Khi Tiên Dung lên ba tuổi, cô bé leo lên nóc nhà. Làm thế nào cô bé lên được tít trên nóc nhà cao chót vót của tòa Lâu Hạ thì cho tới tận bây giờ vẫn không ai hiểu. Phỏng đoán nghe có lý nhất là cô bé leo lên cột cái, rồi lần theo các xà ngang lên mái. Chỉ có Tiên Dung biết rằng có một cách dễ hơn: trèo ra ngoài cửa sổ, bám vào diềm mái rồi đu lên. Người lớn nói chung là không giỏi tưởng tượng lắm. Khi phải đi tìm một bé gái ba tuổi, họ sẽ ngó xuống gầm giường, lục trong thùng gạo, hay là sục sạo ngoài vườn... Mãi mới có người nghĩ đến nóc nhà, nên lúc họ tìm ra Tiên Dung thì cô bé đã ngủ ngon lành. Mãi về sau người ta vẫn còn kể lại chuyện này, rằng họ đã hết hồn ra sao, rằng từ đó các cột nhà đều phải được bôi mỡ, rằng trò chơi leo cột mỡ là từ đây mà ra. Riêng Tiên Dung không nhớ gì cả, chỉ mang máng cảm thấy mình đã từng ngủ quên trên một chiếc thuyền lớn nào đó.
Khi Tiên Dung lên bảy tuổi, cô bé mê mẩn các con vật, nhất là những con mà phải vầy bùn và đào đất mới tìm được. Lúc đầu, khi Tiên Dung mang về những thứ be bé như ve sầu, dế trũi, thạch sùng, người lớn còn cười và cho cô bé vài cái lọ đất nung để bỏ vào chơi. Nhưng đến khi Tiên Dung tỏ ra thích thú với cóc, nhái, thằn lằn... thì họ bắt đầu nhăn mặt. Và khi cô bé thả một con rắn nhỏ vào chậu đồng hồ, làm cho người xảo xứng thay nước vứt cả thùng mà chạy (suốt một ngày đêm, cả Lâu Hạ không ai biết giờ giấc ra sao), thì họ nổi cáu. Đấy là lần đầu tiên Tiên Dung biết rằng "là Mị châu thì không được nghịch ngợm." Nhưng khi cô bé hỏi tại sao lại thế, thì chỉ được trả lời chung chung: "Vì Mị châu thì phải ra dáng." Vì không có ai giải thích rõ ràng, Tiên Dung thường lẫn lộn những thứ Mị châu phải làm với những thứ Mị châu không được làm, kết quả là cô bé tiếp tục làm những thứ Mị châu không được làm và không làm những thứ Mị châu phải làm.
Đến khi Tiên Dung tròn mười ba tuổi, cô bé đã cưỡi voi rong ruổi khắp Phong Châu. Cả voi lẫn người đều thích vầy bùn ở ven sông. Thường thì đây là một thú vui lành mạnh, trừ một đôi lần Tiên Dung mải vui để voi lăn phải vài chiếc bè gần đó. Cả voi lẫn người đều thích tới vườn hồng Hạc Trì hái quả ăn. Người lớn thường bảo Tiên Dung rằng ăn nhiều hoa quả là tốt, nhưng lại không ai nói rõ rằng ăn hết một nửa vườn hồng là hơi nhiều.
Thấy rằng Phong Châu cần một ít thì giờ để đóng lại bè, rào lại vườn hồng và lấp những ổ voi theo nghĩa đen trên đường, người lớn nghĩ ra một cách. Đợt đi săn mùa thu năm đó, họ mang Tiên Dung đi theo. Trong một tháng ấy, đồng bào Phong Châu chẳng có gì để kêu ca với nhau. Cả thành chỉ có mỗi một chuyện để bàn tán, đấy là đoán non đoán già xem đoàn đi săn xoay sở thế nào với Tiên Dung.
Thế nên khi thấy đoàn đi săn trở về, không những không tả tơi, mà còn có cái vẻ hào hứng của những người vừa nảy ra ý tưởng gì to tát mới mẻ, thì đồng bào Phong Châu lấy làm lạ lắm.
Cho đến khi họ nghe được tin rằng: Tiên Dung đã biết bắn nỏ.
Nghĩ mà xem! Một cô bé mười ba tuổi sẵn tính tò mò nghịch ngợm, suốt ngày cưỡi voi phá phách khắp nơi, thế mà ai lại còn nghĩ rằng đưa cho Tiên Dung một vũ khí quân sự có khả năng sát thương cao là một ý hay?
Người này tên là Cao Lỗ.
Chính là Cao Lỗ, bậc thầy chế tạo vũ khí của Văn Lang. Cao Lỗ, người đã làm ra những cây nỏ tiếng tăm lừng lẫy, khiến cho các nước láng giềng của Văn Lang đều phải kiêng dè. Cao Lỗ, Bồ chính thân cận nhất của Hùng Duệ Vương.
Thực ra việc Cao Lỗ dạy Tiên Dung tập nỏ cũng không phải là thiếu suy nghĩ, mà chỉ là cách suy nghĩ khác thường một chút. Tiên Dung là một đứa trẻ có quá nhiều năng lượng mà lại không có chỗ nào để dùng, đành phải nghịch ngợm lung tung. Khi biết bắn nỏ rồi, cô bé chỉ chăm chăm vào đó, tự nhiên lại đỡ phá phách hơn rất nhiều. Đúng là môn này có hơi sắc nhọn, nhưng tính ra, thiệt hại do nỏ gây ra thấp hơn nhiều so với việc cứ để cho cô bé cưỡi voi chạy lung tung khắp nơi.
Không những không còn chạy khắp nơi, từ đó trở đi, Tiên Dung hằng ngày đều đi theo Bồ chính Cao Lỗ để tập luyện. Ngài đi săn, Tiên Dung sẽ theo vào rừng bắn hươu nai. Ngài dong thuyền đi khắp các bộ tìm đồng sắt tạo mũi nỏ, Tiên Dung đi theo bắn cá. Ngài lên núi tìm tre nứa làm thân nỏ, Tiên Dung một bên bắn đại bàng. Cứ thế, từ năm mười ba tuổi, Tiên Dung trở thành học trò duy nhất của vị Bồ chính này. Tuy rằng cô bé không thích chế tạo nỏ, chỉ say mê tập bắn, nhưng bởi vì đi theo thầy nhiều năm, Tiên Dung cũng hiểu kha khá về các loại tên nỏ.
Là một Bồ chính, phần lớn thì giờ, Cao Lỗ ở doanh trại Cẩm Đội rèn binh, cho nên phần lớn thì giờ Tiên Dung cũng ở Cẩm Đội từ sáng đến tối. Cẩm Đội là doanh trại lớn nhất ở Phong Châu, cũng là nơi tập trung binh lính tinh nhuệ bảo vệ kinh đô. Tuy rằng là nơi các Bồ chính đứng đầu ra ra vào vào, Cẩm Đội trên hết vẫn là một doanh trại quân đội. Doanh trại quân đội thì thế nào? Sân tập, kho vũ khí, trường bắn, chuồng voi, lều lán cho Bồ chính và binh lính, tất thảy đều quy củ, cứng nhắc, khô khan. Dù gọn gàng ngăn nắp, nhưng nơi nào cũng đầy bụi đất, chỗ gần chuồng voi thì còn nồng nặc mùi voi. Nếu đem Cẩm Đội so với Lâu Hạ là nơi các Mị châu và Mị nương thường ở thì đúng là một trời một vực. Nhưng Tiên Dung lại cứ thích ở Cẩm Đội cơ! Suốt năm năm, thời gian nàng ở đây còn nhiều hơn ở Lâu Hạ, ngày ngày cùng đám binh lính lăn lê bò toài đến không ra hình dạng con gái, chứ đừng nói là ra dáng một Mị châu.
Còn về phần vì sao Hùng Duệ Vương biết rõ con gái cả của mình chỉ suốt ngày rong ruổi cùng tên nỏ chứ không chịu làm Mị châu cho đàng hoàng mà vẫn mắt nhắm mắt mở bỏ qua, thì là bởi ngài rất yên tâm về tương lai của con gái mình. Dù cho Tiên Dung có làm gì đi nữa thì Số của nàng đã định là nàng sẽ kết duyên với thần tiên. Nàng là người sẽ kế thừa ngôi báu, một khi nên vợ nên chồng với thần tiên, tương lai của nàng và của cả Văn Lang sẽ chẳng có gì phải lo lắng nữa.
Bởi vậy, Hùng Duệ Vương rất yên tâm. Tiên Dung gần mười tám tuổi, ngài cũng không hề gấp rút việc kén rể cho Mị châu. Ngài vô cùng cưng chiều con gái, Tiên Dung thích đi đâu, thích làm gì, Duệ Vương đều cho phép.
***
Bồ chính Cao Lỗ đứng bên hàng rào trường bắn Nỗ Lực, nhìn vào trong, lặng lẽ thở dài.
Bên trong trường bắn, một cô gái trẻ đang ngắm bắn bia xoay. Nàng mặc một chiếc áo chui đầu nhuộm chàm bạc phếch, tà áo vừa vặn dài đến đầu gối, thắt lưng buộc một sợi dây gai. Chân nàng đi giày cỏ nhuốm đầy bùn đất, tóc thì tết đuôi sam rồi vấn gọn quanh đầu. Gương mặt sáng ngời, lúc chăm chú ngắm bắn lại toát ra một vẻ nghiêm túc tương phản với hai má bầu bĩnh trẻ con. Nàng bắn rất khá, toàn bộ tên đều trúng bia, thậm chí còn có rất nhiều tên găm vào vòng chính giữa.
Suốt năm năm ngài đã nhìn cô gái này lớn lên, tự nhiên luôn coi nàng như con mình. Hôm nay tới nhìn nàng một cái, ngài lại thấy không yên lòng. Ngài sẽ không hối hận quyết định của mình, nhưng vẫn không khỏi lo lắng cho đứa học trò này.
Dường như cảm giác được có người đang nhìn mình, Tiên Dung quay đầu, phát hiện ra thầy mình. Nàng cười tươi rói, chạy về phía ngài.
“Thầy Cao! Thầy Cao! Thầy có thấy không, con bắn được bia xoay rồi!” Tiên Dung hớn hở khoe.
Cao Lỗ nhìn gương mặt đang tươi cười của học trò, bất giác cũng nhẹ cười theo, ân cần nói, “Ừ, thầy thấy rồi. Con bắn không tệ.”
Tiên Dung xụ mặt, “Như vậy mà thầy chỉ cho là không tệ. Thầy nhìn xem, hơn một nửa số tên là vào hồng tâm, số còn lại cũng đều trúng bia, dễ tính một chút đã có thể gọi là trăm phát trăm trúng rồi. Hôm nay gió lại to như vậy, bia cũng xoay vèo vèo, ngắm bắn đâu có dễ.”
Nàng vừa kể lể vừa trề môi, nhìn lại càng có vẻ trẻ con. Cao Lỗ cảm thấy cảm giác không đành lòng lại dâng lên, không để ý mà thở dài một hơi.
Tiên Dung chột dạ. Thầy thở dài là sao? Mình không bắn tệ đến thế chứ?
Nàng thu lại vẻ mặt làm nũng, lẩm bẩm nói, “Con biết rồi, con tập thêm là được. Đến rằm con chắc chắn sẽ bắn được tất cả vào hồng tâm.”
Đến rằm, Cao Lỗ nghĩ, lúc đó ta không ở đây để nhìn con bắn được bao nhiêu tên vào hồng tâm nữa rồi.
Ngài nén thở dài, nhìn Tiên Dung mà nhận xét, “Không phải thầy không muốn khen con, nhưng con phải xứng đáng thì mới được khen. Con xem con, bắn được bia xoay thì thế nào, lúc ra trận kẻ thù có đứng xoay một chỗ cho con bắn hết mặt trước đến mặt sau không?”
Tiên Dung nghẹn lời. Phép so sánh này thật là…hết chỗ nói. Bia xoay là để luyện nhanh tay nhanh mắt chứ đâu phải là để mô phỏng kẻ thù. Thầy thực sự là bậc thầy vũ khí hàng đầu của Văn Lang đó ạ?
“Thầy ơi,” nàng cười lấy lòng, “học trò của thầy luyện môn có độ khó cao thế này là chứng tỏ thầy cực kỳ giỏi, thầy phải hãnh diện lên chứ! Với lại, Văn Lang đã mấy nghìn năm không có chiến tranh, nào có kẻ thù để mà ngắm bắn đâu.”
Cao Lỗ nghiêm khắc nhìn nàng, “Mấy nghìn năm không có chiến tranh, không có nghĩa là sau này sẽ không có. Sau này con sẽ cai quản đất nước, không được nói những lời chủ quan như vậy.”
Tiên Dung ngậm miệng. Mấy từ “cai quản đất nước” này không phải là điềm lành, mỗi lần các bậc bề trên nhắc đến “cai quản đất nước” là y như rằng nàng sắp bị mắng.
“Con bị cái tội chưa học bò đã lo học chạy. Suốt ngày chỉ thích tập những thứ cao siêu, bia xoay, sương mù, đại bàng, hứng lên là tập, chán là lại bỏ đấy. Những động tác cơ bản thì con lại rất yếu. Bắp chân thì ẻo lả không thấy trọng tâm, gió to là cả người lung lay muốn đổ. Cánh tay thì gồng lên, dùng quá nhiều sức, bắn chưa được bao lâu đã mỏi. Tinh thần không ổn định, trúng thì vui mừng kiêu căng, trượt thì giận dữ hấp tấp. Con không luyện đứng tấn, tập thả lỏng cơ bắp, rèn tinh thần Vô Tư, chăm chăm tập bia xoay làm gì?”
Tiên Dung đảo mắt một cái. Biết ngay sẽ bị mắng mà.
Nàng cúi đầu nghe mắng. Mặc dù là vào tai nọ ra tai kia, nhưng ai bị mắng mà không ấm ức? Nàng làm không tốt thì bị mắng đã đành, làm tốt cũng bị mắng, chẳng công bằng gì cả.
Cao Lỗ thấy học trò mình cúi đầu ấm ức thì lại mềm lòng. Ngài là thầy, có nặng lời cũng chỉ vì muốn tốt cho trò. Sau này không có ngài ở bên cạnh răn dạy, Tiên Dung sẽ phải tự tập luyện, chi bằng bây giờ biết mình cần sửa cái gì. Từ nhỏ tới giờ nàng vẫn luôn có tính hấp tấp, cả thèm chóng chán, lại thêm hiếu thắng. Nếu ngài không uốn nắn những tật xấu đó thì sau này sẽ rất đáng lo.
Nhưng thôi, dù sao cũng chỉ là một cô bé. Trong mắt Cao Lỗ, Tiên Dung vẫn luôn là cô bé mười ba tuổi, lẽo đẽo đi theo ngài đòi tập nỏ.
Nghĩ thế, giọng ngài cũng dịu xuống, “Sắp tới thầy phải đi xa một chuyến, con phải tập cho chăm, không được chểnh mảng.”
Tiên Dung nghe thấy từ “đi xa” thì đầu ngẩng phắt lên, khuôn mặt lại tươi tỉnh như chưa hề bị mắng. “Thầy đi đâu thế? Có phải lại đi tìm vật liệu chế nỏ không ạ? Thầy cho con đi theo với nhé?”
“Lần này ta đi xa, không mang con theo được.”
“Thầy đi đâu mà con không đi theo được? Lần trước thầy đi đến tận núi Tản, con vẫn đi theo mà. Thầy cho con đi theo với! Ở Phong Châu mãi chán lắm!”
“Không được.”
“Thầy bắt con ở lại Phong Châu đứng tấn sao? Thầy cho con đi theo đi, con xin hứa trên đường đi mỗi ngày đều tập đứng tấn một khắc, không, hai khắc! Dù bão táp mưa sa cũng không bỏ buổi nào!”
Cao Lỗ bật cười, “Con bé này, lớn tướng rồi mà còn lèo nhèo như vậy. Lần này thực sự là không cho con đi cùng được.”
Tiên Dung thấy thầy dứt khoát không cho, nàng đành thôi, nhưng vẫn tò mò hỏi, “Rốt cuộc là thầy đi đâu thế ạ?”
“Việc này…” Cao Lỗ chần chừ. Ngài không muốn nói dối, đành nói ra nửa sự thật. “Ta đúng là đi tìm vật liệu làm nỏ, lần này phải đi xa hơn núi Tản nhiều.”
“Có thứ vật liệu gì mà thầy phải đi xa đến thế?” Tiên Dung ngạc nhiên. Nàng cho là núi Tản đã là rất xa, cưỡi voi mấy ngày mới đến. Vậy mà thầy nói lần này còn đi xa hơn nhiều.
“Cái này con không cần biết làm gì. Dù sao thầy cũng không chắc có lấy được, nếu có lấy được về thì cũng không chắc có làm thành lẫy nỏ hay không.”
Tiên Dung liền không dám hỏi nữa. Nàng đã quá quen thuộc với câu nói này. Qua năm năm đi theo Cao Lỗ, nàng biết việc sáng tạo ra một cây nỏ mới rất là trắc trở, họa hoằn lắm mới có một lần thành công. Thiết kế, chọn vật liệu, đẽo gọt, lắp ráp, thất bại, thiết kế lại, chọn vật liệu khác, cứ như vậy tiếp tục thành vòng lặp vô tận. Cho nên Cao Lỗ rất thường xuyên nói “chưa chắc có được hay không,” sau đó sẽ giải thích cặn kẽ cho Tiên Dung vì sao lại được mà vì sao lại không được. Nàng không hứng thú với việc chế tạo nỏ, lần nào nghe giảng cũng chỉ thấy muốn ngáp mà lại không dám ngáp. Bây giờ nghe thấy câu này thì trong lòng nàng liền lo sợ, rằng nếu hỏi thêm thì thầy sẽ giảng cho nghe một bài về cấu tạo lẫy nỏ. Cái nỗi sợ nghe giảng này át cả sự tò mò về chuyện thầy mình đi đâu.
“Vậy thầy đi xa nhớ giữ gìn sức khỏe. Con sẽ tập luyện đến nơi đến chốn, khi nào thầy về, con sẽ không để thầy phải ca tiếp bài ‘ta nghiêm khắc chê con vì ta muốn tốt cho con’ nữa đâu.” Tiên Dung hứa hẹn.
Cao Lỗ lắc đầu cười nhẹ. Ngoài miệng là cười, trong mắt lại là đau xót, nhưng Tiên Dung không hề phát hiện ra.
Sáng sớm ba ngày sau, lúc Tiên Dung đến Cẩm Đội thì vẫn nghĩ rằng hôm nay cũng chỉ là một ngày bình thường như mọi ngày. Nàng mang theo chiếc nỏ Độc Châu của mình vào trường bắn Nỗ Lực để tập luyện. Mặc dù nàng rất không thích những bài tập cơ bản, nhưng thầy đã dặn thì nàng đành phải nghe theo. Nếu bây giờ không tập, mấy hôm nữa thầy về nàng lại bị mắng mất thôi.
Tinh thần Vô Tư thì nàng không luyện nổi, trước tiên đứng tấn một lúc, sau đó tập thả lỏng cơ bắp vậy.
Nàng quay mặt về hướng nam, xuống tấn. Bây giờ là đầu tháng Hai, trời còn rét lộc, đứng hướng này vừa để tránh gió, vừa có thể nhìn bóng mình đoán chừng giờ giấc. Nàng nhìn cái bóng của mình chậm chạp dịch về bên trái, trong lòng thắc mắc không hiểu vì sao mỗi lần phải đứng tấn, thời gian lại trôi chậm như vậy? Chẳng hiểu ai nghĩ ra cái tư thế này, đứng chẳng ra đứng ngồi chẳng ra ngồi, vừa đau chân vừa mỏi gối. Nàng hết nhìn trời lại nhìn đất, chỉ mong mau mau chóng chóng tập xong rồi đi bắn một trăm tên để tự thưởng!
Đúng lúc này, có một người hớt hải chạy lại đây. Mắt Tiên Dung rất tinh, từ cách xa ba chai vai đã nhận ra người này là triệu xứng của thầy Cao Lỗ, tên là Cốc Lang.
Cốc Lang dường như lấy hết sức mà chạy bổ đến trước mặt Tiên Dung, chưa kịp lấy hơi đã hổn hển nói, “Bẩm… Mị châu…, không… xong rồi! Ngài… mau đi xem! Lán.. của chủ tôi… lật rồi.”
Tiên Dung khó hiểu. Hôm nay không có mưa to gió lớn, lán của thầy Cao làm sao mà lại lật được? Mà dù có lật, thầy Cao đang đi vắng, cũng không có ai bị thương, Cốc Lang làm sao lại hốt hoảng thế này?
“Ngươi từ từ, hít sâu thở đều, nói lại xem nào.”
Cốc Lang nào có tâm tình mà lo hít thở, vừa há mồm lấy được chút không khí, liền hô lên, “Mị Châu ngài mau đến lán của chủ tôi! Lính Lâu Thượng đến lật tung lên rồi! Là Phụ đạo Lý Thông dẫn đến, giơ ra cái lệnh truy nã gì đó rồi cứ thế xông vào lục lọi đập phá! Ngài mau đến xem sao đi!”
Cốc Lang vừa nói đến cái tên Lý Thông, đã thấy Tiên Dung đã lao đi như tên.