứ ba nào. Để làm được điều này, Bitcoin sử dụng rất nhiều kỹ thuật mật mã học khác nhau để đảm bảo toàn bộ hệ thống vận hành dựa trên xác minh mật mã thay vì phụ thuộc vào niềm tin vào một bên trung gian.
Tất cả giao dịch đều phải được ghi chép bởi tất cả các thành viên trong mạng lưới để mọi người cùng giữ một chiếc sổ cái chung với thông tin về giao dịch và số dư. Bất cứ khi nào một người dùng chuyển bitcoin cho người dùng khác, mọi thành viên có thể xác nhận xem người gửi có số dư phù hợp hay không. Nhưng số lượng giao dịch giữa các người dùng là ngày càng lớn và khó để theo dõi hơn. Thế nên, Bitcoin sẽ đóng vai trò như một sổ cái ghi chép lại toàn bộ giao dịch đã xác nhận kể từ ngày nó ra đời. Để có thể thêm thông tin vào sổ cái ấy, các node sẽ cạnh tranh với nhau để trở thành người đầu tiên cập nhật các giao dịch mới (khoảng vài nghìn) được chứa trong một block mỗi mười phút. Để một node có thể thêm block của mình vào sổ cái, nó cần phải tiêu tốn một lượng lớn năng lực xử lý để giải câu đố để lại bởi block đó. Câu đố này rất khó để giải, sẽ không có chiến lược nào tốt hơn ngoài việc phải liên tục đoán ra con số đáp án, nhưng một khi tìm ra thì lại rất dễ để xác nhận nó có đúng hay không. Đây chính là hệ thống proof-of-work, và chỉ khi nào có được đáp án đúng, block ấy mới được xác nhận bởi tất cả thành viên của mạng lưới và thêm vào sổ cái. Khi phần lớn đã chấp nhận block mới, sổ cái được cập nhật, các node sẽ lưu giữ nó và quá trình để cập nhật giao dịch mới cho sổ cái lại bắt đầu. Điều quan trọng là, node nào cập nhật block chứa các giao dịch một cách hợp lệ vào hệ thống sẽ được nhận phần thưởng block bao gồm tiền phí của các giao dịch trong block đó và một lượng bitcoin hoàn toàn mới được thêm vào nguồn cung (stock).
Quá trình này thường được gọi là đào, như một cách so sánh với khai thác kim loại quý ở đời thực, và những node nào tham gia giải câu đố proof-of-work sẽ được coi là các thợ đào. Phần thưởng block sẽ dùng để bù đắp lại cho các thợ đào đã bỏ ra tài nguyên của mình cho proof-of-work. Nếu ở ngân hàng trung ương hiện đại, số tiền mới được tạo ra sẽ được dùng để tài trợ cho các khoản vay và chi tiêu của chính phủ. Thì trong Bitcoin, số tiền mới chỉ được trao cho những người bỏ tài nguyên ra để cập nhật sổ cái.
Satoshi đã lập trình để Bitcoin chỉ có thể tạo ra block mới xấp xỉ mỗi 10 phút, và mỗi block đầu tiên trong 4 năm kể từ ngày mạng lưới ra đời sẽ cho phần thưởng 50 btc, sau đó giảm đi một nửa còn 25 btc, 12.5 btc và cứ tiếp tục sau mỗi 4 năm.
Số lượng bitcoin mới được thêm vào đã được lập trình sẵn và không thể thay đổi, bất kể có bao nhiêu công sức hay năng lượng được bỏ ra cho proof-of-work. Điều này được thực hiện thông qua một cơ chế điều chỉnh độ khó, thứ có lẽ là khía cạnh tinh vi nhất trong thiết kế của Bitcoin. Khi ngày càng nhiều người muốn nắm giữ Bitcoin, giá trị thị trường của Bitcoin tăng lên, và việc đào coin mới trở nên có lợi nhuận hơn. Từ đó thu hút thêm nhiều thợ đào bỏ thêm nhiều tài nguyên vào để giải các bài toán proof-of-work. Nhiều thợ đào thì đồng nghĩa có nhiều máy tính tham gia vào xử lý hơn, dẫn đến việc tìm ra đáp án cho câu đố proof-of-work sẽ nhanh hơn, và do đó tốc độ phát hành bitcoin mới (flow) được đổ vào nguồn cung (stock) sẽ tăng lên. Tuy nhiên, khi sức mạnh xử lý tăng, Bitcoin sẽ nâng độ khó của câu đố để các máy tính mất nhiều thời gian giải hơn. Nhờ vậy nó sẽ đảm bảo rằng các block vẫn được tạo ra trong khoảng 10 phút như đã được định trước.
Cơ chế điều chỉnh độ khó là thứ đáng tin cậy nhất để tạo ra một loại tiền cứng và giới hạn tỷ lệ stock-to-flow khỏi việc gia tăng, và đây chính là yếu tố làm cho Bitcoin khác biệt một cách căn bản so với mọi loại tiền khác. Trong khi giá trị của bất kỳ loại tiền nào tăng lên đều dẫn đến việc có nhiều tài nguyên hơn được dùng để sản xuất ra nó, từ đó làm gia tăng nguồn cung, thì khi giá trị Bitcoin tăng, nỗ lực đào thêm không làm tăng số lượng bitcoin mới. Thay vào đó, nó chỉ làm tăng sức mạnh xử lý cần thiết để xác nhận các giao dịch hợp lệ trong mạng lưới Bitcoin, và điều này chỉ khiến mạng lưới trở nên an toàn hơn, khó bị xâm phạm hơn.
Với mọi loại tiền khác, khi giá trị tăng, những ai có khả năng sản xuất nó sẽ bắt đầu tạo ra nhiều hơn. Dù là đá Rai, vỏ sò, vàng, bạc, đồng, hay tiền pháp định do chính phủ phát hành, tất cả đều tạo ra động lực để sản xuất thêm. Loại tiền nào càng khó để sản xuất thêm khi giá cả tăng, thì càng có khả năng được chấp nhận rộng rãi và sử dụng. Từ đó xã hội càng thịnh vượng vì điều đó có nghĩa là nỗ lực tạo ra của cải của mỗi cá nhân sẽ được dùng để phục vụ lẫn nhau thay vì chỉ để sản xuất tiền – một hoạt động không mang lại giá trị thực sự cho xã hội, bởi vì bất kỳ lượng cung tiền nào cũng đủ để vận hành một nền kinh tế. Vàng trở thành loại tiền chủ đạo trong mọi nền văn minh chính là vì nó khó sản xuất nhất, nhưng cơ chế điều chỉnh độ khó của Bitcoin khiến nó còn khó sản xuất hơn. Một đợt tăng giá khổng lồ của vàng, về lâu dài, sẽ dẫn đến lượng vàng được khai thác nhiều hơn, nhưng cho dù giá bitcoin có tăng cao đến đâu, nguồn cung vẫn giữ nguyên. Và độ an toàn của mạng lưới theo đó chỉ tăng lên khi càng có nhiều node tham gia thì mạng lưới càng phi tập trung; càng có nhiều sức xử lý máy tính thì càng tốn kém cho bất cứ thực thể nào muốn tấn công.
Sự an toàn của Bitcoin nằm ở sự bất đối xứng giữa chi phí để giải câu đố proof-of-work nhằm ghi các giao dịch vào sổ cái và chi phí để xác minh tính hợp lệ của nó. Việc ghi nhận giao dịch đòi hỏi ngày càng nhiều điện năng và sức mạnh xử lý, nhưng chi phí xác minh tính hợp lệ của giao dịch lại gần như bằng không và sẽ luôn duy trì ở mức đó, bất kể Bitcoin có phát triển đến đâu. Cố tình đưa các giao dịch gian lận vào sổ cái Bitcoin đồng nghĩa với việc lãng phí tài nguyên để giải bài toán proof-of-work, chỉ rồi để bị các node từ chối với chi phí gần như bằng không, khiến thợ đào mất luôn phần thưởng block.
Sổ cái chung của Bitcoin có thể được so sánh với những tảng đá Rai trên đảo Yap đã đề cập ở phần 1, ở chỗ bản thân “tiền” không thực sự di chuyển để giao dịch diễn ra. Nếu như trên đảo Yap, người dân họp nhau lại để công bố việc chuyển quyền sở hữu một hòn đá từ người này sang người khác, và cả cộng đồng đều biết ai sở hữu hòn đá nào. Thì trong Bitcoin, các thành viên mạng lưới sẽ phát đi giao dịch của mình tới toàn bộ mạng lưới, nơi những người khác xác minh rằng người gửi có đủ số dư cần thiết để thực hiện giao dịch, rồi ghi nhận số tiền đó cho người nhận. Ở mức độ tồn tại, các đồng tiền kỹ thuật số chỉ đơn giản là những mục ghi trên sổ cái, và một giao dịch được xác minh sẽ thay đổi quyền sở hữu số coin trên sổ cái từ người gửi sang người nhận. Quyền sở hữu coin được gán thông qua địa chỉ công khai (public address) chứ không phải tên của chủ sở hữu, và quyền truy cập coin gắn với một địa chỉ được đảm bảo thông qua khóa riêng (private key) – một chuỗi ký tự tương tự như mật khẩu.
Nếu như sức nặng vật lý của đá Rai khiến việc chia nhỏ gần như bất khả thi, thì Bitcoin hoàn toàn không gặp vấn đề này. Tổng cung Bitcoin tối đa là 21.000.000 đồng, và mỗi đồng lại có thể được chia nhỏ thành 100.000.000 đơn vị khác nhau (hay được gọi là satoshi, theo tên của nhà sáng lập), khiến nó có tính thanh khoản rất cao trên nhiều quy mô. Nếu như đá Rai chỉ phù hợp cho một số ít giao dịch trong một hòn đảo nhỏ với dân số ít, nơi mọi người đều quen biết nhau. Thì Bitcoin lại có tính thanh khoản theo không gian vượt trội do sổ cái (blockchain) có thể được truy cập bởi bất kỳ ai trên toàn thế giới có kết nối internet.
Không có một thực thể nào duy nhất chịu trách nhiệm duy trì sổ cái, và cũng không cá nhân nào có thể thay đổi bản ghi trên đó nếu không có sự đồng thuận của đa số thành viên trong mạng lưới. Điều quyết định tính hợp lệ của một giao dịch không phải là lời xác nhận của một cơ quan tập trung, mà chính là phần mềm đang vận hành trên từng node trong mạng lưới.
Với thiết kế công nghệ này, Nakamoto đã phát minh ra sự khan hiếm kỹ thuật số. Bitcoin là ví dụ đầu tiên về một hàng hóa kỹ thuật số khan hiếm và không thể được tái tạo vô hạn. Trong khi việc gửi một đối tượng kỹ thuật số từ nơi này sang nơi khác trong một mạng lưới số - như email, tin nhắn, hay tải tập tin - thì chính xác hơn nên gọi là sao chép, chứ không phải “gửi.” Bởi vì đối tượng số đó vẫn còn nằm ở phía người gửi và còn có thể sao chép vô hạn. Bitcoin là ví dụ đầu tiên về một hàng hóa kỹ thuật số mà việc chuyển giao đồng nghĩa với việc nó không còn thuộc quyền sở hữu của người gửi nữa.
Không chỉ dừng ở khan hiếm kỹ thuật số, Bitcoin còn là ví dụ đầu tiên về sự khan hiếm tuyệt đối, hàng hóa thanh khoản duy nhất (dù kỹ thuật số hay vật lý) có tổng cung cố định mà không thể gia tăng thêm dưới bất cứ hình thức nào. Trước khi Bitcoin ra đời, sự khan hiếm luôn chỉ là tương đối, chứ chưa bao giờ là tuyệt đối. Một ngộ nhận phổ biến là cho rằng bất kỳ hàng hóa vật chất nào cũng hữu hạn, hay khan hiếm tuyệt đối, trong khi giới hạn sản lượng của bất kỳ hàng hóa nào không nằm ở việc nó có bao nhiêu trên Trái Đất, mà nằm ở công sức và thời gian con người bỏ ra để khai thác hoặc sản xuất nó. Với tính khan hiếm tuyệt đối, Bitcoin có khả năng thanh khoản theo thời gian ở mức rất cao, và vì vậy, nó đáp ứng được vai trò lưu trữ giá trị của tiền tệ.
3. Bitcoin giúp ích được điều gì?
Bitcoin là một phát minh có sức mạnh to lớn cho phép mọi người có thể nhanh chóng di chuyển giá trị một cách ngang hàng với nhau mà không phải phụ thuộc vào bất cứ bên thứ ba tập trung nào. Nhưng câu hỏi vẫn cần đặt ra là: Liệu khả năng này giúp ích được điều gì?
Để có thể tìm ra được câu trả lời, ta hãy cùng quay lại và quan sát một chút về vàng. Lý do chính khiến các giấy chứng nhận và hệ thống ngân hàng được xây dựng dựa trên vàng trong nhiều thế kỷ là để cải thiện khả năng của vàng như một phương tiện trao đổi. Vàng rất phù hợp để làm tài sản tiết kiệm, nhưng do khả năng chia nhỏ hạn chế, vận chuyển cồng kềnh, và cần phải xác thực mỗi khi được trao tay. Nó không phải là một phương tiện trao đổi hiệu quả trong thế giới hiện đại. Ngay cả với vai trò là mạng lưới thanh toán cuối cùng, vàng vẫn còn nhiều điểm bất tiện. Khi vàng được thanh toán với số lượng lớn bằng các thỏi vàng, cách duy nhất để thực sự chắc chắn rằng chúng có phải vàng nguyên chất đến tận lõi hay không là phải nấu chảy đi và đúc lại. Nếu người dùng muốn giao dịch vàng trực tuyến hoặc qua khoảng cách xa, họ cần phải trừu tượng hóa nó theo một cách nào đó. Và vì vậy phải phụ thuộc vào một tổ chức lưu ký tập trung cùng với chuỗi pháp lý về quyền sở hữu để có thể giao dịch các chứng chỉ số đại diện cho vàng thay vì vàng vật chất.
Mặt khác, Bitcoin là một tài sản có thể được tự lưu ký bởi chính người sở hữu một cách an toàn, ngay cả với số lượng lớn. Nó còn có thể được gửi trực tiếp trên toàn thế giới thông qua internet chỉ trong vài phút. Do đó, nó loại bỏ nhu cầu trừu tượng hóa thông qua bên lưu ký. Một số người nắm giữ tài sản thường thích để cho bên khác giữ hộ, như gửi lượng lớn vàng cho nhóm khác nắm giữ, nhưng điều này lại không cần thiết với Bitcoin. Vì vậy, các đơn vị trong mạng lưới ít có nguy cơ bị tập trung hơn. Bitcoin là một hệ thống thanh toán toàn cầu rất nhanh; mất khoảng 30–60 phút để hoàn tất một giao dịch lớn trên Bitcoin, trong khi hầu hết các giao dịch chuyển tiền quốc tế qua ngân hàng thường mất nhiều thời gian hơn đáng kể. Và chỉ cần ghi lại hoặc ghi nhớ 12 từ khóa, một người có thể mang Bitcoin đi bất cứ đâu trên thế giới.
Kể từ ngày đầu, mạng lưới Bitcoin đã được thiết kế như một mạng ngang hàng với mục đích trở thành một phương tiện trao đổi tự lưu ký. Nó không phải là cách hiệu quả nhất để thực hiện các khoản chi tiêu nhỏ, nhưng lại là cách gần như không thể ngăn cản để thanh toán giá trị cuối cùng trên mạng. Bitcoin không có bên thứ ba tập trung, không có điểm tấn công tập trung, và với những phương thức vận hành tinh vi, nó thậm chí có thể vượt qua các mạng lưới thù địch. So với các loại tiền mã hóa khác, Bitcoin khó bị tấn công hơn nhờ vào mạng lưới node lớn hơn và tổng lượng sức mạnh tính toán của thợ đào nhiều hơn. Thêm vào đó, phần mềm của Bitcoin lại gọn nhẹ và tinh chỉnh tốt đến mức có thể chạy trên một chiếc laptop với băng thông internet bình thường, điều mà phần lớn các loại tiền mã hóa khác không làm được.
Giống như cách một chiếc xe tăng được thiết kế để đi từ điểm A đến điểm B xuyên qua nhiều kháng cự từ kẻ địch, nhưng lại không phù hợp để đi làm hằng ngày. Mạng lưới Bitcoin được thiết kế để thực hiện các khoản thanh toán toàn cầu xuyên qua sự kháng cự, nhưng lại không thích hợp để mua một ly cà phê trên đường đi làm. Ở tầm rộng hơn, Bitcoin là cơ sở dữ liệu phi tập trung và bất biến nhất thế giới, dùng để lưu giữ lịch sử các giao dịch bitcoin cũng như các dữ liệu tùy ý khác, và bitcoin được dùng để trả phí giao dịch nhằm cập nhật cơ sở dữ liệu đó.
Hãy thử tưởng tượng có một thứ kim loại khan hiếm như vàng nhưng có các đặc tính như sau: có màu xám xịt, không bắt mắt; không phải chất dẫn điện tốt; không hề cứng nhưng cũng không hề dẻo, dễ rèn; không hữu ích cho bất kỳ mục đích thực tiễn hay trang trí nào. Nhưng, nó có một đặc điểm kỳ diệu duy nhất, có thể được vận chuyển qua kênh truyền thông. Nếu vì một lý do nào đó mà nó có được giá trị, thì bất kỳ ai muốn chuyển tài sản qua một khoảng cách xa đều có thể mua một ít, gửi đi, và để người nhận bán lại. Đó chính là Bitcoin.
Không những có thể gửi trực tuyến (online), bitcoin dưới dạng khóa riêng còn có thể được mang theo bạn trên phạm vi toàn cầu. Bạn không thể mang nhiều tiền mặt hoặc vàng qua sân bay và biên giới. Ngân hàng có thể chặn chuyển khoản trong và ngoài quốc gia, thậm chí ngay trong nội địa. Nhưng nếu bạn có bitcoin, bạn có thể mang theo một lượng giá trị không giới hạn đi khắp nơi trên thế giới - trong điện thoại, trong USB, trong một file có mật khẩu trên cloud mà bạn có thể truy cập từ nhiều quốc gia khác nhau - hoặc đơn giản chỉ bằng cách ghi nhớ một cụm từ khóa gồm 12 từ (một cách gián tiếp để ghi nhớ khóa riêng). Rất khó để chính phủ ngăn chặn điều đó nếu không áp dụng giám sát và kiểm soát cực kỳ hà khắc, đặc biệt đối với những công dân am hiểu công nghệ.
Chính tính hữu dụng này, kết hợp với các tính thanh khoản khác nó đáp ứng được, bitcoin đã dần thu hút được sự chú ý từ nhiều người và trở thành một loại tiền tệ. Khi bạn nắm giữ bitcoin, bạn đang nắm giữ khả năng tích lũy để thực hiện các khoản thanh toán toàn cầu khó bị chặn, cũng như khả năng chuyển giá trị của mình trên phạm vi toàn cầu bất cứ khi nào bạn mong muốn. Nó cũng có thể là một chính sách bảo hiểm cho chính bạn trong tương lai, hoặc đơn giản bạn giữ nó vì nhận ra rằng khả năng này có giá trị đối với người khác, và do đó bạn có thể bán lại khả năng đó cho người khác trong tương lai. So với các loại tiền mã hóa khác, Bitcoin là loại có quy mô lớn nhất, thanh khoản cao nhất, bất biến nhất, và phi tập trung nhất.
Nếu ta liệt kê các loại tiền đang lưu hành trên thế giới và xếp hạng top 5 hay 10 tính thanh khoản toàn cầu cao nhất, thì Bitcoin hiện đã nằm trong danh sách đó. Nếu bạn mang theo bảng Ai Cập, won Hàn Quốc, koruna Séc, baht Thái hoặc hơn 100 loại tiền giấy khác ra ngoài biên giới quốc gia phát hành, bạn gần như chắc chắn sẽ rất khó tìm được người chấp nhận chúng để đổi lấy hàng hóa, dịch vụ, hay thậm chí đổi lấy nội tệ (ngoại trừ một số rất ít đại lý chuyên biệt thường ở sân bay, với phí đổi cao). Những loại tiền tốt nhất hiện nay để mang theo có lẽ là đô là Mỹ và vàng xu. Ở hầu hết các vùng của hầu hết các quốc gia, bạn có thể mua hàng trực tiếp bằng chúng, hoặc ít nhất có thể đổi ra nội tệ với giá thị trường công bằng mà không gặp nhiều khó khăn.
Bitcoin hiện đã thuộc top 10 loại tiền có tính thanh khoản toàn cầu, đặc biệt ở các thành phố. Trên thế giới có hàng chục nghìn máy ATM Bitcoin tại các trung tâm đô thị, và nhiều doanh nghiệp chuyên biệt tại nhiều quốc gia chấp nhận thanh toán trực tiếp bằng bitcoin. Đồng thời cũng có các cộng đồng Bitcoin và các buổi meetup ở khắp nơi. Bitcoin có thể di chuyển xuyên biên giới qua sân bay và các cửa khẩu theo cách mà tiền mặt và vàng không thể.
Hơn thế nữa, với sự đóng góp của hàng nghìn lập trình viên đang làm việc mỗi ngày, mạng lưới Bitcoin lại còn trở nên hữu ích hơn nữa. Một số người thì cải thiện tầng cơ sở (base layer), số khác thì làm việc ở các tầng cao hơn trong kiến trúc mạng lưới. Có người thì phát triển phần cứng, ứng dụng phần mềm, hoặc thành lập các công ty dịch vụ tài chính gắn liền với Bitcoin. Tất cả những công việc này đều góp phần làm cho việc nắm giữ, giao dịch, và tương tác với mạng lưới Bitcoin trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn. Một số hệ thống như mạng Lightning (Lightning network) hoạt động trên lớp cơ sở của Bitcoin còn cho phép thực hiện các khoản thanh toán tức thì, đến mức ta có thể dễ dàng mua một ly cà phê trực tiếp qua điện thoại đi động.
Tài sản tự lưu ký
Một trong những thách thức lớn của Bitcoin nằm ở việc giá trị của nó luôn biến động. Nhưng phần lớn nguyên nhân là vì nó đã đi từ con số không lên mức vốn hóa thị trường tới hơn một nghìn tỷ đô chỉ trong khoảng 15 năm đầu tiên. Thị trường vẫn đang khám phá công nghệ này và tìm cách xác định quy mô thị trường tiềm năng của nó khi ngày càng có nhiều người tham gia hơn. Và đây vẫn là một loại tài sản chỉ được nắm giữ bởi một tỷ lệ nhỏ dân số toàn cầu.
Nếu khả năng kháng kiểm duyệt là một lợi thế quan trọng khi ta nói đến thanh toán. Thì khả năng tự lưu ký một loại tiền di động mà có giá trị không thể bị pha loãng lại là đặc điểm then chốt khi ta nói đến tiết kiệm.
Rất nhiều người vẫn còn đánh giá thấp, hoặc không coi những đặc điểm trên là thứ gì đó quan trọng. Họ thậm chí có thể nghĩ rằng chỉ những ai có ý đồ xấu mới cần đến chúng. Nhưng với phần lớn dân số thế giới, khả năng mang theo tài sản khi bị buộc phải rời bỏ đất nước của mình lại có giá trị rất to lớn.
Khi người Do Thái phải chạy trốn khỏi châu Âu dưới sự kiểm soát của phát xít Đức, họ đã gặp khó khăn trong việc mang theo bất kỳ tài sản nào. Khi người dân rời khỏi Liên Xô đang sụp đổ, họ cũng không thể mang theo nhiều tiền bên mình. Ngày nay, khi người dân Venezuela, Syria, Iran, Trung Quốc, Afghanistan hay nhiều quốc gia khác muốn rời đi, họ cũng thường gặp khó khăn trong việc giữ lại phần lớn số tiền tiết kiệm của mình, trừ khi, họ sở hữu và tự lưu ký bitcoin. Ngay cả khi không rời đi đâu, người dân tại nhiều nước đang phát triển vẫn phải chịu cảnh đồng tiền bị mất giá liên tục khiến việc tiết kiệm trở nên vô cùng khó khăn. Hàng tỷ người trên thế giới ngày nay có thể thấy rõ giá trị của tính năng này.
Người dân Nigeria đã chuyển sang sử dụng bitcoin để phản đối bạo lực cảnh sát sau khi chính phủ đóng băng tài khoản ngân hàng của họ. Người dân Trung Quốc dùng bitcoin để chuyển giá trị ra khỏi đất nước bất chấp kiểm soát vốn. Người dân Venezuela sử dụng bitcoin để thoát khỏi siêu lạm phát và đưa giá trị của mình ra khỏi một nhà nước thất bại. Công dân Liban, Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ và nhiều nơi khác dùng bitcoin để lưu giữ giá trị trước tình trạng lạm phát cao kéo dài.
Tại nhiều quốc gia châu Phi, bitcoin được sử dụng ở những nơi mà người dân không có dịch vụ ngân hàng do số người sở hữu điện thoại thông minh còn nhiều hơn số người có tài khoản ngân hàng. Những lao động từ xa ở nhiều nước còn có thể cung cấp dịch vụ trực tuyến (freelancing) như phiên dịch, thiết kế, lập trình hay nhiều công việc khác cho khách hàng quốc tế. Họ cũng nhận thanh toán bằng bitcoin vì thuận tiện hơn nhiều so với phần lớn các phương thức chi trả quốc tế truyền thống.
Ngoài việc từng được sử dụng trên dark web, một trong những ứng dụng thực tiễn sớm nhất của bitcoin là vào năm 2013. Đây là câu chuyện của một nữ doanh nhân tên Royah Mahboob. Bà đã dùng bitcoin để trả tiền cho phụ nữ Afghanistan bằng một loại tiền mà người thân nam giới của họ không thể tịch thu, và họ cũng có thể tự do gửi cho người khác.
Ban đầu, Roya trả cho các nhân viên và cộng tác của Women’s Annex bằng tiền mặt. Nhưng vấn đề là, những người phụ nữ muốn gửi tiền cho gia đình và thanh toán cho các nhà cung cấp ở nhiều nơi khác nhau trong cả nước. Họ phải dùng đến hệ thống hawala, một phương thức chuyển tiền có từ thế kỷ thứ 8, hoạt động dựa trên các nhà môi giới và một mạng lưới trung gian đáng tin cậy.
Nhưng đối với Mahboob và các phụ nữ, hệ thống cổ xưa này lại vừa lỗi thời, vừa chậm chạp khi nhiều người trong số họ đã sở hữu điện thoại Nokia và bắt đầu tạo tài khoản Facebook riêng. Tệ hơn nữa, đôi khi tiền còn không đến được qua hawala, và cũng rất khó để xác minh xem toàn bộ số tiền có thực sự đến tay người nhận hay không. Vì vậy, Mahboob đã tìm hiểu về ý tưởng tiền di động (moblie money). Nhưng thực tế, các hệ thống thanh toán qua điện thoại như M-PESA, vốn rất thành công ở Kenya, lại không bao giờ cất cánh ở Afghanistan. PayPal cũng là một đề xuất nhưng không khả dụng do lệnh trừng phạt của Mỹ. Và vì những người phụ nữ này không có tài khoản ngân hàng, bà cũng không thể chuyển khoản cho họ. Nếu muốn mở tài khoản, họ cần có sự cho phép của cha hoặc chồng, nhưng thường là không được chấp thuận.
Các nhân viên của Mahboob thực sự muốn có quyền kiểm soát kỹ thuật số đối với thời gian và thu nhập của mình. Nhưng nếu cô cứ đưa tiền mặt, những người đàn ông trong nhà họ có thể phát hiện và lấy đi mất.
Cho đến đầu năm 2013, một đối tác kinh doanh ở Ý của Mahboob đã giới thiệu cho cô về bitcoin. Ông ấy nói rằng đây là một loại tiền mới có thể được chuyển đi từ điện thoại này sang điện thoại khác mà không cần đến tài khoản ngân hàng. Không giống như đồng nội tệ của Afgahnistan khi mà chính phủ có thể điều hướng theo ý muốn. Bitcoin trôi nổi một cách tự do trên thị trường mở. Khi Mahboob lần đầu tìm hiểu, bitcoin chỉ được trao đổi ở mức giá $13. Và đến mùa hè cùng năm đó, bitcoin đã cán mốc $70.
Mahboob ban đầu không nghĩ rằng các nhân viên của cô sẽ tin vào Bitcoin, sở dĩ vì nó quá phức tạp để có thể hiểu được. Nhưng rồi vị đối tác ấy vẫn tiếp tục động viên cho cô:
Cứ thử đi thôi, chúng ta có gì để mất chứ?
Quả thực, bitcoin đã trở nên rất hữu dụng cho các mục đích của họ, trong khi những phương án tiền tệ khác thì bị hạn chế. Bitcoin có giá trị biến động mạnh, nhất là trong những thời gian đầu khiến cho việc sử dụng như một loại tiền trở nên khó khăn. Nhưng cuối cùng, bên cạnh khả năng tự lưu ký và thanh toán phi tập trung, việc bitcoin có thể được mang theo xuyên khắp biên giới lại trở thành cứu cánh cho một số phụ nữ trong hoàn cảnh của họ.
Một trong số đó là cô Laleh Farzan. Theo lời kể của Mahboob, Farzan từng làm quản lý mạng cho bà tại Citadel Software, và trong thời gian làm việc ở đó, cô đã kiếm được 2,5 btc. Với tỷ giá hiện tại, số tiền này có giá trị còn hơn 100 lần thu nhập trung bình hàng năm của một người Afghanistan. Năm 2016, Farzan nhận được lời đe dọa từ Taliban và những kẻ bảo thủ khác ở Afghanistan do công việc của cô có liên quan đến máy tính. Khi họ tấn công nhà cô, Farzan quyết định bỏ trốn cùng với gia đình, bán nhà và tài sản để trả tiền cho những kẻ môi giới để đưa họ lên con đường đầy hiểm nguy sang châu Âu.
Giống như hàng ngàn người tị nạn Afghanistan khác, Farzan và gia đình đã phải đi bộ, đi ô tô, tàu hỏa, băng qua Iran và Thổ Nhĩ Kỳ, rồi cuối cùng mới đến được Đức vào năm 2017. Trên đường đi, nhiều kẻ bất lương và cướp đã lấy đi mọi thứ họ mang theo, từ trang sức đến tiền mặt. Có lúc, chiếc thuyền của họ bị chìm, và nhiều đồ đạc đã mất vĩnh viễn dưới đáy Địa Trung Hải. Đây là một câu chuyện bi thương mà rất nhiều người tị nạn từng trải qua. Nhưng trong trường hợp này, có một thứ đã rất khác. Xuyên suốt hành trình, Farzan vẫn giữ được số bitcoin của mình nhờ giấu đi cụm 12 từ khóa (seed phrase) cho ví bitcoin của mình trên một mảnh giấy nhỏ trông tầm thường. Những tên trộm đã không thể lấy đi những thứ mà chúng biết là tồn tại. [4]
4. Rủi ro
Bất cứ công nghệ tạo nên đột phá nào cho tiền tệ đều mang lại rất nhiều lợi ích nhưng vẫn luôn kèm theo những rủi ro và hệ quả liên quan. Phần cuối của bài viết này sẽ phác thảo ra những rủi ro chính gắn liền với Bitcoin (và các loại crypto khác), cũng như mà cách chúng có thể được quản lý hoặc giảm thiểu, dù vẫn hiện hữu.
Thị trường bão hòa
Kể từ khi Satoshi Nakamoto mở đường cho thế giới bằng một loại tiền kỹ thuật số có thể hoạt động ổn định và phi tập trung qua phát minh ra Bitcoin, hàng nghìn nhà phát triển tiền mã hóa khác (cryptocurrency, hay gọi ngắn là crypto) cũng đã nối theo gót chân của ông. Với đặc điểm mã nguồn mở của Bitcoin, bất cứ ai cũng đều có thể xem được toàn bộ dòng code mà nó chạy và thậm chí sao chép chúng để tạo ra một “Bitcoin” khác của riêng mình. Có người thì tìm cách tạo ra phiên bản cải tiến, tối ưu hóa nó. Có người thì khám phá các giới hạn khác nhau. Có người thì về sau chỉ muốn làm giàu cho bản thân. Nhưng nếu mọi người đều cứ tạo ra thêm loại tiền mã hóa mới, thì điều gì ngăn cản thị trường khỏi việc bị bão hòa và phân mảnh nặng nề? Không có gì đảm bảo rằng một hay hai crypto sẽ trở thành loại có tính thanh khoản cao nhất và vì thế tích lũy phần lớn giá trị tiền tệ trong số vô hạn các đồng có thể được tạo ra.
Trên thực tế, Bitcoin đã là loại tiền mã hóa có vốn hóa thị trường lớn nhất suốt 15 năm liên tiếp, và chỉ có Ethereum là đôi lúc tiến gần đến vị trí đó. Không có đồng nào khác đạt đến quy mô tương tự. Và một khi một loại tiền mã hóa được thiết kế tốt trở nên đủ lớn, thì tính bảo mật và khả năng thanh khoản cao của nó sẽ lấn át mọi thứ khác.
Tính đến thời điểm hiện tại, Bitcoin chiếm hơn 90% tổng giá trị thị trường của tất cả các đồng tiền proof-of-work khác. Bitcoin sở hữu sức mạnh tính toán lớn nhất, đồng nghĩa với việc nó an toàn nhất trước các cuộc tấn công. Không những thế, các node của Bitcoin được thiết kế nhỏ gọn và dễ vận hành (không chỉ ở trên laptop mà còn cả trên Raspberry Pi), nên nó có số lượng node hoạt động lớn nhất so với bất kỳ đồng tiền mã hóa nào. Mọi nỗ lực của các nhà phát triển khác nhằm tạo ra thứ có thể thay thế Bitcoin đều dẫn đến những sự đánh đổi nhất định, chúng có thể linh hoạt hơn hay đáp ứng được lượng giao dịch nhiều hơn, nhưng thường dẫn đến việc đòi hỏi node phải lớn hơn. Các cá nhân theo đó sẽ không có lựa chọn thực tế để vận hành node của riêng mình khi yêu cầu cho nó cao hơn; hệ quả là số lượng node ít đi và mức độ phi tập trung giảm xuống. Tính riêng tư và khả năng chống kiểm duyệt của blockchain cũng sẽ suy giảm nghiêm trọng.
Nhưng dù có thiết kế tốt đến vậy, dù có vẻ Satoshi đã lường trước được mọi thứ, thì vẫn không có gì để đảm bảo tuyệt đối rằng Bitcoin sẽ không bị vượt mặt hoặc bị thay thế theo một cách nào đó, và đây phải được coi là một rủi ro. Tuy vậy, hiện tại chưa có đối thủ nào có thể xác định được ở tầm vóc tương đương về quy mô, thanh khoản, tính bảo mật và tính bất biến. Mạng duy nhất có thể so sánh về kích thước là Ethereum, nhưng ở nhiều khía cạnh, nó lại thuộc một loại hình hoàn toàn khác.
Lỗi phần mềm nghiêm trọng
Bitcoin và cũng như loại tiền mã hóa khác đều được cấu thành bởi các dòng code phần mềm do con người viết ra, và đã là con người thì vẫn luôn có thể mắc sai sót. Bitcoin được thiết kế đơn giản một cách có chủ đích, nhờ vậy mà duy trì được một cơ sở mã nhỏ gọn, chặt chẽ và dễ kiểm toán hơn so với nhiều loại tiền mã hóa khác, nhưng lịch sử của nó cũng không phải là hoàn hảo.
Chính vì thế, khi các nhà phát triển phát hành một bản cập nhật mới, nhiều người vận hành node thường cố tình trì hoãn trong việc nâng cấp nó. Các nhà phát triển không thể “ép buộc” các node phải cập nhật, và đó chính là điều giúp hệ thống duy trì tính phi tập trung và bất biến trên thực tế, đồng thời hạn chế tối đa quyền lực của các nhà phát triển. Người vận hành node thì được quyền quyết định có cập nhật hay không, và trên thực tế, tốt nhất là nên chờ thêm thời gian để có nhiều lượt kiểm tra các dòng code và nhiều thời gian vận hành hơn nhằm đảm bảo rằng bản cập nhật không chứa lỗi nghiêm trọng. Nếu chỉ một phần nhỏ mạng lưới node nâng cấp và phát hiện lỗi, họ có thể đơn giản quay lại phiên bản trước.
Tuy nhiên, nếu một lỗi không được phát hiện trong thời gian dài và đa số node trong mạng đều đã nâng cấp, rồi lỗi đó bị khai thác, hậu quả có thể rất thảm khốc. Việc khắc phục có thể vẫn khả thi, nhưng vẫn có nguy cơ làm tổn hại đến uy tín của mạng lưới với tư cách một hệ thống đáng tin cậy, khiến nó bị tụt lùi nhiều năm.
Máy tính lượng tử

Để độc giả tiện theo dõi, tôi sẽ trích lại đoạn mà tôi đã viết trước đó: “Quyền sở hữu coin được gán thông qua địa chỉ công khai (public address) chứ không phải tên của chủ sở hữu, và quyền truy cập coin gắn với một địa chỉ được đảm bảo thông qua khóa riêng (private key) – một chuỗi ký tự tương tự như mật khẩu.”
Đây là một trong những cơ chế quan trọng đảm bảo an ninh của Bitcoin. Bạn có thể nghĩ nếu khóa riêng cũng giống như mật khẩu rồi thì chẳng phải nó có thể bị máy tính dò và đoán ra hay sao? Về lý thuyết là vậy, nhưng thực tế lại là chuyện khác. Khóa riêng đơn giản là một chuỗi dài gồm các con số 0 và 1, bạn có thể tự tạo ra khóa riêng cho mình bằng cách tung một đồng xu 256 lần làm ví dụ (2^256), và số lượng các khả năng xảy ra là vô cùng lớn. Số lượng khóa ngẫu nhiên bạn có thể làm sẽ còn nhiều hơn số lượng các nguyên tử có… trong hàng triệu dải ngân hà khác nhau. [5] Vậy nên, khả năng để tạo hoặc đoán ra khóa của người khác là gần như bất khả thi.
Nhưng đó là với các máy tính với bộ xử lý truyền thống. Thay vào đó, một khả năng trong dài hạn nằm ở máy tính lượng tử (quantum computer). Việc phát triển và triển khai những máy tính lượng tử đủ tiên tiến có thể cho phép suy ra khóa riêng từ địa chỉ công khai. Và nếu điều đó xảy ra, nó sẽ bắt đầu phá vỡ các bảo đảm an ninh của mạng lưới Bitcoin. Tuy vậy, vẫn có những nâng cấp tiềm năng để phòng ngừa như áp dụng các thuật toán kháng lượng tử (quantum-hard algorithms), nhưng nhiều khả năng làm tăng yêu cầu về băng thông và dung lượng lưu trữ cho mỗi giao dịch.
Dù đã được nhắc đến nhiều lần trong lịch sử và hiện tại bởi các nhà khoa học hay các nhà báo, chúng vẫn chưa bao giờ tiến gần đến hiện thực. Việc máy tính lượng tử thật sự được phát triển và triển khai trên thực tế lại là một chuyện hoàn toàn khác. Tuy nhiên, chúng ta vẫn cần phân tích và chuẩn bị cho khả năng chúng trở thành hiện thực nếu có những dấu hiệu rõ ràng. Bất kỳ dạng năng lực tính toán mới nào có thể phá vỡ một phần mã hóa của Bitcoin đều sẽ là một mối đe dọa nghiêm trọng và cần có lời giải. Rộng hơn nữa, đó cũng sẽ là mối đe dọa với toàn bộ internet và hệ thống ngân hàng hiện tại, vì tất cả đều sử dụng các loại mã hóa tương tự.
Can thiệp từ chính phủ
Bitcoin là một loại tiền phi quốc gia (stateless money), nhưng điều này không nhất thiết rằng nhiều “quốc gia” sẽ thích sự tồn tại của nó.
Tiền phi quốc gia cho phép con người tiết kiệm trong một loại tài sản tiền tệ không do chính phủ phát hành, và việc kiểm duyệt nó là vô cùng tốn kém. Nó mang lại một phương thức chuyển giao giá trị ngang hàng, có thể tự lưu ký và di động bên ngoài hệ thống ngân hàng. Thay vì chỉ những người giàu mới có tài khoản ngân hàng ở nước ngoài, Bitcoin mở ra một lựa chọn tương đương cho bất kỳ ai sở hữu một chiếc điện thoại thông minh, nhưng không có rủi ro từ phía đối tác. Tuy vậy, chính phủ vẫn có nhiều công cụ để chống lại nó.
Đầu tiên, chính phủ có thể cắt đứt các sàn giao dịch hoặc nhà môi giới tiền mã hóa khỏi hệ thống ngân hàng quốc gia, thông qua luật pháp hoặc sức ép phi chính thức. Một ngân hàng trung ương hoặc cơ quan quản lý có thể yêu cầu tất cả các ngân hàng không cho phép khách hàng chuyển tiền đến bất kỳ sàn giao dịch hay nhà môi giới tiền mã hóa nào, hoặc không cung cấp dịch vụ ngân hàng cho các công ty liên quan đến tiền mã hóa. Đây là biện pháp chính phủ có thể dễ dàng thực thi, thực chất là một hình thức kiểm soát vốn, nhằm làm chậm dòng chảy giá trị thoát khỏi hệ thống ngân hàng quốc gia để chuyển sang bitcoin, các loại tiền mã hóa khác, hoặc stablecoin (tiền kỹ thuật số được neo vào giá trị một tài sản khác).
Tuy nhiên, ngay cả khi áp dụng biện pháp mạnh tay nhất, chính phủ cũng không thể bịt kín mọi ngả đường, bởi con người vẫn có thể trao đổi giá trị ngang hàng với nhau (peer-to-peer). Một ví dụ điển hình là Nigeria: quốc gia này đã cắt đứt sàn giao dịch và nhà môi giới tiền mã hóa khỏi hệ thống ngân hàng, nhưng lại nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ chấp nhận tiền mã hóa cao nhất thế giới. Người Nigeria vẫn có thể chuyển tiền cho nhau, và bên nhận sẽ gửi lại bitcoin như một khoản trao đổi. Cá nhân và doanh nghiệp hoàn toàn có thể trở thành các nhà môi giới ngang hàng, tìm cách tiếp cận bitcoin từ bên ngoài rồi bán lại cho người khác với một mức chênh lệch. Nhiều nền tảng còn hỗ trợ kết nối người mua – người bán, kèm theo dịch vụ ký quỹ đa chữ ký hoặc hệ thống uy tín để giảm thiểu rủi ro lừa đảo. Với các giao dịch như vậy, gần như bất khả thi để ngân hàng xác định một khoản tiền bất kỳ từ người A chuyển cho người B là để đổi lấy bitcoin, stablecoin hay tiền mã hóa khác. Ngoài ra, những người Nigeria làm việc từ xa cho khách hàng ở nước ngoài – như lập trình, thiết kế đồ họa hay trợ lý ảo – có thể chọn nhận thanh toán bằng bitcoin hoặc stablecoin. Tương tự, kiều hối mà người Nigeria nhận từ thân nhân ở nước ngoài cũng có thể được gửi bằng bitcoin hoặc stablecoin. [6]

Nguồn: BBC
Thứ hai, chính phủ có thể phản ứng bằng hàng loạt quy định hà khắc. Họ có thể tìm cách “đánh thuế đến chết” đối với tiền mã hóa. Họ có thể khiến việc vận hành một doanh nghiệp tiền mã hóa hợp pháp trở nên bất khả thi bằng những rào cản pháp lý phức tạp.
Thứ ba, và cũng là mức độ nghiêm khắc nhất, chính phủ có thể cấm tuyệt đối việc sử dụng trong dân chúng. Ví dụ, họ có thể tuyên bố việc vận hành một node Bitcoin hoặc sở hữu bất kỳ loại tiền mã hóa nào là hành vi phạm pháp với hình phạt tù giam. Tại Hoa Kỳ, trong suốt bốn thập niên từ những năm 1930 đến 1970, người dân Mỹ có thể bị phạt tới mười năm tù giam chỉ vì sở hữu vàng. [7] Điều này cho thấy các chính phủ coi trọng việc kiểm soát tiền pháp định của họ đến mức nào. Những nỗ lực giành lại chủ quyền tiền tệ của người dân để bảo vệ khoản tiết kiệm khỏi sự pha loãng thường bị trừng phạt nặng nề.
Nhưng vấn đề với biện pháp thứ hai và ba là chúng khó thực thi trên quy mô lớn nếu lòng tin xã hội sụp đổ. Người dân Mỹ đã đặt nhiều niềm tin vào chính phủ liên bang trong giai đoạn từ những năm 1930 tới 1970 khi việc sở hữu vàng là bất hợp pháp, và luật đó được thông qua khi có một đa số siêu hiếm hoi trong Quốc hội. Dù tốt hay xấu, tùy cách nhìn, hầu hết mọi người đều chấp nhận tư duy tập thể ấy. Nhưng ngày nay, ở Mỹ và nhiều nơi khác, kiểu hòa hợp đó đã không còn nữa. Và trong khi việc áp đặt các hạn chế lên hệ thống ngân hàng là tương đối dễ, thì lại rất khó để có thể áp đặt lên từng cá nhân. Ví dụ trong thời kỳ cấm vàng, chính quyền đã không đi từng nhà tìm vàng vì đó là một quá trình tốn kém và nguy hiểm. Bitcoin là phần mềm miễn phí, mã nguồn mở, mà bất kỳ ai cũng có thể tải về và chạy trên một chiếc laptop bình thường. Bitcoin là hành động mọi người cùng nhau cập nhật một sổ cái toàn cầu phân tán. Ở mức cơ bản hơn nữa, ai cũng đều có thể sở hữu bitcoin “chỉ bằng cách tung đồng xu 256 lần để tạo ra một khóa riêng” và dùng nó để nhận thanh toán bằng bitcoin. Chính phủ làm sao có thể ngăn chặn điều đó hoặc biết được đó là của ai, nhất là khi đủ nhiều người làm như vậy? Cũng giống như việc tiêu thụ đồ uống có cồn bất kể có lệnh cấm, việc sử dụng dụng bitcoin rất khó bị cấm hoàn toàn, và nó chỉ có thể bị đẩy vào chợ đen và trở nên khó sử dụng hơn.
Tham khảo
[1] https://www.forbes.com/forbes/1999/1101/6411390a.html [2] https://www.wired.com/2009/06/e-gold [3] https://satoshi.nakamotoinstitute.org/emails [4] Check Your Financial Privilege, bởi Gladstein, trang 165-166 [5] Giải thích, minh họa con số 2^256 lớn đến đâu: https://www.youtube.com/watch?v=S9JGmA5_unY [6] https://www.bbc.com/news/world-africa-56169917 [7] https://en.wikipedia.org/wiki/Gold_Reserve_Act https://www.presidency.ucsb.edu/documents/executive-order-6102-forbidding-the-hoarding-gold-coin-gold-bullion-and-gold-certificates
Sách:
The Bitcoin Standard bởi Saifedean Ammous;
Broken Money: Why Our Financial System is Failing Us and How We Can Make it Better bởi Lyn Alden
Phần 1 và 2:
_
Toàn bộ series gồm ba phần được thực hiện từ ngày 14/7 và hoàn thành vào ngày 29/9.
Cảm ơn vì đã đọc.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất