Vào ngày 1 tháng 11 năm 2008, một nhà lập trình máy tính dưới cái tên Satoshi Nakamoto đã gửi thông báo cho một diễn đàn mật mã học (cryptography) rằng ông đã tạo ra một "hệ thống tiền điện tử mới hoàn toàn peer-to-peer mà không cần bất cứ bên thứ ba trung gian nào". Về bản chất, Bitcoin cung cấp một mạng lưới thanh toán bằng đồng tiền riêng của nó, và sử dụng một phương pháp tinh vi để các thành viên có thể xác minh mọi giao dịch mà không cần phải tin tưởng vào bất kỳ thành viên nào trong mạng lưới. Đồng tiền này được phát hành theo một tốc độ định sẵn nhằm thưởng cho các thành viên dùng năng lực xử lý từ máy tính của mình để xác minh các giao dịch, từ đó tạo ra phần thưởng cho công sức của họ. Điều đáng kinh ngạc về phát minh này, trái với rất nhiều nỗ lực trước đó nhằm thiết lập một loại tiền kỹ thuật số, nó đã thực sự hoạt động.
Dù có một thiết kế thông minh, không có nhiều gợi ý cho rằng cuộc thử nghiệm này đã tạo sự hứng thú cho ai khác ngoài cộng đồng đam mê mật mã ra. Đây chính là điều đã xảy ra suốt nhiều tháng liền, chỉ có khoảng vài chục người dùng từ khắp nơi trên thế giới tham gia vào mạng lưới để đào và gửi cho nhau các đồng bitcoin như một món đồ sưu tầm, dù chúng chỉ tồn tại dưới dạng số.
Nhưng đến tháng 10 năm 2009, một sàn giao dịch trên Internet đã bán 5,050 bitcoin với giá $5.02, tức $1 cho 1,006 BTC, đánh dấu giao dịch mua bitcoin đầu tiên bằng tiền thật [1]. Giá tiền của chúng đã được tính dựa trên việc đo lường giá trị của lượng điện cần thiết để tạo ra một bitcoin. Bitcoin giờ đây đã không còn chỉ là trò chơi kỹ thuật số được chơi trong một cộng đồng lập trình viên nhỏ lẻ nữa; nó đã trở thành một hàng hóa thị trường có giá trị, cho thấy rằng đã có ai đó ở ngoài kia đánh giá nó một cách tích cực. Vào ngày 22 tháng 5 năm 2010, một người đã trả 10.000 bitcoin để mua hai chiếc pizza trị giá $25, đánh dấu lần đầu tiên bitcoin được sử dụng như một phương tiện trao đổi. Đồng tiền này đã mất 7 tháng để chuyển mình từ hàng hóa thị trường sang một phương tiện trao đổi.
Kể từ đó, mạng lưới Bitcoin đã phát triển mạnh với số lượng lớn người dùng và giao dịch, cũng như năng lực xử lý máy tính dành riêng cho nó. Trong khi đó, giá trị của đồng tiền này đã tăng với tốc độ chóng mặt, cán mốc $10,000 một bitcoin vào tháng 11/2017 và $100,000 vào tháng 12/2024. Sau 15 năm, rõ ràng phát minh này không còn chỉ là một thử nghiệm trực tuyến mà đã trở thành một công nghệ vượt qua được thử thách thị trường và đang được hàng triệu người sử dụng cho các mục đích thực tế trong đời sống.
Chính sự phát triển mạnh này mà Bitcoin thường xuyên được nhắc đến ở trên TV, báo, đài, các trang truyền thông cho đến các diễn đàn hay cuộc trò chuyện ở bên ngoài vỉa hè. Nhờ thế mà càng ngày càng có nhiều người quan tâm và tìm hiểu về Bitcoin, kéo theo đó là sự xuất hiện của nhiều nguồn, chia sẻ, và giải thích hơn về nó. Dẫu điều này cũng tốt khi dư luận sẽ tiếp cận được nhiều thông tin để học hỏi và hiểu hơn về Bitcoin. Tuy nhiên, phần lớn các nội dung này đều chỉ dừng lại ở phần bề mặt như giải thích"Bitcoin là gì?", "Công nghệ, kỹ thuật đằng sau nó là sao?" hay "Thế nào là blockchain?" mà đã không hoặc ít đề cập sâu về khía cạnh khác quan trọng hơn nhiều: Thế nào là tiền?
Tôi cho rằng, việc tiếp cận như thế này chẳng khác nào ta học từ ngọn mà không học từ gốc, và điều này thì tai hại vô cùng. Dù Bitcoin là một phát minh mới của thời đại số, việc nhiều người tiếp cận ngay từ góc nhìn công nghệ hiện đại cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, các vấn đề mà Bitcoin nhằm giải quyết đã tồn tại từ rất lâu như chính xã hội của loài người: làm thế nào để đưa giá trị kinh tế xuyên suốt không gian và thời gian. Để có thể hiểu được Bitcoin, một người trước tiên cần phải hiểu được tiền, và để hiểu được về tiền, ta không còn cách nào khác ngoài việc tìm hiểu về chức năng và lịch sử của tiền tệ.

Lưu ý

Bài viết này được thực hiện với mục đích giúp người đọc tìm hiểu về khía cạnh kinh tế học của Bitcoin và cách nó đóng vai trò như một công nghệ được con người sử dụng để thực hiện các chức năng của tiền tệ trong suốt chiều dài lịch sử. Đây không phải là quảng cáo hay mời gọi người đọc mua vào Bitcoin. Nếu bạn sau khi đọc xong và rút ra rằng bitcoin là thứ gì đó đáng để sở hữu. Thì khoản đầu tư đầu tiên bạn cho vào không nên là mua bitcoin, mà là dành thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu kỹ lưỡng về nó, cách để mua, lưu trữ và sở hữu một cách an toàn. Không có lựa chọn nào khác ngoài trách nhiệm cá nhân đối với bất kỳ ai muốn sử dụng mạng lưới này, và đó mới là khoản đầu tư thực sự cần thiết để bắt đầu với Bitcoin.
Chúng ta cùng vào bài viết.

