GIAO CHIẾN

Princess Royal, chiếc tàu từng tham chiến tại Heligoland Bight, Dogger Bank và Jutland. Trong trận Jutland, tàu trúng chín phát đạn cỡ nòng lớn, khiến 22 người thiệt mạng và 81 người bị thương. Princess Royal đã ghi nhận năm phát trúng mục tiêu bằng pháo 13,5 inch lên hai thiết giáp tuần dương hạm Đức khác nhau. (Library of Congress)
Princess Royal, chiếc tàu từng tham chiến tại Heligoland Bight, Dogger Bank và Jutland. Trong trận Jutland, tàu trúng chín phát đạn cỡ nòng lớn, khiến 22 người thiệt mạng và 81 người bị thương. Princess Royal đã ghi nhận năm phát trúng mục tiêu bằng pháo 13,5 inch lên hai thiết giáp tuần dương hạm Đức khác nhau. (Library of Congress)

TRẬN HẢI CHIẾN DOGGER BANK

Diễn biến trận hải chiến Dogger Bank ngày 24 tháng 1 năm 1915
Diễn biến trận hải chiến Dogger Bank ngày 24 tháng 1 năm 1915
Vào lúc 17 giờ 45 phút ngày 23 tháng 1, Hipper dẫn lực lượng thiết giáp tuần dương rời cảng. Vì Von der Tann vẫn đang trong quá trình sửa chữa, người Đức chỉ còn ba thiết giáp tuần dương hạm – Seydlitz (soái hạm), MoltkeDerfflinger. Hipper cũng quyết định mang theo tàu tuần dương bọc thép Blücher để bù đắp cho sự thiếu hụt về quân số. Việc đưa Blücher theo hóa ra lại là một quyết định then chốt, bởi tốc độ tối đa của con tàu chỉ đạt 23 hải lý/giờ, chậm hơn cả những thiết giáp tuần dương hạm cũ nhất của Anh. Hộ tống các tàu tuần dương hạng nặng là bốn tàu tuần dương hạng nhẹ và 19 tàu khu trục. Nếu mọi việc diễn ra theo đúng kế hoạch, lực lượng này sẽ tiến đến khu vực Dogger Bank và quay trở về căn cứ vào cuối ngày 24 tháng 1.
Vì người Anh đã chặn và giải mã được mệnh lệnh của Hipper, nên hầu như không có khả năng mọi việc sẽ diễn ra theo đúng kế hoạch của Đức. Bộ Hải quân Anh nhanh chóng lập ra một kế hoạch nhằm tung lực lượng áp đảo để đánh chặn Hipper. Để thực hiện cuộc đánh chặn này, các thiết giáp tuần dương hạm của Beatty rời căn cứ ở Rosyth lúc 18 giờ, chỉ vài phút sau khi Hipper khởi hành. Beatty chia lực lượng của mình thành 2 hải đoàn thiết giáp tuần dương. Dưới quyền chỉ huy trực tiếp của ông là soái hạm Lion, cùng với TigerPrincess Royal. Hải đoàn thiết giáp tuần dương số 2 do Chuẩn Đô đốc Sir Archibald Moore (1862–1934) chỉ huy gồm có New Zealand Indomitable. Hộ tống lực lượng này là bốn tàu tuần dương hạng nhẹ thuộc Hải đoàn tàu tuần dương hạng nhẹ số 1. Ba tàu tuần dương hạng nhẹ khác cùng với 35 tàu khu trục sẽ gia nhập lực lượng của Beatty tại điểm hẹn lúc 07 giờ ngày 24 tháng 1, ở phía bắc Dogger Bank. Một lực lượng tàu tuần dương bọc thép và một hải đoàn gồm bảy thiết giáp hạm tiền-dreadnought cũng rời Rosyth để có thể bảo vệ bờ biển phía đông và chặn đường nếu Hipper đi về hướng bắc. Bộ Hải quân Anh đánh giá rằng những lực lượng này là đủ để thực hiện nhiệm vụ, bởi Đại hạm đội chưa được thông báo về chiến dịch cho đến đầu buổi chiều và không thể xuất phát trước 21 giờ. Điều đó có nghĩa là khi trận chiến giữa các thiết giáp tuần dương hạm bắt đầu, hạm đội chiến tác chiến Anh vẫn còn cách đó 140 hải lý.
Bản đồ về nơi diễn ra trận đánh ở Dogger Bank (vòng màu đỏ)
Bản đồ về nơi diễn ra trận đánh ở Dogger Bank (vòng màu đỏ)
Beatty rất kỳ vọng vào một chiến thắng lớn vào ngày 24. Cuộc hội quân diễn ra suôn sẻ tại đúng vị trí mà Bộ Hải quân Anh tính toán là nơi Beatty có thể đánh chặn được Hipper. Mọi thứ đã sẵn sàng để giăng bẫy những người Đức không hay biết gì, và thời tiết ở Biển Bắc cũng thuận lợi với biển lặng và tầm nhìn hoàn hảo.
Trận chiến bắt đầu với cuộc chạm trán giữa các tàu tuần dương hạng nhẹ vào khoảng 07 giờ 20 phút. Dựa theo âm thanh pháo nổ, các thiết giáp tuần dương của Beatty nhanh chóng tiếp cận và phát hiện lực lượng Đức. Với mong muốn ngăn đối phương trốn thoát, Beatty ra lệnh chuyển hướng đông nam với tốc độ tối đa để tận dụng hướng gió nhằm tránh khói che khuất tầm nhìn và cuối cùng chặn đường rút về căn cứ của người Đức. Phản ứng ban đầu của Hipper có phần lưỡng lự, vì ông nghĩ rằng các báo cáo ban đầu chỉ cho thấy lực lượng hạng nhẹ lẻ tẻ của Anh. Tuy nhiên, các báo cáo bổ sung về lượng khói dày đặc ở phía tây bắc và tây nam, cùng thông tin có nhiều tàu tuần dương và tàu khu trục, khiến Hipper kết luận rằng ông hiện đang rơi vào bẫy. Tuy nhiên, vì ông nhận được tin tình báo cho rằng đối phương là các thiết giáp hạm (chứ không phải thiết giáp tuần dương hạm nhanh hơn), nên vào lúc 07 giờ 35 phút, Hipper ra lệnh chuyển hướng đông nam với tốc độ 20 hải lý/giờ. Người Anh tiếp tục truy đuổi, và một cuộc rượt đuổi bắt đầu. Phải đến khi nhận ra rằng đối phương đang rút ngắn khoảng cách một cách nhanh chóng, Hipper mới hiểu rằng mình đang đối mặt với các thiết giáp tuần dương hạm của đối phương.
Đến 07 giờ 50 phút, người Anh đã thu hẹp khoảng cách, và Beatty phát hiện người Đức ở mạn trái phía trước ở khoảng cách 14 dặm. Để nhanh chóng tiếp cận, Beatty lần lượt ra lệnh tăng tốc độ lên 27 hải lý/giờ lúc 08 giờ 34 phút, rồi 28 hải lý/giờ, và cuối cùng là 29 hải lý/giờ lúc 08 giờ 54 phút. Điều này khiến lực lượng của Beatty nhanh hơn đáng kể so với 23 hải lý/giờ của lực lượng Hipper, nhưng tốc độ cao đã khiến các thiết giáp tuần dương hạm Anh bị chia tách thành hai nhóm. New ZealandIndomitable không thể vượt quá 26 hải lý/giờ nên bị tụt lại. Lúc 08 giờ 45 phút, Lion khai hỏa vào Blücher từ khoảng cách 20.000 yard. Lúc 09 giờ, TigerPrincess Royal cũng tham chiến. Cả ba tàu Anh đều bắn chậm và chính xác từ các tháp pháo phía trước bằng loạt hai pháo. Hai tàu còn lại vẫn ngoài tầm bắn. Phát bắn trúng đầu tiên vào Blücher được ghi nhận lúc 09 giờ 09 phút từ Lion, khiến con tàu giảm tốc độ và hai tháp pháo phía sau bị loại khỏi vòng chiến. Một đám cháy lớn bùng lên giữa tàu.
Lúc 09 giờ 11 phút, người Đức khai hỏa bằng dàn pháo chính. Chỉ các tháp pháo phía sau và ở mạn phải mới có thể khai hỏa. Khói tàu của chính họ đã cản trở tầm nhìn. Lion là mục tiêu chính do nó là tàu Anh duy nhất trong tầm nhìn rõ ràng, ở cự ly 18.000 yard – xa hơn mức người Đức từng huấn luyện để giao chiến.
Chỉ vài phút sau, Lion chuyển hỏa lực từ Blücher sang Derfflinger. Lúc 09 giờ 28 phút, Lion bị trúng phát đạn đầu tiên trong tổng số 16 phát trúng trong trận chiến. Đó là đạn 8 inch từ Blücher, tuy không xuyên được giáp nhưng đã gây thương vong cho kíp pháo thủ và khiến một nòng pháo không còn hoạt động. New Zealand bắt đầu khai hỏa vào Blücher lúc 09 giờ 30 phút.
Giờ đây khi đã chắc chắn đối phương là thiết giáp tuần dương hạm, Hipper tăng tốc lên 23 hải lý/giờ – cũng là tốc độ tối đa của Blücher. Người Anh vẫn tiếp tục rút ngắn khoảng cách và trận chiến bước sang giai đoạn mới. Lúc 09 giờ 35 phút, khi khoảng cách còn 17.500 yard, Beatty ra lệnh cho từng tàu trong đội hình của mình tấn công từng một tàu Đức tương ứng: Lion đấu với Seydlitz, Tiger đấu với Moltke, Princess Royal đấu với DerfflingerNew Zealand tiếp tục bắn vào Blücher. Tuy nhiên, chỉ huy của Tiger – Đại tá Hải quân Henry B. Pelly – nghĩ rằng Indomitable đang bắn vào Blücher (trên thực tế vẫn ngoài tầm bắn), nên đã bắn vào tàu Đức dẫn đầu là Seydlitz, vì vậy mà Moltke không bị tấn công. Beatty chọn cách phân chia mục tiêu như vậy vì hai lý do chính: thứ nhất, nếu mỗi tàu chỉ bắn vào một mục tiêu thì sẽ dễ quan sát đường đi của đạn và điều chỉnh tốt hơn; thứ hai, điều đó bảo đảm mọi tàu đối phương đều bị bắn, không có tàu địch nào được bắn yên ổn mà không bị cản trở.
Những phút đầu tiên của giai đoạn chính diễn ra thuận lợi cho Beatty. Lúc 09 giờ 40 phút, Lion ghi được một phát trúng gây nghiêm trọng vào Seydlitz: đạn 13,5 inch xuyên qua boong đuôi và đánh trúng bệ tháp pháo sau của tàu Đức. Đạn không xuyên thủng lớp giáp dày 9 inch, nhưng mảnh đạn nóng xuyên qua, chạm vào thuốc nổ và gây cháy lớn. Lửa tràn vào tháp pháo, lan xuống chân tháp và bùng lên dữ dội. Những người sống sót mở cửa kết nối sang tháp pháo bên cạnh, khiến lửa lan sang phòng xử lý đạn tiếp theo và phá hủy cả hai tháp pháo sau lẫn cùng toàn bộ kíp pháo thủ. Seydlitz suýt chút nữa đã phát nổ nếu hầm đạn phía sau không được ngăn chặn. May mắn thay, sĩ quan điều hành đã ra lệnh làm ngập cả hai hầm đạn để cứu tàu.
Tuy vậy, người Đức bắn rất chính xác và nhanh chóng phản đòn vào soái hạm của Beatty. Lúc 10 giờ 01 phút, một quả đạn duy nhất từ Seydlitz đánh trúng Lion, xuyên qua giáp thân tàu và khiến nước tràn vào khoang điện, gây đoản mạch hai máy phát. Lion bị nghiêng sang trái. Tiếp theo là hai quả đạn trúng từ Derfflinger lúc 10 giờ 18 phút, khiến nước biển tràn vào hệ thống nước ngọt dùng cho nồi hơi. Đây là những đòn quyết định của trận đánh, buộc Lion phải rút lui cùng với Beatty. Đến 10 giờ 52 phút, Lion đã trúng tổng cộng 14 quả đạn, cho thấy khả năng chịu đòn của các thiết giáp tuần dương. Tàu giờ đây đã ngập 3.000 tấn nước trong thân tàu, động cơ mạn trái ngừng hoạt động và tốc độ giảm xuống còn 15 hải lý/giờ.
Trận Dogger Bank nhanh chóng biến thành một cuộc truy kích từ phía sau, khi các thiết giáp tuần dương hạm của Beatty đuổi theo lực lượng Đức đang rút lui. Cảnh tượng này mô tả tình hình vào khoảng 10 giờ 30 phút sáng, thời điểm mà hai lực lượng thiết giáp tuần dương ở vào vị trí gần như song song nhau. Dẫn đầu hàng tàu Đức là Seydlitz, tiếp theo là Moltke, rồi đến Derfflinger, và cuối cùng là tuần dương bọc thép Blücher (nằm ngoài khung hình). Các tàu Đức đều di chuyển với tốc độ cao, vì vậy khói dày đặc từ ống khói của chúng đều được hiện rõ. Cả ba tàu chiến Đức đều đang nổ súng về phía các tàu Anh, lúc này nằm ở góc mạn phải phía sau của chúng. (Paul Wright)
Trận Dogger Bank nhanh chóng biến thành một cuộc truy kích từ phía sau, khi các thiết giáp tuần dương hạm của Beatty đuổi theo lực lượng Đức đang rút lui. Cảnh tượng này mô tả tình hình vào khoảng 10 giờ 30 phút sáng, thời điểm mà hai lực lượng thiết giáp tuần dương ở vào vị trí gần như song song nhau. Dẫn đầu hàng tàu Đức là Seydlitz, tiếp theo là Moltke, rồi đến Derfflinger, và cuối cùng là tuần dương bọc thép Blücher (nằm ngoài khung hình). Các tàu Đức đều di chuyển với tốc độ cao, vì vậy khói dày đặc từ ống khói của chúng đều được hiện rõ. Cả ba tàu chiến Đức đều đang nổ súng về phía các tàu Anh, lúc này nằm ở góc mạn phải phía sau của chúng. (Paul Wright)
Khi Lion lệch khỏi đội hình, Beatty đã bắt đầu mất quyền kiểm soát trận chiến. Lúc 10 giờ 54 phút, sau khi đích thân phát hiện một kính tiềm vọng tàu ngầm, Beatty ra lệnh hạm đội rẽ trái. Động thái này khiến đội hình của ông cắt ngang đường đi của lực lượng Đức, chuyển từ bên mạn sang phía sau hạm đội của Hipper. Điều này giúp phe Đức làm giãn được khoảng cách và gây nhầm lẫn cho các thuyền trưởng thiết giáp tuần dương hạm còn lại của Beatty. Tình hình ngày càng rối ren khi Beatty cố ra tín hiệu cho các tàu tiếp tục truy đuổi lực lượng Đức đang rút lui và để tàu Indomitable kết liễu chiếc Blücher đang bị tàn phế. Do vô tuyến khi đó không được xem là đáng tin cậy, phương thức chính để ra lệnh là bằng cờ hiệu. Không có tín hiệu cụ thể để diễn đạt đúng ý định của Beatty, sĩ quan tín hiệu buộc phải chọn tín hiệu gần nghĩa nhất trong sách tín hiệu. Tín hiệu đó là “Tấn công phía sau của địch”, nhưng do tín hiệu cho lần đổi hướng trước đó vẫn còn hiệu lực, nên lệnh này bị đọc nhầm thành “Tấn công phía sau của địch theo hướng đông bắc”. Vì Beatty bị kẹt trên chiếc Lion bị thương, quyền chỉ huy giờ chuyển sang tay Moore, và ông hiểu lệnh đó là Beatty từ bỏ cuộc truy đuổi và ra lệnh tập trung vào Blücher, lúc đó nằm về phía đông bắc.
Khi soái hạm Lion do hư hại mà buộc phải chậm lại, Beatty đã ra hiệu hạm đội truy kích quân Đức nhưng tín hiệu được soạn thảo không tốt và ghi nhầm là "Tấn công phía sau địch theo hướng đông bắc", khiến toàn bộ hạm đội còn lại (trong tranh lần lượt từ xa đến gần là Princess Royal, New Zealand và Indomitable) của ông tấn công vào con tàu chậm nhất trong đội hình Đức là Blucher (bên phải bức tranh) và đánh chìm nó, tạo điều kiện cho các tàu Đức còn lại chạy thoát. (Paul Wright)
Khi soái hạm Lion do hư hại mà buộc phải chậm lại, Beatty đã ra hiệu hạm đội truy kích quân Đức nhưng tín hiệu được soạn thảo không tốt và ghi nhầm là "Tấn công phía sau địch theo hướng đông bắc", khiến toàn bộ hạm đội còn lại (trong tranh lần lượt từ xa đến gần là Princess Royal, New Zealand và Indomitable) của ông tấn công vào con tàu chậm nhất trong đội hình Đức là Blucher (bên phải bức tranh) và đánh chìm nó, tạo điều kiện cho các tàu Đức còn lại chạy thoát. (Paul Wright)
Lúc 11 giờ 09 phút, ba thiết giáp tuần dương hạm đi đầu của Anh bắt đầu chuyển hỏa lực khỏi lực lượng của Hipper để nhắm vào Blücher đang tê liệt. Indomitable cuối cùng cũng đã bắt kịp đội hình và được Beatty ra lệnh kết liễu Blücher, lúc này đang rẽ trái do hệ thống lái bị hư hại. Hipper từng cân nhắc việc cứu chiếc Blücher bị thương, nhưng với tình hình bị bốn thiết giáp tuần dương đang bao vây, số phận của nó giờ đây đã được định đoạt. Theo lịch sử chính thức của Đức về trận đánh, Blücher trúng số lượng lớn đạn pháo hạng nặng, ước tính khoảng 70 quả, và còn bị đánh trúng bởi hai ngư lôi. Đúng vào lúc giữa trưa, chiếc tàu tuần dương bọc thép bị lật úp và chìm. Những thước phim ghi lại cảnh thủy thủ đoàn trèo qua phần thân lật ngửa đã được sử dụng từ đó đến nay như hình ảnh biểu tượng cho cảnh một tàu lớn bị đánh chìm trong chiến tranh. Cuộc chiến dũng cảm đến phút chót của Blücher khiến ngay cả người Anh cũng phải nể phục. Nhưng cái giá phải trả là rất đắt; trong số 1.026 thành viên thủy thủ đoàn, chỉ có 234 người sống sót và được các tàu Anh cứu vớt.
Cuộc chiến sinh tử của Blücher đã tạo điều kiện cho phần còn lại của lực lượng Hipper rút lui an toàn. Khi Beatty có thể rời khỏi soái hạm Lion bằng tàu khu trục để chuyển sang chiếc Princess Royal, hiện đã là 12 giờ 27 phút và lực lượng Đức đã cách xa 12 hải lý, chỉ còn cách đảo Heligoland 80 hải lý. Cuộc truy đuổi chính thức kết thúc.
Tàu Blücher bị lật úp trong trận Dogger Bank. Con tàu không thể theo kịp đội hình của Hipper và trở thành chiến hạm lớn duy nhất bị mất trong trận đánh. Ba thiết giáp tuần dương hạm của Hipper đã thoát được sau khi những trục trặc trong chỉ huy và kiểm soát khiến lực lượng Anh dồn hỏa lực vào Blücher bị thương. (NHHC NH 43105)
Tàu Blücher bị lật úp trong trận Dogger Bank. Con tàu không thể theo kịp đội hình của Hipper và trở thành chiến hạm lớn duy nhất bị mất trong trận đánh. Ba thiết giáp tuần dương hạm của Hipper đã thoát được sau khi những trục trặc trong chỉ huy và kiểm soát khiến lực lượng Anh dồn hỏa lực vào Blücher bị thương. (NHHC NH 43105)
Trận Dogger Bank rõ ràng là một chiến thắng của người Anh, nhưng Beatty và tất cả những ai tham gia phía Anh đều cảm thấy đó là một thắng lợi nhạt nhòa. Việc ba thiết giáp tuần dương Đức thoát được là một đòn giáng mạnh, dù người Anh tin rằng họ đã gây thiệt hại nặng cho Seydlitz Derfflinger. Đổi lại, cái giá Anh phải trả là khá thấp. Dù bị trúng 16 quả đạn, Lion chỉ có 11 người bị thương. Tuy nhiên, con tàu bị hư hại nặng tới mức phải được Indomitable kéo về Rosyth và mất bốn tháng để sửa chữa. Tiger trúng sáu phát, nhưng thiệt hại nhẹ, với 9 người chết và 8 người bị thương.
Trách nhiệm cho việc cơ hội bị bỏ lỡ nhanh chóng được đổ lên lỗi tín hiệu và sự thiếu quyết đoán cũng như nhạy bén của Moore. Sự rối loạn do tín hiệu kém có thể đã được hóa giải nếu Moore hiểu rõ hơn về ý định của chỉ huy và hành động với tinh thần quyết liệt kiểu Nelson. Ông bị âm thầm chuyển sang một chỉ huy khác vào tháng Hai. Một vấn đề đã được nhận diện ngay lúc đó là hiệu suất kém của pháo binh Anh. Việc lắp đặt hệ thống chỉ huy hỏa lực trung tâm trên cột buồm chính được đẩy nhanh, và đến trận Jutland, toàn bộ thiết giáp tuần dương Anh đã được trang bị hệ thống này.
Tranh minh hoạ về vụ nổ tháp pháo phía sau của SMS Seydlitz khi bị trúng đạn của HMS Lion. Nhờ vào sự can thiệp kịp thời của Pumpmaster Wilhelm Heidkamp - từng là một phần của đội ngũ thủy thủ được giao nhiệm vụ trên Seydlitz khi còn xưởng đóng tàu Blohm nên ông đã tìm ra văn xả, làm ngập hầm đạn kịp thời bất chấp khói độc và lửa đốt cháy xung quanh, giúp con tàu tránh được kết cục thảm họa
Tranh minh hoạ về vụ nổ tháp pháo phía sau của SMS Seydlitz khi bị trúng đạn của HMS Lion. Nhờ vào sự can thiệp kịp thời của Pumpmaster Wilhelm Heidkamp - từng là một phần của đội ngũ thủy thủ được giao nhiệm vụ trên Seydlitz khi còn xưởng đóng tàu Blohm nên ông đã tìm ra văn xả, làm ngập hầm đạn kịp thời bất chấp khói độc và lửa đốt cháy xung quanh, giúp con tàu tránh được kết cục thảm họa
Từ phía Đức, chiến dịch vốn đã không được lên kế hoạch tốt ngay từ đầu, và với ưu thế tình báo của người Anh, Hipper đã rất may mắn khi có thể rút phần lớn lực lượng của mình khỏi sự tiêu diệt. Việc đưa Blücher vào chiến dịch là một sai lầm nghiêm trọng, nhưng trớ trêu thay, lại góp phần cứu phần còn lại của đội hình Hipper. Thiệt hại vật chất của chiến dịch không lớn vì tổn thất của Blücher không mang nhiều ý nghĩa. Thiệt hại của Seydlitz thì nghiêm trọng, nhưng con tàu đã sẵn sàng tác chiến trở lại vào ngày 1 tháng 4. Ba phát trúng vào Derfflinger chỉ gây thiệt hại nhẹ. Tổn thất nhân mạng thì nặng nề: ngoài thủy thủ đoàn của Blücher, có thêm 159 người thiệt mạng trên Seydlitz và 83 người bị thương. Nhìn chung, phía Đức đã chiến đấu tốt và pháo binh của họ chứng tỏ vượt trội. Ngoài những phát bắn trúng Blücher (hầu hết ở cự ly gần), người Anh chỉ ghi được sáu phát trúng khác. Trong khi đó, người Đức đã ghi được 22 phát trúng, tất cả đều ở cự ly trung bình đến xa. Có lẽ quan trọng nhất, vụ suýt nổ tung của Seydlitz đã buộc phía Đức phải thay đổi quy trình xử lý thuốc nổ.

SỰ CHUẨN BỊ TRƯỚC TRẬN JUTLAND

Tàu chiến lớp Indefatigable – Australia – đã va chạm với tàu chị em New Zealand vào ngày 22 tháng 4 năm 1916 và không được sửa chữa kịp thời để tham gia trận Jutland. Con tàu đã sống sót qua chiến tranh và bị đánh chìm vào năm 1924 để tuân thủ các giới hạn do Hiệp ước Hải quân Washington đặt ra. (Cody Images)
Tàu chiến lớp Indefatigable – Australia – đã va chạm với tàu chị em New Zealand vào ngày 22 tháng 4 năm 1916 và không được sửa chữa kịp thời để tham gia trận Jutland. Con tàu đã sống sót qua chiến tranh và bị đánh chìm vào năm 1924 để tuân thủ các giới hạn do Hiệp ước Hải quân Washington đặt ra. (Cody Images)
Trong lần đụng độ tiếp theo, lực lượng của Beatty được tổ chức thành ba hải đoàn và được đặt tên mới là Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm (Battlecruiser Fleet). Hạm đội này vẫn được đặt căn cứ tại Rosyth trong khi Đại hạm đội Anh (Grand Fleet) vẫn đóng tại Scapa Flow. Nếu như Dogger Bank là trận chiến mà người Anh chỉ có lợi thế nhỏ về quân số, thì với việc một số tàu trở về sau khi hoàn thành nhiệm vụ hoặc sửa chữa, Beatty giờ đây đã có trong tay tổng cộng 9 thiết giáp tuần dương hạm.
Trận Dogger Bank dẫn đến việc Đô đốc Friedrich von Ingenohl bị bãi nhiệm, mặc dù Hipper vẫn được tín nhiệm. Ingenohl được thay thế bởi Phó Đô đốc (Vizeadmiral) Hugo von Pohl (1855–1916), người tỏ ra còn thận trọng hơn cả người tiền nhiệm. Trận chiến cũng chứng minh rằng chiến lược hiện tại của Đức – dựa vào thủy lôi và tàu ngầm nhằm làm giảm ưu thế của Đại hạm đội – không hiệu quả. Do Hoàng đế Đức khi ấy cấm chỉ huy mới của Hạm đội Biển khơi (High Seas Fleet) được tiến ra xa hơn một ngày hành trình từ các căn cứ, và phía Anh cũng không sẵn lòng đưa tàu chiến chủ lực của mình đến quá gần bờ biển Đức, nên triển vọng xảy ra thêm các trận đánh giữa các thiết giáp hạm gần như bằng không.
Trước thất bại của chiến lược hải quân Đức tại Biển Bắc, họ buộc phải tìm hướng tiếp cận khác. Một cuộc phong tỏa thương mại bằng tàu ngầm đã được khởi xướng. Điều này bao gồm việc đánh chìm tàu trong một vùng chiến sự được chỉ định mà không báo trước – một hành động chắc chắn sẽ khiến các quốc gia trung lập (đặc biệt là Hoa Kỳ) phẫn nộ. Đức tuyên bố vùng biển xung quanh Anh là vùng chiến sự vào ngày 4 tháng 2 năm 1915 và chiến dịch bắt đầu vào ngày 28 tháng 2. Ngay từ đầu, đã xảy ra một số sự cố liên quan đến tàu của các nước trung lập, buộc Đức phải hủy bỏ chiến dịch vào tháng 9. Sau đó, chiến dịch này được thay thế bằng một chiến dịch tàu ngầm có giới hạn, chỉ nhắm vào tàu của phe Đồng minh. Ngày 20 tháng 4, Hoa Kỳ đã ra tối hậu thư, buộc Đức phải trở lại tuân thủ các quy tắc bắt giữ tàu truyền thống.
HMS Queen Mary, Princess Royal và Lion (từ trái sang phải) vào khoảng 13 giờ chiều ngày 31 tháng 5 năm 1916, khoảng 2 giờ trước khi Trận Jutland bắt đầu: bức ảnh chụp  từ HMS Tiger, thiết giáp tuần dương hạm tiếp theo trong đội hình
HMS Queen Mary, Princess Royal và Lion (từ trái sang phải) vào khoảng 13 giờ chiều ngày 31 tháng 5 năm 1916, khoảng 2 giờ trước khi Trận Jutland bắt đầu: bức ảnh chụp từ HMS Tiger, thiết giáp tuần dương hạm tiếp theo trong đội hình
Chiến dịch tàu ngầm thất bại đã dẫn đến việc Hạm đội Biển khơi được đưa trở lại chiến lược tác chiến chủ lực. Pohl qua đời vì ung thư gan vào tháng 2 năm 1916 và được thay thế bởi Phó Đô đốc Reinhard Scheer – người có xu hướng táo bạo hơn. Scheer ngay lập tức tiến hành một loạt biện pháp nhằm gia tăng áp lực lên người Anh, hy vọng rằng điều này sẽ tạo ra một cuộc chạm trán có lợi về chiến thuật để gây thiệt hại lớn. Biện pháp táo bạo nhất là một cuộc tập kích mới vào một thị trấn ven biển của Anh. Ngày 24 tháng 4, lực lượng của Hipper rời cảng hướng đến Lowestoft, được toàn bộ Hạm đội Biển khơi hỗ trợ. Seydlitz bị trúng thủy lôi, nên chỉ còn bốn thiết giáp tuần dương hạm tham gia chiến dịch. Phía Anh biết rằng một chiến dịch lớn đang diễn ra, nhưng thời tiết xấu trong ngày hôm sau khiến họ không thể ngăn chặn được lực lượng Đức.
Để đáp trả cuộc tập kích Lowestoft, Anh tiến hành thêm một trong loạt cuộc tập kích bằng thủy phi cơ vào các căn cứ Zeppelin của Đức dọc Biển Bắc vào ngày 4 tháng 5. Đức cũng cho xuất kích Hạm đội Biển khơi để đáp trả, nhưng Đại hạm đội đã rời đi trước đó do vấn đề nhiên liệu. Nhịp độ các chiến dịch ở Biển Bắc giờ đây khiến khả năng xảy ra một trận đánh lớn trở nên rất cao. Trong chiến dịch tiếp theo, Scheer dự định tập kích Sunderland với sự hỗ trợ của khí cầu Zeppelin làm nhiệm vụ trinh sát và các tàu ngầm có nhiệm vụ tấn công lực lượng Anh khi chúng đáp trả. Lý tưởng nhất là các thiết giáp tuần dương hạm của Hipper sẽ nhử các thiết giáp tuần dương của Anh ra khỏi căn cứ sau khi pháo kích Sunderland và kéo chúng vào tầm hoạt động của toàn bộ Hạm đội Biển khơi. Kế hoạch này được hoãn lại đến cuối tháng 5 để chờ hoàn tất việc sửa chữa Seydlitz, rồi sau đó được đổi thành một đợt tấn công các đơn vị hải quân hạng nhẹ và tàu buôn Anh ở Skagerrak, ngoài khơi bờ biển Đan Mạch.
Tàu chiến Indefatigable đang hành trình tại vùng ven biển trước trận Jutland. Vào giai đoạn đầu của trận đánh, cô trở thành tàu chủ lực đầu tiên bị một tàừ chủ lực khác tiêu diệt trong Thế chiến 1, khi trúng đạn pháo từ tàu Von der Tann. Chỉ có hai người trong số 1.019 thủy thủ đoàn của con tàu là sống sót. (IWM SP 392)
Tàu chiến Indefatigable đang hành trình tại vùng ven biển trước trận Jutland. Vào giai đoạn đầu của trận đánh, cô trở thành tàu chủ lực đầu tiên bị một tàừ chủ lực khác tiêu diệt trong Thế chiến 1, khi trúng đạn pháo từ tàu Von der Tann. Chỉ có hai người trong số 1.019 thủy thủ đoàn của con tàu là sống sót. (IWM SP 392)
Như trong mọi chiến dịch của Scheer, toàn bộ Hạm đội Biển khơi được huy động. Lực lượng thiết giáp tuần dương xuất phát lúc 01 giờ sáng ngày 31 tháng 5 và được toàn bộ phần còn lại của Hạm đội Biển khơi theo sau. Như thường lệ, phía Anh đã nắm được thông tin chiến dịch nhờ nỗ lực xuất sắc của Phòng 40 (Room 40) và đã rời căn cứ trước cả người Đức. Beatty khởi hành lúc 23 giờ ngày 30 tháng 5 và Jellicoe dẫn Đại Hạm đội rời đi lúc 22 giờ 30 phút cùng ngày.
Các hoạt động của hai hạm đội Anh và Đức trước trận Jutland. Có thấy trên bản đồ là Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm cùng Hải đoàn thiết giáp hạm số 5 của Beatty (màu xanh) xuất phát từ Forth of Forth và Nhóm trinh sát I & II của Hipper (màu đỏ) cùng tới Jutland vào lúc 14 giờ 30 phút.
Các hoạt động của hai hạm đội Anh và Đức trước trận Jutland. Có thấy trên bản đồ là Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm cùng Hải đoàn thiết giáp hạm số 5 của Beatty (màu xanh) xuất phát từ Forth of Forth và Nhóm trinh sát I & II của Hipper (màu đỏ) cùng tới Jutland vào lúc 14 giờ 30 phút.
Các lực lượng thiết giáp tuần dương hạm của cả hai phe đều dẫn đầu đội hình chiến dịch. Hipper có đầy đủ 5 thiết giáp tuần dương hiện có, chọn Lützow làm soái hạm. Đi cùng là 5 tàu tuần dương hạng nhẹ và 30 tàu khu trục. Phía sau khoảng 50 hải lý là phần còn lại của Hạm đội Biển khơi với 16 thiết giáp hạm, 6 thiết giáp hạm tiền-dreadnought, sáu tàu tuần dương hạng nhẹ và 31 tàu khu trục. Tuy rất ấn tượng, nhưng lực lượng này vẫn bị Đại hạm đội áp đảo về quy mô. Hạm đội thiết giáp tuần dương của Beatty hiện có 3 hải đoàn. Trong đó, Hải đoàn thiết giáp tuần dương số 3 vừa được điều đến Scapa Flow để tập bắn định kỳ và đã nhập vào Đại hạm đội khi nó rời cảng. Hai hải đội còn lại bao gồm sáu thiết giáp tuần dương. Thay thế cho Hải đoàn số 3 là 4 thiết giáp hạm mạnh mẽ lớp Queen Elizabeth thuộc Hải đoàn thiết giáp hạm số 5, dưới quyền Chuẩn Đô đốc (Rear-Admiral) Sir Hugh Evan-Thomas (1862–1928).
Đi cùng các tàu chủ lực của Beatty là 14 tàu tuần dương hạng nhẹ, 27 tàu khu trục và một tàu sân bay thủy phi cơ. Đại hạm đội xuất kích với 24 thiết giáp hạm, ba thiết giáp tuần dương, tám tàu tuần dương bọc thép, 12 tàu tuần dương hạng nhẹ, 51 tàu khu trục và một tàu rải thủy lôi.

TRẬN HẢI CHIẾN JUTLAND

Giai đoạn mở màn

Trong bức ảnh này, chụp từ  tàu tuần dương hạng nhẹ Birmingham vào khoảng 16 giờ, có thể thấy Hạm đội thiết giáp tuần dương Anh đang giao chiến với hạm đội của Đức, với soái hạm Lion dẫn đầu các tàu Princess Royal, Queen Mary, Tiger, New Zealand và Indefatigable. Các quả đạn pháo Đức đang nổ xung quanh đội hình của Anh. Các tàu của Hipper không xuất hiện trong ảnh vì chúng đang ở xa, vượt ra ngoài đường bắn của phía Anh. (IWM Q 20889)
Trong bức ảnh này, chụp từ tàu tuần dương hạng nhẹ Birmingham vào khoảng 16 giờ, có thể thấy Hạm đội thiết giáp tuần dương Anh đang giao chiến với hạm đội của Đức, với soái hạm Lion dẫn đầu các tàu Princess Royal, Queen Mary, Tiger, New Zealand và Indefatigable. Các quả đạn pháo Đức đang nổ xung quanh đội hình của Anh. Các tàu của Hipper không xuất hiện trong ảnh vì chúng đang ở xa, vượt ra ngoài đường bắn của phía Anh. (IWM Q 20889)
Mặc dù người Anh đã biết rằng các thiết giáp tuần dương hạm Đức đã ra khơi, song họ vẫn chưa nhận ra rằng cả lực lượng thiết giáp hạm thuộc Hạm đội Biển khơi cũng đang hiện diện. Sự hiểu lầm này (xuất phát từ việc nhầm lẫn thông tin then chốt từ Phòng 40) khiến Đại hạm đội di chuyển với tốc độ tiết kiệm nhằm bảo toàn nhiên liệu. Điều này đồng nghĩa với việc họ không thể hỗ trợ Beatty một cách nhanh chóng như đáng lẽ đã có thể, nếu như Jellicoe biết rằng toàn bộ Hạm đội Biển khơi đã ra khơi. Chi tiết này sẽ trở nên cực kỳ quan trọng vào cuối ngày 31 tháng 5. Beatty được lệnh di chuyển về hướng đông và nếu không phát hiện địch trước 14 giờ ngày 31 tháng 5, thì phải chuyển hướng lên phía bắc để hội quân với phần còn lại của Đại hạm đội. Những mệnh lệnh này đã đặt lực lượng thiết giáp tuần dương Anh vào một hướng hành tiến gần như đối đầu trực diện với lực lượng của Hipper, vốn đang tiến lên phía bắc dọc theo bờ biển bán đảo Jutland đến một vị trí gần lối vào eo biển Skagerrak.
Dù chưa tiếp xúc với đối phương, lực lượng của Beatty bắt đầu chuyển hướng theo kế hoạch về phía bắc lúc 14 giờ 15 phút. Lúc này, người Đức đang ở rất gần – chỉ cách nhau 16 hải lý giữa các lực lượng tàu tuần dương hạng nhẹ làm màn chắn và khoảng 45 hải lý giữa các thiết giáp tuần dương hạm hai bên. Với vị trí và lộ trình như vậy, việc giao chiến là điều không thể tránh khỏi. Cuộc tiếp xúc đầu tiên xảy ra khoảng 14 giờ khi người Đức chặn một tàu hơi nước Đan Mạch. Các tàu tuần dương hạng nhẹ Anh cũng phát hiện con tàu này, rồi sau đó phát hiện các tàu Đức gần đó. Lúc 14 giờ 28 phút, các lực lượng tàu tuần dương hạng nhẹ bắt đầu nổ súng vào nhau. Chỉ trong vài phút, Beatty ra lệnh cho toàn lực lượng chuyển hướng về đông nam nhằm cắt đứt đường quay về căn cứ của phía Đức. Tuy nhiên, Hải đoàn thiết giáp hạm số 5 đã bỏ lỡ tín hiệu cờ ban đầu yêu cầu đổi hướng và không thực hiện chuyển hướng cùng Beatty. Điều này tạo ra một khoảng cách gần 10 hải lý giữa các thiết giáp tuần dương của Beatty và các thiết giáp hạm thuộc Hải đoàn 5, khiến cho những khẩu pháo 15 inch cực mạnh của chúng không thể tham chiến trong 20 phút đầu trận đánh.
Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm của Hipper lái về phía bắc qua sương mù và biển động – ngày 31 tháng 5 năm 1916. Bức ảnh được chụp từ SMS Seydlitz, Derfflinger ở ngay phía trước, và Lutzow dẫn đầu đội hình. SMS Moltke và Von der Tann ở phía sau Seydlitz (không có trong hình).
Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm của Hipper lái về phía bắc qua sương mù và biển động – ngày 31 tháng 5 năm 1916. Bức ảnh được chụp từ SMS Seydlitz, Derfflinger ở ngay phía trước, và Lutzow dẫn đầu đội hình. SMS Moltke và Von der Tann ở phía sau Seydlitz (không có trong hình).
Lützow khai hỏa một loạt pháo từ dàn pháo 12 inch trong trận Jutland. Là soái hạm của Hipper, Lützow dẫn đầu đội hình thiết giáp tuần dương hạm Đức; bức ảnh này được chụp từ tháp chỉ huy bọc giáp của tàu Derfflinger. (Cody Images)
Lützow khai hỏa một loạt pháo từ dàn pháo 12 inch trong trận Jutland. Là soái hạm của Hipper, Lützow dẫn đầu đội hình thiết giáp tuần dương hạm Đức; bức ảnh này được chụp từ tháp chỉ huy bọc giáp của tàu Derfflinger. (Cody Images)
Đến 14 giờ 45 phút, Hipper quay toàn lực lượng về phía tây và tăng tốc lên 23 hải lý/giờ. Hai bên lực lượng thiết giáp tuần dương tiếp tục tiến gần nhau. Vào lúc 15 giờ 22 phút, Seydlitz phát hiện các thiết giáp tuần dương Anh ở cự ly 16.000 yard (khoảng 14,6 km). Đến 15 giờ 45 phút, người Anh cũng xác định được sự hiện diện của cả năm thiết giáp tuần dương hạm trong lực lượng của Hipper. Mọi điều kiện đều đã hội đủ cho cuộc giao tranh lớn nhất trong lịch sử giữa các thiết giáp tuần dương. Tại thời điểm này, điều kiện thời tiết rất thuận lợi cho một cuộc đấu pháo tầm xa: gió nhẹ, biển lặng, và tầm nhìn tốt. Đến 15 giờ 35 phút, lực lượng Anh chuyển hướng nam và truy đuổi Hipper. Với mười tàu chủ lực so với năm tàu của đối phương, cùng việc có ưu thế rõ rệt về hỏa lực pháo hạng nặng và khả năng bắn pháo, Beatty tin rằng một chiến thắng của người Anh là điều hiển nhiên.

Cuộc truy kích về phía Nam

Giai đoạn đối đầu giữa các thiết giáp tuần dương trong trận Jutland từ 15 giờ 45 phút đến 16 giờ 40 phút (hai hạm đội thiết giáp tuần dương đều hướng về phía Nam)
Giai đoạn đối đầu giữa các thiết giáp tuần dương trong trận Jutland từ 15 giờ 45 phút đến 16 giờ 40 phút (hai hạm đội thiết giáp tuần dương đều hướng về phía Nam)
Hipper đổi hướng 180 độ nhằm dụ lực lượng Anh về phía các thiết giáp hạm thuộc Hạm đội Biển khơi, lực lượng vẫn đang tiến về phía bắc. Giai đoạn này của trận đánh thường được gọi là “cuộc truy kích về phía Nam” ('Run to the South'). Lúc đó, đội hình đầu tiên của Scheer chỉ còn cách phía nam khoảng 60 hải lý. Tuy nhiên, vị trí của người Anh lại bất lợi hơn. Đại hạm đội còn cách soái hạm của Beatty khoảng 70 hải lý về phía bắc và đang di chuyển xuống phía nam với tốc độ 20 hải lý/giờ. Tự mình quyết định, Chuẩn Đô đốc Sir Horace Hood (1870–1916) đã dẫn Hải đoàn thiết giáp tuần dương số 3 tiến về đông nam với tốc độ 25 hải lý/giờ và chỉ còn cách Beatty khoảng 45 hải lý về phía bắc.
Trên hạm đội cả hai phe, toàn bộ thủy thủ đều vào vị trí chiến đấu, còn các xạ thủ thì tập trung tìm lời giải cho bài toán tầm bắn. Người Anh gặp khó khăn trong việc xác định tầm bắn do phải nhìn về hướng đông, nơi bầu trời xám xịt và chân trời phủ đầy sương mù. Ngược lại, người Đức lại có lợi thế hơn khi dễ dàng phát hiện các con tàu màu xám đậm của Anh nổi bật trên nền trời trong phía tây. Các máy đo tầm lập thể (stereoscopic rangefinder) cực kỳ hiệu quả của Đức nhanh chóng xác định được vị trí đối phương.
Kế hoạch tác chiến của Beatty được cụ thể như sau: Lion và Princess Royal đấu với Lutzow, Queen Mary với Defflinger, Tiger với Seydlitz, New Zealand với Motlke, Indefatigable với Von der Tann ( Nguồn từ The Battle of Jutlnad Animation)
Kế hoạch tác chiến của Beatty được cụ thể như sau: Lion và Princess Royal đấu với Lutzow, Queen Mary với Defflinger, Tiger với Seydlitz, New Zealand với Motlke, Indefatigable với Von der Tann ( Nguồn từ The Battle of Jutlnad Animation)
Trên thực tế, với điều kiện ánh sâng mặt trời không thuận lợi đối với tầm nhìn người Anh kết hợp với việc hệ thống liên lạc kém đã dẫn đến việc Queen Mary và Tiger không nhận được thông tin tín hiệu truyền từ Lion, Queen Mary thay vì nhằm vào Derfflinger thì lại nhằm vào Seydlitz, Tiger nhằm vào Moltke thay vì là Seydlitz. Nhờ vậy mà Defflinger không bị tổn hại từ đạn pháo Anh nhắm vào trong vòng 10 phút đầu và điều đó đã giúp người Đức đạt được hiệu quả chết người ở giai đoạn sau đó. (Nguồn từ The Battle of Jutland Animation)
Trên thực tế, với điều kiện ánh sâng mặt trời không thuận lợi đối với tầm nhìn người Anh kết hợp với việc hệ thống liên lạc kém đã dẫn đến việc Queen Mary và Tiger không nhận được thông tin tín hiệu truyền từ Lion, Queen Mary thay vì nhằm vào Derfflinger thì lại nhằm vào Seydlitz, Tiger nhằm vào Moltke thay vì là Seydlitz. Nhờ vậy mà Defflinger không bị tổn hại từ đạn pháo Anh nhắm vào trong vòng 10 phút đầu và điều đó đã giúp người Đức đạt được hiệu quả chết người ở giai đoạn sau đó. (Nguồn từ The Battle of Jutland Animation)
Có lẽ vì vậy mà dù có lợi thế về tầm bắn, người Anh tới giờ vẫn chưa nổ súng. Hipper chuyển hướng sâu hơn về phía nam nhằm rút ngắn cự ly nhanh hơn. Lúc 15 giờ 45 phút, Beatty phản ứng bằng cách đổi hướng sang đông - nam - đông và thiết lập đội hình hàng dọc để chuẩn bị khai hỏa. Đến 15 giờ 48 phút, cả hai bên bắt đầu khai hỏa bằng hỏa lực pháo hạng nặng. Vì Hải đoàn thiết giáp hạm số 5 vẫn còn bị tụt lại phía sau, cuộc đấu pháo lúc này gần như là cân sức, với 5 thiết giáp tuần dương của Hipper đối đầu với 6 tàu của Anh. Mỗi tàu Đức được lệnh nhắm bắn vào tàu đối diện trong đội hình Anh: soái hạm Lützow nhắm vào Lion, Derfflinger vào Princess Royal, Seydlitz vào Queen Mary, Moltke vào Tiger, và Von der Tann bắn vào Indefatigable – tàu cuối cùng trong hàng tác chiến của Anh. Điều này khiến New Zealand không bị nhắm bắn bởi bất kỳ tàu Đức nào. Kế hoạch phân phối hỏa lực của Beatty là sử dụng ưu thế quân số nhỏ: hai tàu đầu tiên của Anh sẽ cùng nhắm vào Lützow, bốn tàu còn lại sẽ đối đầu từng cặp với đối thủ. Tuy nhiên, Queen Mary không nhận được lệnh phân phối hỏa lực, nên vẫn nhắm vào Seydlitz – điều này khiến Derfflinger, tàu thứ hai của Đức, không bị tấn công trong 10 phút đầu. Tiger cũng không thực hiện đúng ý đồ của Beatty, khi cùng New Zealand khai hỏa vào Moltke. Hệ quả là LützowMoltke đều phải đối đầu với hai thiết giáp tuần dương của Anh, trong khi Von der Tann giao chiến riêng với Indefatigable, còn Seydlitz đấu tay đôi với Queen Mary.
Cảnh tượng này mô tả Hạm đội thiết giáp tuần dương của Anh trong những khoảnh khắc mở đầu của trận Jutland. Beatty đang dẫn đầu các tàu thiết giáp tuần dương của mình tiến về phía nam nhằm chặn đường rút lui của quân Đức về căn cứ. Bắt đầu từ 15 giờ 48 phút, hai lực lượng thiết giáp tuần dương bắt đầu khai hỏa lẫn nhau. Trong cảnh này, lực lượng của Beatty – gồm Lion, Princess Royal, Queen Mary, Tiger (không xuất hiện trong khung hình) và New Zealand (không xuất hiện trong khung hình) – đang hành tiến với tốc độ tối đa. Khói từ các tàu Anh thổi về phía mạn phải, điều này sẽ gây trở ngại cho các khẩu đội pháo khi họ cố xác định tọa độ bắn. Princess Royal và Tiger đang trong quá trình khai hỏa loạt pháo mạn. Lion và Princess Royal đã bắt đầu chịu hỏa lực từ phía đối phương. (Paul Wright)
Cảnh tượng này mô tả Hạm đội thiết giáp tuần dương của Anh trong những khoảnh khắc mở đầu của trận Jutland. Beatty đang dẫn đầu các tàu thiết giáp tuần dương của mình tiến về phía nam nhằm chặn đường rút lui của quân Đức về căn cứ. Bắt đầu từ 15 giờ 48 phút, hai lực lượng thiết giáp tuần dương bắt đầu khai hỏa lẫn nhau. Trong cảnh này, lực lượng của Beatty – gồm Lion, Princess Royal, Queen Mary, Tiger (không xuất hiện trong khung hình) và New Zealand (không xuất hiện trong khung hình) – đang hành tiến với tốc độ tối đa. Khói từ các tàu Anh thổi về phía mạn phải, điều này sẽ gây trở ngại cho các khẩu đội pháo khi họ cố xác định tọa độ bắn. Princess Royal và Tiger đang trong quá trình khai hỏa loạt pháo mạn. Lion và Princess Royal đã bắt đầu chịu hỏa lực từ phía đối phương. (Paul Wright)
Ngay lập tức, người Đức giành được ưu thế trước. Loạt đạn đầu tiên của Anh rơi quá xa mục tiêu khoảng một hải lý, còn người Đức nhanh chóng tìm được tầm bắn chính xác và ghi điểm chỉ sau vài phút. Đến 15 giờ 51 phút, LionPrincess Royal đã bị trúng đạn 2 lần, Tiger trúng 4 lần. Tháp pháo trước của Princess Royal bị loại khỏi vòng chiến, còn hai tháp pháo của Tiger cũng bị vô hiệu hóa.
Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm Anh với sự dẫn đầu của soái hạm Lion bắt đầu di chuyển theo đội hình hàng dọc song song với hạm đội đối phương lúc 15 giờ 48 phút (bản đồ bị sai thời gian). Vào lúc 16 giờ 03 phút, HMS Indefatigable bị thiết giáp tuần dương hạm SMS Von der Tann bắn trúng hầm đạn khiến con tàu phát nổ và chìm vào lúc 16 giờ 05 phút, trở thành con tàu đầu tiên bị mất trong trận Jutland.
Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm Anh với sự dẫn đầu của soái hạm Lion bắt đầu di chuyển theo đội hình hàng dọc song song với hạm đội đối phương lúc 15 giờ 48 phút (bản đồ bị sai thời gian). Vào lúc 16 giờ 03 phút, HMS Indefatigable bị thiết giáp tuần dương hạm SMS Von der Tann bắn trúng hầm đạn khiến con tàu phát nổ và chìm vào lúc 16 giờ 05 phút, trở thành con tàu đầu tiên bị mất trong trận Jutland.
Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm Đức bắt đầu di chuyển theo hình zig zag vào lúc 15 giờ 48 phút và bắt đầu với khai hỏa về phía Anh với tầm nhìn thuận lợi hơn đối thủ. Von der Tann là con tàu thứ 5 trong hàng đã trở thành con tàu đầu tiên bắn hạ tàu Anh đầu tiên bằng việc đánh chìm Indefatigable.
Hạm đội thiết giáp tuần dương hạm Đức bắt đầu di chuyển theo hình zig zag vào lúc 15 giờ 48 phút và bắt đầu với khai hỏa về phía Anh với tầm nhìn thuận lợi hơn đối thủ. Von der Tann là con tàu thứ 5 trong hàng đã trở thành con tàu đầu tiên bắn hạ tàu Anh đầu tiên bằng việc đánh chìm Indefatigable.
Tàu Anh đầu tiên bắn trúng là Queen Mary, vốn được xem là con tàu có hỏa lực chính xác nhất trong lực lượng thiết giáp tuần dương. Trong khoảng thời gian 15 giờ 55 phút đến 15 giờ 57 phút, Queen Mary bắn trúng Seydlitz ở khoảng cách 12.900 yard, làm tê liệt một tháp pháo. Một trong các phát bắn này xuyên qua lớp giáp bệ tháp pháo sau, gây ra hỏa hoạn. Bốn túi thuốc phóng bắt lửa trong phòng đạn, lửa lan lên tháp pháo, khiến hầu hết thủy thủ tại đó thiệt mạng. Lửa cũng lan xuống hầm đạn, nhưng các biện pháp được triển khai sau trận Dogger Bank đã ngăn chặn thảm họa. Lion cũng bắn trúng Lützow lúc 16 giờ ở phần mũi tàu, nhưng không gây thiệt hại đáng kể.
Lion, soái hạm của Beatty dẫn đầu đội hình thiết giáp tuần dương hạm Anh, phía sau nó là Princess Royal vào lúc 15 giờ 48 phút. Cả hai tàu lúc này đang nhắm bắn vào Lutzow - soái hạm của Hipper. Còn tàu Đức sau đó đáp trả và bắn trúng tháp pháo Q nằm giữa tàu của Lion. (Howard Gerrard)
Lion, soái hạm của Beatty dẫn đầu đội hình thiết giáp tuần dương hạm Anh, phía sau nó là Princess Royal vào lúc 15 giờ 48 phút. Cả hai tàu lúc này đang nhắm bắn vào Lutzow - soái hạm của Hipper. Còn tàu Đức sau đó đáp trả và bắn trúng tháp pháo Q nằm giữa tàu của Lion. (Howard Gerrard)
Chiếc Lion được nhìn thấy ở đường chân trời, đang bốc cháy sau khi bị trúng đạn pháo vào tháp pháo giữa tàu. Quả đạn đã xuyên phá lớp giáp của tháp pháo, gây ra một đám cháy, và 28 phút sau, ngọn lửa lan đến buồng nạp đạn, làm nổ tung tám liều thuốc phóng. (IWM SP 1704)
Chiếc Lion được nhìn thấy ở đường chân trời, đang bốc cháy sau khi bị trúng đạn pháo vào tháp pháo giữa tàu. Quả đạn đã xuyên phá lớp giáp của tháp pháo, gây ra một đám cháy, và 28 phút sau, ngọn lửa lan đến buồng nạp đạn, làm nổ tung tám liều thuốc phóng. (IWM SP 1704)
Lion dưới làn đạn pháo từ các thiết giáp tuần dương hạm Đức. Soái hạm của Đô đốc Beatty suýt chút nữa đã bị phá huỷ bởi một quả đạn từ Lützow, vốn xuyên qua điểm tiếp giáp giữa mặt trước và mái giáp của tháp pháo giữa tàu. May mắn cho phía Anh, hầm đạn dưới tháp pháo đã được kịp thời được cho ngập nước, ngăn chặn thảm hoạ xảy ra. (IWM SP 1712)
Lion dưới làn đạn pháo từ các thiết giáp tuần dương hạm Đức. Soái hạm của Đô đốc Beatty suýt chút nữa đã bị phá huỷ bởi một quả đạn từ Lützow, vốn xuyên qua điểm tiếp giáp giữa mặt trước và mái giáp của tháp pháo giữa tàu. May mắn cho phía Anh, hầm đạn dưới tháp pháo đã được kịp thời được cho ngập nước, ngăn chặn thảm hoạ xảy ra. (IWM SP 1712)
Trong những phút đầu tiên, người Đức đã khai hỏa rất chính xác, với loạt pháo bốn nòng mỗi 20 giây từ mỗi thiết giáp tuần dương. Máy đo tầm tốt giúp họ nhanh chóng định vị. Người Anh thì không chỉ phải đối mặt với tầm nhìn kém khi nhìn về hướng đông, mà còn bị ảnh hưởng bởi khói từ gió tây - bắc thổi vào. Lợi thế ban đầu của người Đức sắp phát huy tác dụng kinh hoàng.
Lúc 16 giờ, tháp pháo ‘Q’ của Lion trúng pháo từ Lützow. Đạn xuyên qua lớp giáp bên, phát nổ bên trong, tàn phá tháp pháo và giết hầu hết thủy thủ. Thiếu tá F.J.W. Harvey - lính thủy quân lục chiến Hoàng gia, bị thương chí mạng nhưng vẫn ra lệnh đóng cửa hầm đạn và ngập nước trong hầm. Vì lúc đó các túi thuốc phóng đang cháy rơi xuống phòng tiếp đạn, hành động này đã cứu con tàu khỏi bị nổ tung. Harvey được truy tặng Huân chương Victoria. Trong vài phút kế tiếp, Lion trúng thêm sáu phát đạn. Princess Royal bị loại thêm một tháp pháo.
Ở phía xa, có thể thấy Indefatigable sau khi trúng đạn pháo từ Von der Tann. Sau khi tàu Anh lệch khỏi đội hình chiến đấu, một loạt đạn pháo khác đã đánh trúng con tàu, dẫn đến việc nó bị phá huỷ hoàn toàn, với chỉ hai người sống sót trong tổng số 1.019 thành viên thuỷ thủ đoàn. (IWM Q 64302)
Ở phía xa, có thể thấy Indefatigable sau khi trúng đạn pháo từ Von der Tann. Sau khi tàu Anh lệch khỏi đội hình chiến đấu, một loạt đạn pháo khác đã đánh trúng con tàu, dẫn đến việc nó bị phá huỷ hoàn toàn, với chỉ hai người sống sót trong tổng số 1.019 thành viên thuỷ thủ đoàn. (IWM Q 64302)
Tuy nhiên, thảm họa lớn nhất dành cho người Anh chưa dừng lại. Indefatigable trúng hai hoặc ba quả đạn pháo 11 inch từ Von der Tann lúc 16 giờ 03 phút, gần tháp pháo sau. Hai phát nữa trúng phía trước. Không phát nào gây cháy ngay lập tức, nhưng chỉ trong vòng 30 giây, Indefatigable đã phát nổ. Trong số 1.019 thủy thủ, chỉ hai người sống sót – được một tàu phóng lôi Đức vớt lên. Von der Tann đã thắng trận đấu tay đôi chỉ trong 15 phút, bắn ra 52 quả đạn pháo 11 inch.
Khoảng cách giữa hai bên lúc này còn từ 10.400–11.500 yard. Moltke phóng bốn ngư lôi về phía Queen Mary, nhưng đều trượt. Tuy nhiên, điều này càng gây thêm hỗn loạn trong đội hình Anh, do nhiều người tưởng đó là đòn tấn công từ tàu ngầm. Tình hình phía Anh được cải thiện đôi chút nhờ sự xuất hiện muộn màng của Hải đoàn thiết giáp hạm số 5. Đến 16 giờ 06 phút, bốn thiết giáp hạm Anh đã khai hỏa về phía hai tàu sau của đội hình Hipper ở khoảng cách 19.000 yard. Dù tầm xa và khói dày khiến cơ hội bắn trúng là rất thấp, song người Đức lại không thể phản pháo trước những đòn đó. Von der Tann trúng một quả đạn pháo 15 inch vào phần đuôi lúc 16 giờ 09 phút, còn Moltke trúng đạn tương tự lúc 16 giờ 16 phút, gây thiệt hại hạn chế ở hốc pháo nòng đơn 5,9 inch.
Khi các thiết giáp hạm Anh can thiệp vào trận đánh, Beatty đổi hướng để kéo giãn khoảng cách với Hipper. Khi tầm xa đạt gần 20.000 yard, cả hai phe thiết giáp tuần dương hạm ngừng bắn. Nhưng khi thấy Evan-Thomas đã nhập trận, Beatty lại đổi hướng, chuẩn bị tái chiến. Seydlitz nhanh chóng bắn trúng Lion, và đến 16 giờ 17 phút, Derfflinger và Seydlitz cùng bắn vào Queen Mary.
Cột khói khổng lồ đánh dấu sự huỷ diệt của Queen Mary sau khi trúng một loạt đạn từ Derfflinger. Vụ nổ đã cướp đi sinh mạng của 1.266 người và chỉ có tám người sống sót, trong đó hai người được các tàu Đức cứu vớt. (IWM SP 1708)
Cột khói khổng lồ đánh dấu sự huỷ diệt của Queen Mary sau khi trúng một loạt đạn từ Derfflinger. Vụ nổ đã cướp đi sinh mạng của 1.266 người và chỉ có tám người sống sót, trong đó hai người được các tàu Đức cứu vớt. (IWM SP 1708)
Khoảng cách rút xuống còn 14.400 yard, Beatty lại đổi hướng để giãn cách. Nhưng giờ đã quá muộn với Queen Mary, vốn đang chịu hỏa lực dữ dội từ hai thiết giáp tuần dương hạm Đức. Lúc 16 giờ 26 phút, thủy thủ trên các tàu khác của Anh quan sát thấy Queen Mary trúng ba trong số bốn quả đạn pháo từ một loạt đạn Đức, rồi thêm hai quả nữa từ loạt tiếp theo. Sau một thoáng, một vụ nổ lớn xảy ra ở giữa tàu, rồi thêm một vụ nổ nữa ở phía trước. Con tàu gãy đôi và nhanh chóng chìm, chỉ còn phần đuôi còn trồi lên vài giây trước khi biến mất. Tổng cộng 1.266 người thiệt mạng, chỉ tám người sống sót – được cả tàu Đức và Anh cứu vớt. Lúc này, Beatty quay sang Thuyền trưởng Ernle Chatfield của Lion và nói một câu nổi tiếng:
“Hôm nay mấy con tàu chết tiệt của chúng ta bị cái quái gì ấy nhỉ.” "There seems to be something wrong with our bloody ships today"
Giai đoạn đầu của trận đánh sắp kết thúc – và mọi việc đã diễn ra theo cách gần như lý tưởng đối với người Đức. Tuy nhiên, với sự xuất hiện của Hải đoàn thiết giáp hạm 5, cán cân đã bắt đầu nghiêng về phía Anh. Bốn trong năm thiết giáp tuần dương hạm của Hipper hiện đã bị hư hại, Von der Tann gần như mất toàn bộ hỏa lực – chỉ còn hai khẩu pháo còn hoạt động. Nhưng viện binh của Đức hiện đang tới: đội hình thiết giáp hạm của Scheer đã được phát hiện bởi lực lượng thiết giáp tuần dương hạm Đức từ lúc 16 giờ 11 phút. Nhưng mãi đến 16 giờ 38 phút, Beatty mới nhận được tín hiệu đầu tiên từ một tàu tuần dương hạng nhẹ báo cáo rằng Hạm đội Đức đang tới. Chỉ vài phút sau, các thiết giáp tuần dương hạm Anh đã thấy các cột khói và đội hình của lực lượng thiết giáp hạm Đức. Cuộc truy kích về phía Nam đã kết thúc. Trong vòng năm phút, lực lượng Beatty đều quay đầu chạy về phía bắc, tìm kiếm sự bảo vệ từ Đại hạm đội. Lúc này, Jellicoe vẫn còn cách phía bắc tới 60 hải lý – và người Đức có cơ hội thực sự để giáng một đòn chí tử vào người Anh.
INDEFATIGABLE vs VON DER TANN
Trong giai đoạn đầu của trận Jutland, HMS Indefatigable và SMS Von der Tann đã bước vào một cuộc đấu pháo riêng biệt giữa hai tàu.
(1) <i>GÓC NHÌN TỪ HMS INDEFATIGABLE</i>
(1) GÓC NHÌN TỪ HMS INDEFATIGABLE
Hình ảnh (1) cho thấy góc nhìn từ Indefatigable vào khoảng 16 giờ. Dáng dấp của Von der Tann rất dễ nhận ra, bởi trong số các thiết giáp tuần dương hạm Đức, nó có cách bố trí tháp pháo độc đáo. Xa hơn phía sau con tàu Đức, chỉ có thể thấy một bầu trời xám xịt, mờ đục và đường chân trời lẫn trong sương mù – điều khiến phía Anh gặp khó khăn nghiêm trọng trong việc đo khoảng cách đến các tàu đối phương.
(2) <i>GÓC NHÌN TỪ SMS VON DER TANN</i>
(2) GÓC NHÌN TỪ SMS VON DER TANN
Khi cuộc đấu pháo riêng giữa Von der TannIndefatigable diễn ra, thảm họa cuối cùng đã giáng xuống phe Anh. Hình ảnh (2) là cảnh quan sát Indefatigable vào 16 giờ 03 phút. Dáng tàu với ba ống khói đặt cách xa nhau và hai tháp pháo bên mạn giúp dễ dàng xác định đây là một tàu thuộc lớp Indefatigable. Phía sau chiếc thiết giáp tuần dương hạm Anh đang di chuyển với tốc độ cao là một bầu trời và chân trời quang đãng – điều đã hỗ trợ đắc lực cho Von der Tann trong việc tính toán phần tử bắn. Khung cảnh ghi lại hiệu quả hỏa lực của pháo Đức. Sau khi Indefatigable trúng đạn từ hai loạt pháo khác nhau, và sau khoảng 30 giây, phía Đức quan sát thấy những vụ nổ khổng lồ xảy ra ở giữa và phía sau tàu. Khi khói tan đi, Indefatigable đã biến mất, mang theo sinh mạng của 1.017 thủy thủ.

