Chú thích từ người dịch:
Chúng ta hay được biết đến cuộc truy lùng nổi tiếng của Bismarck trong lịch sử Thế chiến 2, vốn là một thiên hùng ca về một thiết giáp hạm Đức đã đối đầu và chịu sự truy đuổi của Hạm đội Anh trong ba ngày liên tục. Cuộc chiến này chỉ là một phần nhỏ của một giai đoạn đối đầu giữa hải quân Anh và hải quân Đức trong hai cuộc thế chiến. Khác với Thế chiến 1- khi vai trò của thiết giáp hạm đóng vai trò chủ lực và đi thành các hạm đội dài đến chân trời, bước vào Thế chiến 2 thì vai trò của chúng đã giảm đi phần nào do sự xuất hiện của những vũ khí mới hiệu quả hơn trong việc tiêu diệt tàu đối phương như ngư lôi và máy bay, chưa kể sau khi trải qua thời kỳ hậu Hiệp ước hải quân Washington 1922, các thiết giáp hạm đã bị hạn chế về số lượng hơn so với Thế chiến 1 và không còn những hạm đội thiết giáp hạm tập trung tập trung lớn, vì vậy trong Thế chiến 2 chỉ còn những trận có sự tham gia của hai hay ba chiếc, sẽ không xuất hiện những trận hải chiến lớn giữa chúng ở quy mô như trận Jutland 1916. Dẫu vậy, các thiết giáp hạm của hai bên vẫn đóng vai trò nhất định trong việc tuần tiễu vùng biển Đại Tây Dương, tham gia pháo kích bờ biển như hải quân Anh hoặc tham gia các cuộc đánh phá thương mại như hải quân Đức. Thiết giáp hạm hai nước Anh và Đức vốn thường bỏ lỡ cơ hội đối đầu nhau nhưng cũng có cơ hội hai bên xuất hiện và thể hiện những ưu điểm, kỹ năng của những con tàu này.
Tác phẩm này nói về lịch sử của thiết giáp hạm Anh và Đức trong giai đoạn 1941-1943, giai đoạn căng thẳng nhất trong hải chiến Đại Tây Dương. Tác phẩm này sẽ mô tả về đặc điểm kỹ thuật, những con người tham gia chiến đấu và những cuộc đối đầu nổi tiếng của chúng. Những trận chiến được mô tả trong này thể hiện những gì mạnh nhất và hiệu suất chiến đấu cũng như đánh dấu dấu mốc cuối cùng kỷ nguyên của những con quái vật thép này.
Tác phẩm này người dịch sẽ chia làm 2 phần trong đó phần thứ nhất là các thông số kỹ thuật, lịch sử hoạt động, tình hình chiến lược và những con người tham gia chiến tranh; phần thứ 2 sẽ là diễn biến trận chiến và đánh giá về chúng. Trong quá trình dịch, người dịch có chỉnh sửa và thêm vào những hình ảnh để thể hiện rõ hơn ý trong này, và có thể vẫn có sai sót trong việc dịch. Mong các bạn hãy đọc và đóng góp ý kiến. Xin cảm ơn!

MỞ ĐẦU

Thiết giáp hạm Tirpitz của Đức đang khai hỏa trong một cuộc tập trận năm 1941. (Được tô màu bởi Irootoko, Jr.)
Thiết giáp hạm Tirpitz của Đức đang khai hỏa trong một cuộc tập trận năm 1941. (Được tô màu bởi Irootoko, Jr.)
Đối với một số người, chỉ có hai cuộc đối đầu thực sự giữa các thiết giáp hạm Anh và Đức trong giai đoạn này, và trận đầu tiên có sự tham gia của một thiết giáp tuần dương hạm - chiếc Hood không may mắn. Trận thứ hai diễn ra ba ngày sau đó, là một trận chiến một chiều, khi chiếc Bismarck giờ đây đã tàn tạ phải đối mặt hai thiết giáp hạm của Hạm đội Anh. Tuy nhiên, nếu chúng ta tính luôn cả lớp thiết giáp hạm Đức mà người Anh gán cho định danh không chính xác cho nó "thiết giáp tuần dương hạm", thì phạm vi chủ đề có thể mở rộng hơn. Hai tàu chiến thuộc lớp Scharnhorst thực chất là những chiếc thiết giáp hạm thực thụ, dù được trang bị pháo cỡ nhỏ hơn so với các tàu bên Anh. Hai thiết giáp hạm này đã tham gia nhiều cuộc chạm trán và đụng độ tiềm tàng từ tháng 5 năm 1941 đến tháng 12 năm 1943, bao gồm hai trận đánh bị lãng quên giữa chúng và các thiết giáp hạm đơn độc của Anh, cùng một trận đánh quyết định giữa Scharnhorst và thiết giáp hạm Anh Iron of York.
Lễ hạ thủy KMS Bismarck xuống sông Elbe, vào ngày 14 tháng 2 năm 1939. Con tàu ở lại Hamburg để hoàn thiện trang bị và bắt đầu phục vụ một năm rưỡi sau đó. Trong quá trình chế tạo, Kriegsmarine đã làm mọi cách có thể để che giấu kích thước thực tế và tiềm năng chiến đấu của con tàu khỏi các cường quốc hải quân khác.
Lễ hạ thủy KMS Bismarck xuống sông Elbe, vào ngày 14 tháng 2 năm 1939. Con tàu ở lại Hamburg để hoàn thiện trang bị và bắt đầu phục vụ một năm rưỡi sau đó. Trong quá trình chế tạo, Kriegsmarine đã làm mọi cách có thể để che giấu kích thước thực tế và tiềm năng chiến đấu của con tàu khỏi các cường quốc hải quân khác.
Nếu mở rộng hơn nữa, chúng ta có thể xem xét một số trường hợp mà cuộc đối đầu trên biển giữa hai bên suýt xảy ra. Chẳng hạn, năm 1943, tàu chị em của Bismarck là Tirpitz đã xuất kích từ Na Uy để tấn công các tàu vận tải Bắc Cực. Trong cả hai lần đều không có đụng độ trực tiếp nào, nhưng nếu tình huống chỉ khác đi một chút, nó có thể trở thành những trận hải chiến quan trọng nhất trong chiến tranh. Nhìn chung, điều đáng chú ý về những cuộc chạm trán này là cách chúng cho thấy sức mạnh hỏa lực ghê gớm của thiết giáp hạm trong giai đoạn này, đồng thời phản ánh sự thay đổi trong cách vận dụng tiềm lực ấy. Chúng cũng cho thấy rằng những trận đánh tay đôi khổng lồ ngày càng trở nên hiếm hoi. Trong chiến tranh, công nghệ đã thay đổi cách thức tiến hành các trận đánh mặt biển, với việc chú trọng hơn vào hệ thống kiểm soát hỏa lực bằng radar để dẫn đường cho lực lượng hải quân tấn công kẻ thù.
Ví dụ điển hình nhất của công nghệ mới này là Trận chiến Mũi Bắc (North Cape), diễn ra vào cuối năm 1943 trong bóng tối của mùa đông Bắc Cực và giữa những trận bão tuyết dữ dội. Việc tiêu diệt Scharhorst được thực hiện nhờ vào radar để định vị và theo dõi thiết giáp hạm Đức, sau đó tấn công nó trong điều kiện các phương pháp bắn pháo truyền thống gần như không thể áp dụng. Rõ ràng, điều này cho thấy sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật pháo hải quân chỉ trong vài năm kể từ những cuộc chạm trán với Scharhorst trước đó vào mùa xuân năm 1941. Một bước tiến khác là tầm quan trọng ngày càng tăng của máy bay hải quân, cả trong trinh sát lẫn tấn công. Sự xuất hiện của máy bay đã khiến những cuộc đụng độ với các thiết giáp hạm vào tháng 3 năm 1941 trong Chiến dịch Berlin bị hủy bỏ, và vài tháng sau đó, một quả ngư lôi phóng từ máy bay đã làm tê liệt Bismarck, giúp các thiết giáp hạm của Hạm đội chính quốc Anh chặn đánh nó vào sáng hôm sau. Giống như radar, không lực đang thay đổi diện mạo của chiến tranh hải quân.
Dù vậy, trong tất cả những cuộc chạm trán này, yếu tố quyết định thắng bại cuối cùng vẫn là nhưng khẩu pháo cỡ lớn. Sự phát triển nhanh chóng của vũ khí hải quân trong những thập niên đầu thế kỷ XX đồng nghĩa đến cuối Thế chiến thứ nhất, pháo của thiết giáp hạm đã đạt đến đỉnh cao. Dĩ nhiên, vẫn còn dư địa để cải tiến thêm, như việc ra mắt những khẩu pháo hải quân cỡ lớn hơn - như loại pháo 16 inch trên lớp tàu Nelson của Anh. Những cải tiến công nghệ tiếp theo nằm ở thiết kế đạn pháo và cách bố trí pháo trên tháp pháo ba hoặc thậm chí bốn nòng. Những năm giữa hai cuộc chiến cũng chứng kiến sự cải thiện về góc nâng và tầm bắn tiềm năng nhờ vào hệ thống giá pháo. Dù vậy, kỹ thuật bắn cơ bản vẫn không thay đổi nhiều kể từ trận Jutland năm 1916. Ngay cả những cải tiến trong hệ thống kiểm soát hỏa lực và điều khiển pháo chỉ mang tính tăng tiến chứ không phải là cách mạng. Nhưng điều này sắp thay đổi.
Thiết giáp hạm Rodney thuộc lớp Nelson có thể xấu xí, với cấu trúc thượng tầng cao ngất và các tháp pháo tụm lại phía trước nó, nhưng nó lại có sức mạnh tấn công ấn tượng. Mặc dù bị các thiết giáp hạm thế hệ hiện đại hơn vượt mặt, nhưng nó và Nelson vẫn tạo thành nòng cốt mạnh mẽ của hạm đội chiến đấu thời chiến của Anh.
Thiết giáp hạm Rodney thuộc lớp Nelson có thể xấu xí, với cấu trúc thượng tầng cao ngất và các tháp pháo tụm lại phía trước nó, nhưng nó lại có sức mạnh tấn công ấn tượng. Mặc dù bị các thiết giáp hạm thế hệ hiện đại hơn vượt mặt, nhưng nó và Nelson vẫn tạo thành nòng cốt mạnh mẽ của hạm đội chiến đấu thời chiến của Anh.
Đến thấp niên 1940, sự phát triển của hệ thống điều khiển hỏa lực tích hợp cho phép nhắm bắn chính xác hơn vào tàu địch bằng cách sử dụng máy đo tầm quang học, radar kiểm soát hỏa lực, hoặc kết hợp cả hai. Ngoài ra, các hệ thống kiểm soát hỏa lực tinh vi hơn trên những thiết giáp hạm như lớp Bismarck và King George V dựa vào hệ thống tính toán cực kỳ phức tạp để nhắm mục tiêu và đảm bảo các loạt đạn pháo được điều chỉnh chính xác nhất có thể. Điều này, đến lượt nó, cho phép sử dụng dẫn đường bằng radar – ít nhất là sau khi radar kiểm soát hỏa lực đã trở nên đáng tin cậy. Trước đó, các thiết giáp hạm Anh và Đức dựa vào hệ thống điều khiển pháo hơi khác nhau, nhưng có thể nói chúng tương đồng đến mức gần như giống hệt về độ chính xác và hiệu quả. Sự phát triển này, cùng với việc áp dụng các trung tâm chỉ huy hỏa lực, đã cung cấp mọi yếu tố cần thiết để đưa kỹ thuật hải pháo lên một tầm cao mới và tinh vi hơn.
Tuy nhiên, đến năm 1943, thời đại của "pháo lớn" gần như đã kết thúc. Giờ đây, rõ ràng tương lai của chiến tranh hải quân nằm ở không lực hải quân, ở những tàu ngầm ngày càng mạnh mẽ và vũ khí mới như bom lượn điều khiển – tiền thân của tên lửa dẫn đường. Ngày càng nhiều, một hải đội chiến đấu kiểu như của Kriegsmarine ở phía bắc Na Uy hay Hạm đội chính quốc Anh (the Home Fleet) tại vùng biển Bắc Cực sẽ không dám ra khơi mà không có sự che chắn của máy bay và mạng lưới trinh sát bằng tàu ngầm U-boat. Người Anh ngày càng xây dựng các nhóm tác chiến xung quanh tàu sân bay thay vì thiết giáp hạm. Tất cả những điều này khiến cho một cuộc đụng độ trên biển giữa các thiết giáp hạm Anh và Đức ngày càng khó xảy ra. Trận chiến Mũi Bắc là ngoại lệ. Nó cũng chấm dứt việc Kriegsmarine sử dụng các chiến hạm còn lại một cách chủ động. Sau khi mất Scharnhorst, những con tàu hùng mạnh này đã trở nên quá đắt đỏ để vận hành và quá quan trọng để có thể mất thêm.

NIÊN BIỂU

HMS Howe, được chụp ảnh khi đi qua Kênh đào Suez vào tháng 7 năm 1944, trên đường gia nhập Hạm đội phương Đông Anh. Trang bị vũ khí phòng không hạng nhẹ của con tàu đã được tăng cường trước khi  rời đi Viễn Đông, và được trang bị một hệ thống radar ấn tượng.
HMS Howe, được chụp ảnh khi đi qua Kênh đào Suez vào tháng 7 năm 1944, trên đường gia nhập Hạm đội phương Đông Anh. Trang bị vũ khí phòng không hạng nhẹ của con tàu đã được tăng cường trước khi rời đi Viễn Đông, và được trang bị một hệ thống radar ấn tượng.
Năm 1939
Ngày 7 tháng 1: Scharnhorst chính thức được biên chế.
Ngày 21 tháng 2: King George được hạ thủy tại xưởng đóng tàu Armstrong Whitworth, sông Tyne.
Ngày 14 tháng 2: Bismarck được hạ thủy tại xưởng Blohm & Voss, Hamburg.
Ngày 1 tháng 4: Tirpitz được hạ thủy tại xưởng Kriegsmarinewerft, Wilhelmshaven.
Ngày 3 tháng 5: Prince of Wales được hạ thủy tại xưởng Cammell Laird, Birkenhead.
Ngày 3 tháng 9: Anh và Pháp tuyên chiến với Đức.
Ngày 23–30 tháng 11: Gneisenau và Scharnhorst thực hiện chuyến xuất kích không thành công vào Đại Tây Dương.
Năm 1940
Ngày 24 tháng 2: Anson được hạ thủy tại xưởng Swan & Hunter, Wallsend.
Ngày 28 tháng 2: Duke of York được hạ thủy tại xưởng John Brown & Company, Clydebank.
Ngày 9 tháng 4: Chiến dịch Weserübung bắt đầu – Đức tấn công Đan Mạch và Na Uy.
Ngày 9 tháng 4: Howe được hạ thủy tại xưởng Fairfield, Govan – chiếc cuối cùng trong lớp King George V.
Ngày 8 tháng 6: Scharnhorst và Gneisenau đối đầu với tuần dương thiết giáp hạm Renown.
Tháng 7: Scharnhorst và Gneisenau đánh chìm tàu sân bay Glorious.
Ngày 24 tháng 8: Scharnhorst và Gneisenau sửa chữa tại Kiel.
Ngày 2 tháng 12: Bismarck được biên chế và bắt đầu chạy thử nghiệm.
Ngày 28 tháng 12: King George V được biên chế vào Hạm đội chính quốc Anh.
Năm 1941
Ngày 22 tháng 1: Chiến dịch Berlin bắt đầu – Scharnhorst và Gneisenau tiến hành xuất kích vào Đại Tây Dương.
Ngày 25 tháng 2: Tirpitz được biên chế và chạy thử nghiệm.
Ngày 22 tháng 3: Chiến dịch Berlin kết thúc khi Scharnhorst và Gneisenau cập cảng Brest.
Ngày 31 tháng 3: Prince of Wales được biên chế.
Tháng 4: Gneisenau bị hư hại do không kích tại Brest.
Ngày 19 tháng 5: Chiến dịch Rheinübung bắt đầu – Bismarck và tuần dương hạm Prinz Eugen tiến vào Bắc Đại Tây Dương.
Ngày 24 tháng 5: Trận eo biển Đan Mạch – Hood bị đánh chìm, Prince of Wales bị hư hại.
Ngày 27 tháng 5: Bismarck bị đánh chìm bởi King George V và Rodney.
Ngày 24 tháng 7: Scharnhorst bị hư hại nặng do không kích.
Tháng 10: Prince of Wales được điều tới Singapore.
Ngày 4 tháng 11: Duke of York được biên chế.
Ngày 7 tháng 12: Nhật tấn công Trân Châu Cảng – Anh tuyên chiến với Nhật.
Ngày 10 tháng 12: Prince of Wales và Repulse bị đánh chìm ngoài khơi Malaya.
Năm 1942
Tháng 1: Tirpitz được triển khai tới Na Uy.
Ngày 11–13 tháng 2: "Cuộc đột phá eo biển" (The Channel Dash) – Scharnhorst và Gneisenau bị hư hại nhưng về được Kiel.
Ngày 24 tháng 2: Gneisenau bị hư hại nặng do không kích và ngừng hoạt động.
Ngày 6–9 tháng 3: Tirpitz xuất kích đánh chặn đoàn tàu vận tải Bắc Cực PQ 12.
Tháng 6: Scharnhorst sửa chữa xong và chạy thử tại Baltic.
Ngày 22 tháng 6: Anson được biên chế.
Ngày 5–8 tháng 7: Tirpitz xuất kích đánh chặn đoàn tàu PQ 13.
Ngày 29 tháng 8: Howe được biên chế.
Năm 1943
Tháng 1: Scharnhorst được triển khai tới Na Uy.
Ngày 8 tháng 5: Duke of York trở thành soái hạm mới của Hạm đội chính quốc Anh.
Ngày 22 tháng 9: Chiến dịch Source – Tirpitz bị hư hại nặng bởi tàu ngầm mini Anh.
Ngày 26 tháng 12: Trận Mũi Bắc ( North Cape) – Scharnhorst bị Duke of York đánh chìm.
Năm 1944
Ngày 3 tháng 4: Tirpitz bị hư hại trong một đợt không kích tại Altafjord.
Tháng 6: Nelson và Rodney tham gia Chiến dịch Neptune – cuộc đổ bộ Normandy của Đồng Minh.
Tháng 11: Rodney chuyển thành soái hạm cố định ở cảng tại Scapa Flow.
Ngày 12 tháng 11: Tirpitz bị không quân Hoàng gia Anh (RAF) đánh chìm ngoài khơi Tromso.
Năm 1945
Ngày 28 tháng 3: Gneisenau bị đánh đắm tại Gotenhafen (Gdynia).
Ngày 8 tháng 5: Ngày Chiến thắng ở châu Âu (VE Day) – chiến tranh với Đức kết thúc.
Ngày 2 tháng 9: Ngày Chiến thắng Nhật Bản (VJ Day) – chiến tranh Thái Bình Dương kết thúc.

THIẾT KẾ VÀ PHÁT TRIỂN

NHỮNG PHÁT TRIỂN CỦA HẢI QUÂN TRONG 1919 - 1943

KMS Scharnhorst, được chụp ảnh khi đang neo đậu ngoài khơi Kiel ngay trước khi chiến tranh nổ ra. Tàu chị em Gneisenau của con tàu đang nằm ở phía mũi mạn phải của cô ấy, trong khi một tàu tuần dương bọc thép lớp Deutschland có thể được nhìn thấy ở phía mạn phải của nó. Một máy phóng cho thủy phi cơ Arado có thể được nhìn thấy trên đỉnh tháp pháo phía sau (Caesar) của con tàu.
KMS Scharnhorst, được chụp ảnh khi đang neo đậu ngoài khơi Kiel ngay trước khi chiến tranh nổ ra. Tàu chị em Gneisenau của con tàu đang nằm ở phía mũi mạn phải của cô ấy, trong khi một tàu tuần dương bọc thép lớp Deutschland có thể được nhìn thấy ở phía mạn phải của nó. Một máy phóng cho thủy phi cơ Arado có thể được nhìn thấy trên đỉnh tháp pháo phía sau (Caesar) của con tàu.
Khái niệm về tàu chiến 'pháo lớn' trở nên thịnh hành vào đầu thế kỷ 20, và dẫn đến sự ra đời của kiểu tàu 'dreadnought'. HMS Dreadnought, được hạ thủy năm 1906, mang một dàn vũ khí chính gồm mười khẩu pháo 12 inch, được bố trí trong năm tháp pháo đôi. Cho đến lúc đó, một tàu chiến 'tiền-dreadnought' điển hình chỉ được trang bị bốn khẩu pháo lớn. Cùng với hệ thống động cơ tuabin hơi nước hiện đại và lớp giáp bảo vệ mạnh mẽ, Dreadnought thuộc về một đẳng cấp riêng, và đã thay đổi bản chất của chiến tranh hải quân. Kỷ nguyên của tàu dreadnought đã đến.
Trước và trong Thế chiến thứ nhất, các cường quốc hàng hải lớn đã tự chế tạo tàu dreadnought của riêng mình. Đến khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1914, Anh và Đức mỗi nước đã xây dựng được cả một hạm đội chiến đấu gồm những tàu này. Trong hầu hết các trường hợp, mỗi lớp tàu mới đều có những cải tiến so với các lớp trước đó, với pháo tốt hơn và lớp giáp bảo vệ dày hơn. Những đối thủ hùng mạnh này – Đại Hạm đội của Anh (British Grand Fleet) Hạm đội Biển Khơi của Đức (German High Sea Fleet) – sẽ thống trị diễn biến của cuộc chiến tranh trên biển. Khi cuộc đụng độ quyết định diễn ra trong trận Jutland (31 tháng 5 năm 1916), hạm đội Đức đã bị đánh bại về chiến thuật và buộc phải rút lui. Mặc dù cuộc đụng độ không mang tính quyết định, và Anh thực tế đã mất nhiều tàu chiến hơn, nhưng trận chiến đã chứng tỏ một chiến thắng chiến lược cho Đại Hạm đội . Sau trận Jutland, Hạm đội Biển Khơi hiếm khi ra khơi, và khi ra khơi, họ muốn tránh một cuộc chạm trán có nguy cơ cao khác.
Sự kiện hòa bình vào tháng 11 năm 1918 đã chứng kiến Hạm đội Biển Khơi bị giam giữ tại Scapa Flow, nơi thủy thủ đoàn của họ sẽ tự đánh đắm tàu vào mùa hè năm sau. Đối với người Anh, hòa bình mang lại giải trừ quân bị, và phần lớn các tàu dreadnought đã bị đưa đến bãi phế liệu. Hòa bình được tiếp nối bằng các cuộc đàm phán ngoại giao, khi các cường quốc Đồng minh cố gắng cắt giảm ngân sách hải quân của họ bằng cách thu hẹp quy mô hạm đội chiến đấu. Điều này dẫn trực tiếp đến Hiệp ước Hải quân Washington (1920), thông qua đó Anh, Pháp, Ý, Nhật Bản và Hoa Kỳ đã đồng ý giới hạn quy mô hạm đội thiết giáp hạm của họ so với nhau. Kết quả là, hạm đội chiến đấu của Hải quân Hoàng gia đã bị thu hẹp, cho đến khi hầu như chỉ còn lại mười chiếc 'thiết giáp hạm cao tốc' (fast battleships) được trang bị pháo 15 inch. Các lực lượng hải quân khác cũng thu hẹp hạm đội của họ, nhưng tất cả đều nhận thức được rằng họ cũng cần phải chế tạo các thiết giáp hạm mới nếu muốn duy trì vị thế của mình trong hệ thống cấp bậc hải quân thế giới.
KMS Tirpitz, được chụp ảnh ở Fættenfjord gần Trondheim, Na Uy. Con tàu đã dành phần lớn sự nghiệp thời chiến của mình ở vùng biển Na Uy. Mặc dù hiếm khi xuất kích từ đó chống lại các đoàn tàu Bắc Cực, nhưng nó vẫn là một mối đe dọa tiềm tàng đối với quân Đồng minh, buộc Hạm đội chính quốc của Anh phải duy trì một lực lượng thiết giáp hạm mạnh mẽ ở Bắc Cực.
KMS Tirpitz, được chụp ảnh ở Fættenfjord gần Trondheim, Na Uy. Con tàu đã dành phần lớn sự nghiệp thời chiến của mình ở vùng biển Na Uy. Mặc dù hiếm khi xuất kích từ đó chống lại các đoàn tàu Bắc Cực, nhưng nó vẫn là một mối đe dọa tiềm tàng đối với quân Đồng minh, buộc Hạm đội chính quốc của Anh phải duy trì một lực lượng thiết giáp hạm mạnh mẽ ở Bắc Cực.
Việc bất kỳ thiết giáp hạm mới nào cũng sẽ kết hợp những bài học kinh nghiệm trong chiến tranh, cũng như những phát triển thời chiến trong thiết kế hải quân là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, thiết kế của chúng cũng sẽ bị hạn chế bởi các điều khoản của Hiệp ước Hải quân Washington, vốn đặt ra giới hạn về cả trọng lượng choán nước và cỡ nòng tối đa của pháo trên các thiết giáp hạm mới. Về mặt thiết kế thời chiến, nhiều điều đã được học hỏi về việc cân bằng đầy đủ ba yếu tố then chốt của thiết kế tàu chiến: hỏa lực, tốc độ khả năng bảo vệ. Điều này được kết hợp với những bài học kinh nghiệm – đặc biệt là từ trận Jutland – liên quan đến các lĩnh vực quan trọng như xử lý đạn dược, an toàn của thuốc phóng và giảm thiểu nguy cơ cháy lan. Tương tự, kinh nghiệm thời chiến đã cung cấp những bài học quý giá trong việc phòng thủ các tàu chủ lực chống lại ngư lôi, và trong việc hạn chế mối đe dọa do thủy lôi gây ra thông qua việc cải thiện tính kín nước bên trong tàu.
Những bài học và sự phát triển này đã được tích hợp vào các thiết kế thiết giáp hạm mới trong những năm giữa hai cuộc chiến, nhưng cũng chịu ảnh hưởng khác là các điều khoản của chính Hiệp ước Hải quân Washington. Bằng cách áp đặt giới hạn về trọng lượng choán nước đối với các thiết giáp hạm, và giới hạn trên về cỡ nòng pháo, các kiến trúc sư hải quân buộc phải thỏa hiệp. Bộ ba hỏa lực, tốc độ và khả năng bảo vệ cần được xử lý cẩn thận, vì bất kỳ sự nhấn mạnh nào vào một yếu tố so với các yếu tố khác đều đồng nghĩa với việc giảm chất lượng của chúng. Điều này dẫn đến những nỗ lực giảm trọng lượng tổng thể, để có thể tích hợp nhiều nhất vào một thiết kế. Ngoài ra, trong một số trường hợp, nó dẫn đến việc che giấu trọng lượng choán nước thực tế của một tàu chiến mới, để tránh vi phạm các điều khoản của hiệp ước. Một kết quả là các cuộc đàm phán ngoại giao tiếp theo, lần lượt dẫn đến Hiệp ước Hải quân London (1930) và Hiệp định Hải quân Anh-Đức (1935), nơi nhu cầu hải quân của Đức lần đầu tiên được xem xét.
Trong Hiệp ước Washington, tuổi thọ dự kiến của một thiết giáp hạm được coi là 20 năm. Vì vậy, các tàu chiến đã được đưa vào phục vụ trong Thế chiến thứ nhất dự kiến sẽ được thay thế vào giữa những năm 1930. Hiệp ước cũng đảm bảo ưu thế hải quân của Anh và Hoa Kỳ, và mặc dù các cường quốc hải quân nhỏ hơn khác có thể muốn tăng quy mô hạm đội chiến đấu của họ, nhưng sự khởi đầu của một cuộc đại suy thoái kinh tế toàn cầu có nghĩa là nguồn tiền cho việc xây dựng hải quân quy mô lớn đơn giản là không có. Hiệp ước London dẫn đến việc ngừng xây dựng mới thêm 5 năm nữa, đẩy mọi thứ đến giới hạn cuối cùng của tuổi thọ các thiết giáp hạm được chế tạo trong cuộc chiến trước đó. Trong khi Anh và các cường quốc khác hiện đại hóa các thiết giáp hạm hiện có của họ, việc xây dựng mới vẫn chưa nằm trong kế hoạch.
Tuy nhiên, trong những năm 1920, Anh đã chế tạo hai thiết giáp hạm mới, như một phần cam kết được xây dựng trong Hiệp ước Washington. Các tàu thuộc lớp Nelson này được thiết kế để tuân thủ các hạn chế của hiệp ước về trọng lượng choán nước và vũ khí, cũng như các thiết giáp hạm mới tương tự đang được Nhật Bản và Hoa Kỳ chế tạo. Tuy nhiên, chúng cũng cho thấy những giới hạn tương tự này đã khuyến khích các kiến trúc sư hải quân đưa ra những giải pháp mới lạ như thế nào, để tận dụng tối đa những thiết kế mới này. Trong trường hợp của Nelson và Rodney, điều này dẫn đến việc sử dụng các tháp pháo ba nòng và pháo 16 inch. Những thiết giáp hạm này bị chỉ trích vì vẻ ngoài vụng về và cấu hình tháp pháo bất thường, nhưng điều này chỉ phản ánh cách các nhà thiết kế vượt qua các hạn chế của hiệp ước bằng cách tận dụng tối đa từng tấn trọng lượng. Điều này là cần thiết vì các quốc gia khác – đáng chú ý nhất là Hoa Kỳ và Nhật Bản – cũng đang làm điều tương tự.
Các tháp pháo ba nòng trên các thiết giáp hạm lớp Nelson mới này gặp phải các vấn đề kỹ thuật, phải mất vài năm mới khắc phục được. Điều tương tự cũng xảy ra với các tháp pháo bốn nòng thậm chí còn cải tiến hơn trên các thiết giáp hạm thuộc lớp King George V. Điều này tuy vậy lại không áp dụng cho tháp pháo cho các tàu thuộc lớp Scharnhorst của Đức, được thiết kế trong những năm 1930. Các tháp pháo ba nòng của chúng hoạt động tốt, nhờ một mức độ thiết kế dư thừa nhất định về hiệu suất kỹ thuật. Tuy nhiên, điều này phần lớn là do các tháp pháo này đã được thiết kế và lắp đặt trên các tàu Panzerschiffe thuộc lớp Deutschland, và do đó hầu hết các thách thức kỹ thuật đã được giải quyết. Việc áp dụng một phiên bản cải tiến nhẹ của pháo 28cm (11 inch) được lắp trên các tàu Panzerschiffe đã giúp đẩy nhanh tiến độ hoàn thành các thiết giáp hạm mới, bất chấp những lo ngại vào phút cuối về cỡ nòng tương đối nhỏ của loại pháo này. Thay vào đó, các nhà thiết kế Đức đã tập trung vào việc cải thiện vận tốc của pháo, và do đó là khả năng xuyên phá của đạn.
Cải thiện khả năng xuyên phá là một mục tiêu cao quý của các nhà thiết kế vũ khí. Theo quy tắc chung, trong những năm giữa hai cuộc chiến, cỡ nòng của một khẩu pháo xấp xỉ bằng độ dày của lớp giáp đai (belt armour) mà đạn của nó có thể xuyên thủng. Các nhà thiết kế Đức đã tìm cách cải thiện tỷ lệ này bằng cách tăng vận tốc của đạn thông qua việc kéo dài nòng pháo. Tuy nhiên, sự gia tăng tương tự cũng có thể đạt được bằng cách tăng cỡ nòng của vũ khí. Cuối cùng, đây là những gì các nhà thiết kế Anh đã làm trong những năm 1920 với việc áp dụng pháo 16 inch, và những gì các nhà thiết kế Đức đã làm một thập kỷ rưỡi sau đó khi pháo 38cm (15 inch) được lắp trên các thiết giáp hạm thuộc lớp Bismarck. Khi người Anh áp dụng pháo 14 inch cho các thiết giáp hạm thuộc lớp King George V, đây là một bước thụt lùi, mặc dù là một bước đi buộc các nhà thiết kế phải thực hiện do các điều khoản của hiệp ước hải quân. Kết quả là một loại vũ khí có vận tốc thấp hơn, khiến những thiết giáp hạm này tương đối yếu về hỏa lực.
Trong những năm giữa hai cuộc chiến, các nhà thiết kế cũng nhận ra sự cần thiết phải cải thiện các khẩu pháo hạng hai của thiết giáp hạm. Điều này là do mối đe dọa ngày càng tăng từ các tàu khu trục nhanh, trang bị ngư lôi và từ máy bay. Ở đây, Anh và Đức đã áp dụng các cách tiếp cận khác nhau. Kriegsmarine (Hải quân Đức) đã chọn hai cỡ nòng pháo hạng hai khác nhau: một loại để đối phó với các tàu mặt nước nhanh, và một loại cỡ nòng nhỏ hơn, góc bắn cao để bắn vào máy bay. Về lý thuyết, người Anh thích một cỡ nòng pháo hạng hai duy nhất có khả năng bắn góc cao, để có thể đối phó với cả hai loại mục tiêu. Tuy nhiên, các khẩu pháo 6 inch của lớp Nelson có tốc độ bắn quá chậm để phục vụ như vũ khí phòng không, và do đó các khẩu pháo QF (bắn nhanh) 4,7 inch nhẹ hơn cũng được trang bị. Lớp King George V được trang bị pháo QF 5,25 inch, một loại pháo DP (đa năng) thực sự, mặc dù nó cũng có những hạn chế về tốc độ bắn và khả năng theo dõi máy bay bay cao.
Loại pháo này ít có tác dụng nếu pháo thủ không thể bắn trúng mục tiêu. Điều đó đòi hỏi phải xác định tầm bắn chính xác, để xác định khoảng cách và phương vị đến mục tiêu, và hiệu chỉnh điểm rơi của đạn. Trên tất cả các thiết giáp hạm thời kỳ này, thông tin này được cung cấp bởi một loạt các máy đo khoảng cách và các thiết bị quang học. Hệ thống chỉ huy pháo binh cơ bản này đã được sử dụng trong Thế chiến thứ nhất, và mặc dù nó đã được hoàn thiện, nhưng các thành phần chính về cơ bản vẫn giống nhau, ít nhất là về mặt đối phó với các mục tiêu trên mặt nước. Nhu cầu ngày càng tăng về khả năng phòng không mạnh mẽ đã dẫn đến sự phát triển của các hệ thống theo dõi có khả năng nhắm hỏa lực của tàu chiến vào máy bay. Hệ thống điều khiển góc cao (HACS) của Anh được phát triển trong những năm 1930 có những thiếu sót, vì nó không có khả năng nhắm mục tiêu chính xác vào các máy bay hiện đại di chuyển nhanh.
Hệ thống điều khiển hỏa lực phòng không SL (Stabilisierter Leitstand) của Đức hiệu quả hơn nhiều, nhưng trớ trêu thay, nó lại gặp vấn đề trong việc điều khiển hỏa lực chống lại các máy bay bay chậm, tầm thấp, chẳng hạn như Fairey Swordfish. Mối đe dọa từ máy bay đã tăng lên đáng kể trong những năm 1930, khi một thế hệ máy bay ném bom bổ nhào và máy bay phóng ngư lôi nhanh mới được đưa vào phục vụ. Điều này dẫn đến sự gia tăng số lượng pháo phòng không hạng nhẹ được trang bị cho các thiết giáp hạm hiện có, cũng như các thiết giáp hạm mới được chế tạo. Nói chung, số lượng của chúng tiếp tục tăng lên khi chiến tranh tiến triển. Hải quân Hoàng gia Anh và Kriegsmarine đều có vũ khí phòng không hạng nhẹ riêng, bao gồm pháo pom-pom 2 pound của Anh và pháo 3,7cm của Đức, có khả năng tích hợp vào hệ thống điều khiển hỏa lực phòng không được sử dụng bởi tàu. Tuy nhiên, bổ sung cho điều này là số lượng ngày càng tăng của các khẩu pháo 20mm nhẹ hơn. Chúng thường thay thế súng máy, vốn thiếu sức công phá của các loại vũ khí tự động cỡ nòng lớn hơn này.
Với những đường nét hiện đại, sạch sẽ, KMS Bismarck là một con tàu bóng bẩy và duyên dáng, nhưng nó cũng là một con tàu chết chóc. Bức ảnh này được chụp khi con tàu vẫn đang được trang bị tại xưởng Blohm & Voss ở Hamburg.
Với những đường nét hiện đại, sạch sẽ, KMS Bismarck là một con tàu bóng bẩy và duyên dáng, nhưng nó cũng là một con tàu chết chóc. Bức ảnh này được chụp khi con tàu vẫn đang được trang bị tại xưởng Blohm & Voss ở Hamburg.
Mối đe dọa từ máy bay cũng dẫn đến sự phát triển của các hệ thống định vị vô tuyến (RDF) ban đầu – sau này được gọi là radar – và việc lắp đặt thiết bị radar trên thiết giáp hạm. Vào giữa những năm 1930, một số cường quốc lớn đã thử nghiệm RDF, nhưng chính người Anh là những người đầu tiên sản xuất một hệ thống RDF hoạt động. Về mặt hải quân, điều này phát triển thành ba loại chính: cảnh báo trên không, tìm kiếm trên mặt nước và điều khiển hỏa lực. Các bộ phận đầu tiên cực kỳ thô sơ, với phạm vi rất hạn chế, và thường không đáng tin cậy. Tuy nhiên, phạm vi, độ tin cậy và hiệu suất của radar hải quân đã được cải thiện đáng kể, và đến năm 1943, nó đã trở thành một thành phần mới quan trọng trong tiềm năng chiến đấu của một thiết giáp hạm. Điều này đặc biệt đúng với người Anh, những người không chỉ lắp đặt các bộ radar hoạt động được vào các thiết giáp hạm của họ trước người Đức, mà còn tiếp tục phát triển một lợi thế công nghệ và chất lượng đáng kể so với đối thủ của họ khi chiến tranh tiến triển.

CÁC THIẾT GIÁP HẠM ANH

Sau Hiệp ước Hải quân Washington năm 1920, Hải quân Hoàng gia đã loại bỏ phần lớn hạm đội các tàu dreadnought của mình. Chỉ những chiếc 'thiết giáp hạm cao tốc' hiện đại nhất trong hạm đội mới tránh được số phận bị loại biên. Chúng nhanh hơn các lớp dreadnought trước đó, và chúng đốt dầu thay vì than đá. Quan trọng hơn, chúng được bảo vệ tốt hơn, với lớp giáp đai dày tới 13 inch, và tất cả đều được trang bị pháo 15 inch, trong bốn tháp pháo đôi.
Năm chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Queen Elizabeth (Queen Elizabeth, Warspite, Barham, Valiant và Malaya) được giữ lại, cũng như năm chiếc thuộc lớp Royal Sovereign (Royal Sovereign, Revenge, Royal Oak, Resolution và Ramillies). Các tàu lớp Queen Elizabeth đều được hiện đại hóa ở một mức độ nào đó trong những năm giữa hai cuộc chiến, nhưng rất ít việc được thực hiện đối với các tàu lớp Royal Sovereign, ngoại trừ việc cải thiện hệ thống phòng không của chúng. Cả mười chiếc thiết giáp hạm cũ thuộc kỷ nguyên Thế chiến thứ nhất này vẫn còn hoạt động vào tháng 9 năm 1939.

LỚP NELSON

HMS Nelson vào tháng 7 năm 1943, bắn một loạt đạn đầy đủ (salvo) gồm chín quả đạn pháo 16 inch trong cuộc xâm lược Sicily của quân Đồng minh. Pháo của con tàu ở góc nâng tối đa, vì vậy có lẽ con tàu đang bắn vào các mục tiêu của phe Trục nằm sâu trong đất liền. Ở độ cao này, pháo chính của nó có tầm bắn hơn 20 dặm.
HMS Nelson vào tháng 7 năm 1943, bắn một loạt đạn đầy đủ (salvo) gồm chín quả đạn pháo 16 inch trong cuộc xâm lược Sicily của quân Đồng minh. Pháo của con tàu ở góc nâng tối đa, vì vậy có lẽ con tàu đang bắn vào các mục tiêu của phe Trục nằm sâu trong đất liền. Ở độ cao này, pháo chính của nó có tầm bắn hơn 20 dặm.
Theo các điều khoản của hiệp ước Washington, trọng lượng choán nước của các thiết giáp hạm mới được chế tạo bị giới hạn ở mức 35.000 tấn, trong khi cỡ nòng tối đa của pháo là 16 inch. Khi Hải quân Anh lên kế hoạch đóng hai thiết giáp hạm mới, đây trở thành các thông số thiết kế chính. Điều này cũng mang đến cho các nhà thiết kế hải quân cơ hội kết hợp những bài học kinh nghiệm trong chiến tranh. Những gì Giám đốc Xây dựng Hải quân (DNC) đưa ra là một phiên bản rút gọn của các kế hoạch đã được phát triển cho thiết giáp tuần dương hạm G3 bị hủy bỏ. Để tuân thủ các giới hạn của hiệp ước, những thiết giáp hạm mới này chậm hơn và được bảo vệ kém hơn so với thiết kế G3, nhưng chúng cũng mang chín khẩu pháo 16 inch, loại pháo thiết giáp hạm lớn nhất được phép theo hiệp ước. Trọng lượng choán nước cũng được giảm bớt bằng cách sử dụng thép cường độ cao và quản lý trọng lượng cẩn thận trong quá trình chế tạo. Trong giới hải quân, những con tàu này được biết đến với tên gọi 'lớp Cherry Tree', bởi vì chúng đã bị 'cắt giảm bởi Washington'.
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp Nelson
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp Nelson
Tuy nhiên, kết quả là hai thiết giáp hạm lớp Nelson hoàn toàn hiện đại. Dàn vũ khí mạnh mẽ của chúng cũng có nghĩa là Nelson và Rodney là những thiết giáp hạm mạnh nhất đang hoạt động – một vị thế mà chúng giữ cho đến năm 1940, khi một thế hệ thiết giáp hạm mới bắt đầu xuất hiện. Đặc điểm nổi bật nhất của những con tàu này là vẻ ngoài vụng về của chúng, vì cả ba tháp pháo đều được đặt phía trước buồng lái tàu. Đây là kết quả của hệ thống bảo vệ 'all or nothing', trong đó lớp giáp đai dày được tập trung xung quanh các khẩu pháo và hầm đạn, các khu vực máy móc và tháp chỉ huy. Những thiết giáp hạm này cũng được trang bị một sàn bảo vệ được bọc thép tốt để bảo vệ các khu vực quan trọng này. Ở những nơi khác, con tàu được bảo vệ tối thiểu – đủ để chống lại các mảnh văng, và ít hơn thế nữa. Đây là một biện pháp tiết kiệm trọng lượng, nhưng nó cho phép các nhà thiết kế cung cấp cho những con tàu này một lớp giáp hông xứng đáng với một thiết giáp hạm hiện đại, đồng thời vẫn nằm trong giới hạn của hiệp ước.
Đây không phải là sự đổi mới duy nhất. Trên thực tế, các tàu thuộc lớp Nelson đã đặt ra một tiêu chuẩn mới cho thiết kế thiết giáp hạm trong những năm giữa hai cuộc chiến. Lớp giáp đai nằm bên trong vỏ tàu bên ngoài và được đặt nghiêng 72°, để cải thiện khả năng bảo vệ của nó. Điều này, cùng với hệ thống bảo vệ chống ngư lôi chứa đầy nước được tích hợp vào phần thân dưới, dựa trên những bài học kinh nghiệm thời chiến và thể hiện sự tiến bộ so với tất cả các thiết kế trước đó. Một sự đổi mới khác là cấu trúc thượng tầng phía trước dạng khối, mang lại sự bảo vệ tốt hơn cho các bộ phận điều khiển pháo, tháp chỉ huy và cầu tàu, đồng thời cung cấp tầm nhìn tốt cho các đội điều khiển pháo binh. Tuy nhiên, một nhược điểm là việc thiếu sự bảo vệ cho hệ thống vũ khí hạng hai của những thiết giáp hạm này.
Bên trong tháp pháo của một thiết giáp hạm lớp Nelson. Ở đây, thủy thủ đoàn đang thực hiện các kiểm tra bảo trì định kỳ. Trong chiến đấu, các đội pháo thủ sẽ đeo mũ trùm đầu và găng tay chống cháy. Do trọng lượng của đạn pháo và liều phóng, việc nạp và bắn các khẩu pháo 16 inch này được tự động hóa rất nhiều.
Bên trong tháp pháo của một thiết giáp hạm lớp Nelson. Ở đây, thủy thủ đoàn đang thực hiện các kiểm tra bảo trì định kỳ. Trong chiến đấu, các đội pháo thủ sẽ đeo mũ trùm đầu và găng tay chống cháy. Do trọng lượng của đạn pháo và liều phóng, việc nạp và bắn các khẩu pháo 16 inch này được tự động hóa rất nhiều.
Nelson và Rodney là những con tàu mạnh mẽ vào thời điểm đó, nhưng trong chiến tranh, chúng đã bị thế hệ thiết giáp hạm mới vượt mặt, phần lớn là do tốc độ tương đối chậm của chúng, và cách các thiết giáp hạm mới hơn kết hợp các tiến bộ công nghệ dễ dàng hơn so với những 'pháo đài nổi' thời giữa chiến tranh này. Dàn vũ khí chính của chúng cũng gặp vấn đề. Vấn đề đầu tiên là cấu hình của nó, với một nửa chiều dài thân tàu dành cho các khẩu pháo. Các tháp pháo 'A' và 'B' có thể bắn về phía trước, nhưng tháp pháo 'X' phía sau chúng thì không thể, và do đó có góc bắn tương đối hạn chế. Mặc dù các khẩu pháo 16 inch mà chúng mang theo là những vũ khí cực kỳ mạnh mẽ, nhưng bản thân chúng và các bệ tháp pháo ba nòng của chúng lại là những thiết kế mới, và do đó gặp phải các vấn đề kỹ thuật ban đầu. Mặc dù những vấn đề này phần lớn đã được khắc phục vào năm 1939, nhưng chúng vẫn có tốc độ bắn tương đối chậm do một loạt các biện pháp an toàn quá mức. Dù mạnh mẽ đến đâu, hai thiết giáp hạm này chưa bao giờ thực hiện đầy đủ tiềm năng chiến đấu to lớn của mình.

LỚP KING GEORGE V

Mặc dù thiết kế của con tàu bị ảnh hưởng bởi những hạn chế của Hiệp ước Hải quân London, King George V và bốn tàu chị em của nó vẫn là những thiết giáp hạm mạnh mẽ. Mặc dù cỡ pháo và cấu hình tháp pháo bất thường của chúng đã bị chỉ trích, nhưng pháo và bệ pháo của nó hoạt động tốt sau khi những rắc rối ban đầu đã được khắc phục. Trong năm 1941, King George V đóng vai trò là soái hạm của Hạm đội chính quốc Anh, và khi treo cờ của Đô đốc Tovey, con tàu đã tham gia vào việc tiêu diệt Bismarck.
Mặc dù thiết kế của con tàu bị ảnh hưởng bởi những hạn chế của Hiệp ước Hải quân London, King George V và bốn tàu chị em của nó vẫn là những thiết giáp hạm mạnh mẽ. Mặc dù cỡ pháo và cấu hình tháp pháo bất thường của chúng đã bị chỉ trích, nhưng pháo và bệ pháo của nó hoạt động tốt sau khi những rắc rối ban đầu đã được khắc phục. Trong năm 1941, King George V đóng vai trò là soái hạm của Hạm đội chính quốc Anh, và khi treo cờ của Đô đốc Tovey, con tàu đã tham gia vào việc tiêu diệt Bismarck.
Hiệp ước Washington bao gồm lệnh cấm 10 năm đối với việc đóng mới thiết giáp hạm – ngoại trừ Nelson và Rodney. Lệnh cấm này sau đó được gia hạn thêm 5 năm nữa. Đến giữa những năm 1930, khi lệnh cấm này sắp hết hiệu lực, DNC bắt đầu phát triển kế hoạch cho một thế hệ thiết giáp hạm mới, mặc dù vẫn nằm trong giới hạn trọng lượng choán nước 35.000 tấn. Đây sẽ là những thiết giáp hạm mới đầu tiên được đưa vào phục vụ trong Hải quân Hoàng gia sau hơn một thập kỷ. Hiệp ước Hải quân London lần thứ hai (ký ngày 25 tháng 3 năm 1936) đặt ra cỡ nòng pháo tối đa là 14 inch, và do đó DNC đã xem xét một số cấu hình và loại vũ khí khác nhau, đồng thời vẫn nằm trong giới hạn trọng lượng choán nước của hiệp ước. Điều này bao gồm việc trang bị bốn tháp pháo đôi, ba tháp pháo ba nòng và mọi cỡ nòng pháo chính từ 12 inch đến 16 inch. Cuối cùng, các nhà thiết kế đã chọn giới hạn tối đa của hiệp ước về cả trọng lượng choán nước và kích thước pháo.
Thiết kế cuối cùng yêu cầu một cấu hình sáng tạo gồm mười khẩu pháo 14 inch, với tháp pháo 'A' phía trước và tháp pháo 'X' phía sau là các bệ bốn nòng, trong khi tháp pháo 'B' (nằm chồng lên phía sau 'A') là một tháp pháo đôi thông thường hơn. Một lớp giáp đai tương đối mạnh mẽ đã được cung cấp, rộng hơn đáng kể so với lớp Nelson, và hệ thống động lực cũng được cải thiện. Hệ thống vũ khí hạng hai sẽ bao gồm các khẩu pháo đa năng 5,25 inch, trong các tháp pháo đôi. Xét mọi khía cạnh, đây là một thiết kế tốt, mặc dù là một thiết kế bị DNC buộc phải thực hiện do các giới hạn của hiệp ước. Trong thực tế, không chỉ những khẩu pháo 14 inch này hơi kém mạnh hơn so với các khẩu pháo được trang bị trên hầu hết các thiết giáp hạm hiện đại khác, mà cả các khẩu pháo và bệ pháo của chúng đều gặp phải các vấn đề kỹ thuật. Điều này chủ yếu là do các hệ thống an toàn chống cháy được tích hợp vào thiết kế tháp pháo, và phải đến năm 1942 những vấn đề ban đầu này mới được khắc phục hoàn toàn. Những thiết giáp hạm này cũng chậm hơn một chút so với các đối thủ mới của Đức, nhưng về mặt cơ khí, chúng cực kỳ ổn định – hơn nhiều so với những người tiền nhiệm già nua thuộc lớp Nelson.
Giống như người Đức, người Mỹ và người Nhật, Anh cũng mơ ước về những thiết giáp hạm lớn sau hiệp ước. Các kế hoạch đã được đưa ra cho một lớp thiết giáp hạm Lion, có trọng lượng choán nước hơn 40.000 tấn và được trang bị pháo 16 inch. Tuy nhiên, trên thực tế, việc thiết kế và chế tạo thế hệ thiết giáp hạm mới này của Anh đã bị những sự kiện chiến tranh sắp xảy ra làm lu mờ. Mặc dù Lion và Temeraire đã được đặt ky vào năm 1939, nhưng công việc đã bị đình chỉ ngay sau khi chiến sự nổ ra, và các khung sườn của chúng đã bị tháo dỡ trên ụ tàu vào năm 1944. Hai thiết giáp hạm khác thuộc lớp này đã được lên kế hoạch, nhưng chưa bao giờ được đặt hàng.
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp King Geogre V
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp King Geogre V
Trên thực tế, các thiết giáp hạm thuộc lớp Lion sẽ tương tự như các thiết giáp hạm thuộc lớp King George V, ngoại trừ việc vũ khí chính của chúng sẽ được bố trí trong ba tháp pháo ba nòng, hai phía trước cấu trúc thượng tầng và một phía sau. Thay vào đó, một thiết giáp hạm độc nhất vô nhị, Vanguard, đã được đặt lườn vào năm 1941, là một thiết giáp hạm hiện đại, nhưng được trang bị tám khẩu pháo 15 inch, có niên đại từ những năm 1920. Nó cuối cùng đã được đưa vào phục vụ vào năm 1946. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, kỷ nguyên của thiết giáp hạm đã rõ ràng qua đi, và Vanguard tồn tại như một biểu tượng địa vị quốc gia hơn là một thành viên mạnh mẽ của hạm đội Anh thời hậu chiến đang bị thu hẹp.

CÁC THIẾT GIÁP HẠM ĐỨC

Trong những năm giữa hai cuộc chiến, quy mô và sức mạnh của Reichsmarine (Hải quân Đế chế) của nước Đức Weimar bị hạn chế nghiêm trọng. Các điều khoản khắc nghiệt của Hiệp ước Versailles (1919) đồng nghĩa với việc nó bị thu hẹp xuống chỉ còn là một lực lượng phòng thủ bờ biển. Các tàu chiến lớn nhất của nó là những chiếc thiết giáp hạm tiền-dreadnought còn sót lại của Hải quân Đế quốc Đức. Mặc dù các tàu chiến mới có thể được chế tạo để thay thế những chiếc này, nhưng các thiết giáp hạm hiện đại đã bị cấm. Thay vào đó, không chiếc nào được phép lớn hơn hoặc mạnh hơn các tàu tuần dương bọc thép của cuộc chiến trước đó. Phản ứng của Đức là phát triển một lớp tàu Panzerschiffe (tàu bọc thép) 10.000 tấn mới, tuân thủ giới hạn này, nhưng vẫn đẩy các hạn chế đến giới hạn cuối cùng của chúng. Những tàu chiến thuộc lớp Deutschland này được người Anh gọi là 'thiết giáp hạm bỏ túi'(pocket battleship) do chúng được trang bị các khẩu pháo 28cm (11 inch) tương đối mạnh mẽ, nhưng trên thực tế chúng chỉ là những tàu tuần dương hạng nặng được trang bị vũ khí tốt, được thiết kế để hoạt động như những tàu cướp tàu buôn trong thời chiến.
Pháo 28cm được chọn vì cỡ nòng pháo cũng bị hạn chế bởi hiệp ước Versailles. Mặc dù pháo 30cm (12 inch) lớn hơn sẽ được ưu tiên hơn, nhưng mỗi năm chỉ có thể chế tạo một nòng pháo cỡ nòng này. Cỡ nòng nhỏ hơn được chọn vì những hạn chế này không áp dụng. Các tàu này mang sáu khẩu pháo như vậy, trong hai tháp pháo ba nòng. Chúng không được bảo vệ tốt hơn hầu hết các tàu tuần dương hạng nặng thời kỳ đó, một lần nữa là do các hạn chế về trọng lượng choán nước của hiệp ước, và một điều bất thường là chúng được trang bị động cơ diesel, vốn giới hạn tốc độ của chúng chỉ hơn 28 hải lý/giờ, nhưng lại mang lại cho chúng tầm hoạt động ấn tượng. Ba chiếc tàu chiến thuộc lớp Deutschland này đã được chế tạo (Deutschland, Admiral Scheer và Admiral Graf Spee), với chiếc đầu tiên được đưa vào phục vụ năm 1933.
Sự phát triển này đã khiến Pháp tạo ra lớp thiết giáp tuần dương hạm hiện đại của riêng mình, để bảo vệ các tuyến đường biển của họ trong thời chiến. Bản thân thiết giáp tuần dương hạm là một khái niệm đã lỗi thời, nơi bộ ba thiết kế hải quân bị lệch về phía hỏa lực và tốc độ, gây tổn hại đến lớp giáp. Những tàu chiến Pháp này mang một mức độ bảo vệ bọc thép đầy đủ, nhưng điều này phải trả giá bằng hỏa lực của chúng, bị giới hạn ở tám khẩu pháo 33cm (13 inch), trong hai tháp pháo bốn nòng. Bất chấp lớp giáp hông tương đối yếu chỉ 22,5cm (8,75 inch), vì mục đích chính trị, cuối cùng chúng đã được phân loại là thiết giáp hạm. Tuy nhiên, hai thiết giáp hạm thuộc lớp Dunkerque (Dunkerque và Strasbourg) vẫn là thiết giáp tuần dương hạm về mọi mặt, chỉ khác tên gọi. Chúng cũng nằm trong giới hạn 35.000 tấn của Hiệp ước Washington. Tuy nhiên, điều này đã dẫn đến phản ứng đáp trả của người Đức. Các kế hoạch đóng thêm hai tàu Panzerschiffe đã bị gác lại, vì người ta quyết định rằng, để đối phó với người Pháp, một loại tàu mạnh hơn là cần thiết.

LỚP SCHARNHORST

Thiết giáp hạm Đức Scharnhorst, được chụp ảnh khi đang được trang bị ở Wilhelmshaven. Tháp pháo phía trước  'Anton' đã được lắp đặt, trong khi phía sau nó là bệ pháo nâng cao của tháp pháo 'Bruno' có thể được nhìn thấy, được bảo vệ bởi một mái che tạm thời. Ván gỗ cũng có thể được nhìn thấy đang được lát trên mũi tàu thép của con tàu.
Thiết giáp hạm Đức Scharnhorst, được chụp ảnh khi đang được trang bị ở Wilhelmshaven. Tháp pháo phía trước 'Anton' đã được lắp đặt, trong khi phía sau nó là bệ pháo nâng cao của tháp pháo 'Bruno' có thể được nhìn thấy, được bảo vệ bởi một mái che tạm thời. Ván gỗ cũng có thể được nhìn thấy đang được lát trên mũi tàu thép của con tàu.
Scharnhorst là một con tàu đẹp và bóng bẩy, và giống như lớp Bismarck theo sau, vẻ ngoài của con tàu được hưởng lợi từ mũi tàu kiểu clipper dốc đứng. Lưu ý các mái vòm trên cấu trúc thượng tầng  che phủ các máy đo khoảng cách pháo chính và pháo phụ của nó.
Scharnhorst là một con tàu đẹp và bóng bẩy, và giống như lớp Bismarck theo sau, vẻ ngoài của con tàu được hưởng lợi từ mũi tàu kiểu clipper dốc đứng. Lưu ý các mái vòm trên cấu trúc thượng tầng che phủ các máy đo khoảng cách pháo chính và pháo phụ của nó.
Đến giữa những năm 1930 – đúng vào thời điểm Đảng Quốc xã củng cố quyền kiểm soát nước Đức – các nhà thiết kế của Reichsmarine đã chuẩn bị phá vỡ các hạn chế của Versailles. Lý do là Đức Quốc xã chưa bao giờ bị ràng buộc bởi các hiệp ước giải trừ quân bị quốc tế của Washington hoặc London. Sau đó, vào tháng 3 năm 1935, Quốc trưởng và Thủ tướng Đức Adolf Hitler chính thức hủy bỏ hiệp ước Versailles. Sau khi thực hiện điều này, ông bắt tay vào một chương trình quân sự hóa nước Đức, điều này, đến lượt nó, có nghĩa là hạm đội Đức cũng sẽ được mở rộng. Điều này dẫn đến Hiệp định Hải quân Anh - Đức thực dụng (ký ngày 18 tháng 6 năm 1935). Hiệp định công nhận rằng Đức có quyền mở rộng hải quân của mình, nhưng phải thực hiện điều đó trong các giới hạn của hiệp ước giải trừ quân bị áp đặt lên các cường quốc hải quân khác. Tuy nhiên, đây chỉ là sự chấp nhận một sự đã rồi của Đức. Vào thời điểm đó, Reichsmarine (đổi tên thành Kriegsmarine vào năm 1935) đã bắt đầu đóng những chiếc thiết giáp hạm đầu tiên của mình.
Về mặt chính thức, những thiết giáp hạm mới này, và hai chiếc tiếp theo, là một phần của Schiffbauersatzplan (Chương trình Xây dựng Tàu Thay thế), theo đó các tàu chiến cũ hơn của Reichsmarine dần dần được thay thế bằng các tàu hiện đại. Vì vậy, ít nhất trên giấy tờ, những con tàu này đơn giản chỉ được chế tạo để thay thế hai trong số các thiết giáp hạm tiền-dreadnought cũ hiện đã đến thời điểm phải loại bỏ. Trong những năm đầu thập niên 1930, các kế hoạch đã được vạch ra cho một phiên bản cải tiến của Panzerschiffe, được trang bị chín khẩu pháo 28cm (11 inch), trong ba tháp pháo ba nòng. Sau đó, vào thời điểm Dunkerque được hạ thủy vào năm 1935, những kế hoạch này đã phát triển thành một tàu chiến lớn hơn nhiều, với lớp giáp đai có khả năng chống lại các khẩu pháo 33cm của các thiết giáp hạm mới của Pháp. Ngoài ra, nhiều cấu hình tháp pháo và cỡ nòng pháo khác nhau đã được xem xét, trước khi phương án ba tháp pháo ba nòng được chọn, cùng với pháo 28cm.
Về mặt chính trị, chúng vẫn được mô tả là các tàu thuộc lớp Deutschland cải tiến. Trên thực tế, chúng là những thiết giáp hạm thực thụ, mặc dù có cỡ nòng pháo chính tương đối nhỏ. Chính điều này đã khiến người Anh coi những tàu chiến mới này là thiết giáp tuần dương hạm, chứ không phải là thiết giáp hạm. Trên thực tế, lớp giáp của chúng tốt hơn bất kỳ tàu tuần dương chiến nào đang hoạt động, và ngang bằng với các thiết giáp hạm lớp Nelson của Anh. Hai trong số những con tàu mới này đã được đặt ky tại Kiel và Wilhelmshaven vào đầu năm 1934, với tư cách là các tàu chiến lớp Deutschland cải tiến, với hai tháp pháo ba nòng. Cấu hình ban đầu này chỉ là một biện pháp chính trị tạm thời, và đến mùa hè năm đó, phiên bản ba tháp pháo đã được phê duyệt.
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp Scharnhorst
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp Scharnhorst
Điều này, đến lượt nó, dẫn đến sự chậm trễ hơn nữa, khi Reichsmarine thúc đẩy việc tăng cỡ nòng pháo. Giải pháp cuối cùng là tiếp tục sử dụng pháo 28cm (11 inch), nhưng có khả năng trang bị thêm pháo 33cm (13 inch) cho những con tàu này để phù hợp với các thiết giáp hạm mới của Pháp vào một ngày sau đó. Trên thực tế, các kế hoạch cũng đã được phát triển để chúng cuối cùng có thể mang pháo 38cm (15 inch), nếu điều đó từng được chứng minh là cần thiết. Công việc trên chúng đã được nối lại một cách nghiêm túc vào tháng 5 năm 1935. Cả Scharnhorst và Gneisenau đều được hạ thủy vào năm sau và được đưa vào phục vụ trước khi Thế chiến thứ hai bùng nổ. Đến lúc này, rõ ràng đây không chỉ là những sự thay thế đơn thuần cho các tàu tiền-dreadnought cũ kỹ, mà là những thiết giáp hạm hoàn toàn hiện đại, có khả năng giao chiến với các thiết giáp hạm khác trên biển khơi. Tuy nhiên, đây chỉ là sự khởi đầu. Hai tàu chiến tiếp theo được chế tạo theo Schiffbauersatzplan sẽ là những thiết giáp hạm mạnh nhất đang hoạt động, và hơn hẳn bất cứ thứ gì mà Hải quân Hoàng gia Anh có thể điều động chống lại chúng.