1. Tiền

Cách đơn giản nhất để con người trao đổi giá trị là qua trao đổi hàng hóa với người khác. Quá trình trao đổi trực tiếp này hay còn được gọi là đổi chác, nhưng nó chỉ thực tế trong những cộng đồng nhỏ, nơi chỉ có một vài loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất. Trong một nền kinh tế giả định gồm khoảng một chục người bị cô lập với thế giới bên ngoài, sẽ không có nhiều cơ hội cho chuyên môn hóa và trao đổi, và mỗi cá nhân có thể tự sản xuất ra những nhu yếu phẩm cơ bản để sinh tồn và trao đổi trực tiếp với nhau. Sự đổi chác đã luôn tồn tại trong xã hội loài người và vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, nhưng nó rất thiếu thực tế và chỉ gặp trong những trường hợp ngoại lệ, thường là với những người có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong một nền kinh tế tinh vi và quy mô lớn hơn, con người có cơ hội để chuyên môn hóa trong việc sản xuất nhiều loại hàng hóa hơn và trao đổi chúng với nhiều người hơn. Những người này đều là người xa lạ hoặc không có mối quan hệ cá nhân, nên việc ghi nhớ và đối chiếu liên tục các món hàng, dịch vụ hay ân huệ là điều hoàn toàn không thực tế. Khi thị trường càng lớn hơn thì sẽ có nhiều cơ hội hơn cho chuyên môn hóa và trao đổi, nhưng đồng thời cũng làm gia tăng vấn đề về sự trùng khớp nhu cầu, thứ bạn muốn mua lại được sản xuất bởi người không hề muốn thứ bạn đang có để trao đổi. Vấn đề này còn sâu xa hơn sự khác biệt đơn thuần giữa các loại hàng hóa, vì nó tồn tại dưới ba chiều kích riêng biệt.
Không trùng khớp về kích cỡ: thứ bạn muốn mua có thể không tương đương về giá trị với thứ bạn đang có, và việc chia nhỏ một trong hai món hàng có thể không khả thi. Hãy tưởng tượng bạn muốn đổi giày lấy một căn nhà; bạn không thể mua căn nhà bằng cách chia nhỏ nó thành từng phần có giá trị tương đương với một đôi giày, và người chủ nhà cũng không muốn sở hữu tất cả số giày có tổng giá trị bằng với căn nhà.
Không trùng khớp về khung thời gian: thứ bạn muốn bán có thể dễ hỏng, trong khi thứ bạn muốn mua lại bền hơn và có giá trị cao hơn, khiến việc tích lũy đủ hàng hóa dễ hỏng để đổi lấy hàng hóa bền vững tại một thời điểm trở nên rất khó khăn. Ví dụ, bạn khó có thể tích trữ đủ số táo để đổi lấy một chiếc xe hơi cùng lúc, vì táo sẽ thối rữa trước khi thỏa thuận có thể hoàn tất.
Không trùng khớp về địa điểm: bạn có thể muốn bán một căn nhà ở nơi này để mua một căn nhà ở nơi khác, nhưng (đa số) nhà thì không thể di chuyển được.
Cả ba vấn đề này khiến cho việc trao đổi trực tiếp trở nên vô cùng bất tiện, buộc con người phải thực hiện nhiều lớp trao đổi trung gian hơn để đáp ứng các nhu cầu kinh tế của mình.
Cách duy nhất để vượt qua những trở ngại này là thông qua trao đổi gián tiếp: bạn cố gắng tìm một loại hàng hóa mà người khác muốn và tìm ai đó sẵn sàng đổi nó với bạn để lấy thứ bạn đang muốn bán. Loại hàng hóa trung gian đó được gọi là phương tiện trao đổi. Dù bất kỳ hàng hóa nào cũng có thể đóng vai trò này, nhưng khi quy mô và phạm vi của nền kinh tế ngày càng mở rộng, việc con người liên tục phải tìm kiếm các loại hàng hóa khác nhau mà đối tác giao dịch của họ đang cần, rồi thực hiện nhiều giao dịch phụ cho mỗi giao dịch chính mà họ muốn thực hiện sẽ trở nên hết sức bất tiện và không hiệu quả. Một giải pháp hiệu quả hơn nhiều sẽ tự nhiên xuất hiện, đơn giản vì những người tìm ra nó sẽ có năng suất cao hơn hẳn so với những người không tìm ra: đó là một phương tiện trao đổi chung (hoặc cùng lắm là một vài phương tiện) được mọi người sử dụng để trao đổi hàng hóa. Một loại hàng hóa đảm nhận vai trò là phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi được gọi là tiền.
Chức năng đầu tiên và cốt lõi để định nghĩa nên tiền là nó phải là một phương tiện trao đổi. Nói cách khác, loại tiền lý tưởng nhất là một loại hàng hóa không phải được mua để tiêu thụ (hàng tiêu dùng), cũng không phải để sử dụng trong sản xuất các hàng hóa khác (khoản đầu tư, hay tư liệu sản xuất), mà chủ yếu là để trao đổi lấy các hàng hóa khác. Cuộc sống con người luôn gắn liền với sự bất định, và con người không thể biết chắc khi nào họ sẽ cần bao nhiêu tiền. Trong hầu hết các nền văn hóa, việc mỗi cá nhân muốn lưu trữ một phần tài sản của mình dưới dạng tiền là một lẽ thường tình và cũng là hiểu biết lâu đời. Bởi vì tiền là hình thức nắm giữ có tính thanh khoản cao nhất, cho phép người sở hữu dễ dàng chuyển đổi khi cần thiết, và vì nó mang ít rủi ro hơn bất kỳ hình thức đầu tư nào.
Từ việc quan sát những lựa chọn của con người trong các tình huống thị trường, Carl Menger - cha đẻ của trường phái kinh tế học Áo và người sáng lập phân tích cận biên trong kinh tế học - đã đưa ra cách hiểu về đặc tính then chốt khiến một hàng hóa được tự do chấp nhận làm tiền trên thị trường, đó chính là tính thanh khoản (salability) - mức độ dễ dàng mà một hàng hóa có thể được bán ra thị trường bất cứ khi nào người sở hữu muốn, với mức mất giá thấp nhất.
Trải dài khắp lịch sử loài người, rất nhiều thứ đã từng đảm nhận vai trò của tiền: nổi bật nhất là vàng và bạc, nhưng cũng có đồng, vỏ sò, tảng đá lớn, muối, gia súc, giấy do chính phủ phát hành, đá quý, hay thậm chí là rượu và thuốc lá trong một số hoàn cảnh nhất định. Lựa chọn cái gì để làm tiền của con người đều mang tính chủ quan, vì vậy không có sự phân định tuyệt đối giữa “đúng” và “sai” khi chọn một loại tiền tệ. Tuy nhiên, mọi lựa chọn đều có hệ quả của nó.
Mức độ thanh khoản tương đối của các loại hàng hóa có thể được đánh giá dựa trên khả năng của chúng trong việc giải quyết ba khía cạnh của vấn đề về sự trùng khớp nhu cầu đã đề cập từ trước: đó là tính thanh khoản theo quy mô, theo không gian, và theo thời gian.
Một hàng hóa có tính thanh khoản theo quy mô là hàng hóa có thể được chia nhỏ một cách thuận tiện thành các đơn vị nhỏ hơn hoặc gộp lại thành các đơn vị lớn hơn, cho phép người sở hữu bán ra với bất kỳ số lượng nào họ mong muốn. Tính thanh khoản theo không gian thể hiện ở khả năng dễ dàng vận chuyển hoặc mang theo khi di chuyển. Chính điều này đã dẫn đến việc các phương tiện tiền tệ tốt thường có giá trị cao trên mỗi đơn vị trọng lượng. Cả hai đặc điểm này đều không quá khó để thỏa mãn và có thể được đáp ứng bởi nhiều loại hàng hóa khác nhau có tiềm năng đóng vai trò là tiền tệ. Nhưng, chính yếu tố thứ ba, tính thanh khoản theo thời gian, mới là thứ quan trọng nhất.
Tính thanh khoản theo thời gian của một hàng hóa đề cập đến khả năng duy trì giá trị trong tương lai, cho phép người sở hữu lưu trữ của cải dưới dạng hàng hóa đó. Đây chính là chức năng thứ hai của tiền: lưu trữ giá trị. Để một hàng hóa có thể thanh khoản theo thời gian, nó cần phải kháng lại sự hư hỏng, ăn mòn hoặc các hình thức suy giảm giá trị khác. Vậy nên có thể nói chắc rằng bất kỳ ai từng nghĩ mình có thể lưu trữ của cải lâu dài bằng cá, táo hoặc bắp cải đều đã học được bài học theo cách rất đau đớn. Tính bền vững về mặt vật lý theo thời gian tuy là điều kiện cần, nhưng không đủ để một hàng hóa có thể thanh khoản theo thời gian, bởi vì một hàng hóa vẫn có thể mất giá trị nghiêm trọng ngay cả khi tình trạng vật lý của nó không hề thay đổi. Để hàng hóa có thể duy trì giá trị của mình cũng cần phải đảm bảo rằng nguồn cung của nó không tăng quá nhanh (hoặc rất khó để tăng) trong khoảng thời gian mà người sở hữu nắm giữ nó.
Một đặc điểm chung của các dạng tiền tệ trong suốt lịch sử là sự tồn tại của một cơ chế nào đó nhằm hạn chế việc sản xuất thêm các đơn vị tiền mới để bảo toàn giá trị của những đơn vị tiền đã tồn tại. Mức độ khó khăn trong việc tạo ra các đơn vị tiền mới sẽ quyết định đến cái gọi là "độ cứng" của tiền: loại tiền mà nguồn cung rất khó để gia tăng được gọi là tiền cứng, trong khi loại tiền có nguồn cung dễ bị mở rộng mạnh mẽ được gọi là tiền mềm.
Chúng ta có thể hiểu độ cứng của tiền thông qua việc xem xét hai đại lượng liên quan đến nguồn cung của một loại hàng hóa:
Stock - tổng nguồn cung hiện có, bao gồm tất cả những gì đã được sản xuất trong quá khứ, trừ đi phần đã bị tiêu thụ hoặc phá hủy; Flow - lượng sản xuất bổ sung sẽ được tạo ra trong khoảng thời gian tiếp theo.
Tỉ lệ stock-to-flow (stock/flow) là một chỉ báo đáng tin cậy về độ cứng của một loại hàng hóa nếu nó đóng vai trò là tiền và cho thấy mức độ phù hợp của nó trong vai trò tiền tệ. Một loại hàng hóa có tỷ lệ stock-to-flow thấp là hàng hóa mà nguồn cung hiện có có thể bị tăng mạnh nếu mọi người bắt đầu sử dụng nó như một phương tiện lưu trữ giá trị. Do đó, khả năng duy trì giá trị của nó sẽ rất thấp nếu được chọn làm phương tiện lưu trữ. Ngược lại, tỷ lệ stock-to-flow càng cao, thì hàng hóa đó càng có khả năng giữ giá trị theo thời gian, và vì vậy càng có tính thanh khoản theo thời gian cao hơn.
Nếu con người lựa chọn một loại tiền cứng với tỷ lệ stock-to-flow cao để làm nơi lưu trữ giá trị, thì việc họ mua vào để tích trữ sẽ làm gia tăng nhu cầu, kéo theo giá tăng lên, từ đó tạo động lực cho bên sản xuất gia tăng sản lượng. Tuy nhiên, vì sản lượng mới (flow) là nhỏ so với nguồn cung hiện có (stock), nên ngay cả khi sản xuất mới tăng mạnh thì giá cũng khó bị giảm sâu và hàng hóa vẫn giữ được giá trị của nó.
Ngược lại, nếu mọi người chọn lưu trữ tài sản bằng một loại tiền mềm với tỷ lệ stock-to-flow thấp, thì bên sản xuất của loại hàng hóa đó có thể dễ dàng tạo ra một lượng lớn hàng mới, khiến giá giảm mạnh, dẫn đến việc mất giá trị của hàng hóa, bào mòn tài sản của những người tiết kiệm và cuối cùng là phá hủy khả năng lưu trữ giá trị theo thời gian của hàng hóa đó.
Điều này còn được gọi là cái bẫy của tiền mềm: bất cứ thứ gì được sử dụng làm phương tiện lưu trữ giá trị thì nguồn cung của nó sẽ tăng lên, và cứ thứ gì có nguồn cung dễ dàng bị mở rộng thì sẽ phá hủy tài sản của những người đã dùng nó để lưu trữ giá trị. Hệ quả tất yếu của cái bẫy này là: bất kỳ loại hàng hóa nào có thể được sử dụng thành công như tiền đều sẽ cần có một cơ chế tự nhiên hoặc nhân tạo nào đó hạn chế dòng cung mới chảy vào thị trường nhằm duy trì giá trị của nó theo thời gian. Vỏ sò đã từng được dùng làm tiền khi chúng khó kiếm được, thuốc lá thì được dùng làm tiền trong tù vì chúng khó làm ra. Nhưng ở nhiều nhà tù tại Mỹ, nơi thuốc lá bị cấm và tem thư thì đắt, các tù nhân đã sử dụng mì gói như một loại tiền. Với 2 gói mì, tù nhân có thể mua được một chiếc áo với giá $10.81. [2] Đối với các loại tiền tệ quốc gia, tỷ lệ gia tăng nguồn cung càng thấp thì đồng tiền đó càng có khả năng duy trì giá trị theo thời gian và được người dân nắm giữ nhiều hơn.
Ngoài tỷ lệ stock-to-flow, một khía cạnh quan trọng khác quyết định tính thanh khoản của một phương tiện tiền tệ chính là mức độ chấp nhận của người khác. Phương tiện tiền tệ càng được nhiều người chấp nhận thì tính thanh khoản của nó càng cao, và khả năng mua bán mà không bị mất nhiều giá trị càng lớn.
Khi một phương tiện trao đổi được chấp nhận rộng rãi, mọi mức giá đều có thể được biểu thị bằng đơn vị của nó, và điều đó cho phép nó thực hiện chức năng thứ ba của tiền: đơn vị tính toán (unit of account). Trong một nền kinh tế không có phương tiện trao đổi được công nhận, mỗi hàng hóa sẽ phải được định giá bằng từng hàng hóa khác, dẫn đến một số lượng giá cực kỳ lớn khiến cho việc tính toán kinh tế trở nên vô cùng phức tạp. Ngược lại, trong một nền kinh tế có phương tiện trao đổi chung, tất cả giá của mọi hàng hóa đều được biểu thị bằng cùng một đơn vị giá trị.
Trong xã hội như vậy, tiền đóng vai trò là thước đo giá trị giữa con người với nhau; nó thưởng cho người sản xuất theo mức độ họ đóng góp giá trị cho người khác, và thể hiện cho người tiêu dùng biết họ cần phải trả bao nhiêu để có được món hàng mình mong muốn. Chỉ khi có một phương tiện trao đổi chung đóng vai trò đơn vị tính toán, thì các phép tính kinh tế phức tạp mới trở nên khả thi, và từ đó mới mở ra khả năng chuyên môn hóa sâu, tích lũy vốn, và mở rộng thị trường quy mô lớn.
Việc có một phương tiện trao đổi chung duy nhất cho phép quy mô của nền kinh tế mở rộng tương ứng với số lượng người sẵn sàng sử dụng phương tiện trao đổi đó. Quy mô nền kinh tế càng lớn, thì cơ hội thu lợi từ trao đổi và chuyên môn hóa càng nhiều; quan trọng hơn nữa, cấu trúc sản xuất cũng có thể trở nên dài hơn và tinh vi hơn.
Trong thời hiện đại, cá được đánh bắt bằng những con tàu công nghệ cao, mất nhiều năm để chế tạo và có thể vận hành trong hàng thập kỷ. Những con tàu này có khả năng ra khơi đến những vùng biển mà các tàu nhỏ không thể tiếp cận, nhờ đó đánh bắt được những loại cá mà bình thường không thể có. Chúng có thể đương đầu với thời tiết khắc nghiệt và tiếp tục hoạt động trong điều kiện rất khó khăn. Trong khi các tàu khác được chế tạo với ít vốn, kém hiện đại hơn thì buộc phải neo đậu và không thể sản xuất gì. Khi quá trình tích lũy vốn ngày càng kéo dài thì năng suất trên mỗi đơn vị lao động cũng sẽ tăng lên, và sản phẩm làm ra cũng trở nên ưu việt hơn. Những điều này sẽ hoàn toàn không làm được ở nền kinh tế nguyên thủy với công cụ thô sơ và không có tích lũy vốn. Tất cả những điều này cũng không thể xảy ra nếu thiếu đi các vai trò của tiền: là phương tiện trao đổi cho phép sự chuyên môn hóa; là nơi lưu trữ giá trị, khuyến khích con người suy nghĩ về tương lai và chuyển tài nguyên để đầu tư thay vì là tiêu thụ chúng; là đơn vị tính toán giúp tính được các lợi nhuận và thua lỗ trong các quyết định kinh tế khác nhau.
Khi đã hiểu được chức năng của tiền, ta sẽ cùng tiến đến khám phá về quá trình phát triển của chúng. Lịch sử của tiền tệ đã chứng kiến rất nhiều loại hàng hóa khác nhau đảm nhận vai trò của tiền với mức độ cứng và độ ổn định khác nhau, tùy thuộc vào trình độ công nghệ của từng thời đại. Mỗi bước tiến về công nghệ đều cho phép con người sử dụng một hình thức tiền mới với những lợi ích bổ sung, nhưng cũng đi kèm với những rủi ro và cạm bẫy mới. Bằng cách xem xét lịch sử của các công cụ và vật liệu từng được dùng làm tiền, ta có thể nhận diện được những đặc điểm tạo nên một loại tiền tốt và những yếu tố dẫn đến một loại tiền kém. Chỉ khi có được nền tảng hiểu biết này, ta mới có thể tiếp cận và hiểu được cách Bitcoin vận hành và vai trò của nó như một phương tiện tiền tệ trong thời đại số.