Cuộc truy kích về phía Bắc

Giai đoạn cuộc truy kích về phía Bắc từ 16 giờ 40 phút đến 17 giờ 45 phút, khi Hạm đội Biển khơi của Đức đối đầu hạm đội thiết giáp tuần dương Anh
Giai đoạn cuộc truy kích về phía Bắc từ 16 giờ 40 phút đến 17 giờ 45 phút, khi Hạm đội Biển khơi của Đức đối đầu hạm đội thiết giáp tuần dương Anh
Khi phát hiện các tàu Anh, Scheer triển khai các thiết giáp hạm của mình thành sáu cột và ra lệnh toàn hạm đội tăng tốc tối đa. Tầm bắn lúc này khoảng 21.000 yard (khoảng 19.200 m), nhưng quân Đức đã nổ súng vào các thiết giáp tuần dương hạm Anh đang rút lui vào lúc 16 giờ 38 phút. Tuy nhiên, đợt bắn này nhanh chóng chấm dứt vì không hiệu quả ở tầm xa như vậy.
Hipper chuyển hướng các tàu của mình về phía bắc để dẫn đầu Hạm đội Biển khơi. Trong lúc các thiết giáp tuần dương hạm đang quay đầu, chúng bị các tàu khu trục Anh tấn công. Một ngư lôi bắn trúng Seydlitz lúc 16 giờ 57 phút, tạo ra một lỗ thủng kích thước 40 x 13 feet (khoảng 12 x 4 m) ở phần mũi tàu. Tuy nhiên, điều này chứng minh thiết kế chống ngư lôi dưới nước của con tàu rất hiệu quả, bởi Seydlitz vẫn giữ được vị trí trong đội hình và tiếp tục di chuyển ở tốc độ tối đa.
Vào lúc 16 giờ 26 phút, Queen Mary bị Derfflinger và Seydlitz bắn trúng và phát nổ hầm đạn, trở thành chiếc thiết giáp tuần dương thứ hai của Anh bị mất trong trận chiến. Ngày sau khi phát hiện  toàn bộ Hạm đội Đức đang tiến tới, Beatty ra lệnh toàn hạm đội thiết giáp tuần dương hạm của ông quay đầu từ 16 giờ 40 đến 16 giờ 48 phút và rút lui về phía Bắc. Hạm đội của ông được chế chắn hỏa lực của địch bởi các thiết giáp hạm của Hải đoàn số 5 ( dẫn đầu bởi Barham) và các hải đoàn tàu tuần dương.
Vào lúc 16 giờ 26 phút, Queen Mary bị Derfflinger và Seydlitz bắn trúng và phát nổ hầm đạn, trở thành chiếc thiết giáp tuần dương thứ hai của Anh bị mất trong trận chiến. Ngày sau khi phát hiện toàn bộ Hạm đội Đức đang tiến tới, Beatty ra lệnh toàn hạm đội thiết giáp tuần dương hạm của ông quay đầu từ 16 giờ 40 đến 16 giờ 48 phút và rút lui về phía Bắc. Hạm đội của ông được chế chắn hỏa lực của địch bởi các thiết giáp hạm của Hải đoàn số 5 ( dẫn đầu bởi Barham) và các hải đoàn tàu tuần dương.
Ngày sau khi thấy được Hạm đội thiết giáp hạm của Scheer, Hipper đã ra lệnh toàn bộ các thiết giáp tuần dương hạm quay đầu lại về phía Bắc để truy kích lực lượng của Anh cũng như chế chắn hạm đội chủ lực khỏi hoả lực đối phương.
Ngày sau khi thấy được Hạm đội thiết giáp hạm của Scheer, Hipper đã ra lệnh toàn bộ các thiết giáp tuần dương hạm quay đầu lại về phía Bắc để truy kích lực lượng của Anh cũng như chế chắn hạm đội chủ lực khỏi hoả lực đối phương.
Trong trận đánh truy kích, các thiết giáp tuần dương hạm Đức và các thiết giáp hạm đi đầu tiếp tục bắn vào các thiết giáp tuần dương của Beatty. Lion Tiger bị trúng đạn vào khoảng 17 giờ, buộc Beatty phải chuyển hướng về phía tây bắc để kéo giãn khoảng cách. Đến 17 giờ 12 phút, các thiết giáp tuần dương hạm Anh đã thoát khỏi tầm bắn của Đức. Khi đó, chỉ còn Hải đoàn thiết giáp hạm 5 của Anh vẫn còn ở trong tầm bắn, và toàn bộ hỏa lực của Đức chuyển sang bắn vào bốn thiết giáp hạm này.
Ở phía xa, Tiger đang di chuyển với tốc độ cao trong giai đoạn cuộc truy kích về phía Bắc – giai đoạn thứ hai của trận Jutland. Trong giai đoạn này của trận đánh, con tàu chỉ trúng một phát đạn 11 inch do lực lượng Đức truy kích bắn trúng. (IWM SP 2878)
Ở phía xa, Tiger đang di chuyển với tốc độ cao trong giai đoạn cuộc truy kích về phía Bắc – giai đoạn thứ hai của trận Jutland. Trong giai đoạn này của trận đánh, con tàu chỉ trúng một phát đạn 11 inch do lực lượng Đức truy kích bắn trúng. (IWM SP 2878)
Mặc dù bắn liên tục trong 30 phút, quân Đức không thể gây ra những tổn thất nghiêm trọng cho những thiết giáp hạm. Malaya, con tàu đi cuối hàng, bị trúng nhiều phát nhưng vẫn giữ được tốc độ. Ngay cả khi bị trúng đạn và liên tục chịu các loạt bắn gần trúng, các thiết giáp hạm Anh vẫn duy trì được hỏa lực hiệu quả nhắm vào các tàu Đức truy kích. Hai thiết giáp hạm của Scheer bị trúng đạn 15 inch, cũng như Seydlitz, Lützow Derfflinger. Dù không bị trúng đạn thêm trong giai đoạn này, Von der Tann cuối cùng mất nốt tháp pháo cuối cùng khi hệ thống giật lùi của pháo bị hư hỏng. Dù không còn khả năng bắn trả, thuyền trưởng vẫn giữ con tàu trong đội hình để ngăn đối phương tập trung hỏa lực vào các tàu còn lại trong hải đoàn của Hipper.
Tới thời điểm này, điều kiện tầm nhìn đã quay ngược lại gây bất lợi cho phía Đức. Mặt trời lặn sau các tàu Anh khiến quân Đức gần như không thể quan sát đường đạn rơi được. Yếu tố này trở nên quan trọng khi Beatty bắt đầu chuyển hướng bắc - đông bắc để đi vòng trước đội hình các thiết giáp tuần dương hạm Đức. Ý định của Beatty là che chắn cho Đại hạm đội đang đi xuống từ phía bắc. Vào lúc 17 giờ 40 phút, Beatty khai hỏa trở lại. Hải đoàn Thiết giáp hạm số 5 cũng tham gia hỏa lực bắn vào các thiết giáp tuần dương hạm của Hipper và hai thiết giáp hạm đi đầu trong đội hình của Scheer. Dưới điều kiện tầm nhìn bất lợi, quân Đức gần như không thể bắn trả. Đến đây thì đánh dấu sự kết thúc của cuộc truy kích về phía Bắc ('Run to the North'). Trong giai đoạn này, người Anh đã thể hiện tốt hơn nhiều, nhưng tất cả các phát trúng mục tiêu bằng pháo cỡ lớn – trừ một chiếc – đều do các thiết giáp hạm thuộc Hải đoàn thiết giáp hạm số 5 thực hiện, chứ không phải từ các thiết giáp tuần dương.

Các hạm đội thiết giáp hạm đụng độ

Giai đoạn đối đầu giữa các hạm đội chủ lực. Cả 3 hải đoàn thiết giáp tuần dương hạm của Anh (Hải đoàn 1 và 2 của Beatty tái gia nhập vào Đại hạm đội và theo sau Hải đoàn 3 của Hood) đều dẫn trước Đại hạm đội bắt đầu "cắt chữ T" Hạm đội Đức và dội hoả lực vào lực lượng đi đầu của Đức. Tuy vậy, SMS Derfflinger vẫn bắn nổ Invincible và con tàu bị đánh chìm vào lúc 18 giờ 34 phút. Về lực lượng trình sát số I do SMS Lutzow làm soái hạm bắt đầu quay đầu để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.
Giai đoạn đối đầu giữa các hạm đội chủ lực. Cả 3 hải đoàn thiết giáp tuần dương hạm của Anh (Hải đoàn 1 và 2 của Beatty tái gia nhập vào Đại hạm đội và theo sau Hải đoàn 3 của Hood) đều dẫn trước Đại hạm đội bắt đầu "cắt chữ T" Hạm đội Đức và dội hoả lực vào lực lượng đi đầu của Đức. Tuy vậy, SMS Derfflinger vẫn bắn nổ Invincible và con tàu bị đánh chìm vào lúc 18 giờ 34 phút. Về lực lượng trình sát số I do SMS Lutzow làm soái hạm bắt đầu quay đầu để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.
Lúc 18 giờ, Beatty đã có thể nhìn thấy các thiết giáp hạm thuộc Đại hạm đội Anh. Không lâu sau đó, lực lượng hải quân Anh hợp nhất bắt đầu dội hỏa lực xuống các thiết giáp tuần dương hạm của Hipper, khiến các tàu Đức gần như không thể đáp trả hiệu quả. Hipper buộc phải đổi hướng về phía tây nam để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn. Trong đợt pháo kích này, Derfflinger bị trúng đạn và Seydlitz cũng bị trúng một quả, khiến nước tràn vào phần mũi của con tàu trước.
Khi các hạm đội thiết giáp hạm chuẩn bị va chạm, nỗi đau của các thiết giáp tuần dương hạm Anh vẫn chưa kết thúc. Ba thiết giáp tuần dương hạm thuộc Hải đoàn thiết giáp tuần dương số 3 sắp xuất hiện. Hood đã tự ý tăng tốc rời vị trí khi nhận tin rằng lực lượng của Beatty đang giao chiến với quân Đức. Tuy nhiên, ý định hội quân với Beatty đã thất bại do định vị sai lầm và Hood đã đi lạc khoảng 18 dặm về phía đông so với vị trí của Beatty. Lúc 17 giờ 30 phút, Invincible nghe thấy tiếng pháo vọng về từ phía tây nam. Thực tế, quân Đức chỉ cách họ có 14 dặm, nhưng không thể nhìn thấy vì sương mù. Mười phút sau, Invincible phát hiện các tàu tuần dương hạng nhẹ Đức, và các thiết giáp tuần dương Anh liền hướng về phía đó.
HMS Inflexible, Indomitable, Invincible (vị trí chụp bức ảnh này ) của Hải đoàn thiết giáp tuần dương hạm số 3 do Hood chỉ huy đang tăng  tốc trên đường tái gia nhập Hạm đội thiết giáp tuần dương của Beatty
HMS Inflexible, Indomitable, Invincible (vị trí chụp bức ảnh này ) của Hải đoàn thiết giáp tuần dương hạm số 3 do Hood chỉ huy đang tăng tốc trên đường tái gia nhập Hạm đội thiết giáp tuần dương của Beatty
Tàu Indomitable di chuyển theo sau Inflexible, từ con tàu này bức ảnh được chụp trong giai đoạn thứ ba của trận chiến – khi hai hạm đội chủ lực giao tranh trực tiếp. Indomitable là tàu duy nhất thuộc lớp Invincible tham gia cả hai trận Dogger Bank và Jutland. (IWM Q 64308)
Tàu Indomitable di chuyển theo sau Inflexible, từ con tàu này bức ảnh được chụp trong giai đoạn thứ ba của trận chiến – khi hai hạm đội chủ lực giao tranh trực tiếp. Indomitable là tàu duy nhất thuộc lớp Invincible tham gia cả hai trận Dogger Bank và Jutland. (IWM Q 64308)
Sự xuất hiện của Hải đoàn thiết giáp tuần dương 3 từ sườn không được bảo vệ của đội hình Đức là một bất ngờ lớn đối với cả Hipper và Scheer. Vào lúc 17 giờ 53 phút, Invincible, sau đó là InflexibleIndomitable, đã khai hỏa vào bốn tàu tuần dương hạng nhẹ Đức. Một quả đạn pháo 12 inch từ Invincible đã trúng tàu Wiesbaden ở khoảng cách 8.000 thước Anh, phá hủy phòng máy của nó. Con tàu này dừng lại và sau đó bị đánh chìm. Một tàu tuần dương hạng nhẹ khác của Đức cũng bị trúng đạn nhưng vẫn giữ được vị trí trong đội hình. Sau khi trông thấy lực lượng của Beatty đang đến gần với quân Đức phía sau, Hood chuyển hướng về phía đông nam.
Đến 18 giờ 05 phút, quân Đức đã quay đầu và một cuộc truy đuổi lần thứ hai về phía nam bắt đầu. Đến 18 giờ 22 phút, các thiết giáp tuần dương hạm của Hood đã vượt lên phía trước soái hạm của Beatty. Các thiết giáp tuần dương hạm của Hipper lúc này phải hứng chịu hỏa lực từ cả 3 hải đoàn thiết giáp tuần dương của Anh. InvincibleInflexible bắn vào Lützow ở khoảng cách 9.600 yard, trong khi Indomitable nhắm vào Derfflinger. Các tàu của Beatty tấn công phần sau của đội hình Đức. Đây là một sự kết hợp cực kỳ nguy hiểm. Trong vòng tám phút, Invincible đã bắn khoảng 50 phát đạn vào Lützow và trúng tám phát – hiệu suất bắn tốt nhất của bất kỳ con tàu nào trong trận đánh. Hai trong số các phát trúng bắn vào bên dưới lớp giáp mỏng ở mũi tàu, gây ngập nước. Lützow buộc phải rút khỏi đội hình và lẩn vào trong sương mù. Thiệt hại này cuối cùng dẫn đến việc con tàu bị mất.
SMS Derfflinger và theo sau là Seydlitz đang phải chịu hoả lực từ phía Anh. Lúc này, Derfflinger và các con tàu theo sau đều tiến hành đáp trả lại hạm đội Anh cũng như tìm cách rút lui bằng việc thực hiện cơ động quay vòng tác chiến. (Howard Gerrard)
SMS Derfflinger và theo sau là Seydlitz đang phải chịu hoả lực từ phía Anh. Lúc này, Derfflinger và các con tàu theo sau đều tiến hành đáp trả lại hạm đội Anh cũng như tìm cách rút lui bằng việc thực hiện cơ động quay vòng tác chiến. (Howard Gerrard)
Các thiết giáp tuần dương của Hipper đi song song với đội hình của Beatty về phía đông trong khi vẫn có thể bắn những loạt đạn nhanh và chính xác vào kẻ thù. Nhìn thứ tự từ bên trái là SMS Moltke, Seydlitz, Derfflinger và Lutzow (soái hạm) hiện đang bị lạc dần trong làn khói phía trước. (Claus Bergen)
Các thiết giáp tuần dương của Hipper đi song song với đội hình của Beatty về phía đông trong khi vẫn có thể bắn những loạt đạn nhanh và chính xác vào kẻ thù. Nhìn thứ tự từ bên trái là SMS Moltke, Seydlitz, Derfflinger và Lutzow (soái hạm) hiện đang bị lạc dần trong làn khói phía trước. (Claus Bergen)
SMS Lutzow hiện là soái hạm của Hipper, giờ phải giao tranh dữ dội cùng lúc với các thiết giáp tuần dương của cả Beatty và Hood. Chỉ trong vài phút, còn tàu sẽ chịu nhiều phát trúng cũng như cĩng giáng đòn chí mạng vào Invincible của Hood. Cột khói ở đường chân trời bên phải là HMS Invincible – vài giây trước vụ nổ chết người. Theo sau là Derfflinger, Seydlitz (Claus Bergen.)
SMS Lutzow hiện là soái hạm của Hipper, giờ phải giao tranh dữ dội cùng lúc với các thiết giáp tuần dương của cả Beatty và Hood. Chỉ trong vài phút, còn tàu sẽ chịu nhiều phát trúng cũng như cĩng giáng đòn chí mạng vào Invincible của Hood. Cột khói ở đường chân trời bên phải là HMS Invincible – vài giây trước vụ nổ chết người. Theo sau là Derfflinger, Seydlitz (Claus Bergen.)
Bức tranh đầy tính biểu tượng của Derfflinger trong trận chiến. Được các thủy thủ Anh đặt biệt danh là “Chó Sắt” (Iron Dog), tàu Derfflinger đã tham gia đánh chìm hai tàu của Hải quân Hoàng gia Anh — Queen Mary và Invincible — trong trận Jutland. Derfflinger tuy không thiệt hại đến mức bị chìm nhưng lại chịu tổn thất nhân mạng cao nhất, với 157 người thiệt mạng và 26 người bị thương, và phải nằm trong xưởng sửa chữa suốt gần năm tháng sau trận chiến. (Claus Bergen)
Bức tranh đầy tính biểu tượng của Derfflinger trong trận chiến. Được các thủy thủ Anh đặt biệt danh là “Chó Sắt” (Iron Dog), tàu Derfflinger đã tham gia đánh chìm hai tàu của Hải quân Hoàng gia Anh — Queen Mary và Invincible — trong trận Jutland. Derfflinger tuy không thiệt hại đến mức bị chìm nhưng lại chịu tổn thất nhân mạng cao nhất, với 157 người thiệt mạng và 26 người bị thương, và phải nằm trong xưởng sửa chữa suốt gần năm tháng sau trận chiến. (Claus Bergen)
Tuy nhiên, Invincible không có nhiều thời gian để tận hưởng chiến công của mình. LützowDerfflinger cùng lúc bắn trả vào nó. Ban đầu đạn Đức rơi ngắn, nhưng sau đó nhanh chóng bao vây Invincible, và cuối cùng bắn trúng con tàu. Những phát đầu tiên trúng vào phần đuôi nhưng không gây thiệt hại đáng kể. Đến 18 giờ 34 phút, một loạt pháo từ Derfflinger bắn trúng giữa thân tàu. Một quả trúng ngay mặt trước của tháp pháo ‘Q’ và gây nổ bên trong. Phần mái tháp pháo bị thổi văng xuống biển. Quả đạn này có thể đã gây ra một vụ nổ lan xuống tháp pháo và xuống kho đạn bên dưới, hoặc một quả khác trong cùng loạt pháo đã trúng kho đạn. Dù nguyên nhân cụ thể là gì, toàn bộ phần giữa tàu nổ tung trong một quả cầu lửa khổng lồ cao tới 400 feet (hơn 120 mét). Con tàu bị phá hủy ngay lập tức, chỉ còn hai đầu nhô lên mặt nước, phần giữa đã chìm xuống đáy biển nông. Chỉ có sáu thủy thủ sống sót, trong đó bốn người ở trên đài chỉ huy cao ở cột buồm trước. Hood nằm trong số 1.020 người thiệt mạng. (Điều trớ trêu là về sau, người Anh đặt tên Hood dành cho con thiết giáp tuần dương hạm mạnh nhất của họ để tưởng nhớ ông và đồng thời cũng chính con tàu bị Bismarck đánh chìm vào năm 1941 cùng với cách thức nổ làm đôi từ việc cháy lan hầm đạn như cách mà Invicible - con tàu mà ông chỉ huy phát nổ như vậy).
Trong một bức ảnh đã được chỉnh sửa mạnh tay nhưng thường xuyên được sử dụng, đây là khoảnh khắc Invincible bị phá huỷ sau khi trúng một quả đạn pháo 12 inch từ Derfflinger, bắn trúng tháp pháo giữa tàu  của chiếc thiết giáp tuần dương Anh. Đây là lần thứ ba trong trận đánh mà một thiết giáp tuần dương hạm của Anh bị phá huỷ bởi vụ nổ thuốc phóng. (NHHC NH 354)
Trong một bức ảnh đã được chỉnh sửa mạnh tay nhưng thường xuyên được sử dụng, đây là khoảnh khắc Invincible bị phá huỷ sau khi trúng một quả đạn pháo 12 inch từ Derfflinger, bắn trúng tháp pháo giữa tàu của chiếc thiết giáp tuần dương Anh. Đây là lần thứ ba trong trận đánh mà một thiết giáp tuần dương hạm của Anh bị phá huỷ bởi vụ nổ thuốc phóng. (NHHC NH 354)
Bên dưới cột khói khổng lồ này là Invincible sau khi con tàu phát nổ. Bức ảnh được chụp từ con tàu đi ngay phía sau, Inflexible. (IWM SP 2469)
Bên dưới cột khói khổng lồ này là Invincible sau khi con tàu phát nổ. Bức ảnh được chụp từ con tàu đi ngay phía sau, Inflexible. (IWM SP 2469)
Chỉ trong vài phút sau vụ nổ hầm đạn, tất cả những gì còn lại của Invincible là phần mũi và đuôi tàu nhô lên khỏi lớp bùn của biển Bắc. Những phần này nổi trên mặt nước trong phần lớn thời gian còn lại của trận chiến, đánh dấu nơi yên nghỉ cuối cùng của 1.020 người. Bức ảnh này được chụp từ thiết giáp hạm HMS Benbow. (NHHC NH 349)
Chỉ trong vài phút sau vụ nổ hầm đạn, tất cả những gì còn lại của Invincible là phần mũi và đuôi tàu nhô lên khỏi lớp bùn của biển Bắc. Những phần này nổi trên mặt nước trong phần lớn thời gian còn lại của trận chiến, đánh dấu nơi yên nghỉ cuối cùng của 1.020 người. Bức ảnh này được chụp từ thiết giáp hạm HMS Benbow. (NHHC NH 349)
Phần còn lại của trận đánh do các hạm đội thiết giáp hạm chi phối. Không còn thiết giáp tuần dương hạm Anh nào bị mất nữa, nhưng ba tàu tuần dương bọc thép (có mức bảo vệ tương đương các thiết giáp tuần dương đời đầu) đều đã bị đánh chìm, hai trong số đó phát nổ kho đạn khiến toàn bộ hoặc gần như toàn bộ thủy thủ đoàn thiệt mạng. Các thiết giáp tuần dương Đức tiếp tục tham chiến trong đội hình chính, và trong một lần đã được sử dụng để thu hút hỏa lực của Đại hạm đội Anh, tạo điều kiện cho các thiết giáp hạm của Scheer rút lui khỏi tình thế chiến thuật nguy hiểm. Trong số năm thiết giáp tuần dương hạm Đức, tất cả đều bị hư hại, nhưng chỉ có Lützow là không thể quay về căn cứ. Con tàu này chìm ngay trước 01 giờ sáng ngày 1 tháng 6. Trước khi bị bỏ lại, mớn nước mũi tàu của Lützow đã đạt đến 56 feet (gần 17 mét) và chân vịt gần như trồi hẳn ra khỏi mặt nước. Tổng cộng, Lützow trúng 24 quả đạn pháo cỡ lớn trong suốt trận đánh. Seydlitz cũng chịu thiệt hại gần tương đương với 22 phát trúng, mũi tàu chìm sâu xuống, nhưng vẫn về đến cảng an toàn.
Với mũi tàu SMS Lutzow ngập đầy nước biển, còn tàu giờ đây không còn khả năng duy trì tốc độ chiến đấu nữa, chỉ có thể điều khiển chậm chạp và rất khó khăn. Tàu phóng lôi G-39 đã được lệnh đi cùng để đưa Vizeadmiral Hipper và đội ngũ của ông lên tàu, và chuyển họ sang một thiết giáp tuần dương khác vẫn còn khả năng chiến đấu. Trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra xung quanh và con  tàu đang trong tình trạng nguy hiểm sắp bị phá hủy hoàn toàn. Lutzow trở thành thiết giáp tuần dương hạm duy nhất của Đức bị mất trong trận Jutland (Claus Bergen.)
Với mũi tàu SMS Lutzow ngập đầy nước biển, còn tàu giờ đây không còn khả năng duy trì tốc độ chiến đấu nữa, chỉ có thể điều khiển chậm chạp và rất khó khăn. Tàu phóng lôi G-39 đã được lệnh đi cùng để đưa Vizeadmiral Hipper và đội ngũ của ông lên tàu, và chuyển họ sang một thiết giáp tuần dương khác vẫn còn khả năng chiến đấu. Trận chiến vẫn tiếp tục diễn ra xung quanh và con tàu đang trong tình trạng nguy hiểm sắp bị phá hủy hoàn toàn. Lutzow trở thành thiết giáp tuần dương hạm duy nhất của Đức bị mất trong trận Jutland (Claus Bergen.)
Đọc thêm bài viết để hiểu thêm về giai đoạn này của trận hải chiến Jutland:

THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH

Hai thủy thủ Anh đang nhìn qua một lỗ đạn pháo trên mái tháp pháo trước của thiết giáp tuần dương Tiger. Tổng cộng, con tàu bị trúng 15 phát đạn pháo cỡ 11 inch trong trận Jutland, khiến 24 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và thêm 46 người khác bị thương. (IWM SP 1597)
Hai thủy thủ Anh đang nhìn qua một lỗ đạn pháo trên mái tháp pháo trước của thiết giáp tuần dương Tiger. Tổng cộng, con tàu bị trúng 15 phát đạn pháo cỡ 11 inch trong trận Jutland, khiến 24 thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng và thêm 46 người khác bị thương. (IWM SP 1597)
Trong trận chiến giữa các thiết giáp tuần dương hạm lớn nhất trong lịch sử ở Jutland, người chiến thắng rõ ràng là phía Đức. Hải quân Hoàng gia Anh mất ba thiết giáp tuần dương hạm trong trận đánh, trong khi người Đức chỉ mất một. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng Lützow, con tàu Đức duy nhất bị đánh chìm, lại là chiếc tàu mạnh nhất bị mất của cả hai phía. Tổn thất nhân mạng trên ba chiếc thiết giáp tuần dương hạm bị tiêu diệt của Anh là vô cùng kinh hoàng: tổng cộng 3.309 người thiệt mạng, chỉ có 11 người sống sót từ cả ba tàu cộng lại.
Giai đoạn đầu tiên của trận đánh, được gọi là "cuộc truy kích về phía Nam”, là cơ hội rõ ràng nhất để so sánh giữa các thiết giáp tuần dương hạm Anh và Đức. Trong giai đoạn này, kéo dài hơn một giờ đồng hồ, Hipper rõ ràng đã đánh bại Beatty dù phía Đức bị áp đảo về số lượng tàu chủ lực. Người Đức tiêu diệt được hai thiết giáp tuần dương hạm trong thời gian này mà không mất một chiếc nào. Phân tích chi tiết trận đánh của sử gia người Anh John Campbell xác nhận rằng hỏa lực pháo binh của Đức chính xác hơn. Năm chiếc thiết giáp tuần dương hạm Đức đã ghi được 44 phát bắn trúng các tàu Anh – trong đó 42 phát vào các thiết giáp tuần dương hạm của Beatty và hai phát vào các tàu thuộc Hải đoàn thiết giáp hạm 5. Đáp lại, phía Anh chỉ ghi nhận được 17 phát trúng vào các thiết giáp tuần dương hạm của Hipper. Trong số này, sáu phát đến từ các thiết giáp hạm thuộc Hải đoàn 5, và chỉ có 11 phát đến từ các thiết giáp tuần dương hạm. Tầm nhìn trong giai đoạn này nghiêng hẳn về phía người Đức, sự kết hợp giữa hệ thống đo tầm xa vượt trội, lớp giáp bảo vệ ưu việt và đầu đạn xuyên giáp đã mang lại hiệu quả cho họ.
Thiệt hại trên tàu Derfflinger do đạn pháo hạng nặng của Anh gây ra trong trận Jutland. Hình ảnh này cho thấy các vị trí đạn pháo đã xuyên thủng boong tàu, nhưng không xuyên được lớp giáp dày của bệ pháo. Tổng cộng có 157 người thiệt mạng trên tàu và thêm 26 người khác bị thương.(IWM Q 20765)
Thiệt hại trên tàu Derfflinger do đạn pháo hạng nặng của Anh gây ra trong trận Jutland. Hình ảnh này cho thấy các vị trí đạn pháo đã xuyên thủng boong tàu, nhưng không xuyên được lớp giáp dày của bệ pháo. Tổng cộng có 157 người thiệt mạng trên tàu và thêm 26 người khác bị thương.(IWM Q 20765)
SMS Seydlitz của Đức bị hư hại nặng khi trở về cảng sau Trận Jutland năm 1916. Seydlitz bị trúng 21 quả đạn pháo hạng nặng, hai quả đạn pháo hạng hai và một quả ngư lôi. Trong ảnh có thể thấy con tàu gần như bị chìm dưới nước những vẫn đủ sức về đến cảng nhà.
SMS Seydlitz của Đức bị hư hại nặng khi trở về cảng sau Trận Jutland năm 1916. Seydlitz bị trúng 21 quả đạn pháo hạng nặng, hai quả đạn pháo hạng hai và một quả ngư lôi. Trong ảnh có thể thấy con tàu gần như bị chìm dưới nước những vẫn đủ sức về đến cảng nhà.
SMS Seydlitz đang neo đậu tại cảng để sửa chữa những thiệt hại từ Trận Jutland năm 1916
SMS Seydlitz đang neo đậu tại cảng để sửa chữa những thiệt hại từ Trận Jutland năm 1916
Tình trạng của tàu Seydlitz vào lúc 23 giờ ngày 31 tháng 5 năm 1916, sau trận Jutland. Nước tràn vào tàu 2.626 tấn. Mớn nước phía trước sâu hơn 2,54 m. Mớn nước phía sau sâu hơn 0,99 m. Về lý thuyết tàu nghiêng 2° 56' sang mạn phải. Thực tế tàu nghiêng 7° sang mạn phải.
Tình trạng của tàu Seydlitz vào lúc 23 giờ ngày 31 tháng 5 năm 1916, sau trận Jutland. Nước tràn vào tàu 2.626 tấn. Mớn nước phía trước sâu hơn 2,54 m. Mớn nước phía sau sâu hơn 0,99 m. Về lý thuyết tàu nghiêng 2° 56' sang mạn phải. Thực tế tàu nghiêng 7° sang mạn phải.
Tình trạng của tàu Seydlitz vào lúc 19 giờ ngày 1 tháng 6 năm 1916. Trạng thái bất lợi nhất. Nước tràn vào tàu 5.308 tấn. Mớn nước phía trước sâu hơn 4,74 m. Mớn nước phía sau sâu hơn 1,03 m. Về lý thuyết tàu nghiêng 2° 10' sang mạn trái. Thực tế tàu nghiêng 8° 18' sang mạn trái.
Tình trạng của tàu Seydlitz vào lúc 19 giờ ngày 1 tháng 6 năm 1916. Trạng thái bất lợi nhất. Nước tràn vào tàu 5.308 tấn. Mớn nước phía trước sâu hơn 4,74 m. Mớn nước phía sau sâu hơn 1,03 m. Về lý thuyết tàu nghiêng 2° 10' sang mạn trái. Thực tế tàu nghiêng 8° 18' sang mạn trái.
Trong giai đoạn tiếp theo của trận chiến – được gọi là “cuộc truy kích về phía Bắc” – kết quả lại rất khác biệt. Người Đức ghi nhận được 18 phát trúng vào 5 tàu chủ lực của Anh (bao gồm các thiết giáp tuần dương hạm LionTiger). Trong số này, 11 phát được bắn ra từ ba chiếc thiết giáp tuần dương hạm Đức. Đáp lại, phía Anh đã bắn trúng 19 phát đạn hạng nặng vào 6 tàu Đức (bao gồm ba chiếc thiết giáp tuần dương hạm). Tuy nhiên, trong số đó, chỉ có một phát là do thiết giáp tuần dương hạm bắn trúng, còn lại đều do các thiết giáp hạm của Hải đoàn 5 thực hiện.
Tháp pháo 'Q' của HMS Lion cho thấy thiệt hại phải chịu trong Trận Jutland. Mái và mặt tháp pháo bọc thép bị thổi bay bởi một quả đạn pháo 12" do SMS Lutzow bắn. Gần 100 thủy thủ trong phòng tháp pháo và thang nâng đã thiệt mạng.
Tháp pháo 'Q' của HMS Lion cho thấy thiệt hại phải chịu trong Trận Jutland. Mái và mặt tháp pháo bọc thép bị thổi bay bởi một quả đạn pháo 12" do SMS Lutzow bắn. Gần 100 thủy thủ trong phòng tháp pháo và thang nâng đã thiệt mạng.
Trong giai đoạn tiếp theo – khi Hải đoàn thiết giáp tuần dương số 3 tham chiến – cả hai bên đều ghi được nhiều phát bắn trúng. Các thiết giáp tuần dương hạm Đức bắn trúng 5 phát – đủ để tiêu diệt Invincible. Đáp lại, các thiết giáp tuần dương hạm Anh bắn trúng các tàu chủ lực của Đức bằng 14 quả đạn hạng nặng. Trong số đó, 10 quả trúng Lützow, dẫn đến việc con tàu này bị mất sau đó.
Các con số thống kê cho thấy pháo binh của các thiết giáp tuần dương hạm Beatty kém hiệu quả hơn hẳn so với phía Đức và các thiết giáp hạm của Hải đoàn 5. Các thiết giáp tuần dương hạm cũ thuộc Hải đoàn số 3 lại bắn rất chính xác – không nghi ngờ gì do họ vừa hoàn tất huấn luyện pháo binh chỉ vài ngày trước đó. Về phía Đức, chiếc Lützow là tàu nổi bật nhất – với 19 phát trúng từ 380 phát bắn.
Hiệu quả pháo binh của phía Anh còn bị suy giảm do chất lượng đạn dược thấp. Trong số 13 phát trúng vào lớp giáp dày của tàu Đức, chỉ có một phát xuyên giáp và phát nổ bên trong. Bảy phát thậm chí không xuyên qua nổi lớp giáp. Xu hướng này còn rõ rệt hơn khi bắn vào các lớp giáp mỏng hơn, dày từ 6 đến 9 inch.
 Vụ nổ đầu tiên xảy ra quanh cột buồm chính và ống khói đầu tiên, khiến đài chỉ huy tàu và phần mũi tách khỏi thân tàu rồi chìm. Kho đạn cho cả pháo tháp A và B được đặt giữa hai tháp và chứa 65 tấn thuốc nổ cordite. Việc một quả đạn pháo Đức kích nổ lượng thuốc nổ này sẽ dẫn đến sự tan rã hoàn toàn của phần mũi, và sóng xung kích cùng các mảnh vụn đỏ rực từ kho đạn phát nổ cũng có thể đã kích nổ kho đạn Q, do giữa chúng chỉ có các không gian lớn của phòng nồi hơi. Điều này sẽ dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn của con tàu, trong khi phần giữa và đuôi tàu vẫn nổi trong khoảng 20 phút sau khi phần mũi bị chìm. Mặc dù không thể chắc chắn hoàn toàn điều gì đã xảy ra, việc khí nổ được thoát ra từ các lỗ thông hơi của phòng nồi hơi, nằm giữa cột buồm chính và ống khói đầu tiên, cho thấy khả năng rất cao là kho đạn 4 inch phía mũi là nguyên nhân khiến con tàu bị vỡ làm hai. Hai quả đạn pháo Đức có lẽ đã bắn trúng boong bên mạn trái phía trước của khẩu đội pháo 4 inch, phát nổ bên trong, kích hoạt lượng lớn thuốc nổ cordite 4 inch được xếp sẵn để sử dụng, và khiến hỏa lực lan dọc theo hệ thống nâng đạn xuống kho đạn 4 inch.  Kho đạn 4 inch được đặt cạnh phòng nồi hơi phía mũi, đây là đường thoát có sức cản thấp nhất để luồng khí nổ thoát ra ngoài. Kho đạn 4 inch phát nổ khi đó có thể đã kích nổ kho đạn chính nằm giữa pháo tháp A và B, gây nên vụ nổ lớn và tạo nên một trường đống đổ nát rộng. Phần giữa và đuôi tàu bị vỡ tiếp tục nổi trên mặt nước qua khu vực đã bị phá hủy, để lại một vệt mảnh vỡ, gồm cả nồi hơi, boong tàu và tấm vỏ, trước khi lật úp và chìm xuống đáy biển.
Vụ nổ đầu tiên xảy ra quanh cột buồm chính và ống khói đầu tiên, khiến đài chỉ huy tàu và phần mũi tách khỏi thân tàu rồi chìm. Kho đạn cho cả pháo tháp A và B được đặt giữa hai tháp và chứa 65 tấn thuốc nổ cordite. Việc một quả đạn pháo Đức kích nổ lượng thuốc nổ này sẽ dẫn đến sự tan rã hoàn toàn của phần mũi, và sóng xung kích cùng các mảnh vụn đỏ rực từ kho đạn phát nổ cũng có thể đã kích nổ kho đạn Q, do giữa chúng chỉ có các không gian lớn của phòng nồi hơi. Điều này sẽ dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn của con tàu, trong khi phần giữa và đuôi tàu vẫn nổi trong khoảng 20 phút sau khi phần mũi bị chìm. Mặc dù không thể chắc chắn hoàn toàn điều gì đã xảy ra, việc khí nổ được thoát ra từ các lỗ thông hơi của phòng nồi hơi, nằm giữa cột buồm chính và ống khói đầu tiên, cho thấy khả năng rất cao là kho đạn 4 inch phía mũi là nguyên nhân khiến con tàu bị vỡ làm hai. Hai quả đạn pháo Đức có lẽ đã bắn trúng boong bên mạn trái phía trước của khẩu đội pháo 4 inch, phát nổ bên trong, kích hoạt lượng lớn thuốc nổ cordite 4 inch được xếp sẵn để sử dụng, và khiến hỏa lực lan dọc theo hệ thống nâng đạn xuống kho đạn 4 inch. Kho đạn 4 inch được đặt cạnh phòng nồi hơi phía mũi, đây là đường thoát có sức cản thấp nhất để luồng khí nổ thoát ra ngoài. Kho đạn 4 inch phát nổ khi đó có thể đã kích nổ kho đạn chính nằm giữa pháo tháp A và B, gây nên vụ nổ lớn và tạo nên một trường đống đổ nát rộng. Phần giữa và đuôi tàu bị vỡ tiếp tục nổi trên mặt nước qua khu vực đã bị phá hủy, để lại một vệt mảnh vỡ, gồm cả nồi hơi, boong tàu và tấm vỏ, trước khi lật úp và chìm xuống đáy biển.
Đối với các tàu Anh bị nổ tung, nguyên nhân chính đều bắt nguồn từ lớp giáp bảo vệ kém. Đạn pháo Đức đã xuyên được giáp tháp pháo của InvincibleQueen Mary, cũng như xuyên qua giáp boong của Indefatigable. Một khi bị xuyên vào các vị trí trọng yếu, tính chất của thuốc phóng và quy trình xử lý đạn kém an toàn của Anh khiến các tàu này cực kỳ dễ bị phát nổ – dẫn tới các hậu quả bi thảm đã được mô tả ở trên.
Cần phải nhấn mạnh rằng vấn đề về thuốc phóng và quy trình xử lý không an toàn này tồn tại trên tất cả các tàu chủ lực của Anh. Tuy nhiên, chỉ có ba thiết giáp tuần dương hạm bị nổ tung vì lý do này. Điều này có thể giải thích là vì phần lớn thiết giáp hạm thuộc Đại hạm đội không bị trúng đạn nặng tại Jutland và không chiếc nào bị bắn trúng tháp pháo.
Thiết giáp hạm Malaya là một phần của Hải đoàn thiết giáp hạm số 5, được biên chế cùng Hạm đội thiết giáp tuần dương của Đô đốc Beatty trong trận Jutland. Con tàu được bọc giáp nặng này đã trúng 7 phát đạn pháo cỡ 12 inch nhưng chỉ chịu thiệt hại tương đối nhẹ. Cả bốn tàu của Hải đoàn số 5 đều sống sót qua trận chiến và thể hiện khả năng bắn  pháo vượt trội so với các thiết giáp tuần dương của Beatty. (NHHC NH 1085)
Thiết giáp hạm Malaya là một phần của Hải đoàn thiết giáp hạm số 5, được biên chế cùng Hạm đội thiết giáp tuần dương của Đô đốc Beatty trong trận Jutland. Con tàu được bọc giáp nặng này đã trúng 7 phát đạn pháo cỡ 12 inch nhưng chỉ chịu thiệt hại tương đối nhẹ. Cả bốn tàu của Hải đoàn số 5 đều sống sót qua trận chiến và thể hiện khả năng bắn pháo vượt trội so với các thiết giáp tuần dương của Beatty. (NHHC NH 1085)
Tuy nhiên, điều này không đúng với bốn thiết giáp hạm của Hải đoàn 5, những tàu đã chiến đấu cùng lực lượng của Beatty trong phần lớn trận đánh và chịu hỏa lực rất mạnh từ Đức. Các tàu này cũng là những thiết giáp hạm được bảo vệ tốt nhất trong toàn bộ Đại hạm đội, với giáp hông chính dày 13 inch, giáp bệ tháp pháo (barbette) dày tới 10 inch và giáp mặt tháp pháo dày tối đa 13 inch. Trong trận đánh, Malaya bị trúng bảy phát đạn cỡ lớn, bao gồm một phát vào mặt trên của một trong các tháp pháo phía sau – nhưng không bị xuyên giáp. Warspite trúng 13 phát, nhưng không phát nào vào vị trí trọng yếu. Barham trúng sáu phát – nhưng cũng không trúng khu vực quan trọng. Valiant chỉ bị mảnh đạn bắn phá. Nhờ sự kết hợp giữa may mắn và lớp giáp tốt, các tàu này đều sống sót. So sánh với chín thiết giáp tuần dương hạm Anh đã tham chiến – trong đó ba chiếc bị tiêu diệt – sự tương phản rõ ràng có thể nhìn thấy được.

KẾT LUẬN

Thiết giáp tuần dương Seydlitz đang trên hành trình đến Scapa Flow vào tháng 11 năm 1918. Việc con tàu kỳ cựu này sống sót sau trận Jutland, trong lúc Hạm đội Biển khơi đột phá quay về căn cứ vào rạng sáng ngày 1 tháng 6, là do mặc dù có tới bốn thiết giáp hạm Anh phát hiện và nhận dạng được Seydlitz, không tàu nào trong số đó thể hiện được sự chủ động cần thiết để tấn công con tàu Đức khi ấy đang hoàn toàn bất lực. (Cody Images)
Thiết giáp tuần dương Seydlitz đang trên hành trình đến Scapa Flow vào tháng 11 năm 1918. Việc con tàu kỳ cựu này sống sót sau trận Jutland, trong lúc Hạm đội Biển khơi đột phá quay về căn cứ vào rạng sáng ngày 1 tháng 6, là do mặc dù có tới bốn thiết giáp hạm Anh phát hiện và nhận dạng được Seydlitz, không tàu nào trong số đó thể hiện được sự chủ động cần thiết để tấn công con tàu Đức khi ấy đang hoàn toàn bất lực. (Cody Images)
Câu hỏi vẫn còn đó - liệu thiết giáp tuần dương hạm có hiệu quả hay không? Để trả lời câu hỏi này, cần ghi nhớ các nhiệm vụ chính của thiết giáp tuần dương hạm. Những nhiệm vụ này có thể được tóm gọn lại là: bảo vệ tuyến thương mại và đóng vai trò trinh sát chủ lực cho hạm đội tác chiến. Trên thực tế, những nhiệm vụ này hoàn toàn có thể được đảm nhiệm bởi một tàu tuần dương bọc thép với dàn pháo chính tiêu chuẩn cỡ 9,2 inch. Yêu cầu của Đô đốc Fisher về một con tàu "toàn pháo lớn" với tốc độ cao đã bộc lộ sai lầm ngay từ đầu, bởi một khi đã được phân cho hạm đội tác chiến trong vai trò trinh sát, thiết giáp tuần dương hạm chắc chắn sẽ bị sử dụng như bất kỳ tàu chiến chủ lực nào khác. Khi được triển khai theo cách đó, lớp bảo vệ nhẹ hơn của nó sẽ tất yếu làm suy giảm khả năng sống sót. Cũng cần lưu ý rằng thiết giáp tuần dương hạm còn đắt đỏ hơn đáng kể so với thiết giáp hạm, bởi kích thước lớn hơn và yêu cầu về động cơ của chúng phức tạp hơn.
Những chiếc thiết giáp tuần dương hạm đầu tiên của Anh đã đẩy học thuyết "tốc độ là lớp giáp" của Fisher tới mức cực đoan. Rõ ràng, hai lớp thiết giáp tuần dương hạm đầu tiên của Hải quân Hoàng gia là những con tàu thiết kế lỗi, với lớp bảo vệ không hơn gì một tàu tuần dương bọc thép, tốc độ cũng không đủ để theo kịp các thiết giáp tuần dương hạm đời sau, hỏa lực chỉ giới hạn ở sáu khẩu pháo bắn ngang mạn và dàn pháo phụ yếu kém. Các thiết giáp tuần dương hạm Anh đời sau được cải thiện về hỏa lực, tốc độ và khả năng bảo vệ, nhưng vẫn chưa bao giờ là những con tàu cân bằng thực sự.
Tuy nhiên, cũng cần thừa nhận rằng việc tập trung phân tích các con tàu có thể đã bỏ qua điểm mấu chốt khiến chúng dễ bị tổn thương. Nguyên nhân dẫn đến sự hủy diệt của ba chiếc thiết giáp tuần dương hạm tại Jutland không chỉ nằm ở thiết kế mà còn nằm ở quy trình xử lý thuốc phóng và đặc tính của loại thuốc phóng mà người Anh sử dụng. Điểm yếu này bắt nguồn từ nỗ lực của người Anh nhằm khắc phục điểm yếu đã được đánh giá trước đó – đó là tốc độ bắn chậm. Hệ quả là một "vụ nổ dây chuyền thuốc phóng" kéo dài từ tháp pháo về tận kho đạn. Vì vậy, khi tháp pháo bị xuyên thủng, toàn bộ con tàu có thể bị phá hủy. Tổn thất thảm khốc của ba con tàu tại Jutland đã khiến thiết giáp tuần dương hạm bị mang tiếng là dễ bị tổn thương. Việc thiếu lớp giáp bảo vệ khiến những điểm yếu khác của con tàu bị phơi bày toàn diện.
Hindenburg là thiết giáp tuần dương cuối cùng của Đức được hoàn tất, nhưng việc hoàn thành quá muộn đã khiến con tàu không kịp tham chiến tại trận Jutland. Về cơ bản, Hindenburg là một phiên bản lặp lại của hai tàu trước thuộc lớp Derfflinger, với một vài cải tiến nhỏ. Hình ảnh này cho thấy cách bố trí dàn pháo chính của lớp thiết giáp tuần dương mạnh nhất trong Thế chiến 1. Cột buồm tam giác phía trước (tripod foremast) có thể thấy rõ trong hình, trong khi hai tàu còn lại cùng lớp vẫn giữ thiết kế cột buồm trụ tròn (pole mast) trong trận Jutland. (Cody Images)
Hindenburg là thiết giáp tuần dương cuối cùng của Đức được hoàn tất, nhưng việc hoàn thành quá muộn đã khiến con tàu không kịp tham chiến tại trận Jutland. Về cơ bản, Hindenburg là một phiên bản lặp lại của hai tàu trước thuộc lớp Derfflinger, với một vài cải tiến nhỏ. Hình ảnh này cho thấy cách bố trí dàn pháo chính của lớp thiết giáp tuần dương mạnh nhất trong Thế chiến 1. Cột buồm tam giác phía trước (tripod foremast) có thể thấy rõ trong hình, trong khi hai tàu còn lại cùng lớp vẫn giữ thiết kế cột buồm trụ tròn (pole mast) trong trận Jutland. (Cody Images)
Triết lý thiết kế của Đức đã cho ra đời các thiết giáp tuần dương hạm cuối cùng đã tiệm cận với khái niệm thiết giáp hạm cao tốc (fast battleship). Kết quả là các con tàu này có lớp giáp dày tương đương với nhiều thiết giáp hạm của Anh. Thật may mắn cho người Đức, thiết kế của họ không bị thử thách bởi loại thuốc phóng bị lỗi như phía Anh. Nếu đặc tính của thuốc phóng Đức giống như của Anh, thì Seydlitz có thể đã bị mất tại Dogger Bank, và tại Jutland, rất có thể SeydlitzDerfflinger đều đã bị đánh chìm. Tuy nhiên, bởi vì các thiết giáp tuần dương hạm Đức được thiết kế với sự cân bằng giữa lớp giáp bảo vệ, tốc độ và hỏa lực, nên không thể chối cãi chúng là những con tàu chiến đấu tốt hơn so với các đối thủ cùng loại của Anh.
Cuối cùng, thiết giáp tuần dương hạm chỉ là một nhánh phát triển bị ngắt quãng trong thiết kế tàu chiến, khi hiệu suất của động cơ ngày càng tăng trong khi kích thước hệ thống ngày càng giảm, cho phép các thiết kế thiết giáp hạm cao tốc trở thành tiêu chuẩn mới của thiết kế tàu chiến. Khi Thế chiến II nổ ra, các thiết giáp tuần dương hạm duy nhất còn hoạt động trong hải quân các cường quốc đều là những con tàu còn sót lại từ Thế chiến I. Cuộc đời ngắn ngủi và đầy tranh cãi của các thiết giáp tuần dương hạm đã chính thức khép lại.
Link phần 1: