Trong tòa Đông Lâu Hạ, Tiên Dung đi qua đi lại như kiến bò trong chảo nóng. Cứ một chốc, nàng lại sốt ruột nhìn ra ngoài. Từ trưa nay khi nàng bị “đưa” về Lâu Hạ cho đến bây giờ là sẩm tối, bên ngoài vẫn không có gì thay đổi. Mỗi cửa ra vào và cửa sổ đều có hai lính canh. Ngay cả trên mái nhà cũng có tiếng bước chân người đi lại. Dù sao thì từ khi lên ba Tiên Dung đã biết trèo mái nhà, sẽ chẳng ai đãng trí mà bỏ ngỏ nơi này. 
Nàng nhất định phải đi cứu thầy Cao, nhưng làm sao trốn ra được bây giờ? Hai mươi lính canh ngoài kia đều là tinh binh Cẩm Đội. Cứ cho là nàng lừa được hai kẻ trước cửa thì mười mấy người còn lại cũng toàn người mắt tinh tai thính. Trừ phi nàng biết tàng hình, nếu không thì chẳng có cách nào chạy thoát khỏi Lâu Hạ mà không gây động tĩnh gì. 
Mà kể cả nàng trót lọt ra khỏi Lâu Hạ thì sau đó cũng không biết đi tìm thầy ở đâu. 
Thầy có thể đi đâu được? 
Tiên Dung vắt óc suy nghĩ. Mấy hôm nay vua cha hẳn đã cho người đi lùng sục khắp nơi, vậy mà vẫn không tìm thấy người, chứng tỏ thầy không còn ở gần Phong Châu nữa. 
Vua cha nghi ngờ thầy phản bội theo Ba Thục, như vậy chắc chắn sẽ phái người đuổi theo về phía Tây. 
Nhưng thầy đương nhiên là không phản bội, cho nên không thể chắc chắn rằng thầy đi về phía Tây được. 
Tiên Dung lục lọi trong trí nhớ của mình. Mấy hôm trước, trước khi rời đi, thầy đã nói gì?
“Lần này ta đi xa… Xa hơn núi Tản nhiều…”
“Ta đi tìm vật liệu làm nỏ.”
“Thầy không chắc… Nếu có lấy được về thì cũng không chắc có làm thành lẫy nỏ hay không.”
Lẫy nỏ! Thầy đi tìm vật liệu làm lẫy nỏ!
Nhưng mà… vật liệu này là cái gì mới được? Là đồng hay sắt? Gỗ? Sừng trâu? Ngà voi?
Không phải, những thứ này quá dễ lấy. Phải là thứ gì đó mới lạ khó tìm mà bản thân thầy cũng không chắc chắn kia.
Tiên Dung vò đầu bứt tóc, cảm thấy mình lại chui vào ngõ cụt. Chợt, mắt nàng lia tới xó nhà, nhìn thấy một thứ. 
Đó là một lô những cuộn dây vừa to vừa nặng, bện nút chi chít. Chúng bị vứt ở đây đã lâu, không có ai đụng tới, chẳng qua là nhờ có các xảo xứng quét dọn mới không bị phủ bụi. Đây chính là bộ dây về lý thuyết cung nỏ mà Cao Lỗ từng bắt Tiên Dung đọc. Nàng vốn không thích đọc dây, mà đọc về lý thuyết cung nỏ thì nàng lại càng chán ghét, nên lúc đó chỉ nhìn qua qua lấy lệ rồi đem bỏ xó.
Bây giờ, đây chính là manh mối dẫn đường của nàng!
Tiên Dung lập tức nhảy tới đống dây, ngón tay thoăn thoắt đọc đầu đề của từng cuộn. Lục lọi một hồi, cuối cùng nàng lôi ra một cuộn dây, sợi đầu tiên là bốn nút: “Cấu tạo cung nỏ.” 
Cuộn dây này là tự tay thầy Cao tết ra, Tiên Dung có thể nhận ra kiểu thắt nút của thầy, mỗi nút luôn vòng từ dưới lên. Nàng giở cuộn ra, nhanh chóng đọc lướt qua mấy chục đoạn dây, rồi cuối cùng cũng tìm thấy đoạn nói về lẫy nỏ. 
“Lẫy nỏ là bộ phận tạo sức bật cho dây nỏ, từ đó bắn mũi nỏ ra. Lẫy nỏ có nhiều phần, mỗi phần này đều phải được chế tạo tỉ mỉ, lắp ráp vừa vặn vào với nhau thì mới bắn được. Mỗi vật liệu làm lẫy nỏ đều có cái hay cái dở riêng. Tre gỗ thì rẻ nhưng khó đẽo gọt các chi tiết nhỏ, lại hay co giãn thất thường theo thời tiết. Đồng sắt thì dễ chế tác tinh vi, nhưng lại quá mềm nên dễ biến dạng. Ngà voi, gạc hươu nai hay sừng trâu thì cứng cáp nhưng dễ gãy vụn. Vật liệu làm lẫy lý tưởng nhất phải cứng cáp, bền chắc mà vẫn dễ đẽo gọt. Trong trời đất này có lẽ chỉ có móng Rùa Vàng là được như thế, nhưng thứ này rất khó tìm, cho nên đến nay vẫn chưa có ai làm được lẫy nỏ bằng móng Rùa Vàng.”
Móng Rùa Vàng!
Hẳn là thầy đi tìm móng Rùa Vàng làm lẫy nỏ! Tức là, tức là, thầy đi theo hướng Đông Nam để ra biển chứ không phải hướng Tây! 
Nếu nàng đoán đúng, thì cứ đi theo hướng Đông Nam ra biển, chắc chắn sẽ tìm được thầy trước truy binh của cha nàng!
Tiên Dung vui mừng rút sợi dây nọ ra khỏi cuộn để mang theo. Lúc đó nàng lại nhớ ra, mình vẫn đang bị nhốt ở Lâu Hạ, không có cách nào ra ngoài được. 
“Ta muốn vào thăm Mị châu.” Chợt bên ngoài vang lên một giọng nói. Giọng nói này mặc dù thực nhẹ nhàng, thậm chí không có mệnh lệnh nào, nhưng không hiểu vì sao lại khiến người khác phải cúi đầu nghe theo. 
“Bẩm Mị nương, nhưng Duệ Vương đã có lệnh…” 
Người anh em này, anh gan dạ quá, dám thắc mắc với Mị nương Ngọc Hoa. Tiên Dung thầm thán phục trong lòng.   
“Cha ta chỉ ra lệnh cho các ngươi trông chừng Mị châu chứ không cấm ta đến thăm chị.” 
“Vậy, tay nải kia của ngài…” Anh lính canh gan dạ nọ vẫn còn giằng co, mặc dù giọng nói đã có phần run rẩy. 
“Ta mang mấy thứ quà bánh từ dưới bếp lên. Mị châu ở trong đó ngột ngạt, hẳn là ăn không vào. Ngươi cản ta thêm chút nữa, e rằng Mị châu sẽ đói lả trong phòng.”
Đòn hiểm! Anh lính canh nọ lập tức đầu hàng, “Bề tôi không dám! Mời Mị nương vào trong.”
Cánh cửa mở ra, người bước vào không ai khác chính là Ngọc Hoa. Tiên Dung bổ nhào về phía em gái mình, nói đúng hơn là về phía cái tay nải mà Ngọc Hoa mang tới, vừa mở nút vừa than vãn, “Từ trưa tới giờ chị chưa được miếng nào vào bụng, đói chết mất!” 
Nhưng tay nải mở ra, nàng liền khựng lại, ngạc nhiên hỏi, “Đây là những gì thế này?”
Ngược lại với vẻ hấp tấp của Tiên Dung, Ngọc Hoa tháo mạng che mặt, từ tốn ngồi xuống bên bàn, cẩn thận xếp lại nếp váy, lại thong thả rót một chén nước, nhấp một ngụm nhỏ, rồi mới lên tiếng, “Trong này có một ít lương khô, có thể để được lâu mà không hỏng. Gói kia là mấy thứ thuốc phòng thân. Còn túi này, chị hãy cất cẩn thận, đây là ba viên ngọc trai với một chục lá đồng, nếu dè sẻn thì sẽ đủ dùng vài tháng. Quần áo và cung nỏ thì chị có rồi, em không mang tới.”
“Ý em là sao?” Tiên Dung ngờ ngợ hỏi. 
Ngọc Hoa che miệng uống một ngụm nước, rồi nhìn Tiên Dung nói, “Chị muốn đi tìm Bồ chính Cao Lỗ phải không?”
Đây là câu hỏi nhưng không hề có ý hỏi. Nhà chỉ có hai chị em, Ngọc Hoa hiểu Tiên Dung rất rõ. Tiên Dung cũng thấy không cần phải giấu diếm, liền gật đầu, “Đúng thế.” 
“Em chuẩn bị cho chị một ít đồ.” Ngọc Hoa bình thản nói. 
“Em…” Tiên Dung không ngờ Ngọc Hoa lại cứ thế đơn giản thẳng thắn mà giúp mình trốn đi, nàng vừa bất ngờ vừa cảm động. “Em làm thế này, cha sẽ mắng đấy.” 
Nói như vậy là còn nhẹ. Giữa hai con gái của mình, Hùng Duệ Vương luôn thiên vị Tiên Dung, chính nàng cũng biết điều này. Từ nhỏ, nàng đã nhận ra rằng mình là đứa được cưng chiều, dù nàng có nghịch ngợm phá phách, vua cha cũng cười xòa bỏ qua. Ngược lại, Ngọc Hoa dịu dàng nền nếp là thế thì lại rất ít khi được ngài chú ý đến. Tiên Dung vẫn luôn nghĩ, có lẽ là vì Ngọc Hoa ít nói, lại không thích người khác động chạm vào mình, nên vua cha cũng không có cách nào thể hiện tình cảm cha con. Hơn nữa Ngọc Hoa không bao giờ mắc lỗi, vua cha lại càng không có dịp nào để nhắc nhở hay trò chuyện. Nhưng việc giúp nàng trốn đi lần này chắc chắn là lỗi lớn. Nàng lỡ lời nói mấy câu đã làm vua cha nổi giận đem nhốt vào Lâu Hạ. Ngọc Hoa giúp nàng trốn đi chắc chắn còn bị phạt nặng hơn. 
“Em không giúp chị trốn đi. Em chỉ mang một ít đồ đến thăm chị thôi.” Ngọc Hoa đáp, đoạn, lấy trong túi áo ra một gói nhỏ, đổ vào ấm nước. Một mùi hương dễ chịu dậy lên trong phòng. Tiên Dung nhận ra mùi hương này. 
“Bột huyền hồ?”  
“Sáng mai, khi xảo xứng vào hầu thì không thấy Mị châu đâu, chỉ thấy Mị nương đang ngủ mê mệt trên giường. Lúc ấy mọi người sẽ đoán ra, Mị châu vì muốn trốn đi nên nhân lúc Mị nương đến thăm đã lén bỏ huyền hồ vào trà. Khi Mị nương ngủ rồi, Mị châu bèn thay váy áo, giả làm Mị nương mà lẻn ra ngoài.” Ngọc Hoa thong thả nói như thể kể lại một chuyện đã xảy ra rồi. 
Làm như vậy, Tiên Dung có thể trốn đi, mà Ngọc Hoa cũng không bị trách phạt. Kế này quả thực rất khôn ngoan, rất chu đáo, rất Ngọc Hoa. 
“Đã canh hai rồi, chị thay váy áo đi. Tốt nhất là khi trời sáng chị đã ngồi thuyền đi được một quãng xa rồi. Đừng để binh lính của cha đuổi kịp.” 
Nhưng Tiên Dung cứ tần ngần đứng đó. Nàng không biết nói gì, chỉ thấy sống mũi cay cay. Mặc dù tính cách trái ngược, nhưng từ nhỏ nàng và Ngọc Hoa vẫn luôn yêu thương nhau, chỉ là cách thể hiện không giống như chị em những nhà khác. Ngọc Hoa ít nói nhưng luôn ngầm bênh vực Tiên Dung, ngược lại, Tiên Dung có gì cũng mang về chia cho em gái. Mẹ mất sớm nên hai chị em lại càng bao bọc lẫn nhau, khăng khít như thể tay chân vậy.  
“Kìa, chị nhanh lên kẻo không kịp.” Ngọc Hoa lên tiếng giục. 
Tiên Dung chần chừ hồi lâu, mới cầm lấy tay Ngọc Hoa, nhỏ giọng nói, “Cảm ơn em.”
Ngọc Hoa theo phản xạ muốn rút tay lại, nhưng nghĩ thế nào lại thôi. Nàng ngượng nghịu đưa tay kia lên gài một lọn tóc của Tiên Dung ra sau tai, nhẹ nhàng nói, “Chuẩn bị đi thôi.” 
Lúc hai nàng đổi xong váy áo, Ngọc Hoa lại đưa cho Tiên Dung một chiếc vòng tay, “Đây là Dạ Minh Châu, có thể sáng lên trong tối, chắc sẽ có lúc chị cần đến. Chị đeo vào tay đi, đừng để mất.” 
Tiên Dung nghe theo, đem vòng đeo vào cổ tay, mang lên mạng che mặt, ôm tay nải vào lòng. Nàng không thể chần chừ thêm nữa. Nàng hít sâu một hơi, rồi đẩy cửa bước ra ngoài. 
Kinh đô Phong Châu là nơi ba ngọn núi quay về, ba con sông tụ lại. Ba ngọn núi ấy là núi Nghĩa Lĩnh, núi Tam Đảo, núi Thanh Sơn. Ba con sông là sông Lô, sông Đà, sông Hồng. Chỗ dòng chảy của ba con sông gặp nhau có một doi đất dài, vừa khéo làm thành một bến cảng tự nhiên, gọi là Bến Gót. Cả Văn Lang không có nơi nào tấp nập bằng nơi đây. Trên bờ, những khu đổi chác chen chúc nhau phủ kín cả chục mẫu đường, người đến kẻ đi đông nghịt. Dưới nước, thuyền bè theo sông Đà phía Tây, sông Lô phía Đông, hay sông Hồng phía Nam nườm nượp đổ về. Mỗi con sông có tám làn thuyền – bốn làn xuôi xuống hạ lưu, bốn làn ngược lên thượng nguồn. Bến Gót chính là ngã ba sông, hai mươi tư làn thuyền đan xen vào nhau như mắc cửi. 
Mặc dù người đông thuyền nhiều, tắc sông như cơm bữa, nhưng ở Bến Gót rất ít khi xảy ra hỗn loạn. Đó là vì nơi này cách Lâu Thượng không xa cho nên được trông coi rất nghiêm ngặt. Các khúc sông quanh Bến Gót luôn luôn có binh lính chèo thuyền nhỏ đi tuần để giải tỏa ách tắc, xử lý va chạm. Thật ra thì phần lớn thì giờ họ chẳng cần làm gì cả, chỉ cần có bóng dáng của họ là đã đủ giữ trật tự rồi, giống như trong nhà chỉ cần có tiếng mèo kêu là đã dọa cho chuột không dám đến vậy. Dù là người Phong Châu hay đồng bào từ nơi khác đến, hễ nhìn thấy bóng áo màu vỏ hồng của binh lính tuần sông là ai nấy đều ngoan ngoãn đi chậm lại, phất cờ xin sang sông đầy đủ, không dám sơ suất gì.  
Đêm nay, thuyền bè qua lại Bến Gót còn cẩn thận từ tốn hơn mọi ngày, bởi vì đâu đâu cũng thấy bóng áo màu vỏ hồng kia. Lính tuần quanh ngã ba sông đêm nay có khi nhiều gấp ba bốn lần ngày thường. Trên bờ, dưới sông, khắp các cửa ngõ ra vào dường như đều có binh lính theo dõi. 
Từ trên một chạc cây cách đó không xa, Tiên Dung nhìn cảnh này, cảm thấy rất đau đầu. 
Mặc dù đã giả dạng làm Ngọc Hoa, nàng cũng không hề dễ dàng gì mới ra được khỏi Lâu Hạ. Chỉ đi có mấy trăm bước chân từ tòa Đông Lâu Hạ ra đến cổng, nàng không những phải bắt chước dáng điệu thướt tha của Ngọc Hoa, giọng nói trang nhã của Ngọc Hoa, mà còn năm lần bảy lượt phải giải thích vì sao nửa đêm nửa hôm Mị nương lại muốn ra ngoài (“ta không ngủ được, ngửi thấy mùi hoa bưởi đầu mùa, muốn ra ngoài hái về ướp chè cho cha ta.”). Cả đời nàng chưa bao giờ đi mấy trăm bước chân mà phải tốn nhiều sức lực và thì giờ đến thế. Ra đến bên ngoài, nàng lập tức tìm một chỗ kín đáo, thay trở lại quần áo của mình. Nàng vốn đã định bỏ lại bộ váy áo của Ngọc Hoa, rồi nghĩ thế nào lại gói vào tay nải mang đi cùng. 
Sau đó nàng men theo bờ sông để ra Bến Gót, vừa đi vừa phải trốn lính tuần. Ai ngờ ra đến nơi lại gặp tình cảnh này. Nơi nơi đều bị canh giữ nghiêm ngặt, xem ra nàng không thể ngồi thuyền rời khỏi Phong Châu được. 
Không ngồi thuyền thì làm sao ra biển đây? Văn Lang sống dựa vào nước, mọi việc đi lại, đổi chác đều ở trên sông. Tiên Dung đã từng nghe nói đến đường bộ, có nước láng giềng đi lại kiểu này – họ phạt rừng, làm đường trên mặt đất, rồi đi bộ hay cưỡi voi, cưỡi ngựa từ nơi này đến nơi khác. Nàng cũng đã từng cưỡi voi lên núi Tản một lần, cảm thấy kiểu giao thông này không ổn. Đi đường bộ vừa chậm lại vừa xóc nảy, nếu có sông chảy tới nơi thì chẳng ai lại chọn đi trên bộ. Ví dụ như, từ Phong Châu ra biển Đông, nếu ngồi thuyền có lẽ chỉ mất dăm ba ngày, nhưng nếu đi đường rừng thì phải mất đến cả tháng! 
Nàng đang có việc gấp trong người, càng không thể đi đường bộ được. 
Tiên Dung đau khổ nhìn dòng thuyền ra ra vào vào Bến Gót. Không thể tưởng tượng được, nàng đã từng rong ruổi khắp các hang cùng ngõ hẻm của Phong Châu, vậy mà bây giờ ngay cả Bến Gót cũng không vào được. 
Từ từ đã, hang cùng ngõ hẻm?
Nàng nhìn về phía Đông. Bên kia sông Lô là một khoảng tối đen, chỉ có mấy ánh đuốc mờ mờ. Nhưng trong mắt Tiên Dung thì đấy là cả một vùng trời đầy ánh sáng, là lối thoát của nàng!
Nàng tuột xuống khỏi chạc cây, tìm đường đi về phía chợ Bạch Hạc.