2. Các loại tiền cổ xưa

Đá Rai

Trong số tất cả các hình thức tiền tệ trong lịch sử mà tôi từng biết đến, hệ thống giống với cách vận hành của Bitcoin nhất chính là hệ thống tiền đá Rai cổ xưa trên đảo Yap. Saifedean Ammous
Từ rất lâu về trước, những người dân trên đảo Yap (nay thuộc Micronesia) đã sử dụng một loại tiền rất đặc biệt được làm từ đá vôi gọi là đá Rai. Những tảng đá này có kích cỡ rất đa dạng, được tạc thành đĩa tròn, có lỗ ở giữa và có thể nặng lên đến 4 tấn. Toàn bộ đá Rai đều không có nguồn gốc từ đảo Yap vì nơi này không có đá vôi mà được mang về chủ yếu từ các đảo lân cận là Palau hoặc Guam. Chính vẻ đẹp và sự hiếm có của chúng đã khiến người dân Yap tôn trọng và khao khát nó, nhưng quá trình sở hữu được chúng là vô cùng gian nan, đòi hỏi phải khai thác thủ công rồi vận chuyển bằng bè và xuồng độc mộc vượt biển. Một số tảng đá lớn cần đến hàng trăm người hợp sức vận chuyển. Khi đá đến được đảo Yap, chúng sẽ được đặt tại một vị trí nổi bật để mọi người đều có thể nhìn thấy.
Người sở hữu viên đá có thể dùng nó để thanh toán mà không cần phải di chuyển nó đi chỗ khác. Tất cả những gì anh ta cần làm là thông báo với dân làng rằng quyền sở hữu của viên đá đã chuyển sang người nhận. Cả làng sẽ đều công nhận chủ sở hữu mới, và người đó có thể dùng viên đá để thanh toán tiếp bất cứ lúc nào mình muốn. Việc trộm đi những viên đá này sẽ là điều vô nghĩa không phải vì trọng lượng của nó mà bởi ai cũng biết nó thuộc về ai và danh tính của người sở hữu là thông tin công khai trong cộng đồng.
Trong suốt hàng thế kỷ, hay thậm chí là thiên niên kỷ, hệ thống tiền tệ bằng đá Rai này đã vận hành rất hiệu quả với người dân đảo Yap. Dù chúng không phải di chuyển nhưng vẫn có tính thanh khoản theo không gian vì bất kỳ ai trên đảo cũng có thể sử dụng chúng để thanh toán ở bất cứ đâu. Sự đa dạng về kích thước của các viên đá cũng mang lại một mức độ thanh khoản theo quy mô nhất định, và người ta thậm chí có thể thanh toán bằng một phần của một viên đá. Tính thanh khoản theo thời gian của các tảng đá này được duy trì suốt nhiều thế kỷ nhờ độ khó và chi phí rất cao để khai thác và mang đá mới về đảo. Chính vì mức độ tốn kém rất lớn để mang một viên đá mới về Yap nên lượng đá đang lưu hành (stock) luôn lớn hơn rất nhiều so với lượng đá mới có thể được đưa vào (flow) trong bất kỳ giai đoạn nào. Điều này khiến người dân hoàn toàn có lý do để tin tưởng và chấp nhận chúng như một phương tiện thanh toán.
Nói cách khác, đá Rai có tỉ lệ stock-to-flow rất cao, và dù chúng có giá trị cao đến mấy thì cũng không dễ để bất kỳ ai làm "lạm phát" nguồn cung bằng cách mang thêm đá mới vào đảo. Ít nhất là vậy, cho đến năm 1871, khi một thuyền trưởng người Mỹ gốc Ireland tên là David O'Keefe bị đắm tàu trên bờ biển của Yap và được người dân địa phương cứu sống.
O'Keefe khi đó đã nhận ra một cơ hội làm ăn từ việc thu mua dừa trên đảo Yap rồi bán lại cho các nhà sản xuất dầu dừa. Nhưng ông lại không có cách nào để thuyết phục người dân địa phương làm việc cho mình bởi họ vốn đã rất hài lòng với cuộc sống trên thiên đường nhiệt đới của mình và không có nhu cầu gì đối với những loại tiền ngoại quốc mà ông có thể trả. Dẫu vậy, O'Keefe không dễ dàng bỏ cuộc. Ông đến Hồng Kông, mua một chiếc tàu lớn cùng nhiều thuốc nổ, rồi đến đảo Palau dùng chúng và các công cụ hiện đại khác để khai thác một số lượng lớn đá Rai với kích cỡ lớn. Khi đã xong xuôi, ông trở lại đảo Yap và dùng những tảng đá này để mua dừa.
Trái với kỳ vọng của vị thuyền trưởng ấy, người dân trong làng không mặn mà gì với những viên đá của ông. Tù trưởng của đảo đã cấm người dân làm việc để đổi lấy đá đó và tuyên bố rằng những viên đá của O'Keefe không có giá trị vì chúng được khai thác quá dễ dàng. Chỉ những viên đá được khai thác theo cách truyền thống, bằng mồ hôi và xương máu của người Yap mới được chấp nhận trên đảo. Tuy vậy, một số người trên đảo lại không đồng tình với tù trưởng và đã cung cấp dừa cho O'Keefe. Điều này gây ra mâu thuẫn trong cộng đồng và dẫn đến sự suy tàn của đá Rai với tư cách là tiền tệ. Ngày nay, đá Rai chỉ còn mang ý nghĩa với nghi lễ và văn hóa còn tiền của chính phủ hiện đại (đô la Mỹ) mới là phương tiện trao đổi chính được sử dụng trên đảo Yap.
Câu chuyện thú vị mà bạn vừa đọc thường mang nhiều tính biểu tượng hơn là sự thật. Sẽ là dễ dàng để nghĩ rằng O'Keefe là một kẻ xấu đã làm hủy hoại đi hệ thống tiền tệ của Yap, từ đó gây ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của người dân trên đảo. Nhưng dù thế, ông cũng chỉ là người mở màn cho sự chấm dứt không thể tránh khỏi với vai trò tiền tệ mà đá Rai từng nắm giữ khi nền văn minh công nghiệp hiện đại bắt đầu xâm nhập vào đảo Yap và đời sống của cư dân nơi đây.
Khi các công cụ hiện đại tiếp cận được khu vực, việc sản xuất ra đá Rai trở nên rẻ hơn đáng kể. Và ngày càng có nhiều "O'Keefe" khác, cả người địa phương lẫn người nước ngoài, có thể cung cấp một lượng đá mới ngày càng lớn cho Yap. Với công nghệ hiện đại, tỷ lệ stock-to-flow của đá Rai giảm mạnh, người ta có thể sản xuất nhiều hơn mỗi năm và khiến cho giá trị của nguồn đá sẵn có trên đảo bị sụt giảm nghiêm trọng. Việc sử dụng đá Rai lúc này để làm nơi lưu trữ giá trị sẽ là thiếu khôn ngoan. Và khi chúng mất đi khả năng lưu giữ giá trị theo thời gian, chúng cũng đánh mất tính thanh khoản theo thời gian, và theo đó mất luôn vai trò làm phương tiện trao đổi.

Hạt aggry

Một câu chuyện tương tự cũng đã xảy ra ở Tây Phi khi người dân ở đó từng sử dụng một loại tiền tệ được gọi là hạt aggry trong nhiều thế kỷ. Lịch sử và nguồn gốc của những hạt này đến nay vẫn chưa rõ ràng, có giả thuyết cho rằng chúng được làm từ đá thiên thạch, hoặc được trao đổi qua các thương nhân Ai Cập hoặc Phoenicia. Nhưng có điều chắc chắn rằng, chúng từng rất quý giá trong một khu vực mà kỹ thuật làm thủy tinh vừa hiếm vừa đắt đỏ, nhờ đó chúng có tỷ lệ stock-to-flow cao và giữ được giá trị theo thời gian.
Vì nhỏ gọn và có giá trị, hạt aggry đáp ứng tốt tính thanh khoản theo quy mô khi người ta có thể kết chúng lại thành chuỗi, vòng cổ hoặc vòng tay. Tuy nhiên, điểm bất tiện là có quá nhiều loại hạt khác nhau (như ở hình trên) mà không có một đơn vị chuẩn. Vì thế nên việc trao đổi vẫn gặp khó khăn. Cũng nhờ khả năng kết thành từng chuỗi, chúng cũng có tính thanh khoản theo không gian do dễ dàng mang theo và di chuyển.
Ngược lại, các loại hạt thủy tinh ở châu Âu khi đó lại không có vai trò tiền tệ vì kỹ thuật làm thủy tinh đã phổ biến. Điều này có nghĩa là nếu sử dụng làm tiền, nguồn cung có thể bị bơm vào thị trường với số lượng lớn và làm mất giá nhanh chóng. Nói cách khác, những hạt thủy tinh này có tỷ lệ stock-to-flow cao ở Tây Phi nhưng lại thấp ở châu Âu.
Vào thế kỷ 16, khi các nhà thám hiểm và thương nhân từ châu Âu đặt chân đến Tây Phi, họ nhận thấy những hạt aggry này được người dân địa phương đánh giá rất cao nên đã bắt đầu nhập khẩu chúng với số lượng lớn từ châu Âu. Những gì xảy ra sau đó tương tự như câu chuyện của O'Keefe, nhưng vì kích thước của hạt rất nhỏ và dân số châu Phi lớn hơn nhiều so với đảo Yap, quá trình này đã diễn ra âm thầm, chậm rãi hơn nhưng cũng mang theo hậu quả nghiêm trọng và bi thảm hơn rất nhiều. Từng bước một, người châu Âu đã có thể mua lại rất nhiều tài nguyên quý giá từ châu Phi như dầu cọ, vàng, ngà voi,... và nô lệ chỉ bằng những hạt thủy tinh mà họ sản xuất tại quê nhà với chi phí cực kỳ thấp.[3] Để có thể tối đa hóa lợi nhuận, các thương nhân châu Âu đã chất lên rất nhiều hạt thủy tinh trên thuyền, những hạt này cũng đóng vai trò giúp thuyền của họ ổn định hơn.
Sự xâm nhập của người châu Âu đã dần biến những hạt aggry từ tiền cứng trở thành tiền mềm, phá hủy tính thanh khoản của chúng và khiến sức mua của những hạt này giảm dần theo thời gian trong tay những người châu Phi sở hữu chúng. Điều này đã làm họ nghèo đi khi của cải của họ bị chuyển dần sang tay người châu Âu, những người có thể dễ dàng sản xuất hoặc mua được các hạt chuỗi này. Chính những hạt này về sau cũng đã đóng vai trò trong việc tiếp tay cho hoạt động buôn bán nô lệ người châu Phi sang châu Âu và Bắc Mỹ (hạt aggry còn có tên gọi khác là "hạt nô lệ").
Cú sụp đổ giá trị tức thời của một phương tiện tiền tệ như ở đảo Yap là một điều bi thảm, nhưng ít ra, nó diễn ra nhanh chóng và người sở hữu có thể sớm bắt đầu trao đổi, lưu giữ và tính toán bằng một loại tiền tệ mới. Trong khi đó, việc giá trị tiền tệ bị rút cạn một cách âm thầm theo thời gian lại nguy hiểm hơn nhiều bởi nó sẽ chuyển dần của cải từ tay người sở hữu sang tay những kẻ có thể sản xuất ra loại tiền đó với chi phí thấp.

Gia súc và muối

Một trong số những loại tiền cổ đại khác có thể kể đến là gia súc, chúng vốn được coi trọng vì có giá trị dinh dưỡng cao. Gia súc là tài sản quý giá nhất mà một người có thể sở hữu, đồng thời cũng có tính thanh khoản theo không gian vì... chúng có chân để di chuyển. Cho đến tận ngày nay, gia súc vẫn đóng vai trò làm tiền tệ trong nhiều xã hội khác nhau, đặc biệt là trong việc thanh toán sính lễ khi cưới hỏi. Tuy nhiên, vì tính cồng kềnh và khó chia nhỏ, gia súc không phù hợp giải quyết vấn đề chia tách giá trị theo quy mô, và do đó, một hình thức tiền khác đã tồn tại song song với gia súc, đó là muối.
Muối có thể dễ dàng chia nhỏ hay gộp lại theo trọng lượng mong muốn, và cũng quan trọng nhất, chúng dễ bảo quản lâu dài. Điều này khiến muối trở thành phương tiện trao đổi hiệu quả hơn trong nhiều tình huống. Từ tiếng anh salary được sử dụng phổ biến ngày nay có bắt nguồn từ "sal", hay trong tiếng Latinh nghĩa là muối.
Khi công nghệ phát triển, nhất là trong ngành luyện kim, con người đã tạo ra những hình thức tiền tệ vượt trội hơn và nhanh chóng thay thế những loại tiền cổ. Hơn nữa, vị thế của chúng lại càng suy yếu hơn trước sự xuất hiện và sử dụng đại trà của nhiên liệu hóa thạch (than, dầu mỏ). Chúng giúp gia tăng năng lực sản xuất của con người và khiến lượng cung mới (flow) của các vật phẩm này có thể tăng nhanh chóng, từ đó giảm mạnh tỷ lệ stock-to-flow. Đá Rai có thể được khai thác dễ dàng nhờ các máy móc hạng nặng, chuỗi hạt có thể được sản xuất hàng loạt với chi phí thấp, vỏ sò có thể được thu gom số lượng lớn bằng các con tàu gắn động cơ,... Một khi những loại tiền này mất đi độ cứng của nó, người nắm giữ chúng sẽ chịu thiệt hại lớn về tài sản, và toàn bộ kết cấu xã hội gắn liền với các loại tiền trên cũng sụp đổ theo.
Vị tù trưởng đảo Yap từ chối những viên đá Rai rẻ tiền từ O'Keefe đã hiểu được một điều mà ngay cả nhiều nhà kinh tế học hiện đại cũng thất bại trong việc nắm rõ: Một loại tiền mà dễ làm ra không phải là tiền; và tiền dễ làm ra không làm xã hội giàu lên, ngược lại, nó khiến xã hội nghèo đi khi toàn bộ của cải khó khăn lắm mới có được bị đem ra đổi lấy thứ gì đó quá dễ tạo ra.

3. Tiền kim loại

Khi năng lực và kỹ thuật của con người trong sản xuất hàng hóa ngày càng tinh vi, việc khai thác, sử dụng kim loại cùng các loại hàng hóa khác cũng trở nên phổ biến hơn. Nhiều kim loại đã bắt đầu được sản xuất với số lượng đủ lớn và có nhu cầu đủ cao để trở thành các phương tiện tiền tệ có tính thanh khoản cao. Chúng dễ dàng đáp ứng được tính thanh khoản theo quy mô và không gian khi có thể được chế tạo ra nhiều đơn vị nhỏ và dễ dàng mang đi khắp nơi. Việc sản xuất ra những kim loại này ban đầu cũng khó khăn, giúp chúng giữ được tính thanh khoản theo thời gian.
Nhờ độ bền và tính chất vật lý, cũng như mức độ phân bố tương đối trên Trái Đất, một số kim loại sẽ có giá trị cao hơn so với kim loại khác. Đồng và sắt là hai trong số những kim loại phổ biến nhất, chúng dễ bị ăn mòn và có thể được sản xuất ra với số lượng ngày càng lớn. Lượng sản xuất mới ra có thể vượt xa dự trữ hiện có và khiến giá trị lưu trữ trong những kim loại này dễ dàng bị phá hủy. Do đó, giá trị thị trường của đồng và sắt thường khá thấp và hay được sử dụng trong các giao dịch nhỏ.
Trong khi đó, các kim loại hiếm hơn như vàng và bạc lại có độ bền cao hơn, ít bị ăn mòn nên chúng giữ giá trị theo thời gian tốt hơn, phù hợp để làm phương tiện lưu giữ giá trị trong tương lai. Đặc biệt nhất chính là vàng, chúng gần như không thể bị phá hủy và cho phép con người có thể lưu giữ giá trị suốt nhiều thế hệ khác nhau, từ đó khuyến khích họ tích cóp của cải và truyền lại cho thế hệ con cháu sau này.
Ban đầu, kim loại được mua bán theo trọng lượng của chúng, nhưng khi luyện kim phát triển hơn, con người đã có thể đúc kim loại thành những đồng xu đồng nhất và đóng dấu chúng. Điều này giúp việc trao đổi trở nên dễ dàng hơn nhiều khi không còn phải cân và kiểm định lại qua mỗi lần giao dịch. Ba kim loại được sử dụng phổ biến nhất cho vai trò này là vàng, bạc và đồng. Việc sử dụng chúng dưới dạng tiền xu đã trở thành hình thức tiền tệ chủ yếu trong suốt khoảng 2500 năm.
Một đồng tiền vàng được đúc vào thế kỷ 6 TCN.
Một đồng tiền vàng được đúc vào thế kỷ 6 TCN.
Tiền vàng là loại hàng hóa có tính thanh khoản theo thời gian cao nhất do chúng giữ được giá trị lâu dài và không bị hư hỏng hay mục nát theo thời gian. Chúng cũng là loại tiền có tính thanh khoản theo không gian cao nhất vì mang được nhiều giá trị trong khối lượng nhỏ giúp vận chuyển dễ dàng. Trong khi đó, tiền bạc có lợi thế lớn về tính thanh khoản theo quy mô do có giá trị thấp hơn vàng trên mỗi đơn vị trọng lượng, rất tiện lợi khi sử dụng cho các giao dịch có giá trị nhỏ hơn. Và tiền đồng, chuyên dùng cho các giao dịch có giá trị nhỏ nhất. Việc chuẩn hóa giá trị thành các đơn vị rõ ràng, dễ nhận biết thông qua tiền xu đã tạo điều kiện cho sự hình thành các thị trường lớn, từ đó mở rộng quy mô cho chuyên môn hóa và giao thương trên toàn thế giới.
Dù là hệ thống tiền tệ tốt nhất về mặt công nghệ ở thời điểm đó, nó vẫn tồn tại 2 nhược điểm lớn: Thứ nhất, việc sử dụng hai hoặc ba kim loại làm tiêu chuẩn tiền tệ đã gây ra các vấn đề kinh tế do giá trị của chúng biến động theo thời gian khi ảnh hưởng bởi cung cầu thị trường. Điều này gây thiệt hại cho người sở hữu tiền xu, đặc biệt là tiền bạc, vốn đã mất giá trị do nguồn cung tăng và nhu cầu giảm theo thời gian.
Thứ hai, và cũng nghiêm trọng hơn, đó là chính quyền và những kẻ làm tiền giả có thể (và thường xuyên) giảm hàm lượng kim loại quý có trong các đồng xu. Điều này khiến giá trị tiền suy giảm vì một phần sức mua đã bị chuyển sang tay kẻ làm giả hoặc chính quyền. Việc giảm thành phần kim loại quý trong đồng tiền cũng làm suy giảm tính thuần khiết và độ cứng của tiền.

Tại sao là vàng?

Để một thứ gì đó thực sự đóng vai trò là nơi lưu giữ giá trị tốt, nó phải vượt qua được cái bẫy sau: giá trị của nó phải tăng lên khi con người có nhu cầu dùng chúng làm nơi lưu trữ giá trị. Nhưng, những người sản xuất ra chúng phải bị giới hạn (bởi các yếu tố như tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật hay chính trị) để không thể bơm thêm quá nhiều vào nguồn cung (stock) đến mức khiến giá trị kéo xuống.
Một tài sản như vậy sẽ thưởng cho những ai lựa chọn nó làm nơi lưu trữ giá trị, giúp họ giàu lên theo thời gian khi tài sản đó trở thành hình thức lưu giữ giá trị hàng đầu. Ngược lại, những ai chọn tài sản khác để tích trữ hoặc sẽ phải chuyển hướng và bắt chước theo lựa chọn của những người thành công hơn, hoặc đơn giản nhìn của cải của mình "ăn mòn" theo thời gian.
Người chiến thắng rõ ràng nhất trong cuộc đua tìm loại tài sản như vậy trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại chính là vàng. Nó là loại tài sản giữ vững được vai trò tiền tệ nhờ vào 2 đặc tính vật lý độc đáo khiến nó khác biệt với các loại hàng hóa khác: thứ nhất, vàng có tính ổn định hóa học cao, đến mức gần như không thể bị phá hủy; thứ hai, vàng không thể được tổng hợp từ các vật chất khác (bất chấp tuyên bố của các nhà giả kim) và chỉ có thể được khai thác từ quặng thô, thứ vốn vô cùng hiếm trên hành tinh này.
Tính ổn định hóa học của vàng cũng đồng nghĩa với việc gần như toàn bộ lượng vàng từng được con người khai thác vẫn còn tồn tại và đang được sở hữu ở khắp nơi trên thế giới. Nhân loại đã và đang tích lũy một kho vàng khổng lồ dưới dạng trang sức, tiền xu, và thỏi vàng; thứ không bao giờ bị tiêu hao, không rỉ sét, cũng không phân huỷ theo thời gian. Việc không thể tổng hợp vàng từ các chất hóa học khác có nghĩa rằng cách duy nhất để tăng nguồn cung vàng là khai thác nó từ lòng đất. Đây vốn là một quá trình tốn kém, độc hại và đầy rủi ro mà con người đã theo đuổi suốt hàng ngàn năm với hiệu suất ngày càng giảm.
Chỉ có bạc là kim loại gần chạm được đến vàng nhất về vai trò lưu trữ giá trị. Lý do mà bạc luôn kém hơn vàng đến từ 2 yếu tố chính: thứ nhất, bạc có thể bị ăn mòn và bị tiêu hao trong các quy trình sản xuất công nghiệp; thứ hai, bạc ít hiếm hơn so với vàng trong lớp vỏ Trái Đất và dễ tinh luyện hơn, do đó việc khai thác và sản xuất bạc cũng dễ hơn so với vàng. Cũng nhờ có tỷ lệ stock-to-flow cao thứ hai và giá trị thấp hơn vàng trên mỗi đơn vị trọng lượng mà bạc đã đóng vai trò là tiền tệ chính cho các giao dịch nhỏ trong suốt hàng ngàn năm, bổ sung cho vàng khi chúng có giá trị cao và khó chia nhỏ một cách thực tế để thực hiện các giao dịch nhỏ lẻ.
Tuy nhiên, đến thế kỷ 19, với sự phát triển của ngành ngân hàng hiện đại và sự cải tiến trong phương tiện liên lạc (sẽ nói thêm ở phần sau), con người đã có thể giao dịch bằng tiền giấy và séc được bảo chứng bằng vàng lưu trữ tại các ngân hàng thương mại hoặc ngân hàng trung ương. Vai trò tiền tệ của bạc trở nên không còn cần thiết nữa khi các giao dịch dựa trên vàng có thể diễn ra ở mọi quy mô mà không cần phải trực tiếp chia nhỏ hay vận chuyển vàng thật. Tất cả các đặc tính quan trọng của tính thanh khoản (salability) giờ đây đã được tập hợp đầy đủ theo chế độ bản vị vàng.
Khi bị tiền giấy thay thế đi, bạc đã không còn giữ được vai trò tiền tệ của mình nữa khi chúng không còn cần thiết cho các giao dịch nhỏ. Giá trị của chúng dần sụt giảm so với vàng và trở thành một kim loại dùng trong công nghiệp. Bạn hẳn đã rất quen thuộc với danh hiệu huy chương vàng và bạc trong thể thao. Nhưng lúc này, việc về nhì trong cuộc đua tiền tệ cũng chẳng khác nào là thất bại.
Trong bài viết Tại sao BẠC quan trọng với nền kinh tế nhưng giá trị lại kém VÀNG? trên spiderum gần đây. Tác giả có chỉ ra một số lợi ích của việc dự trữ bạc như làm đa dạng hóa danh mục đầu tư, làm "bến đỗ" cho các bất ổn toàn cầu hay lạm phát,... Tôi nghĩ điều này sẽ chỉ hợp lý khi lượng bạc được lưu trữ đó có số lượng ít mà thôi. Hiện nay không còn nhiều ngân hàng trung ương chính trên thế giới còn dùng bạc làm nơi lưu trữ nữa. Và dẫu có số ít các ngân hàng trung ương như Nga còn trữ bạc, số lượng mà họ nắm giữ sẽ ít hơn hoặc không đáng kể so với lượng vàng mà họ nắm giữ.
Lý do mà họ chọn nắm giữ với số lượng ít nằm ở việc ngay khi có dòng tiền đầu tư lớn đổ vào bạc, việc gia tăng nguồn cung là điều không quá khó khăn đối với các nhà sản xuất. Điều này sẽ khiến giá bạc sụp đổ và tài sản những người tiết kiệm bị bốc hơi. Một ví dụ nổi tiếng nhất về cái bẫy tiền mềm trong vô số các loại hàng hóa lại đến từ chính bạc. Vào cuối thập niên 1970, ba anh em nhà Hunt cực kỳ giàu có đã cố gắng đưa bạc trở về vai trò tiền tệ của mình bằng cách mua vào một lượng bạc khổng lồ, khiến giá của chúng tăng vọt. Họ suy luận rằng, khi giá bạc tăng lên, nhiều người sẽ muốn mua bạc hơn, nhờ thế giữ đà tăng giá và cuối cùng mọi người sẽ muốn được trả công bằng bạc hơn. Thế nhưng, dù họ có mua bao nhiêu đi nữa thì tài sản khổng lồ của họ cũng không thể so bì được với khả năng cung ứng bạc ra thị trường từ các thợ mỏ và người nắm giữ bạc. Giá bạc về sau cũng sụp đổ và các anh em nhà Hunt đã mất trắng hơn 1 tỷ đô la. Đây có lẽ là cái giá đắt nhất từng được trả để học bài học về tầm quan trọng của tỷ lệ stock-to-flow và tại sao không phải thứ gì lấp lánh cũng là vàng. [4]

4. Bản vị vàng và sự phi tiền tệ hóa của bạc

Sau khi đã trải qua nhiều thời kỳ khác nhau cùng vô số những đổi mới trong khoa học và kỹ thuật về cải thiện độ cứng của tiền. Ngày càng có nhiều người dân châu Âu tiếp nhận và sử dụng vàng và bạc cho mục đích lưu trữ và trao đổi hơn. Điều này đã giúp cho nền kinh tế mở rộng khắp lục địa và liên kết với khắp thế giới. Nhưng hình thức tiền tệ này vẫn còn rất xa mới đạt đến hoàn hảo. Chính quyền vẫn luôn có thể cắt bớt thành phần kim loại quý trong các đồng xu đi, từ đó dễ dàng đúc được nhiều tiền hơn để phung phí vào các mục đích vô bổ hay tài trợ cho chiến tranh.
Vàng, với tỷ lệ stock-to-flow cao rất lý tưởng cho mục đích lưu trữ giá trị dài hạn và phương tiện thanh toán giá trị lớn. Bạc, với giá trị thấp hơn trên mỗi đơn vị trọng lượng giúp thuận tiện hơn để chia nhỏ thành các đơn vị phù hợp cho các giao dịch nhỏ và lưu trữ ngắn hạn. Hai kim loại này đã bổ trợ cho nhau rất tốt. Nhưng dù cách sắp xếp này mang lại nhiều lợi ích, nó cũng đi kèm một nhược điểm lớn. Tỷ giá trao đổi giữa vàng và bạc luôn biến động, gây ra khó khăn trong giao thương và tính toán kinh tế. Đã có nhiều nỗ lực nhằm cố định tỷ giá của hai kim loại này nhưng cũng chỉ mang lại nhiều khó khăn hơn.
Hệ thống phức bản vị (song kim loại) nhiều bất tiện này đã tồn tại suốt nhiều thế kỷ ở châu Âu và rất nhiều nơi trên thế giới. Tuy nhiên, như nhiều hình thức tiền tệ khác mà con người đã ứng dụng trong quá khứ, sự tiến bộ không ngừng của công nghệ cũng đã mang đến giải pháp cho vấn đề này. Và nhờ nó, ưu thế tiền tệ của vàng đã giành chiến thắng cuối cùng.
Thế kỷ 19 đã chứng kiến hai phát minh mang tính đột phá là điện báo (telegraph) - được triển khai thương mại hóa lần đầu tiên vào năm 1837 và sự phát triển của hệ thống tàu hỏa - cho phép vận chuyển xuyên khắp châu Âu. Chúng đã cùng nhau đưa châu Âu và thế giới bước ra khỏi hệ thống tiền xu và đồng thời cũng làm suy thoái đi vai trò của bạc trong vai trò tiền tệ. Với hai cải tiến này, các ngân hàng ngày càng có khả năng giao tiếp với nhau hiệu quả hơn, giúp chuyển tiền nhanh chóng qua không gian khi cần thiết chỉ bằng cách ghi nợ vào tài khoản mà không cần phải chuyển giao tiền vật lý. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng việc sử dụng hối phiếu, séc và biên lai giấy như các phương tiện tiền tệ thay vì dùng các đồng xu vàng và bạc (dưới dạng vật chất) như trước đây.
Nhiều quốc gia đã bắt đầu chuyển sang một tiêu chuẩn tiền tệ dựa trên giấy bạc, chúng được bảo chứng hoàn toàn bằng kim loại quý và có thể quy đổi ngay lập tức ra vàng hay bạc được cất giữ trong các kho. Một số nước chọn vàng, trong khi những nước khác chọn bạc. Anh Quốc là nước đầu tiên áp dụng hệ thống bản vị vàng (kim bản vị) hiện đại vào năm 1717 dưới sự chỉ đạo của nhà vật lý Isaac Newton - người khi đó đang giữ chức giám đốc Xưởng đúc tiền Hoàng gia. Bản vị vàng đã góp phần quan trọng trong việc mở rộng thương mại của Anh trên toàn đế quốc, nó cũng gắn chặt với sự thống trị kinh tế của mình và các quốc gia châu Âu khác cũng dần theo sau. Khi càng có nhiều cường quốc chính thức áp dụng bản vị vàng, vàng càng trở nên dễ trao đổi trên thị trường và càng tạo ra động lực lớn hơn để các nước khác nhập cuộc.
Hơn nữa, thay vì mỗi cá nhân phải mang theo tiền xu bằng vàng và bạc cho các giao dịch lớn nhỏ, họ giờ đây có thể gửi vàng vào ngân hàng để cất giữ, trong khi sử dụng các phiếu nhận tiền, hối phiếu và séc giấy để thanh toán với mọi quy mô. Người nắm giữ phiếu nhận tiền có thể dùng trực tiếp để chi trả cho các giao dịch khác; hối phiếu được ngân hàng chiết khấu và dùng để thanh toán bù trừ, còn séc có thể được rút tiền tại ngân hàng phát hành. Điều này đã giải quyết vấn đề về khả năng chia nhỏ của vàng trong lưu thông, khiến vàng trở thành phương tiện tiền tệ tối ưu. Miễn là... các ngân hàng giữ vàng của người dân không tăng lượng giấy tờ phát hành vượt quá số vàng họ thực sự nắm giữ.
Với việc các phương tiện thanh toán được bảo chứng bằng vàng trong các kho dự trữ cho phép thanh toán với bất kỳ số lượng và quy mô. Vai trò của bạc trong các giao dịch nhỏ lẻ đã không còn cần thiết nữa. Và hồi chuông báo tử cho vai trò tiền tệ của bạc vang lên sau kết thúc của cuộc chiến tranh Pháp - Phổ khi Đức buộc Pháp phải bồi thường chiến phí 200 triệu bảng Anh bằng vàng và sử dụng số vàng này để chuyển sang chế độ kim bản vị. Khi Đức gia nhập cùng với Anh, Pháp, Hà Lan, Thụy Sĩ, Bỉ và một số quốc gia khác, cán cân tiền tệ đã nghiêng hẳn về phía vàng. Hệ quả là các cá nhân và quốc gia vẫn còn sử dụng bạc bắt đầu chứng kiến sự suy giảm dần dần sức mua của họ, đồng thời có thêm động lực mạnh mẽ để chuyển sang sử dụng vàng.
Bạc từ một vị vua bên cạnh vàng nay đã bị phế truất không thương tiếc khi không còn lý do chính đáng để tồn tại với vai trò tiền tệ nữa. Giá trị của bạc cũng theo đó mà sụp đổ, một cú trượt dốc mà nó chưa từng phục hồi. Điều này dẫn đến một câu hỏi, hệ quả lớn nào có thể xảy ra ở những quốc gia vẫn theo chế độ bản vị bạc (ngân bản vị)?
Sự phi tiền tệ hóa của bạc đã gây ra ảnh hưởng tiêu cực sâu sắc đối với những quốc gia đang sử dụng nó làm tiêu chuẩn tiền tệ vào thời điểm đó. Ấn Độ chứng kiến đồng rupee của mình liên tục mất giá so với các quốc gia châu Âu dùng bản vị vàng, buộc chính quyền thuộc địa Anh phải tăng thuế để tài trợ cho bộ máy vận hành. Điều này đã dẫn đến sự bất mãn và căm phẫn ngày càng gia tăng đối với chế độ thực dân. Cho đến năm 1898 họ mới chuyển sang dùng bảng Anh được bảo chứng bằng vàng để làm cơ sở cho đồng rupee, từ bỏ đi chế độ bản vị bạc. Trung Quốc và Hồng Kông là những nền kinh tế cuối cùng của thế giới từ bỏ đi ngân bản vị vào năm 1935.
Việt Nam, và sau này là một phần của Liên bang Đông Dương, cũng đã rơi vào những bất lợi tương tự các nước châu Á khác khi vẫn theo hệ thống ngân bản vị. Người Pháp trong quá trình chiếm thuộc địa đã tạo ra hệ thống tiền tệ có lợi cho họ. Năm 1885, họ chính thức phát hành đồng piastré (đồng Đông Dương) với giá trị được neo theo giá trị của bạc. Nhưng khi càng có nhiều nước phương Tây chuyển sang hệ thống bản vị vàng, giá trị của đồng Đông Dương nhanh chóng giảm mạnh so với đồng franc của Pháp (vốn neo theo vàng). Tác động đến Việt Nam là vô cùng lớn, hàng hóa xuất khẩu trở nên rẻ hơn trên thị trường quốc tế, trong khi hàng nhập khẩu từ Pháp và các nước theo bản vị vàng thì vô cùng đắt đỏ. Sức mua của những đồng tiền mà người dân vất vả làm ra thì ngày càng yếu đi. Người Pháp nhờ đó đã dễ dàng khai thác đến tối đa rất nhiều tài nguyên như lúa gạo, cao su, than đá, kim loại cho đến sức lao động và cả chính con người với cái giá rất rẻ. [5] Cho đến năm 1930, đồng Đông Dương mới được chuyển sang neo giá trị theo đồng franc (tức cũng là neo theo vàng), từ đó kết nối trực tiếp nền kinh tế Đông Dương với nền kinh tế Pháp.
Bản thân tôi cho rằng, lịch sử của Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam, cùng với việc các nước này không thể bắt kịp phương Tây trong thế kỷ 20 có mối liên hệ không thể tách rời với sự hủy diệt nghiêm trọng về tài sản và vốn xảy ra khi kim loại tiền tệ của họ bị phi tiền tệ hóa. Việc bạc bị phi tiền tệ hóa cũng đã đẩy người dân các nước ấy vào một hoàn cảnh tương tự như người Tây Phi cùng chuỗi hạt aggri khi người châu Âu xuất hiện: tiền cứng trong nước lại trở thành tiền mềm đối với người nước ngoài - những người sau đó có thể thâu tóm ngày càng nhiều tài sản và nguồn lực ra khỏi các nước ấy trong thời kỳ đó.
Đây là một bài học lịch sử vô cùng quan trọng và nên được ghi nhớ bởi bất kỳ ai cho rằng việc từ chối Bitcoin đồng nghĩa với việc họ không phải đối mặt với nó. Lịch sử đã chứng minh rằng bạn không thể tự cách ly mình khỏi hệ quả khi người khác sở hữu một loại tiền tệ có độ cứng cao hơn của bạn.
- Còn tiếp -

Tham khảo

Sách: The Bitcoin Standard bởi Saifedean Ammous [1] https://investingnews.com/daily/tech-investing/blockchain-investing/bitcoin-price-history/#rebelltitem1 [2] https://www.youtube.com/watch?v=PLt9fRYT92M&t=130s [3] https://www.contemporary-african-art.com/african-beads-and-beading.html [4] https://en.wikipedia.org/wiki/Silver_Thursday [5] https://vi.wikipedia.org/wiki/Đồng_bạc_Đông_Dương https://indochine.uqam.ca/en/historical-dictionary/333-currency-french-indochina.html https://courses.lumenlearning.com/suny-worldhistory/chapter/27-4-3-economic-and-social-impacts-of-imperialism-in-indochina