Cuộn “Cẩm nang du lịch Phong Châu” nói về chợ Bạch Hạc như thế này: “Chỉ cách Bến Gót một con sông nhưng chợ Bạch Hạc lại mang một hơi thở rất riêng. Chợ này chuyên cung cấp những thứ mà ta hay gọi là ‘ngoài luồng.’ Mỗi ngõ ngách ở đây đều ẩn chứa bất ngờ, tạo nên một không khí đầy hồi hộp và kích thích. Đồng bào Bạch Hạc dễ xúc động, khi nói chuyện với nhau, người ta hay nhắc đến tình cảm gần gũi giữa người nói và mẹ của người nghe.”
 Nói thẳng ra, Bạch Hạc là chợ đen nức tiếng của Phong Châu. Nơi này ở “ngoài luồng,” luật lệ duy nhất chính là chỉ cần chìa ra chút đồng xứng đáng và chấp nhận một chút rủi ro thì việc gì cũng thu xếp được. Tỉ như việc làm sao đi từ Phong Châu ra biển mà không cần vào Bến Gót chẳng hạn. 
Vì thế, đầu khắc một hôm đó, Tiên Dung lần đầu tiên đặt chân đến chợ đen Bạch Hạc. 
Chưa bước chân vào chợ nàng đã nghe thấy tiếng mặc cả lẫn tiếng chửi bới ầm ĩ. Trời mới tang tảng sáng, trong chợ đã không ít người trao kẻ đổi. Một dãy những lán hàng xiêu vẹo san sát nhau, bày la liệt đủ thứ: nồi vỡ, bát sứt, nỏ đứt dây, cày mất lưỡi. Những thứ lành lặn như vòng tay hay trâm cài tóc thì ba phần là đồ giả, bảy phần là đồ ăn cắp. Theo những lối đi nhỏ hẹp ngoằn ngoèo vào sâu trong chợ sẽ thấy cả sừng tê giác, ngà voi, vảy tê tê — những thứ đã bị cấm trao đổi ở Văn Lang từ lâu. Xó xỉnh nào cũng có mấy gã bặm trợn đứng hút thuốc, mùi khói tài mà nồng nặc khắp chợ. 
Đúng như lời đồn, chợ Bạch Hạc tối tăm, bẩn thỉu, hôi hám, ầm ĩ, đủ các loại người.
Tiên Dung thì lại cảm thấy nơi này khá là hay ho mới lạ, giống như một bảo tàng trưng bày đồ phi pháp vậy, toàn những thứ nàng chưa thấy bao giờ. Chợ Bạch Hạc trong mắt nàng cũng không hề đáng sợ như lời đồn. Thứ nhất, nàng không lo cướp giật móc túi — từ lúc vào chợ nàng đã mấy lần gặp vở chèo cũ rích là giả vờ xô đẩy để tranh thủ chôm đồ, nhưng trò vặt này thì có là gì so với độ nhanh tay nhanh mắt của người luyện nỏ nhiều năm. Thứ hai, nàng không định đổi chác đồ đạc gì quý báu, mà kể cả có đổi thì cũng không sợ bị lừa phải đồ giả — dù sao nàng cũng là Mị châu, chút hiểu biết về đồ quý thì vẫn có. Thứ ba, võ nghệ của nàng không tồi, trên người còn mang theo nỏ, nếu có gặp phải côn đồ thì từ năm tên trở xuống nàng chắc chắn đối phó được. 
Thế là Tiên Dung cứ thoải mái dạo quanh chợ đen Bạch Hạc, tò mò ngắm nghía hết cái này cái kia. Lúc nàng đang đứng trước một lán hàng ngó nghiêng mấy thứ thuốc cấm — cỏ tài mà, hạt kỳ nham, hoa vuốt hùm linh tinh gì đó,  thì cảm giác có người chạm vào vai mình. Nàng theo phản xạ khoát tay xoay người, đem cánh tay hắn khóa lại. Mới chỉ có thế, tên trộm kia đã kêu oai oái, “Đau đau đau đau quá! Đồng đồng đồng bào này, có có có có gì từ từ nói, đừng đừng đừng nóng nảy!” 
Tiên Dung giữ nguyên thế khóa tay, chỉ giật nhẹ một cái cho hắn quay lưng về phía mình, vừa làm vừa giảng giải, “Ta bảo này đồng bào, động tác sai rồi. Cần phải đứng chếch sang bên trái như thế này, rồi vỗ vai phải như thế này, ngay lúc người ta ngoái sang phải thì giật đồ rồi chạy.” Nàng giơ lên ba mảnh đồng vừa rút ra từ trong túi hắn. 
Tên kia xanh mặt, muốn giãy ra nhưng tay vẫn bị nàng khóa chặt, đành chỉ lắc đầu như trống bỏi, “Ngài ngài ngài thả tôi ra với, tôi không không không không phải móc túi.”
“Không không không không phải là phải hay là không phải?” Tiên Dung vừa cười vừa nhại lại.
“Thật thật thật đấy!” Hắn lại lắp bắp. “Tôi chỉ đang kiếm kiếm, kiếm đủ khách để bay, bay bay chuyến tới. Thấy ngài, ngài ngài mang tay nải, tôi mới mới mới đến mời.” 
Tiên Dung liền ngừng cười, hỏi lại hắn, “Ngươi vừa nói, bay?”
“Đúng đúng, đúng thế! Bay đại, đại bàng. Tốc độ nhanh, dịch vụ tốt, giá yêu thương.” 
Câu cuối cùng hắn nói hoàn toàn trơn tru, chẳng vấp từ nào, nhưng Tiên Dung chỉ để ý đến mấy từ trước đó: bay đại bàng.
Người Văn Lang là con Rồng cháu Tiên, thời xưa vốn rất giỏi hai việc, một là bơi dưới nước, hai là bay trên trời. Tất nhiên người bình thường thì không thể bay, cái gọi là “bay trên trời” chỉ là lợi dụng các loài chim lớn mà bay từ nơi này đến nơi khác. Những loài chim lớn đủ sức mang người bay lên trời thì thường rất hung dữ, không thể thuần hóa, muốn cưỡi được chúng cũng là cả một ngón nghề. Một việc vừa khó vừa nguy hiểm như vậy nên càng ngày càng ít người biết làm (ai nấy đều đổi sang bơi thuyền cả, đơn giản lại an toàn), lâu dần ngón nghề này mai một đi rồi trở thành sở thích riêng của mấy kẻ ưa mạo hiểm. Mặc dù ít người chơi, nhưng năm nào cũng có người chết vì “thú vui” này. Cuối cùng, hai trăm năm trước, việc bay bằng chim đã bị cấm hoàn toàn. 
Quả đúng là chợ Bạch Hạc, một việc đã bị cấm hai trăm năm mà ở đây vẫn cung cấp, lại còn dịch vụ tốt giá yêu thương. 
Tên cò mồi nói lắp đưa Tiên Dung tới một gian lán khá rộng so với các gian xung quanh trong chợ. Chỗ này trông như là mấy gian gộp lại làm một, mỗi góc lại có một nhóm người túm năm tụm ba, hút thuốc, uống nước, trông có vẻ như đang chờ đợi gì đó. Tay nải, thúng mủng, quang gánh chất ngổn ngang quanh lán. Tên nói lắp giới thiệu với Tiên Dung, “Đây là trụ, trụ sở của chúng tôi. Mỗi, mỗi quầy nhận khách cho một đường, đường bay. Ngài muốn, muốn đi đâu ạ?”
“Biển Đông.” 
“Cái, cái này…” Tên nói lắp ngần ngừ, “Điểm đến này hình, hình như hơi, hơi to ạ. Ngài cụ, cụ cụ…”
“Ra bờ biển gần nhất là được.” Tiên Dung ngắt lời. Nàng sợ nếu cứ để hắn lắp bắp tiếp thì các cụ nhà mình sẽ bị gọi dậy hết mất.
“À vâng vâng vâng. Vậy mời, mời ngài đi phía này.” 
Hắn dẫn nàng đến một góc lán, chỗ đấy có kê hai cái ghế đẩu, mà một trong hai cái đã có người ngồi. Đó là một gã béo lùn đứng tuổi đang ngủ gà ngủ gật. Tên nói lắp lay gã dậy, “Bác Chí, dậy dậy dậy, có khách.” 
Gã to béo tên Chí kia lờ đờ tỉnh dậy, lấy tay quệt nước dãi, nhưng vừa nhìn thấy Tiên Dung thì hai mắt liền tỏa sáng, đon đả mời, “Quý hóa quý hóa, mời ngài ngồi. Chẳng hay ngài đây là cần đi đâu nhỉ?”
Tiên Dung nghi hoặc nhìn tên nói lắp. Hắn vừa mới bảo mỗi quầy là một đường bay kia mà, gã này còn hỏi nàng đi đâu làm gì? Không đợi nàng mở miệng, tên nói lắp đã xen vào, “Ngài đây muốn, muốn đi Lục Hải. Chẳng lẽ bác còn, còn đổi vé chỗ khác nữa, nữa à?”
“À phải phải, đi Lục Hải.” Gã to béo cười hì hì sửa lời. “Ngài thông cảm, tôi vừa mới ngủ dậy còn chưa tỉnh hẳn. Lục Hải hai ngày có một chuyến, xin hỏi ngài muốn bay hôm nay hay đợi tới ngày kia?”
“Hôm nay.”
“Xong ngay!” Gã Chí lôi từ sau lưng ra một cái mủng, lục lấy một sợi dây, rồi hỏi Tiên Dung, “Chuyến bay một chiều từ Phong Châu đến Lục Hải, cất cánh vào khắc bốn điểm một hôm nay, hạ cánh vào khắc sáu điểm ba ngày mai. Ngài đi một người hay mấy người?”
“Một người.”
“Một người.” Gã Chí thắt vài nút trên sợi dây. “Hãng chúng tôi có ba loại chim, hạng Cò, hạng Diệc, hạng Đại bàng. Vé hạng Cò giá một lá đồng bao gồm các dịch vụ cơ bản. Vé hạng Diệc giá ba lá đồng, gồm dịch vụ cơ bản kèm nước uống và chỗ ngồi rộng chân. Vé hạng Đại bàng giá năm lá đồng gồm dịch vụ cao cấp, kèm nước uống, bữa ăn nhẹ, lưng đại bàng vừa rộng vừa êm có thể nằm ngả ra rất thoải mái. Xin hỏi ngài muốn bay hạng nào?”
“Đại bàng.” Tiên Dung đáp luôn, không cần nghĩ ngợi gì.  
“Khách quý khách quý!” Gã Chí mửng rỡ, tay thắt thêm vài nút. “Kích thước hành lý miễn phí tối đa là một túi ba gang, cân nặng không quá một yến. Xin hỏi ngài có cần mua thêm hành lý không ạ?”
“Không cần, ta chỉ có một tay nải này.” 
“Ngài hẳn là thường xuyên đi đây đó, hành lý thực gọn nhẹ. Chúng tôi còn cung cấp dịch vụ bảo hiểm chuyến đi, chỉ cần thêm một mảnh đồng, chuyến bay của ngài sẽ được bảo hiểm đầy đủ. Trong trường hợp chuyến bay bị hủy do chim ốm hay thời tiết xấu, hoặc ngài có việc riêng phải đổi chuyến bay, hoặc hành lý của ngài bị thất lạc thì ngài sẽ được hoàn đồng và đền bù mười phần đầy đủ. Xin hỏi ngài có muốn thêm dịch vụ bảo hiểm chuyến đi không ạ?”
“Bỏ qua đi.” 
Tiên Dung bắt đầu cảm thấy ù tai và mất kiên nhẫn với màn chào hàng ra rả này. Cũng may, gã đã gần lải nhải xong. “Một vé một chiều từ Phong Châu đến Lục Hải, cất cánh trưa nay vào khắc bốn điểm một, hạ cánh chiều mai vào khắc sáu điểm ba, hạng Đại bàng, giá năm lá đồng, trả trước một nửa, nửa còn lại trả sau khi đến nơi.” 
Tiên Dung lấy đồng trong tay nải ra đưa cho gã.  Nhận đồng của nàng xong, gã thắt một nút kết, đưa cho nàng sợi dây rồi dặn, “Đây là vé của ngài. Chuyến bay cất cánh vào khắc bốn điểm một. Mời ngài đúng khắc ba điểm ba có mặt ở đây, chúng tôi sẽ  đưa ngài ra sân chim.”
Khắc bốn điểm một chính là giữa trưa. Tiên Dung nhìn trời, ước chừng bây giờ còn chưa đến giữa khắc hai. Nàng bèn đi tìm chút đồ ăn lót dạ rồi trở lại gian lán “trụ sở đổi vé bay” kia. Hai gã ban nãy đều không ở đó, hẳn là đi chuẩn bị chuyến bay. Nàng ngồi xuống ghế, mệt mỏi tựa vào tường. Cả đêm hôm qua nàng không hề chợp mắt, bây giờ rất muốn ngủ, nhưng lại sợ ngủ quên lỡ mất chuyến bay. 
Mình chỉ nhắm mắt lại một lúc thôi. Nàng tự nhủ, rồi thiếp đi.
Chưa được bao lâu, nàng đã bị tiếng ồn ào xung quanh đánh thức. 
“Hẹn khắc ba mà bây giờ tận trưa rồi mới đến lấy hàng. Bọn tao là triệu xứng của mày à? Trả thêm công chờ đây.” 
Trưa… Trưa nay mình có việc gì thì phải… 
“Ai khiến chúng mày đến sớm? Tao đã bảo tầm khắc ba tao đến lấy, giờ vẫn là khắc ba điểm năm, muộn đâu mà muộn.” 
Khắc ba điểm năm rồi à… Gã Chí hẹn khắc ba điểm ba đến đưa mình ra sân chim. 
Tiên Dung choàng tỉnh. Đập vào mắt nàng là một đám người lố nhố đang chực lao vào đánh nhau. 
“Cái thằng này già mồm! Mặt trời đứng bóng đến nơi rồi còn kêu chưa muộn! Trả thêm công đây không thì bố mày cho ăn đòn!” Một gã hô lên. Tiên Dung nhận ra đây là đám người ngồi chờ trong lán từ sáng cùng tay nải và thúng mủng. 
“Đánh thì đánh, bố sợ chúng mày à?” Một gã khác quát lại. Gã này dẫn theo một nhóm lạ mặt, xem chừng là mới đến. Hai bên lời qua tiếng lại rồi lao vào đánh đấm túi bụi. Nhưng Tiên Dung không có thì giờ xem trò vui, nàng sắp đến giờ bay rồi. Nàng túm một người đang vây xem đánh nhau, hỏi, “Đồng bào này, ban nãy chị có thấy hai người đổi vé bay chim đến đây tìm ta không?”
Chị gái này nhìn Tiên Dung như thể nàng vừa từ trên trời rơi xuống, “Hai người nào? Cô mê ngủ à?”
“Chính là hai gã ngồi ở đây sáng nay, một gã gầy gò nói lắp, gã kia tầm hơn ba mươi, người to béo. Bọn họ hẹn đến khắc ba điểm ba quay lại đón ta ra sân chim.” Tiên Dung giải thích. 
Chị gái nọ lại nhìn Tiên Dung từ trên xuống dưới, rồi lại hỏi, “Cô đưa đồng cho bọn họ rồi à?”
“Ta đã đưa hai lá hai mảnh để trả trước một nửa rồi. Nửa kia bọn họ hẹn đến nơi trả nốt.”
Bây giờ thì chị gái nọ nhìn Tiên Dung bằng ánh mắt thương hại, “Hiểu rồi. Cô bị lừa rồi gái ạ.” 
Tiên Dung ngây ra. Nàng mà bị lừa?
“Bọn chúng cầm đồng của cô lỉnh đi rồi. Sân chim bị giải tán từ hai trăm năm trước rồi, ở Văn Lang này có ai bay chim nữa đâu. Cô là người ở đâu mới đến à?”
“Không phải.” Tiên Dung ngắt lời. “Bọn họ bảo đây là trụ sở, mỗi quầy đổi vé cho một chặng bay mà. Kia còn có mấy người mang tay nải thúng mủng ngồi chờ bay ở đây từ sáng nữa.”
“Lấy đâu ra. Chỗ này chỉ là một gian lán cũ không ai dùng, bọn lưu manh khuân vác lấy làm chỗ giao hàng thôi. Cô nhìn xem, hôm nay chúng nó lại đánh nhau loạn lên kia kìa.” Chị gái nọ chỉ về phía đám đánh nhau, rồi tặc lưỡi. “Khổ thân cô, vừa đến đã bị lừa rồi. Hai lá hai mảnh đồng chứ có ít đâu. Chỗ đấy đủ ngồi thuyền đi mấy trăm dặm rồi ấy. Chị trông cô cũng là người dư dả, sao không ra Bến Gót mà đi thuyền cho đàng hoàng. Chị bảo thật, cô ra ngoài kia tìm thuyền đi, lơ ngơ như cô ở trong chợ này thêm một lúc lại chả bị lừa cho trắng tay luôn ấy.” 
Rồi chị gái nọ sấn vào đám đông xem đánh nhau, bỏ lại Tiên Dung sững sờ trước một sự thật khó tin: Nàng đã bị lừa. 
Quán rượu Bồ Sao ở phía Nam Bạch Hạc không chỉ có bán mỗi rượu. Đây là nơi tiêu đồng của dân Bạch Hạc — rượu, tài mà, vật nhau, chọi gà, cá cược, con hát, đủ loại thú vui. Quán chiếm hẳn vài sào đất nhưng lại không hề có cửa sổ, bên trong ngày cũng như đêm lúc nào cũng tối tăm, không nhìn rõ mặt người. Bước vào quán, mắt nhìn có thể tù mù, nhưng bù lại đủ thứ âm thanh mùi vị sẽ xộc thẳng vào tai vào mũi. Tiếng hò hét chửi rủa lẫn với tiếng đàn ca sáo nhị lả lơi, mùi rượu lẫn với mùi khói tài mà, kẻ nằm người ngồi ngổn ngang.  
Gã Chí ngồi ở một cái bàn con uống rượu với mấy thằng em của gã. Chẳng mấy khi gã kiếm được một món hời to như thế, đương nhiên phải uống rượu mừng, mà càng đương nhiên là phải mời anh em một bữa rượu cho oai. Hôm nay hẳn là ngày tốt, gã vừa ra cửa gặp ngay một con gà mờ, vừa giàu vừa ngớ ngẩn, gã chỉ cần nói vài câu là cứ thế chìa đồng ra cho gã. 
“Nào nào, cạn chén! Mấy thằng này to con mà uống chậm rì rì. Đã bảo là thoải mái đi, hôm nay anh bao hết!” 
Gã giục bọn đàn em rồi nâng chén lên. Nhưng còn chưa kịp đưa lên mồm thì một thứ gì xé gió lao thẳng vào cái chén trong tay gã. Cái chén vỡ tan thành từng mảnh, rượu bắn tung tóe. Gã Chí ôm đầu ngồi thụp xuống, vừa vặn nhìn thấy thứ vừa bắn vỡ chén rượu rơi cạnh chân bàn. Đấy là một mũi tên đồng chỉ dài bằng gang tay nhưng sắc nhọn đến lạnh người. Vừa rồi nếu nó chỉ lệch đi nửa tấc thì thứ trúng tên không phải chén rượu mà là cái đầu gã. 
Nghĩ thế, gã lại càng run lẩy bẩy, một hồi lâu sau mới dám hé mắt nhìn qua kẽ tay, thì liền thấy một cây nỏ sáng loáng đang chĩa thẳng vào mặt mình. Lão chẳng dám ngẩng lên nhìn xem là ai, chỉ bò ra đất mà gào lên, “Xin ngài tha mạng! Xin ngài tha mạng!” 
Người kia kéo ghế ngồi xuống trước mặt gã, lên tiếng, “Đồng bào này, ta muộn giờ bay rồi, phải làm sao đây nhỉ?”
Nghe giọng nói có hơi quen tai, gã Chí run rẩy ngẩng lên nhìn, thì thấy… 
Đây chính là con gà mờ vừa giàu vừa ngớ ngẩn mà gã lừa được sáng nay! 
Con gà mờ này vừa suýt chút nữa thì bắn thủng đầu gã!
Hai đầu gối gã mềm nhũn ra, lại bò rạp ra đất, lập cập van xin, “Là tôi ngu đần! Có mắt như mù! Lần sau tôi không dám nữa! Xin ngài tha cho tôi một lần này!” 
“Nói dễ nghe nhỉ!” Cô gái kia nghiến răng quát. “Ta chờ ngươi nửa ngày, rồi lại đi tìm ngươi nửa ngày, mất bao nhiêu thì giờ! Đến bố mẹ thân sinh ra ngươi mà gặp cảnh này cũng phải nọc ra mà đánh cho một trận. Ngươi còn dám mở mồm xin ta tha cho?” 
Gã Chí nghe thấy “đánh cho một trận” thì run rẩy đến mức như co giật, vội vàng lấy túi đồng trong người ra, hai tay lẩy bẩy dâng lên, “Đây là đồng của ngài, một phân cũng không thiếu! Xin ngài tha cho tôi một lần này thôi!” 
Cô gái kia tóm lấy túi đồng, vứt lên mặt bàn, “Muốn được tha thì các ngươi liệu hồn tìm cách cho ta ra khỏi Phong Châu, ngay trong đêm nay!”
Gã Chí mếu máo, “Cái này thì tôi thực sự không làm được! Sân chim bị giải tán từ lâu lắm rồi. Chi bằng ngài chờ đến sáng rồi đi thuyền đi? Hay là thuê một con voi, cưỡi đường rừng? Tôi xem ngài cũng không thiếu đồng…”
Ầm một tiếng, là cô gái kia vừa đập túi đồng xuống bàn. “Lắm lời! Ta mà đi thuyền hay cưỡi voi được thì đã không vào đây.” 
“À phải phải.” Gã Chí vội vã rút lời. “Nhưng mà tôi thực sự không biết cách nào. Thật đấy! Xin ngài tha cho tôi đi mà!” 
“Ngươi không biết cách nào ư?” Cô gái hỏi lại, đoạn, lấy một mũi tên từ từ tra vào nỏ, lại từ từ lên dây, động tác rất là chăm chú, chậm rãi, ánh mắt hoàn toàn đặt vào cây nỏ, nhưng mấy kẻ bò trên đất xung quanh đều cảm thấy mũi tên đồng kia sắp găm vào người mình. Đúng lúc này thì thằng Kê, thằng cháu nói lắp của gã, chắc là vì sợ quá mà ú ớ ra tiếng. 
“Bẩm bẩm, bẩm ngài, ở bãi Nam vẫn có, có người gọi đại bàng đến để bay, chỉ, chỉ là…”
Không để nó nói hết câu, gã Chí như vớ được cọng rơm cứu mạng, lập tức xen vào, “Đúng thế! Sao tôi lại không nghĩ ra! Để tôi dẫn ngài ra bãi Nam.” 
Bãi Nam chỉ là một khu đất trống cách quán Bồ Sao không xa, xem chừng bỏ hoang đã lâu, cỏ dại mọc đầy. Tiên Dung cầm nỏ trong tay, đầy cảnh giác nhìn gã Chí và mấy tên đồng bọn lúi húi lôi mấy bao tải lớn đến, rồi mở ra, đổ thứ trong bao ra đầy đất. Một mùi chua chua ngọt ngọt dễ chịu dậy lên trong không khí ban đêm, ngửi thấy mà muốn ứa nước bọt. 
“Đây là… khế à?” Tiên Dung nghi hoặc hỏi. 
“Đúng thế đúng thế! Người ở đây vẫn đồn là đại bàng thích ăn khế, thấy mùi khế nó sẽ bay tới. Đến lúc đó ngài tìm cách leo lên lưng nó, lúc nó bay đi sẽ mang ngài theo.” Gã Chí liến láu một hồi, chẳng khác gì hồi sáng lúc gã lừa nàng đổi thứ “vé” kia.
“Ngươi tưởng ta đần à? Đại bàng là giống ăn thịt.” Tiên Dung quát. 
Gã Chí lúc này sợ nàng hơn rất nhiều, chỉ cần nghe nàng cao giọng là đã rúm ró cả lại. Gã cuống quýt ôm đầu thanh minh, “Tôi thật là nghe người ta đồn thế! Tôi không dám nói điêu!” 
Đến lúc này, Tiên Dung thật sự đã hết kiên nhẫn. Nàng chỉ muốn đánh cho bọn lừa đảo này một trận, rồi sáng mai tìm cách trốn lên một chiếc thuyền nào đó cho rồi. Nhưng ngay lúc đó, một thứ gì bỗng nhiên sà xuống ngay đống khế chín vàng, làm cả nàng lẫn mấy tên đứng ở đó đều ngây ra choáng váng. 
Toàn thân con vật này bao phủ một thứ lông vũ màu sắc kì lạ, Tiên Dung nhìn một hồi vẫn không thể nghĩ ra được đây gọi là màu gì. Có chút màu vàng như khế, có chút màu xanh như cỏ, lại có chút màu đen như đêm. Mảnh đất chỗ nó đậu xuống trông giống như có một làn nước chảy qua — vẫn màu sắc ấy, vẫn hình dáng ấy, chỉ là có vẻ gợn sóng lấp lánh. 
Nàng giật mình nhận ra, đây vốn không phải là màu lông vũ của con chim này, mà là màu của những thứ xung quanh nó. Bảo sao một con đại bàng lớn như vậy mà trước lúc nó sà xuống, không ai nhìn thấy. Đến khi nhìn rõ rồi, ai nấy đều bị kích cỡ của nó làm cho hoảng sợ. 
Trong ấn tượng của Tiên Dung, đại bàng cỡ một sải tay đã là lớn hiếm thấy. Thế nhưng, con vật vừa sà xuống ăn khế trước mặt nàng, từ đầu đến đuôi có lẽ phải gấp đôi như vậy, rộng không kém gì lưng voi. Đôi cánh xuôi xuống bên thân, mỗi bên cánh rộng như một tán cây, phủ đầy thứ lông vũ kì lạ như có như không kia. Một mảnh trăng náu đêm tháng Hai chiếu xuống chút ánh sáng mờ ảo, làm cho lớp lông vũ kia càng lóng lánh như nước. 
Tiên Dung nhìn đến mê mẩn. Mắt thấy nàng toan bước về phía trước, gã Chí từ nãy giờ vẫn đang trốn chui trốn nhủi cũng đành lồm cồm bò dậy, dúi cho nàng một cuộn dây lớn, “Đây là dây cương của ngài. Tôi nghe nói, chỉ là nghe nói thôi nhé, cưỡi con này giống như cưỡi voi thôi, ngài cứ giục hướng nào nó sẽ bay theo hướng đó, muốn đi nhanh đi chậm tùy ngài!”
Tiên Dung cầm cuộn dây, nhẹ bước về phía con đại bàng lớn vẫn đang mải mê ăn khế. 
Nàng không lén lút nhảy lên lưng chim. Ai đã từng cưỡi bất cứ con vật nào cũng đều biết, không thể bất thình lình nhảy lên lưng chúng được. Cũng không thể làm chúng giật mình. Nàng nhặt một quả khế, bước đến trước mặt đại bàng, khoảng cách còn hai sải tay thì dừng lại, chìa quả khế trong tay ra. 
Đại bàng ngẩng đầu nhìn nàng, rồi từ từ lại gần, mổ quả khế trong tay nàng. Nuốt xong quả khế, nó lại dụi đầu vào tay nàng, giống như muốn xin thêm. 
Nàng cho đại bàng thêm một quả nữa, rồi chìa cuộn dây cương trong tay ra. Dường như hiểu ý, đại bàng cúi người xuống trước mặt nàng. Tiên Dung tròng dây cương lên cổ chim rồi leo lên lưng nó. Nàng hít một hơi sâu, rồi giục cương. 
Đại bàng sải cánh bay vút lên trời. 
Không có lấy đà, không có từ từ tăng tốc, chỉ chớp mắt Tiên Dung đã thấy mình đang ở trên trời. Nàng theo phản xạ túm chặt dây cương, nằm rạp người xuống. Gió đêm táp vào người nàng lạnh buốt. Cũng may, lông vũ của đại bàng rất dày, gần như làm thành một cái ổ nhỏ giữ ấm cho nàng. 
Dưới mặt đất, gã Chí cùng mấy tên đồng bọn đứng nhìn theo bóng đại bàng biến mất vào màu trời. Thằng Kê lúc này mới hoàn hồn, lắp bắp lên tiếng, “Bác, bác ơi, mình quên, quên bảo ngài ấy, những người bay bay, bay đại bàng, đều không không, không thấy trở lại.” 
Gã Chí nhìn thằng cháu mình, vẻ mặt hết chỗ nói, “Con bé ấy dữ như thế, mày còn mong nó trở lại làm gì? Ăn đòn chưa no à?”
Tiên Dung tất nhiên là không nghe thấy những lời này. Nàng giờ đã bay cao tít tắp. Nàng nhìn mảnh trăng náu treo giữa trời, rồi hướng đại bàng về phía nam mà bay. Đêm nay trời trong, từ đây nhìn xuống, nàng có thể thấy nhà cửa Phong Châu xếp nhau san sát, từ bờ sông trải tận vào bìa rừng. Nàng nhìn thấy mái nhà hình thuyền cao vút của tòa Lâu Thượng. Nàng nhìn thấy một mảng sáng choang ánh đuốc, là Bến Gót, dần dần lui lại phía dưới. Ngã ba sông cứ mờ dần rồi biến mất hẳn. 
Nàng đã ra khỏi Phong Châu. 
Đây là lần đầu Tiên Dung cưỡi đại bàng bay trên trời, cảm giác rất kì diệu, vừa sảng khoái lại vừa choáng ngợp. Chốc chốc nàng lại ngó xuống xem phong cảnh phía dưới. Mấy canh giờ đầu, khi trời còn tối, thỉnh thoảng khi đại bàng bay qua những bến sông hay làng mạc lớn, nàng có thể nhìn thấy ánh đuốc bên dưới làm thành một mảng lấp lánh. Đẹp hơn cả là lúc mặt trời mọc, bình minh nhuộm hồng cả bầu trời. 
Không thể không nói, Văn Lang của nàng thực đẹp! Tiên Dung bỗng nhiên nghĩ tới một câu ca dao: 
Đường đi xa lắm ai ơi, Nước non ngàn dặm, biển trời mênh mông Băng qua muôn chợ vạn rừng, Đại bàng một bóng vẫy vùng trời xanh. 
“Phập!”
Một mũi tên găm thẳng vào cánh đại bàng. 
Đầu mũi tên xuyên qua cánh chim, keng một cái va vào chiếc vòng Dạ Minh Châu, suýt chút nữa đã đâm vào cổ tay Tiên Dung. Nhưng lúc này Tiên Dung không có đầu óc nào mà lo cho cái cổ tay của mình. Đại bàng trúng tên, lập tức quay cuồng muốn rơi xuống đất. Tiên Dung ghì cương muốn giảm tốc độ rơi nhưng chỉ uổng công vô ích. Làm như vậy chỉ khiến đại bàng càng vùng vẫy muốn thoát khỏi dây cương, mà càng vùng vẫy, cả người lẫn chim càng rơi xuống nhanh hơn, cứ thế xé mây lao thẳng về phía mặt đất. 
Tiên Dung hoảng sợ, tim đập như trống dồn trong ngực. Hay là tìm cách rút mũi tên ra?
Nhưng nàng còn chưa kịp với tay ra, đại bàng đã hất Tiên Dung ra khỏi lưng mình. Nàng còn chưa kịp định thần, đã thấy mình rơi vào một khoảng lông vũ êm ái. Đại bàng đã lật mình, dang cánh ôm nàng vào trong lồng ức, dường như muốn bảo vệ nàng. 
Trời đất quay cuồng, xung quanh chỉ có tiếng gió rít ù ù, ước chừng họ vẫn đang rơi xuống rất nhanh. Tiên Dung nhắm mắt, phó mặc cho số phận. 
“Ầm!”
Tiên Dung nằm gọn trong vòng cánh đại bàng, cảm thấy một luồng lực cực lớn xô vào cơ thể mình, muốn bóp vụn tất cả xương khớp trên người nàng, vô cùng đau đớn. 
Sau này nhất định phải ra lệnh cấm săn đại bàng. 
Đây là suy nghĩ cuối cùng của nàng trước khi ngất đi. 
đọc tiếp