LỚP BISMARCK

Bismarck, tàu dẫn đầu của lớp tàu mang tên nó, là tàu chiến tiên tiến nhất trên thế giới khi được đưa vào phục vụ vào đầu năm 1941. Đường nét thanh lịch của nó hầu như không che giấu được khả năng của nó. Mặc dù vũ khí của nó không có gì đặc biệt khác thường, nhưng nó được hỗ trợ bởi một hệ thống điều khiển hỏa lực vi tính hóa hiện đại. Nó cũng được bảo vệ cực kỳ tốt, ít nhất là về đai giáp của nó. Với tốc độ ấn tượng của mình, Bismarck cũng đủ nhanh để vượt qua bất kỳ thiết giáp hạm nào trong biên chế của Anh.
Bismarck, tàu dẫn đầu của lớp tàu mang tên nó, là tàu chiến tiên tiến nhất trên thế giới khi được đưa vào phục vụ vào đầu năm 1941. Đường nét thanh lịch của nó hầu như không che giấu được khả năng của nó. Mặc dù vũ khí của nó không có gì đặc biệt khác thường, nhưng nó được hỗ trợ bởi một hệ thống điều khiển hỏa lực vi tính hóa hiện đại. Nó cũng được bảo vệ cực kỳ tốt, ít nhất là về đai giáp của nó. Với tốc độ ấn tượng của mình, Bismarck cũng đủ nhanh để vượt qua bất kỳ thiết giáp hạm nào trong biên chế của Anh.
Việc hạ thủy chiến hạm Tirpitz vào ngày 1 tháng 4 năm 1939 tại Wilhelmshaven đánh dấu đỉnh cao trong chương trình đóng thiết giáp hạm của Hải quân Đức (Kriegsmarine). Khi được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 1940–1941, Tirpitz và tàu chị em của nó, Bismarck, được coi là những thiết giáp hạm hiện đại mạnh mẽ nhất trên biển lúc bấy giờ.
Việc hạ thủy chiến hạm Tirpitz vào ngày 1 tháng 4 năm 1939 tại Wilhelmshaven đánh dấu đỉnh cao trong chương trình đóng thiết giáp hạm của Hải quân Đức (Kriegsmarine). Khi được đưa vào hoạt động trong giai đoạn 1940–1941, Tirpitz và tàu chị em của nó, Bismarck, được coi là những thiết giáp hạm hiện đại mạnh mẽ nhất trên biển lúc bấy giờ.
Trong khi đó, Reichsmarine đã đặt hàng các kế hoạch để vạch ra cho một lớp thiết giáp hạm thậm chí còn lớn hơn. Về lý thuyết, lớp này vẫn sẽ được chế tạo trong các thông số hạn chế của hiệp ước Washington. Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà thiết kế đã sớm vượt quá giới hạn trọng lượng choán nước của hiệp ước. Thiết kế đầu tiên là cho một tàu 35.000 tấn, được trang bị pháo 33cm (13 inch) trong bốn tháp pháo đôi, nhưng có lớp giáp bảo vệ tốt hơn lớp Scharnhorst. Yêu cầu của Kriegsmarine về tốc độ cao hơn đã buộc phải tăng trọng lượng, do hệ thống động lực mạnh hơn. Đến giữa năm 1935, cỡ nòng pháo đã được tăng lên 38cm (15 inch), trong khi trọng lượng choán nước hiện vào khoảng 42.000 tấn. Kriegsmarine đã khắc phục vấn đề trọng lượng choán nước này bằng cách đơn giản điều chỉnh các số liệu chính thức. Đến lúc này, Cục Thiết kế Tàu của hải quân Đức đã có thể thiết kế những gì họ muốn, mà không cần tuân theo bất kỳ hạn chế quốc tế nào. Thông số thiết kế thực tế duy nhất mà họ có là những thiết giáp hạm mới này cần phải vừa với kênh đào Kaiser Wilhelm (sau này là kênh đào Kiel).
Việc chuyển sang cỡ nòng pháo chính lớn hơn là do yêu cầu của Đại Đô đốc (Grossadmiral) Erich Raeder, người đứng đầu Kriegsmarine, người đang bận rộn vạch ra kế hoạch cho một hải quân thậm chí còn lớn hơn và mạnh mẽ hơn. Những thiết giáp hạm mới này, về sau sẽ trở thành Bismarck và Tirpitz, chỉ là một phần trong Kế hoạch Z vĩ đại của ông, một chương trình xây dựng kéo dài mười năm sẽ tạo ra một hạm đội có khả năng thách thức sức mạnh hải quân của Anh. Chúng sẽ được theo sau bởi một lớp thiết giáp hạm H thậm chí còn lớn hơn, nếu được chế tạo, sẽ có trọng lượng choán nước hơn 55.000 tấn và mang pháo 40cm (16 inch). Tuy nhiên, việc chiến tranh diễn ra đã kết thúc giấc mơ xây dựng hạm đội này. Bismarck và Tirpitz, cùng với Scharnhost và Gneisenau đã trở thành lực lượng nòng cốt thời chiến của Kriegsmarine. Raeder chịu trách nhiệm tăng cường lớp giáp bảo vệ của các thiết giáp hạm lớp Bismarck và cải thiện hệ thống động lực của chúng, để chúng có thể vượt qua các đối thủ Anh và có khả năng chống lại đạn 15 inch hoặc 16 inch.
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp Bismarck
Các thông số kỹ thuật, quá trình xây dựng và các mốc thời gian chính của Lớp Bismarck
Một đặc điểm thiết kế quan trọng của lớp Bismarck là khu vực thành trì bọc thép được bảo vệ tốt, với lớp giáp đai dày 32cm (12,6 inch), sau đó mỏng dần về phía mũi và đuôi tàu. Điều này có nghĩa là 70% con tàu được bọc thép dày, trong khi ngay cả sàn tàu phía trên cũng có khả năng chống lại hỏa lực bắn cầu vồng (plunging fire). Dễ hiểu tại sao báo chí Đức gọi Bismarck là 'không thể đánh chìm'. Công việc trên Bismarck bắt đầu vào tháng 7 năm 1936, và trên tàu chị em Tirpitz vào tháng 10 năm sau. Cả hai đều được hạ thủy vào đầu năm 1939, nhưng chúng vẫn đang được trang bị khi chiến tranh nổ ra vào tháng 9. Chúng được hoàn thành lần lượt vào tháng 8 năm 1940 và tháng 2 năm 1941. Khi Bismarck được đưa vào phục vụ, nó là thiết giáp hạm hiện đại mạnh nhất đang hoạt động. Điều này không chỉ do dàn vũ khí chính ấn tượng gồm tám khẩu pháo 38cm (15 inch), hệ thống vũ khí hạng hai gồm các khẩu pháo 15cm (6 inch) hay thậm chí là khả năng phòng không đáng gờm của nó: mà chính sự kết hợp giữa hỏa lực, khả năng bảo vệ và tốc độ đã khiến nó trở nên độc đáo – và chết chóc đến vậy.

TÌNH HÌNH CHIẾN LƯỢC

Vào tháng 9 năm 1939, Hải quân Hoàng gia Anh (Royal Navy) có ưu thế số lượng đáng kể so với Hải quân Đức (Kriegsmarine). Điều này đặc biệt đúng đối với các tàu chiến chủ lực, với 11 thiết giáp hạm Anh đang hoạt động, so với chỉ 2 chiếc của Đức. Tuy nhiên, hạm đội Anh phải đảm nhận các nhiệm vụ trên toàn cầu. Điều này vẫn có nghĩa là Hải quân Hoàng gia Anh gặp nhiều khó khăn trong việc đối phó với mối đe dọa từ các thiết giáp hạm Đức Scharnhorst và Gneisenau. Ngoài ra, trong những tháng đầu chiến tranh, một số lượng đáng kể tàu chiến Anh phải bận rộn truy đuổi các tàu tuần dương thương mại Đức. Giai đoạn được gọi là "Chiến tranh kỳ quặc" (Phoney War) kết thúc đột ngột vào mùa xuân năm 1940. Cuộc xâm lược Đan Mạch và Na Uy của Đức diễn ra ngay sau đó là cuộc tấn công vào Pháp, Bỉ và Hà Lan. Hải quân Hoàng gia Anh đã làm hết sức mình để chống lại những cuộc xâm lược này. Trong vùng biển Na Uy, họ đã gây ra những tổn thất đáng kể. Vào ngày 8 tháng 6, tàu sân bay Glorious bị đánh chìm bởi pháo của Scharnhorst và Gneisenau.
HMS Rodney, được chụp tại vùng biển quê nhà ngay trước khi chiến tranh nổ ra. Một nửa thân tàu được dành cho boong trước (fo’c’s’le) và các tháp pháo, nhằm giảm kích thước của đai giáp bảo vệ. Dù vậy, hình dáng thân tàu giúp nó trở thành một bệ pháo cực kỳ ổn định
HMS Rodney, được chụp tại vùng biển quê nhà ngay trước khi chiến tranh nổ ra. Một nửa thân tàu được dành cho boong trước (fo’c’s’le) và các tháp pháo, nhằm giảm kích thước của đai giáp bảo vệ. Dù vậy, hình dáng thân tàu giúp nó trở thành một bệ pháo cực kỳ ổn định
Sự sụp đổ của Na Uy đã thay đổi đáng kể tình hình chiến lược. Giờ đây, tàu chiến Đức có thể hoạt động từ các căn cứ tiền phương trong các vịnh hẹp Na Uy, được hỗ trợ bởi máy bay trên đất liền. Tuyến tuần tra của Anh, cho đến tháng 4 năm 1940 chạy giữa Shetland và Bergen, giờ đây bị đẩy lùi một khoảng cách đáng kể. Do chiều dài của nó, giờ đây nó chỉ là một tuyến tuần dương hạm, lấp đầy khoảng trống giữa Greenland và Iceland (một đoạn đường được gọi là Eo biển Đan Mạch), giữa Iceland và Faeroes, và khoảng trống giữa Faeroes và Shetland. Những vùng biển này quá khắc nghiệt đối với tàu khu trục và các tàu nhỏ hơn để duy trì phong tỏa, vì vậy tàu tuần dương phải được triển khai, được hỗ trợ khi cần thiết bởi các tàu chiến chủ lực. Nhiệm vụ chính của Hạm đội chính quốc (Home Fleet) ở giai đoạn này của cuộc chiến là ngăn chặn các cuộc xuất kích của các đơn vị mặt nước Đức vào Bắc Đại Tây Dương. Tình hình càng trở nên phức tạp hơn khi, vào tháng 5 năm 1940, Đức xâm lược Pháp và các nước vùng thấp (Hà Lan). Sự đầu hàng của Pháp vào tháng 6 có nghĩa là Đức giờ đây có quyền tiếp cận các cảng Pháp trên bờ biển Đại Tây Dương, bao gồm cả St-Nazaire với ụ tàu khô có kích thước thiết giáp hạm, và tàu ngầm U-boat có quyền tiếp cận trực tiếp với Đại Tây Dương.
Vào tháng 6 năm 1940, Ý tham chiến với tư cách là đồng minh của Đức. Để cải thiện vị trí chiến lược ở đó, Hạm đội Địa Trung Hải của Anh phải được tăng cường, điều này làm suy yếu thêm Hạm đội chính quốc. Mặc dù tình hình này đã thay đổi sau khi hạm đội thiết giáp hạm Ý bị tê liệt tại Taranto vào tháng 11, tình hình ở Địa Trung Hải vẫn căng thẳng. Ngoài ra còn có mối đe dọa thực sự về một cuộc đổ bộ xâm lược của Đức vào Anh. Đây trở thành ưu tiên của Bộ Hải quân trong mùa hè và mùa thu năm 1940. Cuối cùng, cuộc xâm lược trở nên bất khả thi do chiến thắng của RAF và các đồng minh Khối thịnh vượng chung trong Trận chiến nước Anh. Tuy nhiên, trong mùa hè và mùa thu căng thẳng đó, Hạm đội chính quốc luôn trong tình trạng sẵn sàng can thiệp, bất kể những tổn thất mà họ có thể phải chịu từ tay Luftwaffe.
Trong khi đó, tại Scapa Flow, vào tháng 12 năm 1940, Phó Đô đốc John Tovey kế nhiệm Đô đốc Sir Charles Forbes làm chỉ huy Hạm đội chính quốc, và được phong hàm đô đốc tạm quyền. Mối quan tâm chính của ông là ngăn chặn các cuộc xuất kích của Đức vào Bắc Đại Tây Dương. Vào thời điểm đó, tàu lớp Deutschland Admiral Scheer đã xuất kích thành công vào Đại Tây Dương, và dành cả mùa đông để tấn công các tàu buôn xa đến tận Nam Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương. Nó chỉ trở về Kiel vào tháng 4 năm 1941. Tovey hoàn toàn mong đợi các cuộc xuất kích tiếp theo. Quả nhiên, vào ngày 22 tháng 1 năm 1941, Scharnhorst và Gneisenau rời Kiel, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Günther Lütjens. Vào ngày 4 tháng 2, Lütjens đi qua Eo biển Đan Mạch giữa Greenland và Iceland. Trong sáu tuần, hai thiết giáp hạm Đức đi lang thang ở Bắc Đại Tây Dương, đánh chìm hoặc bắt giữ 22 tàu buôn của quân Đồng minh. Ba lần, họ suýt đụng độ với các thiết giáp hạm Anh - Ramillies vào ngày 8 tháng 2, Malaya vào ngày 8 tháng 3 và cuối cùng là Rodney vào ngày 16 tháng 3. Trong mỗi lần, Lütjens đều cắt liên lạc và tránh giao chiến, và vào ngày 22 tháng 3, các thiết giáp hạm Đức đến Brest.
KMS Bismarck, neo đậu ngoài khơi Kiel vào tháng 9 năm 1940. Các cánh mở rộng có thể triển khai hai bên đài chỉ huy, giúp thiết giáp hạm dễ điều khiển hơn khi ra vào cảng hoặc qua kênh Kaiser Wilhelm.
KMS Bismarck, neo đậu ngoài khơi Kiel vào tháng 9 năm 1940. Các cánh mở rộng có thể triển khai hai bên đài chỉ huy, giúp thiết giáp hạm dễ điều khiển hơn khi ra vào cảng hoặc qua kênh Kaiser Wilhelm.
Sau thành công của mình, Lütjens được lệnh thực hiện một cuộc xuất kích tương tự với Bismarck, đi kèm với tàu tuần dương hạng nặng Prinz Eugen. Vào ngày 22 tháng 5, Lütjens vào Grimstadfjord gần Bergen, nơi lực lượng của ông bị phát hiện bởi một máy bay trinh sát RAF. Tovey giờ đã biết điều gì sẽ xảy ra. Ông triển khai Hạm đội chính quốc, và vào ngày 23 tháng 5, Bismarck thấy con đường của mình qua Eo biển Đan Mạch bị chặn bởi hai tàu chiến chủ lực của Anh. Trong cuộc giao chiến ngắn ngủi sau đó, thiết giáp tuần dương hạm Anh Hood bị đánh chìm, và thiết giáp hạm mới toanh Prince of Wales bị hư hại và phải rút lui. Tuy nhiên, Bismarck cũng bị trúng đạn và mất nhiên liệu, vì vậy Lütjens quyết định hướng đến một cảng của Pháp để sửa chữa.
Ông gần như đã thành công. Sau khi tách Prinz Eugen, Lütjens trốn tránh những kẻ truy đuổi mình, những kẻ đã theo dõi Bismarck bằng radar. Tuy nhiên, sau một ngày cực kỳ căng thẳng, thiết giáp hạm bị phát hiện bởi một máy bay trinh sát trên đất liền. Tovey tiến vào, nhưng tàu của ông không đủ tốc độ để chặn Bismarck. Sau đó, vào tối ngày 26 tháng 5, trong một cuộc không kích bằng máy bay ném ngư lôi xuất phát từ tàu sân bay Anh Ark Royal, một quả ngư lôi đã trúng bánh lái của Bismarck, khiến nó bị kẹt vĩnh viễn. Thủy thủ đoàn của thiết giáp hạm không thể sửa chữa nó, và sáng hôm sau, Bismarck bị hai thiết giáp hạm của Hạm đội chính quốc đuổi kịp và giao chiến. Việc đánh chìm Bismarck đã chấm dứt kế hoạch xuất kích tàu mặt nước của Kriegsmarine vào Bắc Đại Tây Dương. Từ đó trở đi, các cuộc tấn công vào đoàn tàu Đại Tây Dương sẽ được giao cho lực lượng tàu ngầm U-boat của Kriegsmarine.
Vào ngày 22 tháng 6 năm 1941, Đức xâm lược Liên Xô. Liên Xô kêu gọi các đồng minh phương Tây giúp đỡ. Mặc dù họ không thể làm gì nhiều trực tiếp, nhưng họ có thể cung cấp vũ khí và đạn dược cho Liên Xô. Vào tháng 8, đoàn tàu Bắc Cực đầu tiên trong số nhiều đoàn tàu khởi hành từ Iceland, hướng đến Archangel. Nhiều đoàn tàu khác tiếp tục, nhưng để đến Archangel hoặc Murmansk, những đoàn tàu này phải đi qua tầm hoạt động của các căn cứ Đức ở miền bắc Na Uy. Điều này dẫn đến việc tái triển khai nguồn lực của cả Hải quân Hoàng gia Anh và Kriegsmarine, để hỗ trợ hoặc đe dọa các đoàn tàu có tầm quan trọng chiến lược này. Đối với Hạm đội chính quốc, điều này có nghĩa là họ cũng phải bảo vệ các đoàn tàu này. Sau khi Hoa Kỳ tham chiến vào tháng 12 năm 1941, quy mô của các đoàn tàu này đã được tăng cường. Về phần mình, người Đức cũng tái triển khai máy bay, tàu và tàu ngầm U-boat đến Bắc Cực Na Uy.
HMS Anson trở về Scapa Flow vào tháng 6 năm 1942 sau khi tham gia hỗ trợ một đoàn tàu vận tải Bắc Cực. Thiết giáp hạm này mới chỉ đưa vào biên chế Hạm đội chính quốc (Home Fleet) vài tuần trước đó. Trong suốt thời chiến, nó chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ tương tự tại vùng biển Bắc Cực
HMS Anson trở về Scapa Flow vào tháng 6 năm 1942 sau khi tham gia hỗ trợ một đoàn tàu vận tải Bắc Cực. Thiết giáp hạm này mới chỉ đưa vào biên chế Hạm đội chính quốc (Home Fleet) vài tuần trước đó. Trong suốt thời chiến, nó chủ yếu thực hiện các nhiệm vụ tương tự tại vùng biển Bắc Cực
Cuộc đột kích qua eo biển Manche vào tháng 2 năm 1942 được thúc đẩy bởi nhu cầu tái triển khai các thiết giáp hạm của Kriegsmarine ở vùng biển Na Uy. Tuy nhiên, cả hai thiết giáp hạm lớp Scharnhorst đều bị hư hại trong chiến dịch, và sau khi Gneisenau bị hư hại nghiêm trọng trong một cuộc ném bom, nó đã ngừng hoạt động. Khi Scharnhorst cuối cùng trở lại hoạt động vào đầu năm 1943, nó được gửi đến Na Uy, để gia nhập nhóm tác chiến Bắc Cực mạnh mẽ của Kriegsmarine ở đó. Cho đến khi Scharnhorst đến, lực lượng này được hình thành xung quanh Tirpitz, đến vùng biển Na Uy vào tháng 2 năm 1942. Nó được hỗ trợ bởi một số tàu tuần dương bọc thép, tàu tuần dương hạng nặng và tàu khu trục. Trong năm 1943, Tirpitz đã thực hiện hai cuộc xuất kích chống lại các đoàn tàu Bắc Cực, và mặc dù đạt được rất ít thành công, nó vẫn là một mối đe dọa tiềm tàng. Đến tháng 3 năm 1943, Tirpitz và Scharnhorst đã hợp lực tại Altenfjord, gần mũi phía bắc của Na Uy. Vào tháng 9 năm đó, Tirpitz bị hư hại nặng trong một cuộc tấn công táo bạo của tàu ngầm mini Anh. Việc sửa chữa ở một địa điểm xa xôi như vậy sẽ mất vài tháng. Đến cuối năm 1943, chỉ còn Scharnhorst hoạt động tự do, và có thể gây ra mối đe dọa cho các đoàn tàu. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Hạm đội chính quốc đã có đủ nguồn lực để đối phó với nó.
Tirpitz là thiết giáp hạm cuối cùng còn hoạt động của Hải quân Đức (Kriegsmarine). Tuy nhiên, sau khi bị hư hại vào tháng 9 năm 1943, nó không còn là mối đe dọa đối với các đoàn tàu vận tải Bắc Cực nữa. Bức ảnh này chụp Tirpitz tại Kåfjord, một nhánh của vịnh Altenfjord, trong một đợt tấn công của Không quân Hải quân Anh (Fleet Air Arm) vào tháng 4 năm 1944. Các máy tạo khói trên bờ đang tích cực tạo màn khói che giấu thiết giáp hạm
Tirpitz là thiết giáp hạm cuối cùng còn hoạt động của Hải quân Đức (Kriegsmarine). Tuy nhiên, sau khi bị hư hại vào tháng 9 năm 1943, nó không còn là mối đe dọa đối với các đoàn tàu vận tải Bắc Cực nữa. Bức ảnh này chụp Tirpitz tại Kåfjord, một nhánh của vịnh Altenfjord, trong một đợt tấn công của Không quân Hải quân Anh (Fleet Air Arm) vào tháng 4 năm 1944. Các máy tạo khói trên bờ đang tích cực tạo màn khói che giấu thiết giáp hạm
Vào tháng 5 năm 1943, Đô đốc Bruce Fraser kế nhiệm Tovey làm chỉ huy Hạm đội Nhà. Vào thời điểm đó, các đoàn tàu Bắc Cực đã được bảo vệ tương đối tốt và tổn thất tàu buôn đang giảm dần. Vì vậy, Fraser có thể xem xét việc chuyển sang tấn công. Nếu ông có thể sử dụng một đoàn tàu làm mồi nhử, Scharnhorst có thể xuất kích để tấn công nó. Sau đó, sử dụng lợi thế của mình trong việc thu thập thông tin tình báo và giám sát radar, ông có thể chặn và tiêu diệt nó. Cuối cùng ông đã đạt được điều này vào cuối tháng 12 năm 1943. Việc đánh chìm Scharnhorst đã chấm dứt nỗ lực của Kriegsmarine trong việc sử dụng hạm đội mặt nước của mình để ngăn chặn các đoàn tàu Bắc Cực.
Vào mùa xuân và mùa hè năm 1944, Fraser và người kế nhiệm ông, Đô đốc Henry Moore, đã thực hiện một loạt các cuộc không kích hải quân chống lại Tirpitz khi nó nằm ở Altenfjord. Những cuộc tấn công này chỉ đạt được thành công nhỏ, nhưng trong một cuộc tấn công của RAF vào tháng 9, thiết giáp hạm Đức bị hư hại nặng. Cuối cùng nó bị máy bay ném bom Lancaster của RAF đánh chìm ngoài khơi Tromsø vào ngày 12 tháng 11. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Tirpitz đã trở nên không còn quan trọng: cuộc chiến chống lại Kriegsmarine đã thắng. Chắc chắn, cuộc chiến sẽ tiếp tục cho đến khi Đức đầu hàng cuối cùng, và các đoàn tàu Bắc Cực tiếp tục hoạt động, nhưng vào đầu năm 1944, lực lượng mặt nước của Kriegsmarine đã mất khả năng tấn công của mình. Về mặt kỹ thuật, có thể lập luận rằng chiến thắng của Hải quân Hoàng gia Anh trong chiến dịch hải quân kéo dài này đạt được nhờ hỏa lực và công nghệ. Tuy nhiên, nó cũng đạt được nhờ lập kế hoạch khéo léo, thu thập thông tin tình báo phối hợp tốt, tính chuyên nghiệp của thủy thủ và một lượng lớn may mắn.

CÁC THÔNG SỐ KỸ THUẬT

HOẢ LỰC

Một minh họa thời chiến cho thấy bên trong tháp pháo ba nòng 16 inch (406mm) trên thiết giáp hạm lớp Nelson. Đạn pháo và các gói thuốc phóng được vận chuyển tới các nòng pháo bằng ba thang nâng cơ khí, mỗi thang phục vụ một nòng. Bản thân tháp pháo được bảo vệ bằng lớp giáp dày tới 16 inch.
Một minh họa thời chiến cho thấy bên trong tháp pháo ba nòng 16 inch (406mm) trên thiết giáp hạm lớp Nelson. Đạn pháo và các gói thuốc phóng được vận chuyển tới các nòng pháo bằng ba thang nâng cơ khí, mỗi thang phục vụ một nòng. Bản thân tháp pháo được bảo vệ bằng lớp giáp dày tới 16 inch.
Một thiết giáp hạm được chế tạo vì một lý do: nó là một pháo đài nổi, được trang bị một số khẩu pháo mạnh nhất từng tồn tại. Thân tàu của nó phải cung cấp cho những khẩu pháo này một bệ ổn định, và đủ mạnh để hấp thụ lực giật của chúng. Mặc dù có sự khác biệt về tầm bắn, khả năng xuyên phá và sức nổ của các cỡ pháo thiết giáp hạm khác nhau, nhưng điều này ít quan trọng hơn so với hiệu quả của hệ thống điều khiển pháo binh mà những thiết giáp hạm này sử dụng.
Nelson và Rodney được thiết kế để mang pháo Mark I 16 inch, cỡ nòng lớn nhất có thể theo Hiệp ước Washington. Chúng có thể được nâng lên bằng thủy lực 40°, cho chúng tầm bắn tối đa lên đến 38.000 yard (34.747,2m). Thủy lực cũng được sử dụng để xoay tháp pháo ba nòng khổng lồ trên con lăn thép của nó, và để đưa đạn pháo và thuốc phóng từ hầm đạn lên tháp pháo. Tuy nhiên, quá trình nạp đạn này bị chậm lại bởi một loạt các khóa liên động an toàn cơ học phức tạp. Đây là kết quả trực tiếp từ kinh nghiệm của Anh trong Trận Jutland, và mặc dù an toàn rõ ràng là quan trọng, thì sự dễ dàng và tốc độ nạp đạn cũng vậy. Hệ thống này cũng bị ám ảnh bởi các vấn đề nói trên.
Thiết kế của thiết giáp hạm lớp King George V là một sự thỏa hiệp trong điều kiện thời chiến. Cách bố trí pháo chính khác thường với hai tháp pháo bốn nòng và một tháp pháo hai nòng là do hạn chế về trọng lượng, khi Bộ Hải quân Anh (Admiralty) kiên quyết yêu cầu các thiết giáp hạm phải được bảo vệ bởi một đai giáp dày đáng kể
Thiết kế của thiết giáp hạm lớp King George V là một sự thỏa hiệp trong điều kiện thời chiến. Cách bố trí pháo chính khác thường với hai tháp pháo bốn nòng và một tháp pháo hai nòng là do hạn chế về trọng lượng, khi Bộ Hải quân Anh (Admiralty) kiên quyết yêu cầu các thiết giáp hạm phải được bảo vệ bởi một đai giáp dày đáng kể
Trong trận chiến đó, Scharnhorst được trang bị pháo 28cm/52 (11 inch) SK C/28 – chín khẩu trong ba tháp pháo ba nòng. Đây là phiên bản cải tiến của pháo và bệ pháo đã được trang bị trên các tàu tuần dương bọc thép lớp Deutschland, và chúng đã chứng tỏ độ tin cậy cao. Trong lớp Scharnhorst, những khẩu pháo này có độ nâng tối đa 40°, được điều khiển bằng điện. Điều này mang lại cho chúng tầm bắn tối đa ấn tượng 44.760 yard (40. 929,74m)– xa hơn khả năng xử lý của hệ thống điều khiển pháo binh của thiết giáp hạm. Chúng đã chứng tỏ hiệu quả cực kỳ cao, nhưng nhược điểm ở đây là cỡ nòng tương đối nhỏ của đạn pháo. Mặc dù điều này hạn chế khả năng xuyên phá của nó, nhưng điều này phần nào được bù đắp bởi tốc độ bắn cao hơn và tầm bắn ấn tượng của nó.
Các tháp pháo ba nòng 28cm phía trước của một thiết giáp hạm lớp Scharnhorst, được chụp trong một cuộc tập bắn. Bức ảnh được chụp từ nóc của tháp chỉ huy bọc thép của thiết giáp hạm, và có thể thấy các máy đo tầm điện nhô ra từ hai bên mỗi tháp pháo.
Các tháp pháo ba nòng 28cm phía trước của một thiết giáp hạm lớp Scharnhorst, được chụp trong một cuộc tập bắn. Bức ảnh được chụp từ nóc của tháp chỉ huy bọc thép của thiết giáp hạm, và có thể thấy các máy đo tầm điện nhô ra từ hai bên mỗi tháp pháo.
Ngược lại, pháo 38cm (14,96 inch) SK C/34 được gắn trên lớp Bismarck được nâng lên bằng thủy lực, nhưng được điều khiển bằng điện, trong khi việc xoay tháp pháo được điều khiển bằng điện, di chuyển trên các quả cầu thép. Ở đây, độ nâng tối đa là 30°, nhưng điều này ít hạn chế tầm bắn của đầu đạn, ở mức dưới 40.000 yard, hiệu quả hơn một chút so với pháo 16 inch được trang bị trên lớp Nelson. Tình cờ, pháo 38cm tương tự đã được lắp đặt trong các tháp pháo được dành cho Gneisenau. Tuy nhiên, khi thiết giáp hạm bị hư hại vào đầu năm 1942, những khẩu pháo này đã được sử dụng làm pháo bờ biển. Người ta cho rằng đây là khẩu pháo thiết giáp hạm bắn nhanh nhất trong chiến tranh. Trên thực tế, mặc dù tốc độ ba phát mỗi phút đã được thử nghiệm, nhưng các báo cáo chính thức nói rằng vào tháng 5 năm 1941, Bismarck gặp phải các lỗi nạp đạn cơ học, làm giảm phần nào tốc độ bắn của nó. Vì vậy, hiệu suất của mỗi trong bốn loại pháo được sử dụng trong bốn lớp thiết giáp hạm này thay đổi một chút, nhưng cuối cùng hiệu quả của chúng phụ thuộc vào các yếu tố khác: khả năng bắn của tàu trong việc hướng những viên đạn này vào kẻ thù và hiệu quả của lớp giáp của tàu mục tiêu.
THÁP PHÁO BA NÒNG 16 INCH CỦA HMS RODNEY
Khi mới được đưa vào phục vụ, các tháp pháo ba nòng 16 inch của các thiết giáp hạm lớp Nelson của Anh dễ gặp phải các vấn đề cơ học, phần lớn là do cả pháo và bệ pháo đều chưa được thử nghiệm đầy đủ, và vì chúng được hỗ trợ bởi một trong những hệ thống nạp đạn phức tạp nhất hiện có. Tuy nhiên, đến năm 1941, những vấn đề kỹ thuật này đã được khắc phục hoàn toàn, và các khẩu pháo 16 inch được trang bị trên các tàu lớp Nelson bao gồm một số vũ khí hải quân mạnh mẽ nhất thời bấy giờ. Nhược điểm của khẩu pháo 16in./45 Mark I là tốc độ bắn chậm – khoảng một phát cứ 40 giây. Tốc độ này gần bằng một nửa tốc độ bắn của các khẩu pháo được trang bị trên Bismarck. Giống như Bismarck, các khẩu pháo này được nạp đạn bằng thủy lực. Cơ cấu nâng và xoay cũng bằng thủy lực, trong khi điện được sử dụng để vận hành hệ thống tời nâng đạn.
1. Gun recoil system: Hệ thống giảm giật pháo
2. Gun breech: Khóa nòng pháo
3. Shell loading tray: Khay nạp đạn
4. Rangefinder: Máy đo khoảng cách
5. Hydraulic rammer: Thiết bị đẩy đạn thủy lực
6. Exhaust vents: Lỗ thông hơi
7. Gun elevating gear: Cơ cấu nâng pháo
8. Roller track [for turret training]: Đường ray con lăn [cho việc xoay tháp pháo]
9. Main shell hoist: Tời nâng đạn chính
10. Turret training gear: Cơ cấu xoay tháp pháo
11. Main cordite hoist: Tời nâng thuốc phóng chính
12. Hydraulic power plant: Trạm nguồn thủy lực
13. Turret barbette: Ống trụ bệ tháp pháo
14. Turret machinery compartment: Khoang máy móc tháp pháo
15. Shell handling room: Phòng chứa và xử lý đạn
16. Cordite handling room: Phòng chứa và xử lý thuốc phóng
THÁP PHÁO ĐÔI 38CM CỦA KMS BISMARCK
Bismarck mang một hệ thống vũ khí chính mạnh mẽ gồm tám khẩu pháo 38cm (14,96 inch), được bố trí trong bốn tháp pháo đôi. Đây là những khẩu pháo lớn nhất từng được trang bị trên một tàu chiến của Đức. Tên gọi chính thức của chúng là 38cm SK C/34, trong đó SK là viết tắt của Schelladekanone (pháo bắn nhanh), còn C/34 đề cập đến Construktionsjahr (năm thiết kế), trong trường hợp này là năm 1934. Trên Bismarck, mỗi tháp pháo được đặt tên riêng. Từ mũi đến đuôi tàu lần lượt là ‘Anton’, ‘Bruno’, ‘Caesar’ và ‘Dora’. Trong số đó, ‘Bruno’ và ‘Caesar’ được bố trí trên cao (superimposed), hay được nâng lên trên bệ (barbettes), để chúng có thể bắn qua nóc các tháp pháo ‘Anton’ và ‘Dora’ tương ứng. Bản thân tháp pháo nằm trên một đường ray con lăn và được xoay bằng hệ thống thủy lực. Các khẩu pháo cũng được nâng hạ bằng thủy lực, được cung cấp năng lượng bởi các bơm điện. Điện năng được sử dụng để vận hành các tời nâng đạn và cơ cấu nạp đạn.
1. Telescopic gun sight: Kính ngắm pháo
2. Gun breech: Khóa nòng pháo
3. Shell loading tray: Khay nạp đạn
4. Hydraulic rammer: Thiết bị đẩy đạn thủy lực
5. Exhaust trunking: Ống thông khí thải
6. Auxiliary hoist: Tời phụ
7. Gun elevating gear: Cơ cấu nâng pháo
8. Main ammunition hoist: Tời nâng đạn chính
9. Hydraulic power plant: Trạm nguồn thủy lực
10. Turret machinery compartment: Khoang máy móc tháp pháo
11. Roller track (for turret training): Đường ray con lăn (cho việc xoay tháp pháo)
12. Cartridge handling room: Phòng chứa và xử lý thuốc phóng (cartridge - thuốc phóng dạng bao)
13. Shell handling room: Phòng chứa và xử lý đạn

ĐIỀU KHIỂN PHÁO BINH

Bên trong một trong các bộ chỉ huy pháo của thiết giáp hạm Bismarck. Bộ chỉ huy pháo được đặt trên một bệ đỡ, bên cạnh kính ngắm quang học phục vụ cho máy đo tầm 10.5m được lắp trên đỉnh vị trí. Bộ chỉ huy này nhận dữ liệu bắn từ máy tính tương tự của thiết giáp hạm và truyền thông tin đến các tháp pháo.
Bên trong một trong các bộ chỉ huy pháo của thiết giáp hạm Bismarck. Bộ chỉ huy pháo được đặt trên một bệ đỡ, bên cạnh kính ngắm quang học phục vụ cho máy đo tầm 10.5m được lắp trên đỉnh vị trí. Bộ chỉ huy này nhận dữ liệu bắn từ máy tính tương tự của thiết giáp hạm và truyền thông tin đến các tháp pháo.
Hỏa lực của một thiết giáp hạm chỉ hiệu quả khi hệ thống mà nó sử dụng để điều khiển hỏa lực của pháo. Hệ thống điều khiển pháo binh (hoặc kiểm soát hỏa lực) được phát triển trước Thế chiến I như một cách để phối hợp hỏa lực của tất cả các pháo chính của một tàu chiến. Về cơ bản, điều này có nghĩa là sử dụng ống nhòm để tìm phương vị của một tàu địch, và sau đó đảm bảo rằng tất cả các tháp pháo của tàu đều hướng vào mục tiêu. Các phương vị này được bù lệch nhẹ từ tháp pháo này sang tháp pháo khác trong suốt tàu bắn, để đảm bảo tất cả các loạt đạn rơi vào cùng một điểm. Sau đó, một máy đo khoảng cách được sử dụng để đo khoảng cách đến mục tiêu. Vào Thế chiến I, hệ thống cơ bản này đã được phát triển thành một hệ thống rất phức tạp với một bộ vẽ cơ học ở trung tâm của nó. Tốc độ, hướng đi và phương vị của tàu bắn và mục tiêu được nhập vào đó, cũng như các yếu tố như tốc độ gió và nhiệt độ không khí. Sau đó, điều này được chuyển đổi thành một giải pháp bắn chính xác về độ nâng và phương vị cho mỗi khẩu pháo.
Sĩ quan pháo binh của thiết giáp hạm sau đó có thể phối hợp bắn các loạt đạn của tàu, sau khi giải pháp này được chuyển đến mọi tháp pháo. Sau đó, pháo của tàu có thể được bắn cùng nhau, trong một loạt đạn duy nhất. Thông thường, chúng sẽ nhắm hơi trước mục tiêu, để bù cho thời gian bay của đạn pháo. Một nhóm quan sát sau đó sẽ quan sát các tia nước đạn pháo để xem có cần thay đổi phạm vi hay không. Mỗi loạt đạn sau đó được điều chỉnh cho đến khi đạn pháo rơi bao quanh (rơi xung quanh) mục tiêu. Sĩ quan pháo binh thường hoạt động từ bên trong Tháp Điều khiển Giám đốc (DCT) được bảo vệ, thường được đặt trên đỉnh cấu trúc thượng tầng của thiết giáp hạm, nơi ông ta có tầm nhìn rõ ràng về mục tiêu. Ngược lại, phòng vẽ thường nằm dưới boong, bên trong thân tàu bọc thép của tàu. Nếu DCT bị trúng đạn, thiết giáp hạm có thể dựa vào một DCT phụ, thường được đặt ở phía sau. Các vị trí tương tự được sử dụng để điều khiển hỏa lực của pháo phụ của thiết giáp hạm, hoặc pháo phòng không của nó.
Đạn xuyên giáp 38cm (15 inch) được sử dụng bởi pháo của thiết giáp hạm lớp Bismarck có trọng lượng 800kg (1.764 pound) mỗi viên, do đó phải được nạp bằng cơ giới. Phía sau mỗi viên đạn, hai bao thuốc phóng cũng được đẩy vào buồng nạp pháo bằng hệ thống thủy lực trước khi hoàn tất chu trình nạp đạn.
Đạn xuyên giáp 38cm (15 inch) được sử dụng bởi pháo của thiết giáp hạm lớp Bismarck có trọng lượng 800kg (1.764 pound) mỗi viên, do đó phải được nạp bằng cơ giới. Phía sau mỗi viên đạn, hai bao thuốc phóng cũng được đẩy vào buồng nạp pháo bằng hệ thống thủy lực trước khi hoàn tất chu trình nạp đạn.
Trong các thiết giáp hạm Anh, các tính toán pháo binh này được thực hiện bởi Bảng Điều khiển Hỏa lực của Bộ Hải quân (AFCT), với phiên bản Mark I được lắp đặt trên lớp Nelson và Mark II cải tiến trên lớp King George V. Một sĩ quan vẽ giám sát hoạt động trơn tru của bảng trong phòng vẽ, và dữ liệu do AFCT tạo ra được đưa đến DCT và các tháp pháo. Hải quân Đức sử dụng một hệ thống tương tự nhưng đơn giản hơn một chút, được phát triển bởi công ty Hà Lan Hazemeyer, được nhà nước Đức bí mật tài trợ. Hệ thống C/35 của nó tương tự như AFCT của Anh, ngoại trừ việc nó tự động hóa hơn và giống với máy tính tương tự hơn như chúng ta có thể hiểu ngày nay.
Điều này được lắp đặt trong lớp Scharnhorst, trong khi hệ thống C/38 lớn hơn và phức tạp hơn được lắp đặt trong lớp Bismarck. Sau khi hệ thống tính toán thông tin nhắm mục tiêu, một thiết giáp hạm Đức thường bắn một "thang" - ba loạt đạn cách nhau 400m (437 yard), thường sử dụng nửa loạt đạn lên đến một nửa số pháo của tàu. Sau đó, khi đạt được bao vây, một loạt đạn đầy đủ sẽ được bắn ra. Điều này khác với phương pháp "đi bộ" dần dần các loạt đạn vào mục tiêu của Anh. Đến năm 1941, cả hai hệ thống đều rất đáng tin cậy, nhưng trên các tàu Đức, điều này được hỗ trợ bởi một số máy đo khoảng cách ổn định con quay hồi chuyển tốt nhất trong thời kỳ đó. Người Đức vượt trội về quang học, và trên cả Scharnhorst và Bismarck, chúng mang lại cho đội pháo binh của họ một lợi thế nhỏ về việc nhanh chóng thu thập thông tin nhắm mục tiêu chính xác để đưa vào hệ thống điều khiển hỏa lực được máy tính hóa.
___________
ĐIỀU KHIỂN HOẢ LỰC
Các thiết bị trong ảnh: Type 284 main gun fire control radar (Radar điều khiển pháo chính Kiểu 284 ), Visual rangefinder(s) (Máy đo tầm quang học), Director Control Tower (DCT) ( Tháp chỉ huy hỏa lực (DCT)), CO on Compass Platform (bridge) (Sĩ quan chỉ huy trên đài chỉ huy (đài chỉ huy); 5Target tracking data and fall of shot corrections (Dữ liệu theo dõi mục tiêu và hiệu chỉnh điểm rơi đạn ); Radar Office (phòng radar); 'B' Turret  (Tháp pháo 'B' ); 'A' Turret (Tháp pháo 'A' ); Gun aiming directions (Hướng ngắm pháo) ; Plotting Room (Phòng tính toán bắn); Range to target (Khoảng cách tới mục tiêu); Fire Control Table (AFCT Mk II) ( Bàn điều khiển hỏa lực (AFCT Mk II))
Các thiết bị trong ảnh: Type 284 main gun fire control radar (Radar điều khiển pháo chính Kiểu 284 ), Visual rangefinder(s) (Máy đo tầm quang học), Director Control Tower (DCT) ( Tháp chỉ huy hỏa lực (DCT)), CO on Compass Platform (bridge) (Sĩ quan chỉ huy trên đài chỉ huy (đài chỉ huy); 5Target tracking data and fall of shot corrections (Dữ liệu theo dõi mục tiêu và hiệu chỉnh điểm rơi đạn ); Radar Office (phòng radar); 'B' Turret (Tháp pháo 'B' ); 'A' Turret (Tháp pháo 'A' ); Gun aiming directions (Hướng ngắm pháo) ; Plotting Room (Phòng tính toán bắn); Range to target (Khoảng cách tới mục tiêu); Fire Control Table (AFCT Mk II) ( Bàn điều khiển hỏa lực (AFCT Mk II))
Hệ thống Điều khiển Pháo được sử dụng trên các thiết giáp hạm của cả Anh và Đức có cấu trúc rất giống nhau, chỉ khác biệt về chất lượng quang học, máy tính điều khiển hỏa lực và radar kiểm soát bắn. Sơ đồ này minh họa bố trí hệ thống trên tàu chiến lớp King George V.
Thông tin thu thập từ máy đo tầm quang học hoặc radar kiểm soát hỏa lực được đưa vào Bàn Điều khiển Hỏa lực, chuyển thành các lệnh chỉnh góc ngẩng và góc xoay, sau đó truyền đến các tháp pháo. Khi pháo đã sẵn sàng khai hỏa, lệnh bắn sẽ được phát ra bởi Sĩ quan Điều khiển đặt bên trong Tháp Chỉ huy Hỏa lực (DCT).
__________
Hiệu quả của cả hai hệ thống đã được chứng minh trong Chiến dịch Rheinübung - cuộc xuất kích của Bismarck vào tháng 5 năm 1941. Prince of Wales đã thành công trong việc bắn trúng Bismarck ba lần và bao vây bằng loạt đạn thứ hai của mình. Pháo binh của Bismarck cũng ấn tượng không kém, nhanh chóng đạt được sự bao vây trên cả Hood và Prince of Wales, trước khi tiêu diệt Hood và đuổi Prince of Wales đi. Vài ngày sau, King George V cũng thành công không kém trong việc nhắm mục tiêu Bismarck, mặc dù con tàu gặp phải một vài vấn đề do thiết bị và pháo bị trục trặc. Các loạt đạn ban đầu của Rodney bị phân tán kém, nhưng khi phạm vi giảm xuống trong vòng 20.000 yard, pháo binh của nó được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, một phần trong số này không phải do điều khiển pháo binh, mà do thủy thủ đoàn của con tàu thiếu huấn luyện pháo binh gần đây. Vào thời điểm đó, các tàu lớp King George V đã được trang bị hệ thống radar điều khiển hỏa lực, và mặc dù chúng vẫn chưa hiệu quả như các phiên bản sau này, chúng đã chứng minh tiềm năng tương lai của điều khiển hỏa lực radar.
Hệ thống radar dò tìm mặt biển FuMO 27 kiểu "giường sắt" (bedstead) được lắp đặt phía đuôi tàu Bismarck. Thiết giáp hạm này trang bị tổng cộng ba hệ thống radar, bố trí tại cấu trúc thượng tầng phía trước và phía sau, cùng trên nóc đài chỉ huy. Tuy nhiên, tại thời điểm tàu bị đánh chìm, các hệ thống này được gọi là radar FuMG40G (gO).
Hệ thống radar dò tìm mặt biển FuMO 27 kiểu "giường sắt" (bedstead) được lắp đặt phía đuôi tàu Bismarck. Thiết giáp hạm này trang bị tổng cộng ba hệ thống radar, bố trí tại cấu trúc thượng tầng phía trước và phía sau, cùng trên nóc đài chỉ huy. Tuy nhiên, tại thời điểm tàu bị đánh chìm, các hệ thống này được gọi là radar FuMG40G (gO).
Radar có hai chức năng. Đầu tiên là phát hiện, nơi radar tìm kiếm bề mặt hoặc cảnh báo trên không được sử dụng để xác định vị trí tàu chiến địch. Hiệu quả của phát hiện radar tăng lên đáng kể khi chiến tranh tiến triển, và phạm vi mà tàu địch có thể bị phát hiện cũng vậy. Tuy nhiên, giá trị thực sự của nó là mang lại cho một thiết giáp hạm cơ hội phát hiện kẻ thù vào ban đêm hoặc trong điều kiện tầm nhìn kém. Chức năng thứ hai của radar là cung cấp thông tin kiểm soát hỏa lực, sau đó có thể được đưa vào hệ thống điều khiển pháo binh chính của thiết giáp hạm. Cả hai chức năng đều sử dụng các loại radar khác nhau. Tần số, băng thông và thậm chí cả hoạt động đều khác nhau đối với radar tìm kiếm so với radar kiểm soát hỏa lực. Vì vậy, khi chiến tranh tiến triển, tàu chiến có xu hướng trang bị nhiều cảm biến điện tử khác nhau, tất cả đều có các chức năng cụ thể, mặc dù đôi khi chồng chéo. Trên hầu hết các thiết giáp hạm, bộ radar thường được gắn trên cột buồm hoặc trên đỉnh cấu trúc thượng tầng, để cung cấp phạm vi và phạm vi phủ sóng tốt nhất có thể.
Các tàu lớp Scharnhorst được trang bị bộ FuMO 22 Seetakt, kết hợp các chức năng tìm kiếm và kiểm soát hỏa lực thành một bộ radar tương đối kém hiệu quả. Vào năm 1941, nó được thay thế bằng bộ FuMO 27, về lý thuyết, có phạm vi khoảng 24.000 yard. Trên thực tế, phạm vi phát hiện của nó chỉ bằng khoảng một nửa đến một phần ba phạm vi đó, tùy thuộc vào trạng thái biển và điều kiện khí quyển. Lớp Bismarck gắn một phiên bản Seetakt cải tiến, bộ FuMO 23, cũng như FuMO 26, một radar tìm kiếm trên không. Vào năm 1943, Tirpitz thay thế FuMO 23 của mình bằng bộ FuMO 26 cải tiến, có thành phần kiểm soát hỏa lực hiệu quả hơn nhiều. Ngược lại, các thiết giáp hạm Anh đã nâng cấp hệ thống radar của họ trong suốt cuộc chiến. Vào đầu năm 1941, lớp Nelson mang radar tìm kiếm cơ bản, cung cấp khả năng tìm kiếm trên không và bề mặt hạn chế, nhưng vào cuối năm 1941 và 1942, chúng đã nhận được radar kiểm soát hỏa lực Loại 284, hỗ trợ pháo chính của chúng, cũng như radar tìm kiếm trên không và bề mặt được cải thiện
MÀN HÌNH MÁY ĐO TẦM 10.5M CỦA ĐỨC: Các thiết giáp hạm Đức phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống điều khiển hỏa lực quang học, với hai máy đo tầm 10.5m mạnh mẽ được lắp đặt trên cấu trúc thượng tầng của lớp Bismarck, cùng với các máy đo tầm cục bộ bổ sung trên đỉnh các tháp pháo chính. Hệ thống này được tăng cường thêm bằng bộ máy đo tầm 7m phụ trợ, cũng như các máy đo tầm hồng ngoại 3m dùng cho ban đêm.  Ống kính quang học của Đức có chất lượng tốt nhất - vượt trội so với các sản phẩm tương đương của Anh - và đã chứng minh được giá trị của chúng trong trận chiến eo biển Đan Mạch. Trong hình này, chúng ta có thể thấy chiến hạm Prince of Wales bị bao vây bởi loạt đạn pháo 38cm từ Bismarck.
MÀN HÌNH MÁY ĐO TẦM 10.5M CỦA ĐỨC: Các thiết giáp hạm Đức phụ thuộc nhiều hơn vào hệ thống điều khiển hỏa lực quang học, với hai máy đo tầm 10.5m mạnh mẽ được lắp đặt trên cấu trúc thượng tầng của lớp Bismarck, cùng với các máy đo tầm cục bộ bổ sung trên đỉnh các tháp pháo chính. Hệ thống này được tăng cường thêm bằng bộ máy đo tầm 7m phụ trợ, cũng như các máy đo tầm hồng ngoại 3m dùng cho ban đêm. Ống kính quang học của Đức có chất lượng tốt nhất - vượt trội so với các sản phẩm tương đương của Anh - và đã chứng minh được giá trị của chúng trong trận chiến eo biển Đan Mạch. Trong hình này, chúng ta có thể thấy chiến hạm Prince of Wales bị bao vây bởi loạt đạn pháo 38cm từ Bismarck.
MÀN HÌNH RADAR KIỂU 284 CỦA ANH: Hệ thống FuMO 27 được trang bị trên các thiết giáp hạm lớp Bismarck của Đức chủ yếu là radar dò tìm mặt biển, có khả năng phát hiện mục tiêu lớn ở khoảng cách lên đến 30.000m. Tuy nhiên, để xác định mục tiêu bắn, hiệu quả của nó chỉ giới hạn trong phạm vi 12.000m.  Ngược lại, các thiết giáp hạm Anh thuộc lớp King George V được trang bị radar Kiểu 284, một hệ thống radar chuyên dụng để điều khiển hỏa lực pháo chính. Nó có khả năng dò tìm mặt biển, có thể phát hiện mục tiêu xa tới 48.000 thước Anh (43.891m), nhưng để điều khiển hỏa lực hiệu quả, tầm hoạt động bị giới hạn ở 24.000 thước Anh (21.946m).  Khác với các radar PPI (Position Plan Indicator) hiện đại ngày nay với màn hình hiển thị dạng bản đồ từ trên xuống, hệ thống này hiển thị thông tin đo tầm như hình minh họa ở đây. Tuy nhiên, các màn hình hiển thị này lại có độ chính xác cực cao.
MÀN HÌNH RADAR KIỂU 284 CỦA ANH: Hệ thống FuMO 27 được trang bị trên các thiết giáp hạm lớp Bismarck của Đức chủ yếu là radar dò tìm mặt biển, có khả năng phát hiện mục tiêu lớn ở khoảng cách lên đến 30.000m. Tuy nhiên, để xác định mục tiêu bắn, hiệu quả của nó chỉ giới hạn trong phạm vi 12.000m. Ngược lại, các thiết giáp hạm Anh thuộc lớp King George V được trang bị radar Kiểu 284, một hệ thống radar chuyên dụng để điều khiển hỏa lực pháo chính. Nó có khả năng dò tìm mặt biển, có thể phát hiện mục tiêu xa tới 48.000 thước Anh (43.891m), nhưng để điều khiển hỏa lực hiệu quả, tầm hoạt động bị giới hạn ở 24.000 thước Anh (21.946m). Khác với các radar PPI (Position Plan Indicator) hiện đại ngày nay với màn hình hiển thị dạng bản đồ từ trên xuống, hệ thống này hiển thị thông tin đo tầm như hình minh họa ở đây. Tuy nhiên, các màn hình hiển thị này lại có độ chính xác cực cao.
Các tàu lớp King George V được trang bị radar tìm kiếm trên không được cải thiện cũng như radar kiểm soát hỏa lực Loại 284 và các radar kiểm soát hỏa lực khác hỗ trợ pháo hai mục đích của chúng. Khi chiến tranh tiến triển, các bộ này được nâng cấp và vào thời điểm Trận chiến Mũi Bắc, Duke of York được trang bị rất nhiều radar, mang 12 bộ: bộ tìm kiếm bề mặt Loại 273Q, với phạm vi 23 dặm, radar tìm kiếm trên không Loại 281 của cô và một số radar kiểm soát hỏa lực, bao gồm Loại 284, có thể điều khiển pháo của cô ở phạm vi tối đa. Điều này khiến Duke of York và các tàu chị em còn lại của con tàu trở thành một trong những nền tảng radar tinh vi nhất trong Hải quân Hoàng gia.

BẢO VỆ

Sơ đồ lớp giáp của lớp Nelson, theo bản in từ tạp chí Jane's Fighting Ships . Áp dụng nguyên tắc bọc giáp "all or nothing"(tất cả hoặc không có gì), lớp Nelson tập trung dày đặc vỏ giáp bảo vệ quanh khu vực pháo chính, hầm đạn và phòng máy, trong khi các khu vực khác được giảm thiểu tối đa.
Sơ đồ lớp giáp của lớp Nelson, theo bản in từ tạp chí Jane's Fighting Ships . Áp dụng nguyên tắc bọc giáp "all or nothing"(tất cả hoặc không có gì), lớp Nelson tập trung dày đặc vỏ giáp bảo vệ quanh khu vực pháo chính, hầm đạn và phòng máy, trong khi các khu vực khác được giảm thiểu tối đa.
Hệ thống bảo vệ của các thiết giáp hạm lớp  Scharnhorst mang tính truyền thống hơn, với lớp giáp dày nhất tập trung ở đai giáp chính phía trên mực nước. Một đai giáp mỏng hơn kéo dài xuống phần dưới mực nước, tương tự, giáp tháp pháo được tập trung chủ yếu ở mặt trước.
Hệ thống bảo vệ của các thiết giáp hạm lớp Scharnhorst mang tính truyền thống hơn, với lớp giáp dày nhất tập trung ở đai giáp chính phía trên mực nước. Một đai giáp mỏng hơn kéo dài xuống phần dưới mực nước, tương tự, giáp tháp pháo được tập trung chủ yếu ở mặt trước.
Lớp thiết giáp hạm Bismarck được bảo vệ bởi một  đai giáp dày, kéo dài từ phần bệ tháp pháo (barbette) lên đến các tháp pháo chính, đồng thời bao phủ cả tháp chỉ huy và các  máy đo tầm xa. Tuy nhiên, phần mũi và  đuôi tàu được bọc giáp mỏng hơn đáng kể.
Lớp thiết giáp hạm Bismarck được bảo vệ bởi một đai giáp dày, kéo dài từ phần bệ tháp pháo (barbette) lên đến các tháp pháo chính, đồng thời bao phủ cả tháp chỉ huy và các máy đo tầm xa. Tuy nhiên, phần mũi và đuôi tàu được bọc giáp mỏng hơn đáng kể.
Lớp bảo vệ chống lại hỏa lực của đối phương được cung cấp bởi lớp giáp nặng, thường tập trung ở một đai giáp chạy dọc theo toàn bộ hoặc một phần thân tàu. Nếu điều này tỏ ra không thể thực hiện được do thiết kế hoặc hạn chế về trọng lượng, đai giáp sẽ được tập trung xung quanh pháo và hầm đạn của tàu, phòng vẽ và hệ thống đẩy của nó. Xét cho cùng, đây được coi là "những điểm yếu" của thiết giáp hạm. Ví dụ, lớp Nelson có một sơ đồ bảo vệ "tất cả hoặc không có gì"(all or nothing), trong đó, để tiết kiệm trọng lượng, đai giáp được tập trung ở các phần của tàu, để phần còn lại của thiết giáp hạm chỉ có lớp giáp mỏng nhất - chỉ chống được mảnh đạn pháo. Tương tự, trong khi lớp Bismarck có đai giáp bằng thép Krupp xi măng (cacbua sắt) dày 32cm (13 inch) kéo dài ba phần tư chiều dài tàu, mũi và đuôi tàu hầu như không được bảo vệ, ngoài một đai mỏng 8cm (3,25 inch) chạy dọc theo đường mớn nước của tàu.
Thông thường, đai giáp này được vuốt nhọn ở phía trên và phía dưới, có nghĩa là thân tàu gần boong trên hoặc dưới đường mớn nước không được bảo vệ tốt như đai chính. Ngoài ra, boong bọc thép của một thiết giáp hạm được bọc thép để bảo vệ "những điểm yếu" khỏi hỏa lực bổ nhào ở tầm xa. Thông thường, boong trên chỉ được bảo vệ khỏi mảnh đạn pháo - boong bọc thép chính là một hoặc hai boong bên dưới. Sau đó, trên khắp con tàu, vách ngăn cũng được bọc thép, đặc biệt là ở hai đầu của đai giáp chính. Về cơ bản, điều này có thể được hình dung như một hộp thép, hoặc thành trì bọc thép, bảo vệ "những điểm yếu" khỏi hỏa lực từ mọi hướng. Tuy nhiên, thông thường, mặt dưới của hộp này được bảo vệ tương đối kém bởi đáy tàu nhiều lớp, cung cấp một số bảo vệ chống lại mìn.
Lớp giáp nặng hơn cũng được cung cấp cho các tháp pháo chính, mặc dù ở đây độ dày khác nhau, với sự bảo vệ lớn nhất được tập trung vào mặt trước của các tháp pháo. Các ụ pháo giữ cơ cấu nạp đạn và di chuyển của các tháp pháo cũng được bảo vệ tốt, cũng như tháp chỉ huy - về hiệu quả là cầu tàu, cũng như DCT. Chúng tạo thành một loại phần phụ được bảo vệ cho thành trì bọc thép. Ngoài ra, sự bảo vệ bổ sung thường được cung cấp cho các vị trí pháo phụ, mặc dù ở đây mức độ bảo vệ thường thấp hơn đáng kể so với các khu vực chiến đấu chính của tàu bên ngoài thành trì. Cuối cùng, sự bảo vệ chống lại ngư lôi thường được cung cấp bởi một vách ngăn ngư lôi, tạo thành một khoang thẳng đứng dọc theo mạn tàu. Điều này được thiết kế để hấp thụ tác động của một cú đánh ngư lôi và hạn chế mức độ ngập nước.
Các loại thép bọc thép khác nhau đã được sử dụng trong giai đoạn này, nhưng nói chung, nó được làm cứng bề mặt (đôi khi được gọi là xi măng hóa) hoặc đồng nhất. Loại trước có lớp vỏ ngoài cứng được thiết kế để phá vỡ viên đạn pháo đang bay tới, trong khi lớp nền mềm hơn, ít giòn hơn ngăn các tấm làm cứng bề mặt bên ngoài bị vỡ vụn. Như tên gọi, lớp giáp đồng nhất có độ đặc đồng đều và nó lan truyền tác động của cú đánh trên một khu vực rộng hơn. Đai giáp và mặt trước tháp pháo có xu hướng được làm cứng bề mặt, trong khi lớp giáp boong và đai phụ mỏng hơn có xu hướng được làm từ thép đồng nhất. Khi được sử dụng làm lớp giáp boong, nó cũng giúp chứa các mảnh đạn pháo được tạo ra bởi một vụ nổ, hoặc thậm chí từ một cú đánh hụt gần nơi đạn pháo vỡ thành mảnh khi va chạm với nước.
-------------------------------------------
LỚP GIÁP BẢO VỆ
Trong hai minh họa này, lớp giáp của hai thiết giáp hạm được so sánh. Chúng bao gồm một mặt cắt ngang giữa của mạn trái lớp King George V của Anh và một mặt cắt ngang tương tự của lớp Bismarck của Đức. Cả hai đều thể hiện sự bảo vệ của pháo đài giáp của các thiết giáp hạm, được bao quanh bởi vành đai giáp của thân tàu bên ngoài, và boong bảo vệ đóng kín phần trên của pháo đài này. Boong bảo vệ này được thiết kế để bảo vệ thiết giáp hạm khỏi hỏa lực tầm xa, kiểu hỏa lực có thể xuyên thấu như trong trường hợp chiếc thiết giáp tuần dương hạm Hood bị phá hủy, trong khi vành đai giáp là lớp phòng thủ chống lại hỏa lực trực diện, tấn công tàu ở tầm gần hơn.
Giáp bảo vệ của King George V (ở giữa tàu)
Trong lớp King George V, boong bảo vệ rất dày, có độ dày từ 5 đến 6 inch (12,7 đến 15,2 cm), và kéo dài đến tận đỉnh của vành đai bảo vệ. Vành đai này có độ dày từ 14 đến 15 inch (38,1 đến 35,6 cm). Nó kéo dài dưới mực nước, trong khi bên dưới là một vành đai giáp mỏng hơn nhiều. Một cách bên trong thân tàu là một vách ngăn chống ngư lôi dày 2 inch (5,1 cm), chạy song song với mạn tàu. Bảo vệ bổ sung được cung cấp bởi các khoang bên ngoài dưới mực nước, được sử dụng làm bồn chứa dầu và nước, có thể làm giảm tác động của một cú đánh từ kẻ thù.
Giáp bảo vệ của Bismarck (giữa tàu)
Trong lớp Bismarck, một hệ thống tương tự đã được áp dụng. Boong bảo vệ có độ dày 3,15 inch (8 cm), nhưng nó được dốc xuống ở các cạnh để gặp phần dưới của vành đai giáp. Độ dốc này nhằm giảm tác động hủy diệt của một viên đạn xuyên qua giáp vành đai. Vành đai giáp này có độ rộng 12,6 inch (32 cm), trên đó là một vành đai trên mỏng hơn, có độ dày 5,71 inch (14,5 cm). Một vành đai dày 3,1 inch (8 cm) bảo vệ boong trên. Vách ngăn chống ngư lôi thẳng đứng có độ dày 1,77 inch (4,5 cm). Giống như lớp King George V, các khoang ngoài vách ngăn này được sử dụng làm bồn chứa nhiên liệu hoặc nước, mặc dù khoang ngoài cùng là trống, để tăng cường bảo vệ dưới nước.

HỆ THỐNG ĐỘNG CƠ ĐẨY

Bốn lớp thiết giáp hạm được đề cập trong tác phẩm này đều có chung một hình thức đẩy, dựa vào hơi nước được tạo ra trong nồi hơi để cung cấp năng lượng cho một loạt các tuabin. Mỗi tuabin hơi nước quay một trục chân vịt đơn. Mặc dù các hệ thống cơ bản vẫn giữ nguyên, nhưng có những khác biệt nhỏ về cấu hình và hiệu suất. Các tàu lớp Nelson được dẫn động bởi một cặp tuabin hơi nước bánh răng, nằm cạnh nhau trong hai phòng động cơ, nằm phía trước bốn phòng nồi hơi liên quan của chúng, mỗi phòng chứa hai nồi hơi. Mặc dù hệ thống này tạo ra hơn 45.000 shp, nhưng các thiết giáp hạm chỉ đạt tốc độ tối đa hơn 23 hải lý/giờ. Điều này thực sự chậm hơn so với các thiết giáp hạm lớp Queen Elizabeth có từ thời Thế chiến I. Đến năm 1940, các hệ thống đẩy này đã cho thấy tuổi tác của chúng, và hai thiết giáp hạm may mắn lắm mới đạt được hơn 20 hải lý/giờ.
Đối với lớp King George V, được chế tạo sau đó một thập kỷ rưỡi, các nhà thiết kế đã chọn một cấu hình mạnh mẽ hơn, với bốn tuabin bánh răng hiệu quả hơn cung cấp năng lượng cho bốn trục chân vịt. Ở đây, một cách bố trí so le hơn đã được áp dụng, với các tuabin trong hai phòng động cơ phía trước dẫn động các trục bên ngoài và hai động cơ phía sau dẫn động các trục bên trong. Phía trước mỗi cặp phòng động cơ là một phòng nồi hơi đi kèm, mỗi phòng chứa hai nồi hơi. Hệ thống này tạo ra 100.000 shp, gấp đôi so với lớp Nelson, nhưng tốc độ tối đa của các thiết giáp hạm này vẫn không quá 28 hải lý/giờ.
Ban đầu, các nhà thiết kế Đức của lớp Scharnhorst đã cân nhắc sử dụng động cơ diesel, loại được sử dụng trong các tàu tuần dương bọc thép lớp Deutschland, nhưng cuối cùng, một nhà máy hơi nước thông thường hơn đã được áp dụng. Ở đây, ba tuabin bánh răng dẫn động ba trục chân vịt và được đặt trong ba phòng động cơ: hai phòng cạnh nhau, với phòng thứ ba dẫn động trục trung tâm phía sau chúng. Ban đầu, các tuabin hành trình được trang bị để tăng cường cho các động cơ chính, nhưng sau đó chúng đã bị loại bỏ. Mỗi tuabin được cung cấp năng lượng bằng hơi nước từ 12 nồi hơi, ba nồi trong mỗi bốn phòng nồi hơi. Vì vậy, mỗi phòng nồi hơi chứa một tuabin liên quan đến một trong ba tuabin. Hệ thống này tạo ra hơn 160.000 shp, mang lại cho các thiết giáp hạm này tốc độ tối đa ấn tượng 32 hải lý/giờ.
Một hệ thống tương tự đã được áp dụng cho lớp Bismarck, với ba tuabin bánh răng được đặt trong ba phòng động cơ, dẫn động ba trục chân vịt. Hai phòng động cơ nằm cạnh nhau và phòng thứ ba nằm ngay phía sau chúng. Tuabin phía sau này cung cấp năng lượng cho trục chân vịt trung tâm. 12 nồi hơi được chia đều cho sáu phòng nồi hơi, ba phòng cạnh nhau, nằm phía trước ba phòng động cơ. Ở đây, một cặp phòng nồi hơi cung cấp năng lượng cho mỗi tuabin. Chúng tạo ra 163.000 shp, mang lại cho các thiết giáp hạm lớp Bismarck tốc độ tối đa 30 hải lý/giờ.
Tàu chiến HMS Rodney được ghi hình tại vùng biển Clyde vào tháng 5/1942, ngay sau khi hoàn thành đợt tái trang bị khẩn cấp trong thời chiến. Đến giai đoạn này của Thế chiến II, con tàu đã được trang bị hệ thống radar hiện đại với khả năng dò tìm và kiểm soát hỏa lực vượt trội.  Tuy nhiên, hệ thống động cơ già cỗi của Rodney đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng. Vào thời điểm này, con tàu lừng danh một thời chỉ còn có thể đạt tốc độ tối đa khoảng  20 hải lý/giờ - một tốc độ được coi là quá chậm đối với một thiết giáp hạm trong các chiến dịch hải quân thời đó.
Tàu chiến HMS Rodney được ghi hình tại vùng biển Clyde vào tháng 5/1942, ngay sau khi hoàn thành đợt tái trang bị khẩn cấp trong thời chiến. Đến giai đoạn này của Thế chiến II, con tàu đã được trang bị hệ thống radar hiện đại với khả năng dò tìm và kiểm soát hỏa lực vượt trội. Tuy nhiên, hệ thống động cơ già cỗi của Rodney đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế nghiêm trọng. Vào thời điểm này, con tàu lừng danh một thời chỉ còn có thể đạt tốc độ tối đa khoảng 20 hải lý/giờ - một tốc độ được coi là quá chậm đối với một thiết giáp hạm trong các chiến dịch hải quân thời đó.
Trên tất cả các tàu này, hệ thống đẩy chính được đặt dưới đường mớn nước, được bảo vệ bởi một thành trì bọc thép. Các không gian máy móc chính được bao quanh bởi các không gian khác: phòng máy móc phụ, phòng nhà máy điện và trong trường hợp các tàu Đức, phòng động cơ diesel, được sử dụng để tăng cường nhà máy điện của tàu. Chúng không chỉ cung cấp ánh sáng trên tàu, mà còn cung cấp năng lượng cho các tháp pháo, thang máy đạn dược, máy bơm và pháo phụ. Kết quả là một nhà máy điện tích hợp phức tạp nhưng cực kỳ hiệu quả, tạo ra đủ điện hoặc năng lượng hơi nước phụ trợ để phục vụ một thị trấn nhỏ. Nồi hơi của các thiết giáp hạm này được đốt nóng bằng dầu nhiên liệu, được lưu trữ trong một mạng lưới các ngăn nhỏ nằm ngay bên trong thân tàu ngoài của các tàu này. Vì vậy, nếu một thùng nhiên liệu bị thủng bởi đạn pháo của đối phương, ngăn có thể được bịt kín để giảm thiểu mất nhiên liệu. Một hệ thống bơm đảm bảo rằng dầu nhiên liệu này, cũng như nước cấp, được cung cấp đến nơi cần thiết và với số lượng cần thiết, mà không ảnh hưởng đến sự ổn định của tàu.

NHỮNG NGƯỜI THAM CHIẾN

THỦY THỦ ĐOÀN THIẾT GIÁP HẠM ANH

Nhà bếp trên thiết giáp hạm lớp Nelson. Việc phục vụ ăn uống cho hơn 1.360 người là một nhiệm vụ không hề dễ dàng, và đội ngũ nhân viên bếp được đào tạo chuyên nghiệp chịu trách nhiệm chuẩn bị các bữa ăn, sau đó chúng được phân phối đến các khoang ăn (messdeck) khác nhau trên tàu. Sĩ quan, thuyền trưởng và đô đốc được sắp xếp ăn uống riêng biệt với thuỷ thủ thường.
Nhà bếp trên thiết giáp hạm lớp Nelson. Việc phục vụ ăn uống cho hơn 1.360 người là một nhiệm vụ không hề dễ dàng, và đội ngũ nhân viên bếp được đào tạo chuyên nghiệp chịu trách nhiệm chuẩn bị các bữa ăn, sau đó chúng được phân phối đến các khoang ăn (messdeck) khác nhau trên tàu. Sĩ quan, thuyền trưởng và đô đốc được sắp xếp ăn uống riêng biệt với thuỷ thủ thường.
Vào tháng 9 năm 1939, Hải quân Hoàng gia Anh có một lực lượng người được đào tạo bài bản và có tính chuyên nghiệp cao. Lực lượng này gồm 131.000 người, chủ yếu là những người phục vụ lâu năm, những người đã gia nhập từ khi còn là thiếu niên và ở lại hải quân tới 22 năm. Mặc dù một số người có thể không hài lòng với thời gian phục vụ lâu dài này, nhưng nhiều người hoan nghênh nó, đặc biệt là trong những năm trước chiến tranh của cuộc Đại suy thoái. Sau đó, một số người phục vụ thêm 5 năm với Lực lượng Dự bị Hải quân Hoàng gia (RNR), cung cấp thêm một lực lượng 70.000 người có thể được gọi nhập ngũ trong thời chiến. Trong hải quân thời tiền chiến, thời gian phục vụ lâu dài được tưởng thưởng bằng các vạch phục vụ, và đối với một số người, nó được coi trọng hơn khả năng, sự nhiệt tình hoặc kỷ luật. Tuy nhiên, những người phục vụ lâu năm thường khắc nghiệt này được đào tạo kỹ lưỡng và thấm nhuần các cách thức phục vụ.
Với sự bùng nổ của chiến tranh, Hải quân Hoàng gia Anh đã trải qua một sự mở rộng mạnh mẽ, đầu tiên là với những người dự bị được gọi nhập ngũ, và sau đó là một làn sóng mới và thậm chí còn lớn hơn của các thủy thủ "Chỉ Chiến tranh" (HO), những người được tuyển mộ thuần túy cho thời gian chiến tranh. Những tân binh này là lính nghĩa vụ hoặc tình nguyện viên ngắn hạn, và quá trình huấn luyện của họ bắt đầu bằng việc thích nghi họ với một môi trường hoàn toàn xa lạ, trước khi công việc huấn luyện chuyên môn có thể bắt đầu. Đến cuối cuộc chiến, hàng ngũ của hải quân đã phình to lên 783.000 người, cũng như 72.000 phụ nữ, những người đảm nhận các nhiệm vụ trên bờ. Về lý thuyết, tất cả các thủy thủ hải quân đều được gắn với một trong ba "cảng nhà" - Chatham, Portsmouth và Devonport (Plymouth). Trong thời chiến, các căn cứ nhân sự chuyên biệt bổ sung được thành lập, nhưng thủy thủ đoàn của tất cả các thiết giáp hạm của Hải quân Hoàng gia Anh đều được liên kết với một trong những cảng nhà này.
Một phần quan trọng trong sinh hoạt hàng ngày trên thiết giáp hạm thời chiến tranh của Hải quân Hoàng gia Anh là việc phát khẩu phần rượu rum. Khẩu phần này được phát hàng ngày cho tất cả thuỷ thủ từ 20 tuổi trở lên. Một đại diện của mỗi khoang ăn (messdeck) sẽ thu nhận khẩu phần rượu cho các bạn tàu của mình.
Một phần quan trọng trong sinh hoạt hàng ngày trên thiết giáp hạm thời chiến tranh của Hải quân Hoàng gia Anh là việc phát khẩu phần rượu rum. Khẩu phần này được phát hàng ngày cho tất cả thuỷ thủ từ 20 tuổi trở lên. Một đại diện của mỗi khoang ăn (messdeck) sẽ thu nhận khẩu phần rượu cho các bạn tàu của mình.
Nhân lực của Hải quân Hoàng gia Anh được chia thành một số nhánh. Trong số đó, nhánh thủy thủ là lớn nhất, bao gồm pháo thủ, ngư lôi thủ và nhân viên vận hành radar. Thợ đốt lò - kỹ sư của tàu - tạo thành nhánh lớn thứ hai, và một lần nữa, số lượng của họ bao gồm một số nhóm chuyên gia được đào tạo chuyên sâu hơn, chẳng hạn như thợ máy và thợ điện. Thợ cơ khí là một nhóm phụ được đào tạo chuyên sâu hơn trong nhánh, cho các chuyên ngành phòng máy, pháo binh và điện. Nhân viên tín hiệu bao gồm những người được đào tạo cả về tín hiệu hình ảnh và vô tuyến, trong khi phần còn lại của thủy thủ đoàn bao gồm nhân viên y tế, hành chính và phục vụ, chẳng hạn như nhân viên phòng bệnh, thư ký, đầu bếp và quản gia. Cuối cùng, có Thủy quân lục chiến Hoàng gia, chiếm khoảng 10% tổng số nhân lực hải quân. Trên các thiết giáp hạm, họ có xu hướng phục vụ với tư cách là pháo thủ và thường vận hành tháp pháo riêng của họ.
Sự kết hợp giữa hải quân thời tiền chiến và thời chiến là một quá trình khó khăn. Hải quân thời chiến là một sự pha trộn thực sự của xã hội Anh, và sau khi huấn luyện cơ bản và sau đó huấn luyện thêm trong nhánh hoặc chuyên ngành của họ, những người này được đẩy vào nhau, để phục vụ cùng nhau trong nhiều năm. Điều khiến điều này hoạt động - và củng cố toàn bộ tính chuyên nghiệp của Hải quân Hoàng gia Anh - là các sĩ quan không ủy nhiệm (NCO), các sĩ quan trưởng, sĩ quan và thủy thủ dẫn đầu. Những người này là bậc thầy trong nghề của họ, cho dù đó là kỹ năng đi biển, pháo binh, đẩy tàu biển hay kỹ thuật điện. Họ huấn luyện những đồng đội ít kỹ năng hơn của mình trong nghề của họ và cung cấp một cầu nối quan trọng giữa các sĩ quan và những người ở boong dưới.
Thủy thủ trên thiết giáp hạm Anh  được bố trí ở các khu vực ăn ngủ (messdecks),  thường được chia theo  ngành phục vụ của thủy thủ.  Những người này thuộc khu vực ăn ngủ  của thợ đốt trên thiết giáp hạm lớp Nelson.  Thay vì giường cố định,  thủy thủ ngủ trong võng,  như chiếc được thấy trong hình này.
Thủy thủ trên thiết giáp hạm Anh được bố trí ở các khu vực ăn ngủ (messdecks), thường được chia theo ngành phục vụ của thủy thủ. Những người này thuộc khu vực ăn ngủ của thợ đốt trên thiết giáp hạm lớp Nelson. Thay vì giường cố định, thủy thủ ngủ trong võng, như chiếc được thấy trong hình này.
Đối với các sĩ quan, hầu hết là thành viên của Nhánh Điều hành, được đào tạo về kỹ năng đi biển, pháo binh, điều hướng và lãnh đạo. Đây là những sĩ quan đã vươn lên chỉ huy các thiết giáp hạm, hoặc đạt cấp bậc cờ, và những người thực sự giám sát việc chiến đấu của tàu của họ khi họ tham chiến. Cũng có các sĩ quan kỹ thuật, những người chăm sóc các khía cạnh kỹ thuật của tàu, chẳng hạn như hệ thống đẩy hoặc cung cấp điện, và các sĩ quan kế toán, những người chăm sóc tiền lương và hành chính của tàu. Trên các thiết giáp hạm, phần lớn các sĩ quan này - đặc biệt là các sĩ quan cấp cao - là các sĩ quan chính quy, những người đã gia nhập quân ngũ trước chiến tranh. Những người này có xu hướng là những chuyên gia được đào tạo chuyên sâu, hầu hết trong số họ, giống như những người phục vụ lâu năm phục vụ dưới quyền họ, đã mặc quân phục từ khi còn là thiếu niên. Tuy nhiên, những người này được bổ sung bởi một số lượng ngày càng tăng các sĩ quan RNR hoặc thậm chí RNVR (Lực lượng Tình nguyện Dự bị Hải quân Hoàng gia), nhiều người trong số họ mất thời gian để đạt được trình độ chuyên nghiệp mà các đồng nghiệp chính quy của họ có được.
Mặc dù các thiết giáp hạm là một trong những tàu chiến cuối cùng trong hạm đội cảm nhận được tác động của sự pha loãng của hải quân chính quy, nhưng đến năm 1941, hơn một nửa số sĩ quan của thiết giáp hạm đến từ RNR hoặc RNVR, và điều này được phản ánh bởi một số lượng thủy thủ HO tương tự. Nhiều người trong số này chưa bao giờ ra khơi trước khi được điều động đến tàu của họ. Đối với nhiều người chính quy, những người mới đến này thiếu kỷ luật và phép tắc, cũng như kỹ năng của một thủy thủ chuyên nghiệp. Đến năm 1943, thủy thủ chính quy là một điều hiếm thấy trên tàu thiết giáp hạm, nhưng phần lớn, những người thay thế thời chiến của họ đã chấp nhận truyền thống và giá trị của họ, và có năng lực như những người tiền nhiệm của họ. Chiến tranh mang đến những thách thức về công nghệ và bộ kỹ năng mới, và những người mới đến này thường thích nghi với những cách thức mới này một cách nhiệt tình hơn so với những đồng đội phục vụ lâu năm có khả năng bảo thủ của họ.
Trên một thiết giáp hạm, thủy thủ đoàn có xu hướng được chia thành hai ca trực (được đặt tên là 'Mạn trái' (Port) và 'Mạn phải'(Starboad)), mặc dù nhân viên phòng động cơ vận hành hệ thống ba ca trực. Trên một thiết giáp hạm lớp King George V, với quân số lên đến 1.630 người, thợ đốt lò được chia thành ba ca trực, cho họ một lịch trình đứng một ca trực trong ba ca trực. Phần lớn thủy thủ đoàn sử dụng hệ thống hai ca trực được chia thành sáu bộ phận (Boong thượng, Ngư lôi, Pháo binh, Thông tin liên lạc, Đỉnh và Mũi tàu), mỗi bộ phận chịu trách nhiệm bảo trì phần tàu của họ và chiến đấu khi thiết giáp hạm tham chiến. Ngoài ra, còn có một nhóm được gọi là Daymen, những người không giữ ca trực, nhưng duy trì một cái gì đó giống với lịch trình làm việc ban ngày. Số lượng của họ bao gồm nhân viên y tế, hành chính và phục vụ trên tàu. Cuối cùng, Thủy quân lục chiến Hoàng gia duy trì hệ thống ca trực riêng của họ.
Ngày được chia thành các ca trực bốn giờ, chạy từ giữa trưa. Tuy nhiên, ca trực chó (dog - watch) từ 16 giờ đến 20 giờ được chia thành hai ca trực hai giờ, để tránh cùng một nhóm đứng cùng một ca trực mỗi ngày. Mỗi ca trực bao gồm một mặt cắt ngang của thủy thủ đoàn, vì vậy luôn có đủ sĩ quan, NCO và thủy thủ lành nghề để làm bất cứ điều gì cần thiết để vận hành tàu và đối phó với bất kỳ trường hợp khẩn cấp nào. Tuy nhiên, những người đàn ông cũng có các trạm ngày bình thường của họ, đó là khi công việc bảo trì định kỳ được thực hiện trên các bộ phận tàu của họ. Trong Trạm Hành động, mọi người đều có vị trí làm việc của họ, và do đó tàu tham chiến với đầy đủ nhân sự và sẵn sàng hành động. Điều này không chỉ có nghĩa là vận hành pháo và động cơ, mà còn liên quan đến việc tập hợp các nhóm Kiểm soát Thiệt hại, để đối phó với hỏa hoạn và ngập nước, cũng như nhân viên y tế sẵn sàng đối phó với bất kỳ thương vong nào. Tầm quan trọng của Kiểm soát Thiệt hại được thể hiện trong ưu tiên hải quân "Nổi, Di chuyển, Chiến đấu", theo thứ tự đó.
Trên hết, một thiết giáp hạm Anh trong giai đoạn này không chỉ là một cộng đồng nổi, mà còn là một cỗ máy chiến tranh lớn và phức tạp. Trong Trận chiến Eo biển Đan Mạch, thủy thủ đoàn của Prince of Wales đã bị đẩy vào hành động mà không có thời gian để "làm quen" thành một tập thể thủy thủ đoàn hiệu quả. Giống như chính con tàu của họ, trải qua những "khó khăn ban đầu" đáng kể trong hành động đầu tiên, những người này thường thiếu sự tin cậy chuyên nghiệp đến từ kinh nghiệm và thực hành. Tuy nhiên, sau hành động, thuyền trưởng của họ đã khen ngợi màn trình diễn của họ và tuyên bố rằng ông tự hào về họ. Với sự khích lệ như vậy, và lý tưởng nhất là có thêm thời gian để có được kinh nghiệm về con tàu và cuộc sống mới của họ, thủy thủ đoàn của một thiết giáp hạm cuối cùng sẽ hợp nhất thành một đội ngũ hiệu quả và chuyên nghiệp cao. Điều này chắc chắn đã xảy ra trên tàu Duke of York vào cuối năm 1943, khi thiết giáp hạm tham chiến, thủy thủ đoàn của con tàu đã hoạt động như một cỗ máy được bôi trơn tốt.

THỦ THỦY ĐOÀN THIẾT GIÁP HẠM ĐỨC

Giống như các tàu chiến của Anh, thuỷ thủ trên thiết giáp hạm Đức lấy khẩu phần ăn từ bếp chính (galley), sau đó mang về khu ăn uống của thuỷ thủ (messdeck) để dùng bữa. Cũng như cách làm của người Anh, đại diện của từng nhóm thuỷ thủ ở messdeck sẽ đến lấy đồ ăn cho cả nhóm của mình.
Giống như các tàu chiến của Anh, thuỷ thủ trên thiết giáp hạm Đức lấy khẩu phần ăn từ bếp chính (galley), sau đó mang về khu ăn uống của thuỷ thủ (messdeck) để dùng bữa. Cũng như cách làm của người Anh, đại diện của từng nhóm thuỷ thủ ở messdeck sẽ đến lấy đồ ăn cho cả nhóm của mình.
Vào năm 1939, Kriegsmarine (Hải quân Đức) có khoảng 50.000 người trong hàng ngũ của mình. Nhiều thủy thủ trong số này đã phục vụ trong Reichsmarine (Hải quân Đế chế), cho đến khi hải quân Đức đổi tên vào năm 1935. Trong Reichsmarine và Kriegsmarine thời bình, một thủy thủ tình nguyện phục vụ 12 năm. Tổng số này tăng lên đáng kể trong chiến tranh, cho đến năm 1943, Kriegsmarine có quân số hơn 630.000 người. Tuy nhiên, phần lớn trong số này phục vụ trong các đơn vị trên bờ, chẳng hạn như pháo binh ven biển hoặc pháo phòng không, trong các trung tâm radar, chỉ huy hoặc liên lạc, hoặc trong các căn cứ cung cấp hải quân, xưởng đóng tàu và trường huấn luyện. Một số người trong số này, đặc biệt là các sĩ quan và sĩ quan không ủy nhiệm cấp cao, đã phục vụ trong phần lớn thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh, và một số thậm chí đã tham chiến trong Thế chiến I. Tuy nhiên, phần lớn là những tân binh tương đối mới, và trong nhiều trường hợp, thiết giáp hạm mà họ được điều động là con tàu đầu tiên của họ. Độ tuổi trung bình của một thủy thủ trên tàu Scharnhorst, Gneisenau, Bismarck hoặc Tirpitz chỉ là 23.
Trong Reichsmarine, các tân binh hải quân được huấn luyện ban đầu tại các căn cứ trên bờ, trực thuộc các quận Ostsee (Baltic) hoặc Nordsee (Biển Bắc), có trụ sở lần lượt tại Kiel và Wilhelmshaven. Trong các quận này, các trung tâm huấn luyện khác được thành lập ở các địa điểm lân cận khác, chẳng hạn như Stralsund cho bộ phận Ostsee và Groningen cho Nordsee. Các trường huấn luyện chuyên ngành khác cũng được thành lập, chứa động cơ đẩy tàu biển, pháo binh, điện và chiến tranh ngư lôi. Một số tân binh có kỹ năng nhất được chọn để đào tạo thành Maate (sĩ quan nhỏ), và do đó được đào tạo trước khi lên tàu bổ sung trong một Marineunteroffizierabteilung (Đại đội Sĩ quan Không ủy nhiệm Hải quân). Một lần nữa, mỗi bộ phận có trường NCO riêng, có trụ sở tại Kiel, Stralsund và Wesermünde, trường sau phục vụ cho bộ phận Nordsee.
Việc vận chuyển và dự trữ hàng hóa trên thiết giáp hạm lớp Bismarck cũng tương tự như trên các thiết giáp hạm của Anh. Cả thiết giáp hạm Đức và Anh đều được trang bị các kho lớn để chứa hàng khô và chất lỏng, cùng với kho lạnh chuyên dùng để bảo quản thịt đông lạnh.
Việc vận chuyển và dự trữ hàng hóa trên thiết giáp hạm lớp Bismarck cũng tương tự như trên các thiết giáp hạm của Anh. Cả thiết giáp hạm Đức và Anh đều được trang bị các kho lớn để chứa hàng khô và chất lỏng, cùng với kho lạnh chuyên dùng để bảo quản thịt đông lạnh.
Một Matrosen-Obergefreiter (thủy thủ dẫn đầu), người giám sát một nhóm thủy thủ trẻ tuổi này có quy mô tiểu đội, thường là một người có kinh nghiệm, người đã phục vụ trong hải quân thời bình và là một chuyên gia trong lĩnh vực của mình. Tuy nhiên, ông ta thiếu sự đào tạo chuyên ngành nâng cao của Unteroffiziere (NCO) - Maate hoặc Obermaate (sĩ quan trưởng). Vì vậy, không giống như trong Hải quân Hoàng gia Anh, các cấp bậc này có xu hướng mang tính kỹ thuật hơn - tương tự như thợ cơ khí Anh - và liên quan trực tiếp đến một chuyên ngành, chẳng hạn như pháo binh, pháo, máy móc, ngư lôi hoặc tín hiệu. Một Maschinenmaat là một sĩ quan nhỏ kỹ thuật. Một vấn đề mà Kriegsmarine gặp phải là cho đến năm 1935, không có lực lượng dự bị được đào tạo phù hợp. Nhiều Unteroffiziere này thiếu thời gian phục vụ hoặc kinh nghiệm trước chiến tranh của các đồng nghiệp Anh của họ. Khi chiến tranh tiến triển, nguồn cung cấp sĩ quan nhỏ có kinh nghiệm phù hợp trở thành một vấn đề. Do đó, sự nhấn mạnh lớn hơn được đặt vào đào tạo trên bờ, trước khi triển khai.
Trong khi Hải quân Hoàng gia Anh đủ lớn để cho phép luân chuyển nhân lực khá thường xuyên, trong Kriegsmarine, sự nhấn mạnh nhiều hơn được đặt vào phục vụ trong một con tàu cụ thể. Khi Bismarck được đưa vào hoạt động vào tháng 8 năm 1940, thủy thủ đoàn đưa nó ra khơi cũng là những người thực hiện các cuộc thử nghiệm trên biển của nó, và sau đó phát triển sự hiểu biết của họ về con tàu của họ và nhiệm vụ của riêng họ thông qua đào tạo trên tàu rộng rãi. Trong trường hợp của Bismarck và Tirpitz, điều này diễn ra trong chiến tranh, và do đó nó được thực hiện ở Baltic, ngoài tầm với của máy bay ném bom Anh. Trong trường hợp của Gneisenau và Scharnhorst, Kriegsmarine có sự sang trọng là tiến hành khóa huấn luyện này trong thời bình, với quân số phần lớn thời bình. Gneisenau đã dành phần lớn thời gian làm việc của mình ở Đại Tây Dương, điều này mang lại cho thủy thủ đoàn của nó kinh nghiệm đi biển đại dương. Scharnhorst có thời gian làm việc ngắn hơn ở Đại Tây Dương, trước khi trở về Kiel và Wilhelmshaven để sửa đổi.
Mặc dù có một số luân chuyển thủy thủ đoàn, đặc biệt là khi một thiết giáp hạm trải qua một thời gian sửa chữa hoặc trang bị lại kéo dài, chẳng hạn như Scharnhorst và Gneisenau đã làm vào năm 1941, xu hướng là tránh luân chuyển nhân sự quy mô lớn. Tuy nhiên, có một dòng thay thế ổn định, khi những người đàn ông được thăng chức và chuyển đi nơi khác, hoặc rời khỏi tàu vì lý do sức khỏe hoặc kỷ luật. Tuy nhiên, phần lớn, thủy thủ đoàn của một thiết giáp hạm Kriegsmarine có xu hướng ở lại cùng nhau trong suốt cuộc chiến - nhiều hơn so với các đồng nghiệp Anh của họ.
Trên bến cảng, ban nhạc đồng của thiết giáp hạm Tirpitz biểu diễn một buổi hòa nhạc bất ngờ nhân dịp sinh nhật của thuyền trưởng. Cả thiết giáp hạm Anh và Đức đều có một đội ban nhạc đi kèm, chủ yếu phục vụ cho các dịp lễ nghi, nghi thức long trọng.
Trên bến cảng, ban nhạc đồng của thiết giáp hạm Tirpitz biểu diễn một buổi hòa nhạc bất ngờ nhân dịp sinh nhật của thuyền trưởng. Cả thiết giáp hạm Anh và Đức đều có một đội ban nhạc đi kèm, chủ yếu phục vụ cho các dịp lễ nghi, nghi thức long trọng.
Các sĩ quan Kriegsmarine trải qua một hệ thống tuyển dụng và tuyển chọn tương tự như thủy thủ đoàn. Từ năm 1936 trở đi, các tân binh sĩ quan phải tuyên thệ trung thành với Quốc trưởng (Führer) Adolf Hitler, mặc dù bộ chỉ huy cấp cao của Kriegsmarine đã chống lại sự Quốc xã hóa quân đoàn sĩ quan của mình. Việc huấn luyện được thực hiện tại Danholm, tiếp theo là một chuyến đi trên một tàu huấn luyện buồm. Lý tưởng nhất là điều này được tiếp theo bởi một cuộc triển khai trên biển đại dương trên một tàu tuần dương, đóng vai trò là một tàu huấn luyện. Những người vượt qua sự làm quen này với hải quân được gửi đến học viện hải quân tại Flensburg, nơi họ được đào tạo về nghề của mình. Sau đó, đào tạo thêm được cung cấp trong một chuyên ngành, chẳng hạn như pháo binh, ngư lôi hoặc kỹ thuật. Sau sự mở rộng mạnh mẽ của hải quân vào năm 1939, tỷ lệ sĩ quan trên quân giảm mạnh, cho đến năm 1943 là 1:30 - khoảng một nửa tỷ lệ trước chiến tranh. Điều này đặt sự nhấn mạnh lớn hơn vào sĩ quan Kriegsmarine như một nhà lãnh đạo và một người ra quyết định.
Trên biển, thủy thủ đoàn của một thiết giáp hạm Đức được chia thành các ca trực, sử dụng hệ thống hai ca trực giống như Hải quân Hoàng gia Anh, với hệ thống ba ca trực cho các kỹ sư. Ví dụ, trên Bismarck, thủy thủ đoàn thường xuyên gồm 2.065 sĩ quan và quân nhân được chia thành 12 bộ phận, mỗi bộ phận gồm 150–200 người. Chúng được dựa trên một chuyên ngành. Bốn trong số này là các bộ phận thủy thủ (bao gồm các đội pháo chính và phụ), hai bộ phận dành cho các đội pháo phòng không, ba bộ phận được lấp đầy bởi các thủy thủ kỹ thuật, trong khi hai bộ phận cuối cùng được tạo thành từ Daymen (đầu bếp, quản gia và nhân viên phòng bệnh) và thợ cơ khí pháo binh. Mỗi bộ phận được chia thành ca trực Đỏ hoặc Xanh (tương đương với ca trực Cảng và Mạn phải của Anh), sau đó được chia nhỏ lại thành các đơn vị nhỏ hơn. Các bộ phận này đóng vai trò là đơn vị hành chính, cũng như cho mục đích phúc lợi và kỷ luật, nhưng chúng cũng chứa cấu trúc đào tạo và thăng tiến riêng của chúng, trong chuyên ngành riêng của chúng.
Có một số điểm tương đồng trong cách Kriegsmarine và Hải quân Hoàng gia Anh tổ chức thủy thủ đoàn của tàu của họ, và trong cách thủy thủ đoàn của họ được quản lý. Trong cả hai hải quân, rất nhiều sự phụ thuộc được đặt vào các sĩ quan không ủy nhiệm để duy trì các tiêu chuẩn chuyên nghiệp và đảm bảo rằng những người đàn ông được đào tạo phù hợp và sẵn sàng. Điều này đặc biệt quan trọng do tính chất kỹ thuật đầy thách thức của những con tàu này, đặc biệt là khi nói đến hệ thống điều khiển hỏa lực và pháo binh phức tạp của chúng, và hệ thống đẩy của chúng. Trong khi các sĩ quan được kỳ vọng sẽ dẫn đầu và đưa ra các quyết định quan trọng, thì ở cả hai hải quân, chính các sĩ quan không ủy nhiệm đảm bảo rằng các mệnh lệnh này được thực hiện nhanh chóng và chuyên nghiệp. Tuy nhiên, có hai điều phân biệt hai hải quân. Điều đầu tiên là cách thủy thủ đoàn thiết giáp hạm Đức trải qua quá trình huấn luyện trên tàu đáng kể trước khi tàu của họ được đưa vào hoạt động. Thứ hai là thủy thủ đoàn thiết giáp hạm Đức có xu hướng được giữ lại cùng nhau, và do đó các sĩ quan và thủy thủ biết khả năng của nhau và khả năng của tàu của họ.

NHỮNG NHÂN VẬT NỔI BẬT

PHÍA ANH

ĐÔ ĐỐC JOHN TOVEY (1885–1971)
Đô đốc John Tovey là một người kiệm lời và sùng đạo, nhưng ông cũng có mặt hài hước trong tính cách. Trong vai trò Tổng tư lệnh Hạm đội, ông nhiều lần xung đột với Churchill về các chiến dịch hải quân, nhưng cách ông chỉ huy hạm đội trong chiến dịch truy lùng Bismarck vào tháng 5 năm 1941 đã chứng minh rằng ông có tư duy chiến lược hải quân sắc sảo và chuyên nghiệp.
Đô đốc John Tovey là một người kiệm lời và sùng đạo, nhưng ông cũng có mặt hài hước trong tính cách. Trong vai trò Tổng tư lệnh Hạm đội, ông nhiều lần xung đột với Churchill về các chiến dịch hải quân, nhưng cách ông chỉ huy hạm đội trong chiến dịch truy lùng Bismarck vào tháng 5 năm 1941 đã chứng minh rằng ông có tư duy chiến lược hải quân sắc sảo và chuyên nghiệp.
'Jack' Tovey sinh ra ở Kent và gia nhập Hải quân Hoàng gia Anh vào năm 1900. Vào đầu Thế chiến I, ông là một trung tá chỉ huy, và vào đầu năm 1915, ông được giao quyền chỉ huy đầu tiên của mình. Trong Trận Jutland năm 1916, tàu khu trục Onslow của ông đã dũng cảm tấn công tàu tuần dương Đức Wiesbaden. Tovey đã giành được Huân chương Phục vụ Xuất sắc (DSO) cho hành động này và kết thúc chiến tranh với tư cách là một chỉ huy. Với tư cách là một chuyên gia về pháo binh và chiến tranh ngư lôi, ông đã tiếp tục chỉ huy một loạt các hạm đội tàu khu trục và các vị trí tham mưu. Năm 1932, ông được giao quyền chỉ huy Rodney, một thiết giáp hạm mà ông sẽ dẫn vào trận chiến chống lại Bismarck chín năm sau đó. Tovey đạt cấp bậc cờ vào năm 1935, và bốn năm sau, ông trở thành phó đô đốc.
Khi Thế chiến II bắt đầu, ông là phó chỉ huy của Hạm đội Địa Trung Hải, nhưng vào cuối năm 1940, ông được triệu hồi về Anh, được thăng cấp tạm quyền lên đô đốc đầy đủ và được bổ nhiệm làm Tư lệnh mới của Hạm đội chính quốc. Tovey treo cờ của mình trên thiết giáp hạm Nelson, nhưng vào tháng 4 năm 1941, ông chuyển nó sang King George V hoàn toàn mới. Mặc dù tầm vóc nhỏ bé, Tovey là một nhà lãnh đạo bẩm sinh và sự tự tin của ông có tính lan tỏa. Cấp dưới của ông cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ông, mặc dù sự kiên trì của ông thường dẫn ông đến xung đột với cấp trên, đặc biệt là Churchill, người muốn thay thế ông bằng một tư lệnh hạm đội dễ bảo hơn. Tuy nhiên, Tovey là người lý tưởng cho công việc này. Ông là một người sùng đạo, nhưng thích đồ ăn ngon và là một người chơi golf nhiệt tình. Tuy nhiên, những đức tính lớn nhất của ông là tính cách điềm tĩnh, khả năng đọc được tình hình chiến lược và sự sẵn sàng hành động quyết đoán.
ĐÔ ĐỐC BRUCE FRASER (1888–1981)
Đô đốc Bruce Fraser là một chuyên gia về pháo hải quân, và được biết đến như một đô đốc có tư duy chiến lược sâu sắc. Thật vậy, kế hoạch phục kích và tiêu diệt thiết giáp hạm Scharnhorst của ông đã cho thấy sự am hiểu vượt trội về cả yếu tố tác chiến lẫn công nghệ chiến tranh hải quân hiện đại.
Đô đốc Bruce Fraser là một chuyên gia về pháo hải quân, và được biết đến như một đô đốc có tư duy chiến lược sâu sắc. Thật vậy, kế hoạch phục kích và tiêu diệt thiết giáp hạm Scharnhorst của ông đã cho thấy sự am hiểu vượt trội về cả yếu tố tác chiến lẫn công nghệ chiến tranh hải quân hiện đại.
Mặc dù là con trai của một vị tướng, Fraser đã gia nhập Hải quân Hoàng gia Anh khi mới 12 tuổi. Đến năm 1914, ông là một trung úy, chuyên về pháo binh. Ông đã tham chiến trong chiến dịch Gallipoli, nhưng sau đó được chuyển đến trường pháo binh của hải quân, và do đó đã bỏ lỡ trận Jutland, gia nhập một thiết giáp hạm sau trận chiến. Ông đã chứng kiến nhiều trận chiến hơn trong cuộc Nội chiến Nga, giúp đỡ quân Bạch vệ của Hạm đội Biển Caspian vào năm 1920 trước khi bị quân Bolshevik bắt giữ. Sau khi được thả, ông trở lại trường pháo binh, và vào năm 1924, ông trở thành Sĩ quan Pháo binh trưởng của Hạm đội Địa Trung Hải.
Năm 1929, Fraser được giao quyền chỉ huy một tàu tuần dương; các quyền chỉ huy và vị trí tham mưu khác tiếp theo sau đó. Ông đạt cấp bậc cờ vào năm 1938, dẫn đến việc ông được bổ nhiệm làm Đệ Tam Hải quân Đại thần. Fraser trở thành phó đô đốc vào năm 1940, và được bổ nhiệm làm phó chỉ huy của Hạm đội Nhà. Vào tháng 5 năm 1943, ông kế nhiệm Đô đốc Tovey làm tư lệnh hạm đội, treo cờ của mình trên thiết giáp hạm Duke of York. Nhiệm vụ chính của ông là bảo vệ các đoàn tàu Bắc Cực, một nhiệm vụ mà ông đã thực hiện một cách khéo léo và chủ động. Fraser là một người ủng hộ nhiệt thành pháo binh điều khiển bằng radar, và đảm bảo rằng tàu của ông sử dụng lợi thế này một cách tối đa. Chính Fraser là người đã lên kế hoạch theo dõi thiết giáp hạm Đức Scharnhorst, và việc tiêu diệt nó phần lớn là nhờ sự hiểu biết thấu đáo của Fraser về công nghệ mới này.

PHÍA ĐỨC

ĐÔ ĐỐC GÜNTHER LÜTJENS (1889–1941)
Đô đốc Günther Lütjens đảm nhận một nhiệm vụ khó khăn và đầy nguy hiểm: vượt qua các tuyến tuần tra của Anh để tiến vào đại dương bao la Bắc Đại Tây Dương. Ông đã thành công khi thực hiện điều này cùng với Gneisenau và Scharnhorst, nhưng mặc dù ban đầu cũng đạt được thành công với Bismarck và Prinz Eugen, vận may của ông cuối cùng đã cạn kiệt.
Đô đốc Günther Lütjens đảm nhận một nhiệm vụ khó khăn và đầy nguy hiểm: vượt qua các tuyến tuần tra của Anh để tiến vào đại dương bao la Bắc Đại Tây Dương. Ông đã thành công khi thực hiện điều này cùng với Gneisenau và Scharnhorst, nhưng mặc dù ban đầu cũng đạt được thành công với Bismarck và Prinz Eugen, vận may của ông cuối cùng đã cạn kiệt.
Một người Hessian đến từ Wiesbaden, Lütjens gia nhập Hải quân Đế chế Đức vào năm 1907, và cuối cùng chuyên về chiến tranh ngư lôi. Trong phần lớn Thế chiến I, ông phục vụ trong các hạm đội tàu phóng ngư lôi ở Biển Bắc và Eo biển Anh, vươn lên cấp bậc Kapitänleutnant và chỉ huy một nửa hạm đội. Vào tháng 5 năm 1917, ông đã chiến đấu trong một vài hành động dũng cảm chống lại tàu khu trục của quân Đồng minh, và được trao tặng Huân chương Thập tự Sắt (Eisernes Kreuz).
Sau chiến tranh, Lütjens phục vụ trong Reichsmarine, và trong những năm 1920, ông đảm nhiệm một số vị trí tham mưu, huấn luyện và chỉ huy. Năm 1933, ông trở thành Kapitän zur See và được giao quyền chỉ huy tàu tuần dương Karlsruhe. Năm 1937, Lütjens đạt cấp bậc cờ, và với tư cách là Konteradmiral, ông chỉ huy lực lượng tàu khu trục của lực lượng mà vào thời điểm đó đã được đổi tên thành Kriegsmarine.
Sau khi Thế chiến II bùng nổ, Lütjens chỉ huy lực lượng trinh sát của Đức trong các hoạt động ở cả Biển Baltic và Biển Bắc, và được thăng cấp Vizeadmiral. Trong cuộc xâm lược Na Uy của Đức, ông chỉ huy Scharnhorst và Gneisenau, hai thiết giáp hạm của ông đã tham chiến chống lại thiết giáp tuần dương hạm Anh Renown. Kinh nghiệm này đã biến Lütjens trở thành ứng cử viên lý tưởng để chỉ huy những con tàu tương tự trong cuộc xuất kích tiếp theo của họ vào Bắc Đại Tây Dương. Vào tháng 6 năm 1940, ông trở thành một trong những nhóm chỉ huy hạm đội được chọn lọc của Kriegsmarine (Flottenchef), chịu trách nhiệm lãnh đạo các hoạt động mặt nước lớn. Với tư cách này, ông chịu trách nhiệm điều hành cả Chiến dịch Berlin và Chiến dịch Rheinübung, treo cờ của mình lần lượt trên Gneisenau và Bismarck. Ông đã hy sinh trong trận chiến khi Bismarck bị đánh chìm vào ngày 27 tháng 5 năm 1941.
Lütjens là một chỉ huy dũng cảm, quyết đoán và khéo léo, và đối với nhiều người, ông có vẻ ít nói. Ông kiên quyết phản đối việc chính trị hóa Kriegsmarine, và khi gặp Hitler, ông đã chào đón ông ta bằng cách chào kiểu hải quân thay vì kiểu chào của Đức Quốc xã. Ông có lẽ là chỉ huy chiến thuật giỏi nhất trong Hải quân Đức, và khả năng chiến lược của ông đã được thể hiện một cách tài tình trong hai cuộc đột kích Đại Tây Dương của mình. Tuy nhiên, cuối cùng, sự bi quan của ông có lẽ đã góp phần vào thái độ thất bại trên tàu Bismarck trong những giờ phút cuối cùng của nó.
CHUẨN ĐÔ ĐỐC ERICH BEY (1898–1943)
Chuẩn Đô đốc Erich Bey vốn là một chỉ huy khu trục hạm đúng nghĩa, và chưa bao giờ tỏ ra thoải mái khi nắm quyền chỉ huy một thiết giáp hạm. Vào tháng 12 năm 1943, ông nhận lệnh xuất kích cùng thiết giáp hạm Scharnhorst, nhưng không được cấp đủ thời gian để chuẩn bị cho chiến dịch.
Chuẩn Đô đốc Erich Bey vốn là một chỉ huy khu trục hạm đúng nghĩa, và chưa bao giờ tỏ ra thoải mái khi nắm quyền chỉ huy một thiết giáp hạm. Vào tháng 12 năm 1943, ông nhận lệnh xuất kích cùng thiết giáp hạm Scharnhorst, nhưng không được cấp đủ thời gian để chuẩn bị cho chiến dịch.
Sinh ra ở Hamburg và được đào tạo tại một học viện hải quân, Bey gia nhập Hải quân Đế chế Đức vào năm 1916. Ông phục vụ trên các tàu tuần dương và tàu phóng ngư lôi trong Thế chiến I, kết thúc cuộc xung đột với cấp bậc Leutnant zur See. Trong những năm Cộng hòa Weimar, Bey đảm nhận một loạt các vị trí huấn luyện, tham mưu và đi biển trong Reichsmarine, và đến năm 1935, ông đã đạt cấp bậc Korvettenkapitän. Vào thời điểm đó, ông là một chuyên gia ngư lôi có kinh nghiệm, và trong những năm hòa bình cuối cùng, các vị trí của ông tập trung vào lực lượng tàu khu trục của Kriegsmarine.
Khi Thế chiến II bùng nổ, ông là Kapitän zur See, và là chỉ huy của 4.Zerstörer-Flottille (Hạm đội Tàu khu trục số 4). Trong cuộc xâm lược Na Uy năm 1940, ông chỉ huy hạm đội trong hành động, và đã thể hiện mình trong các trận hải chiến diễn ra xung quanh Narvik. Vì lòng dũng cảm của mình, Bey đã được trao tặng Thập tự Hiệp sĩ (Ritterkreuz), và được giao quyền chỉ huy 6.Zerstörer-Flottille (Hạm đội Tàu khu trục số 6). Ông cũng được giao phụ trách những gì còn lại của các tàu khu trục của hạm đội. Với tư cách này, ông đã thể hiện mình một lần nữa trong Cuộc đột kích qua eo biển Manche vào tháng 2 năm 1942. Vào thời điểm đó, phần lớn các tàu khu trục còn sống sót của hải quân đã được chuyển đến Na Uy, và Bey giám sát việc sử dụng chúng để hỗ trợ các tàu chiến lớn hơn của Kriegsmarine trong khu vực. Ông đạt cấp bậc cờ vào tháng 3 năm 1943. Cuối cùng, vào tháng 11 năm 1943, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy mới của nhóm chiến đấu của Kriegsmarine ở Na Uy, treo cờ của mình trên thiết giáp hạm Scharnhorst. Chính Bey đã đưa Scharnhorst ra khơi vào tháng sau, và ông đã hy sinh khi Scharnhorst bị đánh chìm ngoài khơi North Cape vào ngày 26 tháng 12 năm 1943.
Bey là một sĩ quan hải quân có kinh nghiệm và năng lực cao, và kinh nghiệm của ông về các hoạt động tàu khu trục đã khiến ông trở thành một lựa chọn tuyệt vời cho vai trò thời chiến chính của mình, chỉ huy các lực lượng nhẹ hơn này. Tuy nhiên, ông không có kinh nghiệm thực sự trong việc chỉ huy các tàu chiến lớn hơn. Sự thiếu quen thuộc của ông với các thiết giáp hạm và tầm quan trọng của radar có lẽ đã góp phần vào việc mất thiết giáp hạm.
(Còn tiếp)
Link phần 2: