Vào ngày 2 tháng 7 năm 1944, Phi hành đoàn 12 thuộc VPB-115 đang điều khiển một chiếc PB4Y-1, phiên bản máy bay tuần tra tầm xa của hải quân dựa trên mẫu B-24 Liberator của lục quân. Họ hoạt động như một phần thuộc Hạm đội 7 từ sân bay tại Wakde, đã đuổi kịp và bắn hạ một thuyền bay bốn động cơ của Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản, một chiếc H8K1 Emily, giữa Mũi Davao và Đảo Palau. Các bức ảnh do phi công phụ chụp sau đó đã xác nhận chiến thắng và cung cấp thông tin giá trị cho cộng đồng tình báo để sử dụng trong việc thẩm vấn tù binh địch và kiểm chứng thông tin. (Tranh của Jack Fellows)
Vào ngày 2 tháng 7 năm 1944, Phi hành đoàn 12 thuộc VPB-115 đang điều khiển một chiếc PB4Y-1, phiên bản máy bay tuần tra tầm xa của hải quân dựa trên mẫu B-24 Liberator của lục quân. Họ hoạt động như một phần thuộc Hạm đội 7 từ sân bay tại Wakde, đã đuổi kịp và bắn hạ một thuyền bay bốn động cơ của Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản, một chiếc H8K1 Emily, giữa Mũi Davao và Đảo Palau. Các bức ảnh do phi công phụ chụp sau đó đã xác nhận chiến thắng và cung cấp thông tin giá trị cho cộng đồng tình báo để sử dụng trong việc thẩm vấn tù binh địch và kiểm chứng thông tin. (Tranh của Jack Fellows)

GIAO CHIẾN

Những lần chạm trán giữa PB4Y-1 Liberator của Hải quân Mỹ với H6K và H8K của IJNAF hiếm hoi và phần lớn chỉ là những sự kiện ngẫu nhiên. Các phi đoàn PB4Y thường có biên chế 12 chiếc để tiến hành ba đến bốn phi vụ trinh sát đơn chiếc mỗi ngày. Mỗi chiếc Liberator phụ trách một khu vực rộng chín độ, với một chặng bay ra, một chặng cắt ngang ở cuối khu vực, và một chặng quay về. Chiều dài khu vực thay đổi, từ 500 đến 1.000 dặm, trung bình là 800 dặm. Phần lớn các phi vụ tuần tra bay ở độ cao khoảng 8.000 ft. Một khu vực 800 dặm mất hơn mười giờ để hoàn thành, trong khi một khu vực 1.000 dặm có thể mất hơn 13 giờ và liên quan đến một lần hạ cánh ban đêm.
Khi bay trên lãnh thổ do đối phương kiểm soát, các vị trí súng luôn được trấn giữ, với phi hành đoàn thay phiên nhau trực. Việc cảnh giới cẩn mật là cách duy nhất để tránh bị tấn công, quan sát và báo cáo các phát hiện trong chuyến tuần tra, cũng như phát hiện máy bay đối phương. Các đòn tấn công thành công phụ thuộc vào việc phát hiện sớm và nhận dạng chính xác đối phương, PB4Y di chuyển vào vị trí thuận lợi để thực hiện một đường bắn trước khi máy bay đối phương kịp phản ứng. Khả năng xạ kích xuất sắc sau đó đảm bảo tiêu diệt được đối thủ.
Ba Không đoàn thuyền bay của IJNAF dường như cũng tuân theo một mô hình tương tự trong hoạt động, triển khai ba chiếc H8K để bao quát các khu vực liền kề cách căn cứ của họ từ Nhật Bản đến vùng Đông Ấn Hà Lan khoảng 700 dặm. Những thuyền bay vận tải H6K cũ hơn và H8K vận tải thực hiện các chuyến bay thường xuyên giữa các căn cứ Nhật Bản. Các cấp chỉ huy cao hơn của Hải quân Đế quốc Nhật Bản cũng thường xuyên yêu cầu các đơn vị thuyền bay hỗ trợ những chuyến vận tải chuyên trách của H8K bằng cách chở hành khách và tiếp tế từ Nhật Bản đến các căn cứ đảo trên khắp Thái Bình Dương.
Do được đưa vào trang bị trước khi bùng nổ Chiến tranh Thái Bình Dương, H6K đã được tình báo Không lực Lục quân Mỹ (USAAC) và Hải quân Mỹ (USN) biết đến, họ có được nhận định hợp lý về các đặc tính hoạt động và vũ trang của nó. Thông tin này có trong các sổ tay chính thức về nhận dạng máy bay Nhật Bản. Trong các trận không chiến diễn ra vào thời điểm tái chiếm Guadalcanal tháng 8 năm 1942, các tiêm kích Hải quân Mỹ đã bắn hạ nhiều chiếc H6K. Những trận đánh một chiều này cung cấp thêm thông tin về các điểm mạnh và điểm yếu của loại máy bay này.
Vào mùa thu năm 1942, Đại tá Frank McCoy và nhóm của ông tại Bộ phận Vật liệu, Cục Tình báo, Không quân Đồng minh khu vực Tây Nam Thái Bình Dương, chọn mật danh “Mavis” cho Type 97. Khi Trung úy C. J. Alley và phi hành đoàn của ông từ VB-104 chạm trán một chiếc H6K trong một chuyến tuần tra ngày 28 tháng 8 năm 1943 – lần đầu tiên PB4Y-1 của Hải quân Mỹ đối đầu với một thuyền bay Nhật – ông đã biết phải tránh khẩu pháo 20mm ở tháp pháo đuôi của “Mavis.”
Hải quân Mỹ đã thành lập VB-104 tại NAS Kaneohe Bay, Hawaii, như một phi đoàn PB4Y-1 Liberator vào tháng 4 năm 1943, với quân số được bổ sung bằng cách tách một nhóm phi công và phi hành đoàn từ VP-71 trang bị PBY. Phi đoàn mới tiếp tục bay tuần tra bằng PBY cho đến khi các phi hành đoàn có thể tiếp nhận PB4Y-1 mới tại San Diego và bay chúng trở lại Hawaii để huấn luyện. Ngày 15 tháng 8, VB-104 di chuyển đến sân bay Carney trên Guadalcanal để thay thế VB-101 (phi đoàn PB4Y-1 đầu tiên tại khu vực Tây Nam Thái Bình Dương). Trong vòng bốn ngày kể từ khi đến nơi, đơn vị đã bắt đầu thực hiện các phi vụ ném bom và tuần tra, bao quát 12 khu vực tỏa ra từ phía tây bắc đến đông Guadalcanal và chuỗi quần đảo Solomon, và về phía đông bắc vượt qua đảo Nauru.
Khi VB-104 đến Guadalcanal vào giữa tháng 8 năm 1943, Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJNAF) đã rút loại H6K khỏi các hoạt động tuần tra tiền tuyến sau khi kiểu máy bay này tỏ ra dễ bị tổn thương trước các tiêm kích Đồng minh. Tầm bay xa của “Mavis” khiến nó trở thành một phương tiện vận tải đường dài hữu hiệu để chở nhân sự và tiếp tế đến các căn cứ xa xôi của Nhật trong đế chế vừa mới mở rộng mạnh mẽ. Phiên bản vận tải, được định danh H6K4-L, đã tháo bỏ toàn bộ vũ khí, lắp đặt khoang hành khách có sức chứa tối đa 18 người, cùng các khoang hàng ở mũi và đuôi. Tuy nhiên, chiếc máy bay vận tải không có khả năng phòng thủ này lại là con mồi dễ dàng cho PB4Y-1, vốn được trang bị hỏa lực mạnh và có ưu thế đáng kể về tốc độ. Không có các tháp pháo, H6K4-L rất khó phát hiện kịp thời máy bay tuần tra Mỹ, và một khi bị tấn công, phi công của “Mavis” hầu như không có cách nào thoát được. Do không có thùng nhiên liệu tự hàn kín, H6K4-L gần như chắc chắn bốc cháy khi động cơ và cánh bị trúng đạn trong lúc bị tấn công, định đoạt số phận chiếc thuyền bay. (Tranh của Gareth Hector)
Khi VB-104 đến Guadalcanal vào giữa tháng 8 năm 1943, Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJNAF) đã rút loại H6K khỏi các hoạt động tuần tra tiền tuyến sau khi kiểu máy bay này tỏ ra dễ bị tổn thương trước các tiêm kích Đồng minh. Tầm bay xa của “Mavis” khiến nó trở thành một phương tiện vận tải đường dài hữu hiệu để chở nhân sự và tiếp tế đến các căn cứ xa xôi của Nhật trong đế chế vừa mới mở rộng mạnh mẽ. Phiên bản vận tải, được định danh H6K4-L, đã tháo bỏ toàn bộ vũ khí, lắp đặt khoang hành khách có sức chứa tối đa 18 người, cùng các khoang hàng ở mũi và đuôi. Tuy nhiên, chiếc máy bay vận tải không có khả năng phòng thủ này lại là con mồi dễ dàng cho PB4Y-1, vốn được trang bị hỏa lực mạnh và có ưu thế đáng kể về tốc độ. Không có các tháp pháo, H6K4-L rất khó phát hiện kịp thời máy bay tuần tra Mỹ, và một khi bị tấn công, phi công của “Mavis” hầu như không có cách nào thoát được. Do không có thùng nhiên liệu tự hàn kín, H6K4-L gần như chắc chắn bốc cháy khi động cơ và cánh bị trúng đạn trong lúc bị tấn công, định đoạt số phận chiếc thuyền bay. (Tranh của Gareth Hector)
Cuộc chạm trán đầu tiên giữa một chiếc PB4Y-1 Liberator của Hải quân Mỹ và một chiếc thuyền bay của IJNAF diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1943. VB-104 đã bắt đầu đến Guadalcanal từ ngày 19 tháng 8 để thay thế VB-101, đảm nhận nhiệm vụ tuần tra các khu vực phía bắc, đông bắc và tây quần đảo Solomon. Trung úy John Alley và tổ bay của ông đang ở gần cuối khu vực tuần tra thì phát hiện một chiếc H6K “Mavis” bay phía trên, theo hướng về Rabaul. Alley liền cho máy bay leo cao để tấn công, không hề biết rằng chiếc máy bay ông đang tiếp cận là phiên bản vận tải, có khả năng thuộc biên chế Hạm đội Không quân số 11. Các xạ thủ của PB4Y khai hỏa khi “Mavis” còn cách 500 yard, xạ thủ tháp pháo mũi đã bắn hết 200 viên đạn, trúng vào động cơ số 3 và số 4 của thuyền bay. Chẳng bao lâu, cánh bên phải bốc cháy dữ dội, và chiếc “Mavis” chúi mũi lao xuống biển. (Tranh của Gareth Hector)
Cuộc chạm trán đầu tiên giữa một chiếc PB4Y-1 Liberator của Hải quân Mỹ và một chiếc thuyền bay của IJNAF diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1943. VB-104 đã bắt đầu đến Guadalcanal từ ngày 19 tháng 8 để thay thế VB-101, đảm nhận nhiệm vụ tuần tra các khu vực phía bắc, đông bắc và tây quần đảo Solomon. Trung úy John Alley và tổ bay của ông đang ở gần cuối khu vực tuần tra thì phát hiện một chiếc H6K “Mavis” bay phía trên, theo hướng về Rabaul. Alley liền cho máy bay leo cao để tấn công, không hề biết rằng chiếc máy bay ông đang tiếp cận là phiên bản vận tải, có khả năng thuộc biên chế Hạm đội Không quân số 11. Các xạ thủ của PB4Y khai hỏa khi “Mavis” còn cách 500 yard, xạ thủ tháp pháo mũi đã bắn hết 200 viên đạn, trúng vào động cơ số 3 và số 4 của thuyền bay. Chẳng bao lâu, cánh bên phải bốc cháy dữ dội, và chiếc “Mavis” chúi mũi lao xuống biển. (Tranh của Gareth Hector)
Chiến công đầu tiên của PB4Y trước một thuyền bay Nhật diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1943, khi Trung úy John Alley và phi hành đoàn thuộc VB-104, bay từ sân bay Carney trên đảo Guadalcanal, đã chạm trán một chiếc H6K vận tải và bắn rơi nó trong biển lửa. (80G-81958, RG80, NARA)
Chiến công đầu tiên của PB4Y trước một thuyền bay Nhật diễn ra vào ngày 28 tháng 8 năm 1943, khi Trung úy John Alley và phi hành đoàn thuộc VB-104, bay từ sân bay Carney trên đảo Guadalcanal, đã chạm trán một chiếc H6K vận tải và bắn rơi nó trong biển lửa. (80G-81958, RG80, NARA)
Ngày 28 tháng 8, phi đoàn giao cho Trung úy John Alley và phi hành đoàn của ông phụ trách Khu vực 2 (phía đông quần đảo Solomon) trong một ngày trời quang đãng, nắng đẹp, có tầm nhìn tuyệt hảo. Một chút sau buổi trưa, khi chiếc PB4Y đang bay ở chặng về của chuyến tuần tra, phi hành đoàn phát hiện một chiếc “Mavis” bay cách đó 15 dặm về phía trước mũi trái. Chiếc H6K ở độ cao 8.000 ft đang bay qua tuyến từ Truk đến Rabaul, trong khi chiếc PB4Y ở độ cao 5.000 ft. Alley cho máy bay leo cao để vào vị trí bên dưới “Mavis,” giữ tháp pháo bụng thu vào để tăng tốc độ leo cao.
Khi PB4Y tiến lại gần H6K, xạ thủ tháp pháo mũi AMM2c Lyme Lymenstull sử dụng vòng ngắm súng để cung cấp cự ly cho các xạ thủ khác đến mục tiêu đối phương. Không có dấu hiệu nào cho thấy “Mavis” đã phát hiện chiếc PB4Y đang đến gần cho đến khi, ở cự ly chỉ 500 yard, các xạ thủ của Liberator khai hỏa. Tình cờ, một năm trước, các xạ thủ trên một chiếc “Mavis” đã bắn vào Lymenstull khi ông còn bay trên một chiếc PBY, và giờ đây ông đã có cơ hội để trả thù. Ông bắn bốn loạt dài từ tháp pháo mũi, bắn trúng động cơ số 4, sau đó là động cơ số 3, và khi “Mavis” nghiêng sang phải, thì bắn trúng cả động cơ số 2 và số 1.
Tháp pháo trên nóc và súng hông trái cũng khai hỏa, và chỉ trong bảy giây, cả bốn động cơ của chiếc thuyền bay đều bốc cháy, với lửa và một vệt khói dài phụt ra phía sau. “Mavis” xoắn ốc rơi xuống và đâm xuống biển. Không có hề hỏa lực đáp trả. Đây là phiên bản vận tải của loại máy bay này, nhiều khả năng là một chiếc H6K4-L thuộc Hạm đội Không quân số 11. Phải bốn tháng sau mới diễn ra lần chạm trán tiếp theo giữa một PB4Y và một thuyền bay Nhật.
Chiếc H8K1 này, được phát hiện trong đầm phá tại đảo Butaritari sau khi chiếm được quần đảo Makin vào tháng 11 năm 1943, đã cung cấp cho Tình báo Hải quân Mỹ những thông tin đầu tiên về đặc tính và hiệu năng của “Emily.” Phát hiện này diễn ra chỉ ít lâu trước cuộc chạm trán đầu tiên giữa PB4Y và thuyền bay Type 2 (H8K) vào ngày 1 tháng 12 năm 1943. (80G-307463, RG80, NARA)
Chiếc H8K1 này, được phát hiện trong đầm phá tại đảo Butaritari sau khi chiếm được quần đảo Makin vào tháng 11 năm 1943, đã cung cấp cho Tình báo Hải quân Mỹ những thông tin đầu tiên về đặc tính và hiệu năng của “Emily.” Phát hiện này diễn ra chỉ ít lâu trước cuộc chạm trán đầu tiên giữa PB4Y và thuyền bay Type 2 (H8K) vào ngày 1 tháng 12 năm 1943. (80G-307463, RG80, NARA)
Cho đến cuối năm 1943, H8K vẫn là một ẩn số. Tình báo Đồng minh biết rằng người Nhật đã phát triển một loại thuyền bay bốn động cơ mới, và máy bay này được gán mật danh “Emily.” Tuy nhiên, chưa rõ đây là một phát triển tiếp theo từ H6K hay hoàn toàn là một loại mới. Một bức ảnh chụp một thuyền bay tại Makin Atoll vào tháng 7 năm 1943 và một tấm ảnh không chiến mờ chụp tháng sau đó chỉ cung cấp được đường nét thô sơ của thân, đuôi đứng đơn, và thứ mà các nhà phân tích ảnh cho rằng là cánh mòng biển.
Các máy bay tiêm kích Grumman F6F-3 Hellcat của Hải quân Mỹ tuyên bố đã bắn rơi hai chiếc máy bay này vào tháng 9 và một chiếc vào tháng 11, cung cấp thêm chi tiết về hỏa lực của H8K gồm tháp pháo mũi, tháp pháo lưng, tháp pháo đuôi, và các vị trí súng hông. Một chiếc “Emily” bị bỏ lại tại Makin Atoll sau khi nơi này bị chiếm vào cuối tháng 11 đã cho Tình báo Hải quân Mỹ cơ hội tiến hành kiểm tra chi tiết chiếc máy bay, từ đó cung cấp thông tin chính xác hơn về cấu hình và tính năng của H8K, mặc dù ít thông tin hơn về hỏa lực bởi có thể nó đã bị người Nhật tháo bỏ trước khi chiếc thuyền bay bị bỏ lại. Rất có thể phi hành đoàn PB4Y đầu tiên chạm trán một “Emily” chưa có được tình báo cập nhật này.
Trung úy William J. Graham và phi hành đoàn của ông từ VB-108 (một trong những phi đoàn PB4Y đầu tiên tại Thái Bình Dương) đã cất cánh từ sân bay Nukufetau trên đảo Mokolatu, thuộc quần đảo Ellice nằm ở đông nam Tarawa, ba giờ trước nửa đêm vào ngày 1 tháng 12 năm 1943 trong một phi vụ tuần tra dài 950 dặm về phía tây bắc căn cứ. Khi đang bay ở độ cao 2.000 ft dưới chân mây, và gần cuối khu vực cách Tarawa 350 dặm về phía tây, xạ thủ đuôi của Graham phát hiện một chiếc máy bay ở phía sau PB4Y. Phi hành đoàn mất dấu tiếp xúc trong đám mây, nhưng khi leo lên 5.500 ft, vượt lên trên đỉnh mây, họ đã khôi phục được tiếp xúc và bắt đầu cuộc truy đuổi kéo dài 30 phút. Chiếc thuyền bay Nhật, được nhận dạng là một chiếc “Emily,” vẫn tiếp tục bay trên đường và độ cao của mình, và như được ghi lại trong Báo cáo Hành động Phi cơ:
Có vẻ như những người quan sát của nó không cảnh giác, vì nó đã không khai hỏa cho đến khoảng 45 giây sau khi PB4Y tiếp cận trong phạm vi 500 yard và khai hỏa bằng cả hai tháp pháo, trên nóc và mũi, từ phía sau trực tiếp và ở 200 ft bên dưới.
Phi công “Emily” lập tức cho máy bay lao xuống rồi lấy lại thế cân bằng bên dưới PB4Y, khẩu pháo 20 mm ở tháp pháo đuôi bắn vào chiếc Liberator khi nó ở hơi cao hơn và chếch sang mạn phải. Các xạ thủ của PB4Y đã bắn cháy động cơ số 4 của “Emily,” khiến chiếc thuyền bay bị nghiêng sang phải. Khi máy bay Nhật chỉ còn cách Liberator 200 ft phía trước, các xạ thủ của PB4Y đã loại bỏ được tháp pháo đuôi và tháp pháo trên nóc, nhưng vị trí pháo 20 mm bên hông của “Emily” khi đó bắt đầu khai hỏa. PB4Y bị trúng đạn vào buồng lái, làm Graham bị thương ở bàn chân và phi công phụ, thiếu úy Ralph Cook, bị thương ở cánh tay trái và bàn tay phải, đồng thời cũng phá hủy la bàn vô tuyến và đường chân trời nhân tạo. Hỏa lực đáp trả từ “Emily” cũng bắn mất 2 ft cánh lái bên phải, và tạo các lỗ thủng ở cánh tà trái cùng bánh lái trái.
Sau màn đấu súng, phi hành đoàn có thể thấy nhiên liệu đang chảy ra từ cánh phải của “Emily,” nhưng họ ngạc nhiên vì chiếc máy bay Nhật không phát nổ như nhiều chiếc khác trước đó. Chiếc thuyền bay lao xuống đám mây với động cơ số 4 và cánh phải đang cháy, còn động cơ số 2 bốc khói, nhưng phi hành đoàn PB4Y không thấy chiếc máy bay Nhật rơi xuống. Cook tiếp quản từ Graham và đưa PB4Y hạ cánh xuống sân bay trên đảo Nanumea, một đảo san hô ở tây bắc Nukufetau, sau 14,5 giờ ở trên không.
Bốn ngày sau, một chiếc PB4Y khác từ VB-108 đã phá hủy một chiếc H8K đang đậu trên mặt nước tại đảo Emidj, trong quần đảo Jaluit, bằng hai quả bom chìm nặng 325lb.
Phi hành đoàn VB-106 PB4Y đang được phổ biến nhiệm vụ trước khi xuất phát tuần tra. Các phi đoàn Liberator, và sau đó là Privateer, thực hiện từ ba đến bốn phi vụ mỗi ngày, bao quát các khu vực liền kề, đôi khi xa tới 1.000 hải lý từ căn cứ trong những nhiệm vụ kéo dài hơn 12 giờ. (208AA, Folder 59, RG208, NARA)
Phi hành đoàn VB-106 PB4Y đang được phổ biến nhiệm vụ trước khi xuất phát tuần tra. Các phi đoàn Liberator, và sau đó là Privateer, thực hiện từ ba đến bốn phi vụ mỗi ngày, bao quát các khu vực liền kề, đôi khi xa tới 1.000 hải lý từ căn cứ trong những nhiệm vụ kéo dài hơn 12 giờ. (208AA, Folder 59, RG208, NARA)
Có một quãng thời gian gián đoạn bốn tháng giữa các cuộc chạm trán. Khi Chiến tranh Thái Bình Dương tiến dần về phía tây, các phi đoàn PB4Y cũng vậy. Cuối tháng 3 năm 1944, VB-106 chuyển từ Munda, ở quần đảo Solomon, hoạt động dưới quyền Không đoàn 1, đến Nadzab, trên bờ biển phía bắc New Guinea, gia nhập Không đoàn 17. Phi đoàn đóng tại Nadzab chỉ hai tuần trước khi chuyển đến sân bay Momote trên đảo Los Negros, thuộc quần đảo Admiralty. Từ Momote, phi đoàn thực hiện năm chuyến tuần tra khu vực mỗi ngày, điều PB4Y bay ra 800 dặm trong các chuyến tuần tra thông thường, và 1.000 dặm liên quan đến các hoạt động của Hạm đội Thái Bình Dương trong khu vực. Trong một chuyến tuần tra như vậy, ngày 17 tháng 4 năm 1944, Trung úy Everett Mitchell và phi hành đoàn của ông đã bắt gặp một chiếc H6K cách bờ biển phía tây New Guinea khoảng 100 dặm về phía bắc.
Quan sát bằng ống nhòm từ ghế trong buồng lái, Mitchell là người đầu tiên phát hiện chiếc “Mavis” bay cách PB4Y khoảng 20 dặm. Chiếc sau đang hướng tây, trong khi H6K bay về phía đông bắc ở độ cao 6.000 ft với tốc độ ước tính 173 dặm/giờ. Mitchell bay cùng tốc độ nhưng ở độ cao 8.000 ft. Ông lập tức cho PB4Y quay đầu và bắt đầu cuộc truy đuổi. Khi còn cách “Mavis” 5 dặm, phi hành thuyền bay đã phát hiện PB4Y đang đến gần và lao xuống biển. Khi PB4Y vào tầm tấn công, các xạ thủ hông và đuôi đã nổ súng, trong khi phi công cho “Mavis” nghiêng sang mạn phải để cắt đường ngắm của Liberator.
Đáp lại, Mitchell tăng hết công suất và áp sát đối thủ ở vị trí “chín giờ,” cách khoảng 500 ft bên trên thuyền bay. Các xạ thủ của PB4Y khai hỏa ở cự ly 300 yard khi Mitchell hạ xuống chỉ còn cách 200 ft phía trên “Mavis,” và họ tiếp tục bắn cho đến khi Liberator vượt qua mục tiêu, khiến động cơ số 3 bốc cháy. Trong lần tấn công thứ hai, Mitchell đưa PB4Y tiếp cận từ mạn phải của “Mavis,” và từ vị trí “ba giờ cao” các xạ thủ lại khai hỏa, thấy khói phụt ra từ phần trung tâm cánh. PB4Y thực hiện lần tấn công thứ ba, một lần nữa từ mạn trái của “Mavis” ở vị trí “chín giờ.” Lần này, xạ thủ tháp pháo bụng bắn rụng toàn bộ phần đuôi của chiếc thuyền bay, và vài giây sau, một vụ nổ xảy ra ở phần trung tâm cánh khi các thùng nhiên liệu không được bảo vệ bị trúng đạn. H6K bốc cháy rơi xuống biển. Toàn bộ trận đánh chỉ kéo dài bốn phút.
Vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, Trung úy Everett Mitchell đã làm chiếc PB4Y-1 của VB-106 trượt khỏi đường băng tại sân bay Munda khi lốp trái nổ và càng đáp trái sụp xuống. Hai tháng sau, Mitchell và phi hành đoàn của ông gặp may mắn phi thường, khi bắn rơi một “Mavis” vào ngày 17 tháng 4, và một “Emily” một tuần sau đó. Họ trở thành phi hành đoàn PB4Y duy nhất trong chiến tranh bắn rơi hai chiếc thuyền bay Nhật. (NH 74788, NHHC)
Vào ngày 10 tháng 2 năm 1944, Trung úy Everett Mitchell đã làm chiếc PB4Y-1 của VB-106 trượt khỏi đường băng tại sân bay Munda khi lốp trái nổ và càng đáp trái sụp xuống. Hai tháng sau, Mitchell và phi hành đoàn của ông gặp may mắn phi thường, khi bắn rơi một “Mavis” vào ngày 17 tháng 4, và một “Emily” một tuần sau đó. Họ trở thành phi hành đoàn PB4Y duy nhất trong chiến tranh bắn rơi hai chiếc thuyền bay Nhật. (NH 74788, NHHC)
Như Báo cáo Hành động Phi cơ đã ghi nhận, chiếc “Mavis” “hoàn toàn bất lực trước hỏa lực vượt trội và đòn tấn công quyết liệt của PB4Y.” Đó là chiếc H6K4-L J-BGOH của Hãng hàng không Đại Nhật Bản (Dai Nippon Airways), đang thực hiện một chuyến bay tới Palau cho IJN, đã gặp phải bất hạnh khi đụng độ PB4Y. Đây là một mô hình sẽ tiếp tục lặp lại trong các lần chạm trán giữa PB4Y và các thuyền bay của IJNAF, với các Liberator thực hiện các đòn tấn công quyết liệt bằng nhiều khẩu súng. Đáng chú ý, đúng một tuần sau (vào ngày 24 tháng 4), Mitchell và phi hành đoàn của ông lại giao chiến và bắn hạ một chiếc “Emily,” trở thành phi hành đoàn PB4Y duy nhất hạ được hai thuyền bay của IJNAF.
Ba cuộc chạm trán nữa với các thuyền bay sẽ diễn ra cho đến tháng 7 năm 1944, tất cả đều kết thúc bằng chiến thắng cho PB4Y. Các trận đánh này đều diễn ra tại khu vực Trung tâm Thái Bình Dương, nơi cuộc xâm lược quần đảo Marshall và việc chiếm giữ Kwajalein cùng Eniwetok đã tiếp nối sau khi thành công chiếm quần đảo Gilbert. Kwajalein và sau đó là Eniwetok trở thành căn cứ cho các phi đoàn tuần tra của Hải quân Mỹ, với VB-108 và VB-109 xuất phát từ Eniwetok thực hiện các chuyến tuần tra dài 900 dặm về phía quần đảo Caroline.
Ngày 7 tháng 5 năm 1944, Trung úy John Keeling cùng phi hành đoàn VB-109 đã bắn rơi một chiếc “Mavis” khi đang tuần tra gần quần đảo Caroline. Xạ thủ của Keeling nhanh chóng bắn trúng các thùng nhiên liệu dễ cháy của chiếc thuyền bay, khiến lửa lan ra làm hư hại cánh ngang và bánh lái phải. Việc chiếc máy bay không có chòi súng mũi, lưng và hai bên cho thấy đó là một H6K4-L vận tải không vũ trang. (80G-227384, RG80, NARA)
Ngày 7 tháng 5 năm 1944, Trung úy John Keeling cùng phi hành đoàn VB-109 đã bắn rơi một chiếc “Mavis” khi đang tuần tra gần quần đảo Caroline. Xạ thủ của Keeling nhanh chóng bắn trúng các thùng nhiên liệu dễ cháy của chiếc thuyền bay, khiến lửa lan ra làm hư hại cánh ngang và bánh lái phải. Việc chiếc máy bay không có chòi súng mũi, lưng và hai bên cho thấy đó là một H6K4-L vận tải không vũ trang. (80G-227384, RG80, NARA)
Ngày 7 tháng 5, Trung úy John Keeling và phi hành đoàn của ông từ VB-109 đang thực hiện một phi vụ như vậy đến phía bắc Caroline khi điện báo viên đang trực súng hông trái báo có một chiếc máy bay ở độ cao 5.000 ft cách 15 dặm phía trước trên một dải mây. Chiếc PB4Y, đang bay ở 3.500 ft phía bắc các đảo, cũng bị đối phương phát hiện, và phi công địch lập tức đổi hướng. Keeling cho máy bay đuổi theo và bắt đầu leo cao, nhanh chóng áp sát chiếc mà phi hành đoàn lúc này đã xác định là một chiếc H6K. Để tăng tốc độ, Keeling thả hai quả bom chìm mà ông đang mang theo. “Mavis” tới được dải mây trước khi các xạ thủ của Keeling vào tầm bắn. Hai chiếc máy bay sau đó truy đuổi nhau ra vào trong các đám mây suốt 20 phút, với “Mavis” liên tục đổi hướng để tìm chỗ che chắn.
Keeling bám theo các pha đổi hướng của “Mavis,” và khi chiếc máy bay Nhật xuất hiện trở lại trong vùng trời quang hơn ở mạn phải của PB4Y, xạ thủ tháp pháo mũi bắt đầu khai hỏa. Lúc đó PB4Y đang bay ở 1.500 ft, phía dưới “Mavis.” Chiếc sau đổi hướng sang trái, cho phép các xạ thủ tháp pháo mũi và tháp pháo trên nóc của PB4Y lia đạn vào động cơ số 3 và số 4 cùng cánh phải. Khi Liberator bay vượt qua, xạ thủ hông phải và sau đó là tháp pháo đuôi cũng bắn thêm nhiều loạt nữa. “Mavis” bắt đầu bắn trả PB4Y từ tháp pháo đuôi, thân, và các vị trí súng hông, nhưng chỉ một viên đạn trúng Liberator, ở tháp pháo mũi.
Khi lại chui qua mây, Keeling xuất hiện phía dưới và cách 500 yard phía sau “Mavis.” Xạ thủ tháp pháo mũi lập tức vô hiệu hóa tháp pháo đuôi của chiếc thuyền bay, và khi Keeling áp sát trong vòng 100 ft, các xạ thủ tháp pháo mũi và tháp pháo trên nóc đã bắn trúng một thùng nhiên liệu trong cánh phải. Lửa từ cánh cháy nhanh chóng làm hỏng bánh lái phải và thăng bằng ngang phải của “Mavis,” và khi chiếc thuyền bay lao xuống biển trong một cú bổ nhào cuối cùng, các xạ thủ PB4Y tiếp tục khai hỏa. Không lâu sau, cánh phải sụp gãy, khiến H6K rơi xuống biển và nổ tung.
Một số PB4Y-1 đời đầu lắp tháp pháo Convair 250CH-3 ở mũi thay vì ERCO 250SH-3 như trong hình, chụp ở phi đoàn tuần tra tại Kwajalein tháng 3 năm 1944. (80G-407715, RG80, NARA)
Một số PB4Y-1 đời đầu lắp tháp pháo Convair 250CH-3 ở mũi thay vì ERCO 250SH-3 như trong hình, chụp ở phi đoàn tuần tra tại Kwajalein tháng 3 năm 1944. (80G-407715, RG80, NARA)
Vào tháng 5 năm 1944, Tướng MacArthur đã quyết định chiếm đảo Wakde ngoài khơi bờ biển phía bắc của Tây New Guinea nhằm xây dựng một sân bay trên đó có thể hỗ trợ cho các chiến dịch ở quần đảo Mariana và Palau, cũng như cho cuộc tiến quân tiếp tục về phía tây hướng tới Philippines, dự kiến vào cuối năm đó. Ngay sau khi chiếm được Wakde vào cuối tháng 5, Phi đoàn VB-115 đã điều bảy chiếc PB4Y tới sân bay mới để bắt đầu các chuyến tuần tra hàng ngày về phía tây tới đảo Halmahera và hai khu vực 800 dặm hướng về lối tiếp cận Philippines. Trong tháng 6, các chuyến tuần tra này đã tiêu diệt 10 máy bay Nhật, trong đó có một chiếc H8K duy nhất vào ngày 4 tháng 6 năm 1944.
Ngày hôm đó, Trung úy Hamilton Dawes và phi hành đoàn của ông xuất kích từ Wakde trong một chuyến tuần tra dài về hướng Philippines, bay ở độ cao 8.000 ft xuyên qua mây rải rác trên đường bay hướng tây bắc. Vào cuối buổi sáng, phi hành đoàn nhìn thấy một máy bay ném bom Mitsubishi G4M “Betty” đang bay phía dưới họ, nhưng sau đó mất dấu nó trong mây. Vào khoảng sau 13 giờ địa phương, phi hành đoàn phát hiện một chiếc “Emily” bay ở độ cao 1.000 ft ngay phía trên PB4Y, đang đi theo lộ trình hướng tây. PB4Y bắt đầu leo cao, và khi nó làm vậy, H8K đi vào một đường trượt thẳng, còn Liberator đuổi theo phía sau.
Dawes leo lên vị trí cao hơn “Emily” 2.000 ft và bám theo nó, và thật ngạc nhiên, chiếc thuyền bay lại giữ nguyên lộ trình thẳng thay vì tìm chỗ ẩn nấp trong mây. Khi “Emily” bay ngang ở độ cao thấp hơn, PB4Y, với tốc độ 230 dặm/giờ, đã nhanh chóng bắt kịp, và các xạ thủ khai hỏa từ tháp súng mũi, tháp súng trên và tháp súng bụng – họ nhắm vào động cơ, gốc cánh và tháp súng lưng. Một động cơ lập tức rơi ra dưới hỏa lực tập trung, trong khi ba động cơ còn lại nhanh chóng bắt đầu bốc khói. Xạ thủ tháp súng lưng của “Emily” bắn ra bốn loạt đạn nhưng không trúng PB4Y trước khi bị bắn hạ.
Với tất cả các động cơ đều bốc cháy và nhả khói, phi công “Emily” thực hiện một cú hạ cánh xuống nước xuất sắc. Chiếc thuyền bay chìm từ từ, và phi hành đoàn PB4Y nhìn thấy bảy hay tám người sống sót leo lên một bè cứu sinh. Khi Liberator rời khỏi khu vực, phi hành đoàn phát hiện thêm một chiếc “Betty” đang đến gần để vòng quanh xác H8K. Do thiếu nhiên liệu, PB4Y quay trở về đảo Wakde. Thiệt hại duy nhất mà nó phải chịu trong trận đánh là vài vết đạn 7,7mm ở phần đuôi. Theo ý kiến của Dawes, phi công “Emily” đã có nhiều cơ hội để thoát thân nếu như chọn ẩn nấp trong mây, nhưng anh ta đã không làm vậy. Sự thiếu hụt hỏa lực đáp trả khiến phi hành đoàn tự hỏi liệu chiếc thuyền bay có thực sự được trang bị vũ khí hay không.
Một chiếc PB4Y-1 thuộc VB-102 hạ cánh xuống sân bay Tinian vào cuối năm 1944. Đơn vị này dùng chung căn cứ với các phi đoàn VB-116 và VB-117. Trong tháng 10 cùng năm, Hải quân Mỹ đổi ký hiệu tất cả các đơn vị ném bom đa động cơ từ VB sang VPB. (San Diego Air and Space Museum)
Một chiếc PB4Y-1 thuộc VB-102 hạ cánh xuống sân bay Tinian vào cuối năm 1944. Đơn vị này dùng chung căn cứ với các phi đoàn VB-116 và VB-117. Trong tháng 10 cùng năm, Hải quân Mỹ đổi ký hiệu tất cả các đơn vị ném bom đa động cơ từ VB sang VPB. (San Diego Air and Space Museum)
Chỉ hơn hai tuần sau đó, vào ngày 19 tháng 6, một phi hành đoàn từ VB-101 đã bắn hạ một chiếc “Emily” khác trong một chuyến tuần tra dài từ đảo Los Negros. Phi đoàn này đã quay trở lại chiến đấu sau khi tái tổ chức ở Hoa Kỳ, thay thế VB-106 trên Los Negros và thực hiện các chuyến tuần tra hàng ngày qua bốn khu vực tìm kiếm về phía tây bắc. Ban đầu, các khu vực này có phạm vi từ 800 đến 1.000 dặm, nhưng từ 15–23 tháng 6, trùng với Chiến dịch Forager (cuộc đổ bộ lên Saipan), phi đoàn đã mở rộng phạm vi tới 1.100 dặm.
Trong một chuyến tuần tra mở rộng như vậy vào ngày 19 tháng 6, khi đang bay ở độ cao 8.000 ft vào cuối buổi sáng dưới những đám mây rải rác, Trung úy (jg) George Winter và phi hành đoàn nhìn thấy một chiếc H8K bay ở độ cao 2.000ft phía dưới họ trên cùng hướng chung. Đây có thể là một chiếc máy bay thuộc Không đoàn 851 đóng tại Davao, trên đảo Mindanao, đang thực hiện một chuyến bay tới Yap hoặc Palau. Winter lái PB4Y quay trở lại mây cho đến khi toàn bộ xạ thủ sẵn sàng, rồi lao xuống chiếc “Emily,” đạt tốc độ 334 dặm/giờ.
Khi PB4Y tiếp cận H8K từ hướng “bốn giờ,” xạ thủ mũi khai hỏa ở khoảng cách 1.000 ft phía sau chiếc thuyền bay, lia loạt đạn dọc thân tới buồng lái. “Emily” bắn trả từ tháp súng lưng, mà phi hành đoàn PB4Y tin rằng là súng máy hạng nhẹ 7,7mm, cho đến khi xạ thủ mũi PB4Y bắn hạ tháp súng đó. Winter thực hiện một vòng lượn hình chữ “S” để tránh vượt qua, và trong khi làm vậy, xạ thủ mũi bắn vào hai động cơ trong, khiến cả hai bốc cháy. Khi “Emily” ngoặt sang phải, PB4Y bay qua phía trên, cho phép xạ thủ hông bên phải và đồng nghiệp ở tháp súng đuôi khai hỏa, khiến động cơ số 4 của H8K bốc cháy. Chỉ ít lâu sau, “Emily” rơi vào vòng xoáy, đâm xuống biển và phát nổ.
Bình luận về Báo cáo Hành động Phi cơ, chỉ huy của VB-101 đã khen ngợi khả năng cơ động của Winter khi điều khiển chiếc PB4Y nặng nề trong cuộc tấn công và “hỏa lực cực kỳ chính xác” từ tất cả các vị trí súng trên PB4Y. Trái lại, ông nói “hỏa lực phản công không hiệu quả và sự thiếu vắng hành động phòng thủ của Emily thật đáng ngạc nhiên.”
Trung úy Stoughton Atwood và phi hành đoàn của ông đã ghi nhận chiến công thứ hai của VB-115 khi bắn rơi một chiếc “Emily” vào ngày 2 tháng 7 năm 1944 trong lúc tuần tra ở phía tây nam quần đảo Palau, thuộc Micronesia. Atwood bay lướt qua chiếc thuyền bay  sau khi các xạ thủ của ông đã phá hủy tháp pháo đuôi và tháp pháo lưng, kịp chụp được một số bức ảnh cận cảnh của chiếc H8K trước khi nó rơi xuống trong biển lửa. (Record Group 80G-241258, RG80, Still Pictures Branch, National Archives and Records Administration (NARA))
Trung úy Stoughton Atwood và phi hành đoàn của ông đã ghi nhận chiến công thứ hai của VB-115 khi bắn rơi một chiếc “Emily” vào ngày 2 tháng 7 năm 1944 trong lúc tuần tra ở phía tây nam quần đảo Palau, thuộc Micronesia. Atwood bay lướt qua chiếc thuyền bay sau khi các xạ thủ của ông đã phá hủy tháp pháo đuôi và tháp pháo lưng, kịp chụp được một số bức ảnh cận cảnh của chiếc H8K trước khi nó rơi xuống trong biển lửa. (Record Group 80G-241258, RG80, Still Pictures Branch, National Archives and Records Administration (NARA))
Vụ bốc cháy của chiếc “Emily” sau khi bị máy bay PB4Y củaTrung úy Stoughton Atwood và phi hành đoàn của ông bắn hạ  vào ngày 2 tháng 7 năm 1944.
Vụ bốc cháy của chiếc “Emily” sau khi bị máy bay PB4Y củaTrung úy Stoughton Atwood và phi hành đoàn của ông bắn hạ vào ngày 2 tháng 7 năm 1944.
VB-115 có cuộc chạm trán lần thứ hai với một chiếc H8K vào ngày 2 tháng 7 năm 1944, khi Trung úy Stoughton Atwood và phi hành đoàn đang trở về đảo Wakde sau khi hoàn thành khu vực tuần tra dài 800 dặm. Khi bay ở độ cao 10.000 ft qua những đám mây tích, phi công phụ, Chuẩn úy R. S. Snoddy, nhìn thấy một chiếc “Emily” lượn quanh một đám mây cách đó năm dặm ở độ cao 9.500 ft. Atwood cho máy tăng công suất và bắt đầu một cú vòng leo cao để tiếp cận H8K từ góc sau mạn trái. PB4Y vượt qua chiếc thuyền bay trong lần tấn công đầu tiên này, nhưng các xạ thủ ở tháp súng mũi và tháp súng trên, hông phải và tháp súng đuôi đều bắn được những loạt hiệu quả. Những loạt bắn này đã vô hiệu hóa tháp súng đuôi và tháp súng lưng của “Emily” và bắn rách thân máy bay.
Sau đợt tấn công ban đầu, phi hành đoàn có thể thấy lửa và khói bốc ra từ thân máy bay bị hư hỏng ngay phía trên chỗ gãy của thân, và các động cơ bên trái cũng đang cháy. Khi H8K hạ độ cao trong một đường trượt thẳng, Atwood cho PB4Y quay lại để tấn công lần nữa. Ông giảm ga, và giữ Liberator ở góc sau của “Emily,” cho phép các xạ thủ có vị trí thuận lợi ở cự ly gần. Lúc này chiếc thuyền bay đang bốc cháy, thì lại kéo lên trong một cú thất tốc, hồi phục, rồi lại thất tốc lần nữa, lần này lao xuống biển trong một cú bổ nhào cuối cùng, cánh và đuôi rời ra ngay trước khi H8K phát nổ khi va chạm với mặt nước.
Những bức ảnh chụp chiếc thuyền bay trong trận đánh cho thấy số hiệu đuôi là “51-085,” chỉ ra rằng đây là một chiếc thuộc Không đoàn 851. Atwood ghi nhận trong Báo cáo Hành động Phi cơ rằng “Emily” dường như đã hoàn toàn bị bất ngờ, với các cửa súng hông vẫn đóng cho đến khi hỏa lực của PB4Y đã làm tê liệt vũ khí của nó trong đợt tấn công đầu tiên. Một mô hình đang dần xuất hiện trong phản ứng của phi hành đoàn thuyền bay IJNAF trước các cuộc tấn công. Một lần nữa, như trong trận chiến trước đó ngày 4 tháng 6, hỏa lực đáp trả nhằm vào PB4Y cùng với các cơ động tránh né tối thiểu mà phi công thực hiện đều không hiệu quả.
Có một khoảng trống dài bốn tháng trước khi xảy ra chạm trán tiếp theo. Đến tháng 10 năm 1944, các phi đoàn tuần tra PB4Y đã tiến về phía tây từ Eniwetok đến Tinian và trở lại dưới quyền kiểm soát của Không đoàn Hạm đội 1 (Fleet Air Wing 1). Ba đơn vị hiện đóng tại Tinian, sau khi được tái định danh thành các phi đoàn VPB để phân biệt các máy bay tuần tra ném bom trên bộ của Hải quân Mỹ với các máy bay ném bom bổ nhào trên tàu sân bay, vốn cũng dùng ký hiệu VB. Tại Tinian, VPB-102 hoạt động cùng các phi đoàn chị em VPB-116 và VPB-117. Từ căn cứ này, ba đơn vị PB4Y phụ trách 12 khu vực tuần tra từ phía tây nam hướng về Philippines, sang phía tây tới quần đảo Ryukyu và lên phía bắc dọc theo quần đảo Nampo Shoto, bao gồm cả Iwo Jima. Các PB4Y-1 có thể hoạt động xa đến 1.000 dặm, mang đầy đủ nhiên liệu để mở rộng tầm hoạt động nếu radar tìm kiếm AN/APS-15 ASV – mà nhiều máy bay lúc này đã được trang bị – phát hiện được mục tiêu thích hợp.
Tháng 9 năm 1944, VB-117 gia nhập VB-102 và VB-116 trên đảo Tinian. Vào ngày 31 tháng 10, Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông đã bắn rơi một “Emily” mà họ gặp trên chặng cuối chuyến tuần tra. Các xạ thủ của Box bắn cháy động cơ số 2 và 3, như thấy trong bức ảnh kịch tính này chụp từ chiếc PB4Y-1. (80G-190205, RG80, NARA)
Tháng 9 năm 1944, VB-117 gia nhập VB-102 và VB-116 trên đảo Tinian. Vào ngày 31 tháng 10, Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông đã bắn rơi một “Emily” mà họ gặp trên chặng cuối chuyến tuần tra. Các xạ thủ của Box bắn cháy động cơ số 2 và 3, như thấy trong bức ảnh kịch tính này chụp từ chiếc PB4Y-1. (80G-190205, RG80, NARA)
 Một bức ảnh được chụp từ máy bay PB4Y của Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông đang đuổi theo sau chiếc "Emily" vào ngày 31 tháng 10 năm 1944. (Naval History and Heritage Command)
Một bức ảnh được chụp từ máy bay PB4Y của Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông đang đuổi theo sau chiếc "Emily" vào ngày 31 tháng 10 năm 1944. (Naval History and Heritage Command)
Ngày 31 tháng 10 năm 1944, Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông đang trên đường trở về sau chuyến tuần tra xuất phát từ căn cứ của VB-117 tại Tinian thì họ phát hiện một máy bay mà họ xác định là một chiếc “Emily.” Sau một cuộc rượt đuổi dài, Box tiếp cận chiếc thuyền bay từ phía trên ở vị trí “5 giờ.” Xạ thủ tháp pháo mũi của chiếc PB4Y khai hỏa, bắn trúng động cơ số 2 của chiếc H8K và làm nó bốc cháy. Chiếc “Emily” (“801-77” thuộc về Không đoàn 801), lúc đó bay ở độ cao khoảng 500 ft trên mặt nước, rẽ trái để tránh hỏa lực của chiếc PB4Y. Box bám theo mục tiêu, lao xuống truy kích chiếc thuyền bay. Khi Box bổ nhào gắt hơn, xạ thủ tháp pháo trên lưng của ông khai hỏa, tiếp đó là xạ thủ hông bên trái – cả hai đều bắn trúng động cơ số 3. Khi Box vượt lên phía trên chiếc “Emily,” xạ thủ hông bên phải của ông khai hỏa, bắn trúng thêm vào các động cơ số 2 và số 3. Cuối cùng, xạ thủ đuôi của Box cũng bắn trúng chiếc H8K ngay trước khi chiếc “Emily” rơi xuống biển. (Tranh của Gareth Hector)
Ngày 31 tháng 10 năm 1944, Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông đang trên đường trở về sau chuyến tuần tra xuất phát từ căn cứ của VB-117 tại Tinian thì họ phát hiện một máy bay mà họ xác định là một chiếc “Emily.” Sau một cuộc rượt đuổi dài, Box tiếp cận chiếc thuyền bay từ phía trên ở vị trí “5 giờ.” Xạ thủ tháp pháo mũi của chiếc PB4Y khai hỏa, bắn trúng động cơ số 2 của chiếc H8K và làm nó bốc cháy. Chiếc “Emily” (“801-77” thuộc về Không đoàn 801), lúc đó bay ở độ cao khoảng 500 ft trên mặt nước, rẽ trái để tránh hỏa lực của chiếc PB4Y. Box bám theo mục tiêu, lao xuống truy kích chiếc thuyền bay. Khi Box bổ nhào gắt hơn, xạ thủ tháp pháo trên lưng của ông khai hỏa, tiếp đó là xạ thủ hông bên trái – cả hai đều bắn trúng động cơ số 3. Khi Box vượt lên phía trên chiếc “Emily,” xạ thủ hông bên phải của ông khai hỏa, bắn trúng thêm vào các động cơ số 2 và số 3. Cuối cùng, xạ thủ đuôi của Box cũng bắn trúng chiếc H8K ngay trước khi chiếc “Emily” rơi xuống biển. (Tranh của Gareth Hector)
Khi các động cơ bốc cháy, phi công chiếc “Emily” mất kiểm soát và máy bay lao xuống biển, vỡ tung khi va chạm. (80G-275596, RG80, NARA)
Khi các động cơ bốc cháy, phi công chiếc “Emily” mất kiểm soát và máy bay lao xuống biển, vỡ tung khi va chạm. (80G-275596, RG80, NARA)
Ngày 31 tháng 10, Trung úy Herbert Box và phi hành đoàn của ông thuộc VPB-117 đã bay 980 dặm từ Tinian trong chuyến tuần tra khu vực, hoàn thành đoạn cắt ngang và đang bay theo hướng đông nam trở về căn cứ thì xạ thủ hông bên phải nhìn thấy một chiếc máy bay ở “hướng ba giờ” của PB4Y, cách đó khoảng 35 dặm, đang bay theo hướng tây bắc. Liên hệ này trông giống như một chiếc thuyền bay PBM của Hải quân Mỹ, nhưng khi kiểm tra bản đồ, họ xác nhận mục tiêu nằm ngoài khu vực tuần tra của Mariner, nên khả năng cao đây là một thuyền bay của Nhật Bản. Box đổi hướng, và sau khi quan sát bằng ống nhòm, xác định rằng đó quả thực là một chiếc “Emily.” Những bức ảnh chụp chiếc thuyền bay trong trận đánh sau đó xác định máy bay này là “801-77” thuộc Không đoàn 801.
Box quyết định tấn công “Emily,” và để tiết kiệm nhiên liệu cho cuộc truy đuổi, ông cho thả ba quả bom nặng 250lb mà chiếc PB4Y-1 đang mang. H8K vẫn giữ lộ trình, và chỉ tăng tốc khi Liberator bắt đầu thu hẹp khoảng cách trong cuộc truy đuổi kéo dài 35 phút. PB4Y đạt tốc độ 200 dặm/giờ – thấp hơn tốc độ tối đa của “Emily” – nhưng vẫn dần bắt kịp chiếc máy bay Nhật. Khi còn cách 15 dặm, Box tăng tốc lên 224 dặm/giờ, và từ độ cao lớn hơn, ông chúi mũi xuống để tăng thêm tốc độ khi tiếp cận từ vị trí “năm giờ.” “Emily” không thực hiện cơ động tránh né nào, ngoại trừ việc hạ xuống còn 500 ft phía trên mặt biển.
Khi PB4Y còn cách “Emily” 500 yard, xạ thủ mũi khai hỏa, tập trung vào động cơ số 3 rồi chuyển sang động cơ số 2. Khi động cơ số 2 bốc cháy, phi công “Emily” cho máy bay nghiêng sang trái, còn PB4Y tiếp tục bám theo từ hướng “năm giờ” và ở trên cao. Khi Box hạ góc bổ nhào sâu hơn, xạ thủ tháp súng trên và xạ thủ hông bên trái khai hỏa vào “Emily” ở cự ly 300 yard, khiến động cơ số 3 của chiếc thuyền bay bốc cháy.
“Emily” ngoặt sang phải để né PB4Y đang bổ nhào, nhưng tốc độ cao của Liberator khiến Box không thể lượn trong phạm vi gần máy bay đối phương, buộc ông phải bay vượt qua phía trên H8K. Tuy nhiên, điều này đã tạo cơ hội cho xạ thủ hông bên phải khai hỏa, bắn trúng thêm vào động cơ số 2 và số 3. Khi PB4Y vượt lên trước “Emily,” chiếc máy bay Nhật bắt đầu giảm tốc và hạ xuống mặt biển, với động cơ số 2 và số 3 bốc cháy. Khi xạ thủ đuôi PB4Y nhắm bắn vào buồng lái, “Emily” lao xuống nước và rơi vỡ tung.
Trong một ví dụ khác về hỏa lực kém hiệu quả, khi chiếc PB4Y đã vào vị trí cách chiếc thuyền bay khoảng 400 yard phía sau trong đợt công kích ban đầu, các xạ thủ ở tháp pháo đuôi và tháp pháo lưng đã khai hỏa với súng 20mm của họ. Phi hành đoàn chiếc Liberator ước tính các xạ thủ IJNAF đã bắn tới 200 viên, nhưng chỉ có một viên trúng đầu cánh trái của chiếc PB4Y. Số đạn còn lại bay sượt bên dưới hoặc phía sau chiếc máy bay tuần tra ném bom.
Một ngày sau chiến công của Trung úy Box (ngày 31 tháng 10 năm 1944), đến lượt VPB-116 hạ “Emily” khi Trung úy Guy Thompson và phi hành đoàn của ông dùng thiết bị phản chế radar cùng radar tìm kiếm ASV để phát hiện chiếc H8K đang tìm kiếm một tàu ngầm Mỹ bị hư hại. Trong ảnh, chiếc “Emily” nghiêng sang trái sau khi xạ thủ tháp pháo mũi của Thompson khai hỏa ở cự ly hiệu quả. (80G-190203, RG80, NARA)
Một ngày sau chiến công của Trung úy Box (ngày 31 tháng 10 năm 1944), đến lượt VPB-116 hạ “Emily” khi Trung úy Guy Thompson và phi hành đoàn của ông dùng thiết bị phản chế radar cùng radar tìm kiếm ASV để phát hiện chiếc H8K đang tìm kiếm một tàu ngầm Mỹ bị hư hại. Trong ảnh, chiếc “Emily” nghiêng sang trái sau khi xạ thủ tháp pháo mũi của Thompson khai hỏa ở cự ly hiệu quả. (80G-190203, RG80, NARA)
Ngày hôm sau (ngày 1 tháng 11), đến lượt phi đoàn chị em của VPB-117 là VPB-116 chạm trán một chiếc H8K trong một trong những cuộc giao chiến đặc biệt nhất giữa một máy bay tuần tra của Hải quân Mỹ và một thuyền bay của IJNAF. Vào sáng hôm đó, VPB-116 nhận được tin tàu ngầm USS Salmon (SS-182) đã bị hư hại nặng trong trận chiến với các tàu tuần tra chống ngầm của IJN và không thể lặn xuống. Salmon đã gọi ba tàu ngầm gần đó, USS Silversides (SS-236), USS Trigger (SS-237), và USS Sterlet (SS-392), để hộ tống nó trở về Saipan trên mặt nước. Vì Salmon chỉ cách Kyushu 450 dặm và gần các căn cứ Nhật ở quần đảo Ryukyu, nguy cơ bị tấn công từ trên không là rất lớn. Người ta cho rằng chiếc “Emily” mà VPB-117 đã bắn hạ hôm trước thực chất đang tìm kiếm tàu ngầm Mỹ.
Cần phải có không quân yểm trợ để đưa Salmon an toàn về Saipan, nên từ sáng sớm ngày 1, VPB-116 đã cho cất cánh Trung úy Guy Thompson và phi hành đoàn của ông để tuần tra bảo vệ trên đội tàu ngầm, đồng thời bắn hạ bất kỳ máy bay IJNAF nào tìm cách tấn công tàu Mỹ. Chiếc PB4Y-1 của Thompson được trang bị radar tìm kiếm ASV AN/APS-15 thay cho tháp pháo bụng và thiết bị RCM dưới dạng một máy thu (có lẽ là máy thu tín hiệu radar AN/APR-5, sau này được trang bị tiêu chuẩn cho PB4Y-2 Privateer) có khả năng bắt được tín hiệu radar.
Trong phi hành đoàn của Thompson, Kỹ thuật viên vô tín hàng không bậc cao (ACRT) W. T. Kane phụ trách thiết bị RCM, còn Điện đài viên hàng không bậc cao (ACRM) E. F. Bryant điều khiển radar tìm kiếm. Ai đó, có thể là ACRT Kane, đã nhận ra rằng nếu có máy bay IJNAF đang tìm kiếm các tàu ngầm Mỹ, thì rất có thể chúng sẽ sử dụng radar tìm kiếm mặt đất/đường không (ASV) của Nhật, và các bực xạ radar từ những máy bay này có thể được lợi dụng để định vị chúng trên không.
Vào 11 giờ trưa, khi chiếc PB4Y đã bay tuần tra hơn bốn tiếng và đang tiến về vị trí ước tính của các tàu ngầm, ACRT Kane – người đang theo dõi thiết bị RCM – đã chặn được một tín hiệu radar đối phương, mà ông ước tính là ở cách máy bay từ 75 đến 90 dặm. Phân tích các xung radar, Kane nhận thấy chúng chỉ có hai biên độ, cho thấy đó là tín hiệu phát ra từ một ăng-ten đứng yên thay vì xoay tròn, và tín hiệu này không trùng khớp với radar của tàu ngầm Nhật, điều đó càng khẳng định nguồn phát chính là từ một máy bay IJNAF.
Ngay sau khi bắt được tín hiệu đầu tiên, Kane tiếp tục phát hiện một tín hiệu thứ hai. Do hạn chế của thiết bị, ông không thể cho Thompson một hướng chính xác về chiếc máy bay Nhật. Khi các xung radar ngày càng mạnh hơn, Kane ước tính một chiếc ở cách PB4Y khoảng 30 dặm, và chiếc còn lại xa hơn một chút.
Ngay sau khi Kane bắt được tín hiệu radar đối phương, ACRM Bryant hạ radar tìm kiếm ASV xuống và bắt đầu dò tìm máy bay địch. Ba mươi phút sau lần chặn đầu tiên, Bryant phát hiện một “bogey” trên radar của mình ở hướng “1 giờ 30 phút, thấp”, cách PB4Y khoảng chín dặm rưỡi. Ngay lúc Bryant báo cáo có mục tiêu, một thành viên khác trong phi hành đoàn cũng báo cáo nhìn thấy một chiếc “Emily” bằng mắt thường – phi hành đoàn PB4Y sau đó đã ghi chú trong Báo cáo Hành động Phi cơ rằng chiếc thuyền bay này quả thật có gắn ăng-ten radar.
Thompson để chiếc “Emily” bay qua phía mạn phải rồi mới thực hiện một vòng rẽ 180 độ để tiếp cận từ phía sau thủy phi cơ, lúc đó đang ở cách chiếc PB4Y mười dặm. Tuy nhiên, Thompson lại có lợi thế về độ cao, đang bay cao hơn chiếc H8K khoảng 5.000 ft, và ông đã tận dụng điều này để lấy thêm tốc độ, hạ mũi xuống thành một đường lượn và thu hẹp khoảng cách xuống còn tám dặm. Lúc này, chiếc “Emily” đã phát hiện ra PB4Y đang tiến đến và tăng tốc từ 167 dặm/giờ lên 219 dặm/giờ. Trong một thoáng, chiếc thuyền bay đã giãn được khoảng cách, nhưng Thompson đã tăng thêm công suất và bổ nhào sâu hơn, đẩy tốc độ lên 299 dặm/giờ, rút ngắn khoảng cách xuống còn 2.000 ft phía sau và 500 ft phía trên chiếc “Emily”.
Khi đó, xạ thủ ở tháp pháo mũi khai hỏa, ngắm vào tháp pháo lưng, bắn hỏng nó và làm cháy động cơ số 1. Phi công chiếc “Emily” liền bẻ gấp sang trái, gần như dựng đứng máy bay trên đầu cánh, theo lời phi hành đoàn PB4Y. Thompson bám theo vòng rẽ này và lại vượt lên chiếc H8K từ phía mạn phải. Lập tức, tháp pháo mũi, tháp pháo trên lưng, và súng hông bên trái khai hỏa, bắn trúng động cơ và cánh. Viên phi công dày dạn của chiếc “Emily” quay đầu đối diện PB4Y để đưa tháp pháo mũi vào vị trí có thể bắn Liberator, nhưng Thompson liền lướt máy bay của mình qua đầu chiếc H8K, cho phép xạ thủ ở tháp pháo mũi, súng hông bên phải, và tháp pháo đuôi đồng loạt khai hỏa. Sau đó ông ngoặt mạnh chiếc PB4Y vòng lại 180 độ dữ dội để trở về vị trí công kích chiếc “Emily,” vốn lúc này chỉ còn bay ở độ cao 50 ft trên mặt nước, từ phía sau.
Để tăng tốc, chiếc H8K thả bom chìm treo dưới cánh với hy vọng những vụ nổ tạo ra sẽ gây hư hại cho chiếc PB4Y đang áp sát, nhưng Thompson nhanh chóng kéo cao lên 500 feet, bay vượt qua những cột nước bắn tung khi bom phát nổ. Thompson lại hạ xuống tiếp cận phía mạn phải chiếc “Emily,” nhưng lần này tháp pháo mũi và tháp pháo trên lưng đã bị kẹt súng. Tuy vậy, khi ông vượt lên trước, các xạ thủ ở súng hông bên trái và tháp pháo đuôi đã kịp bắn thêm nhiều loạt đạn trúng chiếc “Emily,” vốn đang giảm tốc và rẽ sang trái để tránh né.
Thompson cũng thả bom chìm của mình vào lúc này, trước khi lại nhào xuống từ trên cao, chếch phía sau chiếc thuyền bay, hạ mũi PB4Y để cho xạ thủ tháp pháo mũi – với khẩu súng giờ đã thông nòng – có cơ hội quét loạt đạn ở cự ly gần thẳng vào chiếc “Emily.” Loạt đạn này đã khiến động cơ số 3 và số 4 của H8K bốc cháy. Chỉ vài giây sau, phao nổi bên phải của cánh chạm nước, xé rời toàn bộ cánh phải, khiến chiếc thuyền bay lộn nhào xuống biển và nổ tung.
Sau khi quay lại Tinian và rà soát trận đánh cùng vị trí tương quan giữa máy bay Nhật và các tàu ngầm Mỹ, phi đoàn xác định rằng chiếc H8K đã suýt chút nữa chặn được Salmon và ba tàu hộ tống, khi nó chỉ còn cách 40 dặm. Nếu được sử dụng radar tìm kiếm cùng với mô hình tìm kiếm ô vuông, chiếc “Emily” ắt hẳn đã tìm thấy các tàu ngầm Mỹ nếu không bị chiếc Liberator đánh chặn.
Trong suốt trận đánh, chiếc PB4Y hầu như không hề hấn gì trước hỏa lực đáp trả của chiếc “Emily,” chỉ bị trúng hai phát đạn súng máy gần cửa hông bên trái và bên phải. Dù hỏa lực đáp trả kém hiệu quả, nhưng Thompson đã ghi trong Báo cáo Hành động Phi cơ rằng ông thực sự ấn tượng với các động tác cơ động né tránh của đối thủ. Những cú ngoặt gấp được thực hiện “một cách rõ ràng dễ dàng,” mặc dù cuối cùng vẫn vô ích. Báo cáo cũng ghi chú rằng “có cơ sở tin rằng đây là lần đầu tiên một chiếc máy bay được phát hiện bằng thiết bị RCM và được xác định chắc chắn là máy bay địch dựa trên sự khác biệt về tần số.” Đây dường như cũng là lần đầu tiên, và có thể là duy nhất trong suốt cuộc chiến, Hải quân Mỹ đã sử dụng thiết bị RCM kết hợp với radar tìm kiếm trên không để xác định vị trí một máy bay đối phương.
Trong những tháng cuối năm, các phi đoàn PB4Y đã bắn rơi hai chiếc H6K và một chiếc H8K. Đối với các phi hành đoàn Liberator, vào giai đoạn muộn này của cuộc chiến Thái Bình Dương, việc giao chiến với những chiếc “Mavis” diễn ra khá đơn giản. Vấn đề chỉ là đưa PB4Y vào vị trí để xạ thủ có thể bắn hỏng động cơ và đốt cháy thùng nhiên liệu trong cánh. Việc tiêu diệt chiếc thuyền bay gần như chắc chắn sẽ xảy ra sau đó.
Ngày 22 tháng 11, Trung úy Albert Bellsey và phi hành đoàn của ông thuộc VPB-101, lúc này đóng tại Morotai, phía tây New Guinea, đã phát hiện một chiếc “Mavis” đang bay gần Celebes, phía đông Borneo. Trong đợt tấn công đầu tiên của chiếc PB4Y, xạ thủ ở tháp pháo mũi và tháp pháo bụng đã bắn cháy động cơ số 2 của “Mavis,” và trong đợt tấn công thứ hai, cả bốn động cơ cùng bùng cháy, làm rời toàn bộ cánh phải.
Trong tháng 12 năm 1944, các phi đoàn PB4Y đã bắn rơi ba thuyền bay Nhật Bản, với VPB-101 và VPB-104 mỗi đơn vị hạ một chiếc “Mavis.” Ngày 28 tháng 12, xạ thủ của Trung úy Edward Hagen (VPB-104) đã bắn cháy thùng nhiên liệu trung tâm của chiếc H6K4-L J-BGOA thuộc Hãng hàng không Đại Nhật Bản (Dai Nippon Koku). Vụ nổ sau đó xé rời cánh phải của chiếc thuyền bay. (80G-296951, RG80, NARA)
Trong tháng 12 năm 1944, các phi đoàn PB4Y đã bắn rơi ba thuyền bay Nhật Bản, với VPB-101 và VPB-104 mỗi đơn vị hạ một chiếc “Mavis.” Ngày 28 tháng 12, xạ thủ của Trung úy Edward Hagen (VPB-104) đã bắn cháy thùng nhiên liệu trung tâm của chiếc H6K4-L J-BGOA thuộc Hãng hàng không Đại Nhật Bản (Dai Nippon Koku). Vụ nổ sau đó xé rời cánh phải của chiếc thuyền bay. (80G-296951, RG80, NARA)
Sau khi chiếm được Leyte, Hải quân Mỹ đã điều một số phi đoàn và đơn vị PB4Y đến sân bay Tacloban để tuần tra Biển Đông, phía tây Philippines, trải dài đến tận bờ biển Đông Dương thuộc Pháp. Ngày 28 tháng 12, Trung úy (jg) Edward Hagen và phi hành đoàn của ông thuộc VPB-104 đã cất cánh từ Tacloban trong một chuyến tuần tra như vậy – những nhiệm vụ này khiến các phi cơ Liberator phải bay quãng đường hơn 1.000 dặm. Khi đang bay ở độ cao 7.500 ft, họ phát hiện một chiếc “Mavis” đang áp lại từ độ cao 10.000 ft. Một lần nữa, đây là chiếc H6K4-L “Mavis” vận tải của Hãng hàng không Đại Nhật Bản (Dai Nippon Koku), cụ thể là chiếc J-BGOA, đang bay trên tuyến đường từ Sài Gòn, Đông Dương thuộc Pháp, đến phía nam Formosa.
Hagen kéo máy bay của mình vòng sang mạn phải và bắt đầu leo cao bám theo “Mavis,” tăng thêm công suất. Khi đạt đến 8.500 ft, chiếc PB4Y nằm phía dưới và hơi chếch sau chiếc H6K thì Hagen ra lệnh khai hỏa. Các pháo thủ ở tháp pháo mũi và tháp pháo trên bắn, trúng động cơ số 3, khiến nó bắt đầu bốc khói. Súng máy của tháp pháo mũi sau đó bị kẹt, nhưng tháp pháo trên vẫn tiếp tục bắn từng loạt ngắn liên tục. Chiếc “Mavis” chúi xuống và hướng về một đám mây lớn, thực hiện những vòng ngoặt nhẹ để đánh lạc hướng ngắm bắn của PB4Y, nhưng không thành công. Sau khi khắc phục xong vụ kẹt đạn, pháo thủ tháp pháo mũi lại khai hỏa, và loạt đạn từ cả hai tháp pháo gây ra một vụ nổ ở cánh mạn phải, xé toạc cánh chiếc thuyền bay. Chiếc H6K xoay tròn lao xuống và đâm xuống biển.
Ngày 30 tháng 12 năm 1944, Trung úy Graham Squires và phi hành đoàn VPB-117 chạm trán một “Emily” ở phía tây nam nam Formosa. Một lần nữa, radar tìm kiếm của PB4Y-1 giúp họ phát hiện chiếc thuyền bay giữa mây. Xạ thủ của Liberator bắn cháy động cơ số 3, và có thể là cả động cơ số 2. (80G-311301, RG80, NARA)
Ngày 30 tháng 12 năm 1944, Trung úy Graham Squires và phi hành đoàn VPB-117 chạm trán một “Emily” ở phía tây nam nam Formosa. Một lần nữa, radar tìm kiếm của PB4Y-1 giúp họ phát hiện chiếc thuyền bay giữa mây. Xạ thủ của Liberator bắn cháy động cơ số 3, và có thể là cả động cơ số 2. (80G-311301, RG80, NARA)
Phi công chiếc “Emily” cố gắng đâm vào PB4Y-1 của Squires khi chiếc này bay qua đầu mình nhưng thất bại, và ít lâu sau chiếc H8K của Không đoàn 801 nổ tung khi lao xuống Biển Đông. (80G-311106, RG80, NARA)
Phi công chiếc “Emily” cố gắng đâm vào PB4Y-1 của Squires khi chiếc này bay qua đầu mình nhưng thất bại, và ít lâu sau chiếc H8K của Không đoàn 801 nổ tung khi lao xuống Biển Đông. (80G-311106, RG80, NARA)
Trận không chiến cuối cùng trong năm với một thuyền bay Nhật diễn ra vào hai ngày sau đó, vào ngày 30 tháng 12, khi một phi hành đoàn PB4Y thuộc VPB-117 phát hiện một chiếc H8K trong lúc tuần tra ngoài khơi Formosa. Buổi sáng hôm đó, Trung úy Graham Squires và phi hành đoàn của ông bay trên Biển Đông, về phía tây nam mũi phía nam của Formosa, theo hướng tây ở độ cao 6.000 ft giữa hai tầng mây. Chiếc PB4Y bay ngay dưới tầng mây trên khi pháo thủ tháp pháo trên báo cáo có một chiếc “Emily” bay ở vị trí “ba giờ” của máy bay, cách khoảng 18 dặm về phía đông nam.
Squires nhanh chóng cho máy bay leo vào mây để tránh bị chiếc thuyền bay phát hiện. Khéo léo tận dụng tầng mây, Squires đã rút ngắn khoảng cách xuống chỉ còn sáu dặm thì phi hành đoàn “Emily” phát hiện ra chiếc PB4Y đang áp sát. Chiếc thuyền bay lập tức ngoặt lại và hướng về phía Formosa, trong khi Squires bám theo, lao xuống tầng mây dưới để che giấu. Nhân viên radar trên PB4Y nhanh chóng bắt được tín hiệu của “Emily” trên màn hình radar AN/APS-15 và dẫn Squires về phía máy bay đối phương, chiếc này đã hạ thấp xuống dưới tầng mây thấp và bổ nhào xuống biển, rồi kéo lên ở độ cao 150 ft. Squires rút ngắn cự ly và bay ngang phía trên H8K ở độ cao 200 ft.
Mặc dù PB4Y vẫn chưa vào tầm súng 0,50-cal, nhưng các pháo thủ ở tháp pháo lưng và pháo đuôi 20mm của “Emily” đã khai hỏa, song lại không bắn trúng Liberator. Khi PB4Y nhanh chóng áp sát, pháo thủ ở tháp pháo mũi bắn hạ tháp pháo lưng của "Emily", rồi bắn cháy động cơ số 3. Pháo thủ tháp pháo trên cũng bắn trúng “Emily” chỉ vài giây sau đó. Squires giảm công suất để tránh vượt qua trước chiếc thuyền bay, nhưng khi ông sắp bay qua H8K, phi công chiếc này đột ngột kéo máy bay lên nhằm đâm vào PB4Y. Squires lập tức đẩy hết ga và kéo Liberator vọt lên phía trên “Emily,” thoát nạn trong gang tấc khi chỉ cách nhau 25 ft. Chiếc H8K bị hư hại chí mạng, thuộc Không đoàn 801, lảo đảo sang mạn phải và lao xuống biển.
Sau trận đánh ngày 30 tháng 12, lại có một khoảng lặng trong các cuộc chạm trán giữa PB4Y và thuyền bay của IJNAF. Khoảng lặng này kết thúc vào ngày 11 tháng 3 năm 1945, khi, trong sự ngẫu nhiên kỳ lạ của chiến đấu trên không giữa Thái Bình Dương mênh mông, hai phi đoàn PB4Y đã lần lượt bắn hạ một H8K trong vòng sáu ngày. Hai trận đánh diễn ra cách nhau hàng trăm dặm và trong những hoàn cảnh khác nhau. Trận ngày 11 tháng 3 mang lại chiến công trên không đầu tiên cho VPB-118 – đơn vị PB4Y-2 Privateer đầu tiên tham chiến tại Thái Bình Dương. Trận thứ hai, sáu ngày sau, lại dựa vào giải mã và tình báo tín hiệu – lĩnh vực mà Hải quân Mỹ tiếp tục có lợi thế công nghệ lớn trước IJNAF.
VPB-118 được thành lập vào tháng 7 năm 1944 với tư cách Phi đoàn Tuần tra Ném bom, ban đầu sử dụng các PB4Y-1 trước khi chuyển sang PB4Y-2 lớn hơn vào tháng sau. Đơn vị đến Tinian vào ngày 10 tháng 1 năm 1945 để bắt đầu giai đoạn công tác với Không đoàn Hạm đội 1. VPB-118 nhanh chóng tiến hành các chuyến tuần tra dài từ 600 đến 1.000 dặm về phía tây và bắc Tinian.
Chiếc PB4Y-2 cải tiến bắt đầu thay thế PB4Y-1 trong các đơn vị tuần tra trên đất liền của Hải quân Mỹ từ cuối năm 1944, với VPB-118 là phi đội Privateer đầu tiên đến Thái Bình Dương đầu năm 1945. Từ căn cứ ở Tinian, Trung úy Norman Keiser và phi hành đoàn đã bắn rơi một “Emily” vào ngày 11 tháng 3 năm 1945, giành chiến công trên không đầu tiên cho VPB-118. (80G-407352, RG80, NARA)
Chiếc PB4Y-2 cải tiến bắt đầu thay thế PB4Y-1 trong các đơn vị tuần tra trên đất liền của Hải quân Mỹ từ cuối năm 1944, với VPB-118 là phi đội Privateer đầu tiên đến Thái Bình Dương đầu năm 1945. Từ căn cứ ở Tinian, Trung úy Norman Keiser và phi hành đoàn đã bắn rơi một “Emily” vào ngày 11 tháng 3 năm 1945, giành chiến công trên không đầu tiên cho VPB-118. (80G-407352, RG80, NARA)
Ngày 11 tháng 3, Trung úy Norman Keiser và phi hành đoàn của ông ở đầu phía bắc của khu vực tuần tra, ngay phía đông quần đảo Ryukyu, bay ở độ cao 2.000 ft. Phi hành đoàn phát hiện hai chiếc H8K ở 7.000 ft bay cùng 7 máy bay hai động cơ, được phi hành đoàn Keiser nhận dạng là tiêm kích hai chỗ ngồi Kawasaki Ki-45 “Nick.” Họ cho rằng những chiếc “Emily” đang hộ tống “Nick” trong một phi vụ chuyển quân, nhưng cũng có khả năng những thuyền bay và máy bay hai động cơ này thực chất là một phần của phi vụ cảm tử Kamikaze nhằm vào lực lượng hải quân Mỹ ở Ulithi Atoll.
IJNAF đã phái 24 máy bay ném bom Yokosuka P1Y1 Ginga (tên mã Đồng minh là “Frances”) thuộc Đơn vị Đặc công Azusa, với H8K từ Không đoàn 801 làm hộ tống. Có 5 đến 6 chiếc P1Y1, vốn có hình dáng khá giống Ki-45, phải quay về căn cứ vì trục trặc động cơ, và có thể nhóm còn lại bị giảm sút này chính là những gì Keiser và phi hành đoàn đã gặp. Ba trong số những máy bay mà họ xác định là "Nick" đã bay ra để quan sát chiếc PB4Y‑2 sau khi phi hành đoàn nhận thấy radar Nhật đã phát hiện chiếc Privateer, nhưng chúng không hề có nỗ lực đánh chặn nào.
Không lâu sau đó, phi hành đoàn phát hiện thêm một chiếc “Emily,” có thể không liên quan đến phi vụ Ulithi, đang bay ở 5.000 ft theo lộ trình ngược hướng ở vị trí “ba giờ” của PB4Y-2. Keiser tăng công suất và bắt đầu một vòng ngoặt lên mạn phải để đánh chặn chiếc “Emily.” Ông bắt kịp thuyền bay, áp sát từ vị trí “năm giờ” rồi chúi xuống tiếp cận hơi thấp hơn “Emily.” Khi H8K ở vị trí “mười một giờ,” pháo thủ tháp pháo mũi khai hỏa, bắn trúng cánh đuôi đứng của “Emily.”
Keiser sau đó nghiêng máy bay sang mạn trái để đặt PB4Y-2 vào giữa mặt trời và H8K nhằm gây khó khăn cho pháo thủ đối phương ngắm bắn. Đáp lại, “Emily” chúi xuống để lấy tốc độ, rồi ngoặt sang phải. Khi chiếc thuyền bay tăng tốc và vượt lên trước PB4Y-2 khoảng 800 yard, các tháp pháo mũi, trước, sau và tháp pháo mạn phải ERCO đồng loạt khai hỏa cho đến khi PB4Y-2 chỉ còn cách 200 yard. Loạt đạn đã phá hủy khẩu pháo 20mm mạn trái của “Emily,” khẩu súng này trước đó đã bắn dữ dội vào PB4Y-2. Lửa bùng lên ở cánh trái H8K, động cơ số 2 rơi khỏi thủy phi cơ khi nó lao xuống mất kiểm soát và đâm xuống nước – một cột khói đen khổng lồ bốc cao 5.000 ft từ chỗ “Emily” rơi. Trở về Tinian, Keiser và phi hành đoàn được các đồng đội VPB-118 mua đồ uống để chúc mừng chiến công trên không đầu tiên của phi đoàn.
Sáu ngày sau (ngày 17 tháng 3), đến lượt VPB-104 kỳ cựu, khi đó đóng tại sân bay Clark trên đảo Luzon ở Philippines, tham chiến. Với Trung úy Paul Stevens và phi hành đoàn, ngày hôm đó bắt đầu như thường lệ bằng buổi giao nhiệm vụ. Phi hành đoàn của ông cùng ba tổ bay khác thuộc VPB-104 được phân công tuần tra trên Biển Đông, với Stevens phụ trách khu vực giữa Formosa và bờ biển Trung Quốc. Tuy nhiên, nhiệm vụ chính được giao cho bốn tổ bay lại khác thường.
Họ phải tìm và bắn hạ một chiếc “Emily” mà tình báo Hải quân Mỹ, qua chặn thu vô tuyến, tin rằng đang chở Phó Đô đốc Seigo Yamagata, Tư lệnh Hạm đội Viễn chinh phương Nam số 4 tại Đông Ấn Hà Lan, đang trên đường trở về Tokyo để nhậm chức Thứ trưởng Bộ Hải quân với quân hàm Đô đốc. IJNAF đã cử một chiếc H8K2-L để đưa Yamagata cùng nhiều sĩ quan tham mưu về Nhật Bản, cất cánh từ Singapore rồi bay theo hướng đông bắc dọc bờ biển Trung Quốc.
Với Stevens và phi hành đoàn, đây là một chuyến tuần tra đầy biến cố. Khi đến bờ đông Trung Quốc, Stevens phát hiện một tàu chở hàng địch 2.000 tấn và tấn công, để lại con tàu đang cháy chìm. Tiếp đó, phi hành đoàn phát hiện hai thủy phi cơ Aichi E13A “Jake” bay theo đội hình. Chiếc dẫn đầu rẽ vào trú ẩn gần một tàu khu trục Nhật, nhưng Stevens cho PB4Y bay áp sát chiếc “Jake” thứ hai, và các pháo thủ ở tháp pháo mũi, trên, đuôi cùng pháo thủ mạn phải bắn hạ chiếc thủy phi cơ của IJNAF trong biển lửa. Stevens sau đó bay đến một điểm tuần tra đặc biệt ngoài khơi bờ biển Trung Quốc, nơi tình báo tin rằng ông sẽ có cơ hội chặn được chiếc “Emily” chở khách đặc biệt.
Chiều muộn hôm đó, khi đang bay ở 2.000 ft, phi hành đoàn phát hiện một chiếc H8K đang đến gần ở 3.000 ft theo hướng ngược lại, cách khoảng năm dặm. Stevens cho máy bay ngoặt lên cao và rút ngắn cự ly, các pháo thủ tháp pháo mũi và trên khai hỏa. Phát hiện chiếc PB4Y lao tới, phi công “Emily” tăng công suất nhưng không hề cơ động né tránh. Khi PB4Y bắt đầu khai hỏa, chiếc thuyền bay đi vào thế lượn thoai thoải ở tốc độ cao, đạt 250 dặm/giờ. Pháo thủ của Stevens bắn 600 viên đạn vào H8K, và mặc dù bị thương, chiếc máy bay vẫn tiếp tục từ từ kéo xa khỏi PB4Y. Stevens buộc phải từ bỏ việc truy đuổi vì nhiên liệu sắp cạn.
Sau đó, Hải quân Mỹ được nguồn tin ở Trung Quốc cho biết chiếc “Emily” đã phải hạ cánh khẩn trên bờ sông gần biển, trong khu vực do quân Quốc dân đảng kiểm soát. Khi binh sĩ Trung Quốc tiếp cận chiếc thuyền bay bị mắc kẹt, một số thành viên phi hành đoàn chống trả nhưng bị giết. Thay vì bị bắt, Phó Đô đốc Yamagata đã tự sát. Một sự trùng hợp kỳ lạ là Yamagata có họ hàng với tác giả Osamu Tagaya của Osprey (nhà xuất bản cuốn sách này) thông qua gia đình bên mẹ ông.
Chuỗi chiến công của PB4Y trước các thuyền bay IJNAF đã kết thúc như khi nó bắt đầu — bằng việc một chiếc Liberator bắn rơi một “Mavis.” Ngày 9 tháng 5 năm 1945, Chỉ huy trưởng VPB-116, Trung tá Allen Waggoner, cùng phi hành đoàn đã tấn công một chiếc H6K vận tải ngoài khơi Nhật Bản. Như thấy rõ trong ảnh, xạ thủ tháp pháo mũi và lưng của chiếc máy bay tuần tra đã thiêu cháy cánh trái của thuyền bay trong loạt bắn kéo dài hai phút liên tiếp. (80G-490083, RG80, NARA)
Chuỗi chiến công của PB4Y trước các thuyền bay IJNAF đã kết thúc như khi nó bắt đầu — bằng việc một chiếc Liberator bắn rơi một “Mavis.” Ngày 9 tháng 5 năm 1945, Chỉ huy trưởng VPB-116, Trung tá Allen Waggoner, cùng phi hành đoàn đã tấn công một chiếc H6K vận tải ngoài khơi Nhật Bản. Như thấy rõ trong ảnh, xạ thủ tháp pháo mũi và lưng của chiếc máy bay tuần tra đã thiêu cháy cánh trái của thuyền bay trong loạt bắn kéo dài hai phút liên tiếp. (80G-490083, RG80, NARA)
Chuỗi chiến thắng của PB4Y trước các thuyền bay của IJNAF đã kết thúc cũng như lúc bắt đầu, với một chiếc “Mavis” gục ngã trước hỏa lực của Liberator. Vào tháng 5 năm 1945, VPB-116 chính thức đóng tại Tinian, nhưng phần lớn máy bay của phi đoàn này hoạt động từ Iwo Jima trong các chuyến tuần tra đến bờ biển Nhật. Ngày 9 tháng 5, Trung tá Allen Waggoner, chỉ huy trưởng VPB-116, rời Iwo Jima từ sáng sớm để tuần tra dọc bờ biển Honshu, phía đông Nagoya, tìm kiếm các trạm radar và vô tuyến Nhật.
Bay về phía đông qua vịnh Suruga, phi hành đoàn phát hiện một máy bay Nhật đang hướng nam ở phía mạn trái, họ nhanh chóng nhận dạng đó là một chiếc “Mavis.” Waggoner để nó bay qua đầu rồi ngoặt sang phải để áp sát từ phía sau. Chiếc PB4Y bám theo H6K suốt 30 dặm trước khi vào tầm bắn. Khi pháo thủ tháp pháo trên báo cáo rằng đã vào đủ gần để khai hỏa, Waggoner trả lời: “Được rồi, cứ nổ súng hạ thằng khốn đó đi.”
Chiếc “Mavis” vẫn không hề biết PB4Y đang áp sát từ dưới và phía sau, dường như đó là biến thể vận tải H6K không có tháp pháo đuôi. Waggoner điều khiển máy bay vào vị trí chỉ cách sau 100 yard và thấp hơn 75 ft so với “Mavis,” lúc này pháo thủ tháp pháo mũi, theo lệnh, tập trung bắn dọc theo thân máy bay, trong khi pháo thủ tháp pháo trên ngắm vào động cơ. Chỉ vài giây sau, động cơ số 2 bốc cháy. Sau hai phút bắn liên tục, chiếc “Mavis” chúi xuống và, với một cánh bốc lửa, đâm xuống nước. Phi công dường như đã cố gắng hạ cánh, nhưng sau khi chạm mạnh vào mặt biển và nảy lên một lần, chiếc máy bay phát nổ khi chạm nước lần thứ hai.

THỐNG KÊ VÀ PHÂN TÍCH

Sau khi chiến tranh kết thúc, một chiếc Type 97 phiên bản vận tải đậu tại căn cứ Dai Nippon Koku ở Yokohama, đối diện với một chiếc H8K. Chiếc “Mavis” này đã được sơn lại theo quy chuẩn đầu hàng, gồm toàn thân màu trắng với các dấu thập màu xanh lá cây. (GAF_image_804_1, MoF)
Sau khi chiến tranh kết thúc, một chiếc Type 97 phiên bản vận tải đậu tại căn cứ Dai Nippon Koku ở Yokohama, đối diện với một chiếc H8K. Chiếc “Mavis” này đã được sơn lại theo quy chuẩn đầu hàng, gồm toàn thân màu trắng với các dấu thập màu xanh lá cây. (GAF_image_804_1, MoF)
Một phân tích về các trận chiến giữa PB4Y và H6K, H8K làm nổi bật sự chênh lệch rõ rệt trong kết quả. Từ cuộc chạm trán đầu tiên giữa các máy bay này năm 1943 đến trận không chiến cuối cùng năm 1945, PB4Y đã tuyên bố bắn hạ 15 thuyền bay “Mavis” và “Emily”, bao gồm 5 chiếc H6K và 10 chiếc H8K. Các phi hành đoàn PB4Y tham chiến đã nhìn thấy tất cả chúng, trừ một chiếc trong số đó, đều rơi xuống.
Trong năm 1944, Hải quân Mỹ tuyên bố bắn hạ 8 chiếc “Mavis”, trong đó PB4Y chiếm một nửa, và 22 chiếc “Emily”, trong đó một phần ba được các phi đoàn PB4Y ghi nhận. Các phi đoàn PB4Y được công nhận chiếm 24,6 % trong tổng số thuyền bay Nhật bị Hải quân Mỹ tuyên bố bắn hạ trong suốt chiến tranh. Ngược lại, theo như có thể xác định, không có chiếc PB4Y nào bị mất trong giao chiến với thuyền bay của IJNAF.
Phi đoàn có thành tích cao nhất chống lại thuyền bay Nhật là VB/VPB-104, với 2 chiếc H6K và 1 chiếc H8K bị tuyên bố bắn hạ trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1943 đến tháng 3 năm 1945. Bốn phi đoàn khác – VB/VPB-106, VB/VPB-115, VPB-116 và VPB-117 – mỗi phi đoàn tuyên bố bắn hạ hai thuyền bay. Trung úy Everett Mitchell và phi hành đoàn của ông thuộc VB/VPB-106 là phi hành đoàn PB4Y duy nhất tuyên bố bắn hạ hai thuyền bay (một chiếc “Mavis” và một chiếc “Emily”), hạ cả hai trong cùng một tuần – một chuỗi may mắn phi thường khi xét đến sự hiếm hoi của những cuộc chạm trán giữa máy bay tuần tra ném bom và thuyền bay của IJNAF.
Câu hỏi được đặt ra từ việc đánh giá những con số này là tại sao kết quả lại một chiều như vậy? Câu trả lời cho những trận giao chiến giữa PB4Y và “Mavis” khá rõ ràng – PB4Y vượt trội về hỏa lực và khả năng bảo vệ, đặc biệt là so với các phiên bản vận tải của H6K, vốn hầu như không có cơ hội sống sót trước PB4Y. Việc thiếu thùng nhiên liệu có khả năng tự bảo vệ và chỉ được trang bị hạn chế đã khiến “Mavis” dễ bị tổn thương trước bất kỳ cuộc tấn công quyết liệt nào.
H8K lại là trường hợp thú vị hơn. “Emily” có giáp bảo vệ cho phi hành đoàn, thùng nhiên liệu tự hàn kín hiệu quả nhất trong số các máy bay Nhật từng được sử dụng trong Thế chiến II, hệ thống CO2 bổ sung để ngăn cháy, tốc độ cao và, quan trọng nhất, hỏa lực mạnh với năm khẩu pháo 20mm bố trí ở mũi, hai bên hông, lưng và đuôi. Nó được coi là một máy bay khó bị bắn hạ. Lượng hỏa lực từ loạt bắn hai giây của ba khẩu pháo Type 99 20mm trên một chiếc “Emily” thậm chí còn lớn hơn một chút so với loạt bắn hai giây từ bốn khẩu súng máy Browning M2 0,50 inch ở tháp pháo mũi và lưng trên của PB4Y. Những viên đạn 20mm nặng hơn cũng có sức phá hủy lớn hơn so với đạn 0,50 inch. Thế nhưng, bất chấp những lợi thế này, H8K vẫn tỏ ra yếu thế trước PB4Y. Một lời giải thích khả dĩ cho sự chênh lệch này có thể tìm thấy trong sự khác biệt về học thuyết, chiến thuật, và huấn luyện, cũng như một “khiếm khuyết” kỹ thuật của “Emily”.
Học thuyết tuần tra ném bom của Hải quân Mỹ mang tính tấn công rõ rệt. Trong khi trinh sát vẫn là nhiệm vụ chính của thuyền bay và máy bay tuần tra trên bộ, thì hành động tấn công vào tàu thuyền, máy bay và căn cứ quân sự của đối phương được khuyến khích. Máy bay tuần tra của Hải quân Mỹ, cả thuyền bay và loại trên bộ, đều được trang bị bom và ngư lôi, và được kỳ vọng sẽ thực hiện các nhiệm vụ tấn công.
Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, các phi đoàn tuần tra ném bom của Hải quân Mỹ thường có biên chế 12 máy bay, với thêm hai đến ba chiếc dự bị. Một chiếc máy bay thực hiện trung bình từ 10 đến 12 chuyến bay mỗi tháng, và ghi nhận một “phi vụ tác chiến” – tức là tấn công mục tiêu hoặc máy bay đối phương – trong khoảng một trên tám chuyến bay. PB4Y mang bom hoặc thủy lôi chống ngầm trong mọi phi vụ tuần tra. Không ngạc nhiên khi hơn 50 % phi vụ tác chiến là chống lại tàu bè Nhật Bản, đặc biệt là các tàu nhỏ dưới 500 tấn.
PB4Y đã chạm trán 1.254 máy bay Nhật trong các chuyến tuần tra, tuyên bố bắn hạ 306 chiếc với tổn thất 28 chiếc PB4Y, cùng với thêm 99 chiếc bị hư hại. Điều này mang lại tỷ lệ chiến thắng – tổn thất là 10,9 máy bay Nhật cho mỗi một chiếc PB4Y bị mất; tỷ lệ cao nhất trong số các loại máy bay trên bộ của Hải quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ. PB4Y tuyên bố bắn hạ 125 máy bay ném bom, vận tải và thuyền bay Nhật, cộng thêm 181 máy bay tiêm kích. Các trận đánh với máy bay tiêm kích Nhật thường là phòng thủ, nhưng PB4Y là mục tiêu khó bị hạ. Từ tháng 9 năm 1944 đến tháng 8 năm 1945, PB4Y tuyên bố bắn hạ 64 máy bay tiêm kích một động cơ Nhật với tổn thất 11 chiếc PB4Y – đạt tỷ lệ gần 6-1. Ngay cả khi có sự thổi phồng trong các báo cáo, PB4Y vẫn chiến đấu sòng phẳng.
Đối với thủy phi cơ, thuyền bay, máy bay ném bom và vận tải của IJNAF, sự áp đảo của PB4Y là tuyệt đối. Trong cùng giai đoạn 1944 – 45, PB4Y tuyên bố bắn hạ 140 máy bay Nhật mà không mất chiếc nào. Phi công và phi hành đoàn PB4Y luôn chủ động tấn công.
Các phi đoàn PB4Y đã phát triển chiến thuật hiệu quả chống lại thủy phi cơ Nhật, trước hết là trong việc định vị, sau đó là trong việc ngắm bắn. Phi công cố gắng cơ động để áp sát phía sau một chiếc “Mavis” hoặc “Emily” hơi lệch sang một bên, và trong chừng mực có thể, tạo điều kiện cho nhiều tháp pháo cùng khai hỏa. Trong một phân tích về các tuyên bố bắn hạ máy bay Nhật của PB4Y từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1944, nhiều xạ thủ tham gia trong 73 % các trận không chiến thành công. Không ngạc nhiên khi tháp pháo mũi và tháp pháo lưng trên tham gia trong hơn 50 phần trăm các trận chiến. Việc ngắm bắn rất cụ thể và chính xác. Các xạ thủ PB4Y học cách bắn hạ tháp pháo của “Mavis” và “Emily” trước. Sau khi loại bỏ hỏa lực đối phương, họ có thể tập trung vào động cơ và thùng nhiên liệu. Các xạ thủ PB4Y bắn rất chính xác, như các Báo cáo Hành động Trên không ghi lại. Một khi đã vào tầm bắn, việc tiêu diệt H6K hoặc H8K hiếm khi mất hơn vài phút hỏa lực dữ dội. Điều này cho thấy sự vượt trội trong huấn luyện bắn súng của Hải quân Mỹ.
Ngược lại, học thuyết tuần tra của IJNAF dường như đã thay đổi trong chiến tranh. Lúc đầu, IJNAF sử dụng H6K, và sau đó là H8K, trong các nhiệm vụ ném bom và ngư lôi, nhưng các Không đoàn thuyền bay cuối cùng đã từ bỏ các hoạt động này để tập trung vào trinh sát và vận tải, khi hiệu quả của các phi vụ tấn công không bù đắp được tổn thất. Điều này có thể một phần do sự khan hiếm thuyền bay khi chiến tranh tiếp diễn.
Trong khi Hải quân Mỹ năm 1944 – 45 trung bình có 371 máy bay tuần tra các loại hoạt động ở Thái Bình Dương (PB4Y, PV, PBM và PBY), thì IJNAF có thể chỉ có khoảng 50 chiếc H8K đang hoạt động, chia cho 3 Không đoàn thuyền bay. Với tổn thất gia tăng và tốc độ sản xuất chậm, IJNAF phải giải tán Không đoàn 802 vào tháng 4 năm 1944 và Không đoàn 851 vào bảy tháng sau đó, chỉ còn mỗi Không đoàn 801 là đơn vị chính vận hành thuyền bay Type 2. Một số ít H8K khác phục vụ trong Không đoàn 901, 951 và Takuma. Khi thuyền bay ngày càng trở nên khan hiếm, thì học thuyết của IJNAF đã chuyển sang bảo tồn lực lượng, thay vì mạo hiểm trong các nhiệm vụ tấn công.
Tâm lý sợ rủi ro này cũng ảnh hưởng đến chiến thuật của thuyền bay Nhật khi bị tấn công. Các Báo cáo Hành động Phi cơ của PB4Y nhiều lần nêu rõ các thuyền bay Nhật hầu như không thực hiện cơ động né tránh đáng kể khi bị tấn công. Chiến thuật chủ yếu dường như là cố gắng thoát khỏi PB4Y bằng cách hạ độ cao xuống gần mặt biển (nơi hầu hết các cuộc chạm trán diễn ra) để bảo vệ phần bụng dễ tổn thương và tăng tốc độ nhằm vượt khỏi máy bay Mỹ. Dù vậy, trong hầu hết các trận đánh, PB4Y vẫn đuổi kịp cả “Emily” vốn có tốc độ nhanh hơn – các phi công H8K không thúc ép máy bay của mình đến giới hạn đủ sớm. Chỉ trong một vài trường hợp thì phi công của “Emily” mới cơ động quyết liệt để phá đòn tấn công.
Khía cạnh khó hiểu nhất trong những trận không chiến này là khả năng bắn cực kỳ kém cỏi của các phi hành đoàn IJNAF. Thật đáng kinh ngạc khi các xạ thủ trên thuyền bay Nhật, đặc biệt là “Emily”, không chỉ thất bại trong việc gây hư hại cho PB4Y tấn công, mà thậm chí còn không bắn trúng lần nào. Ví dụ rõ ràng nhất – chắc chắn là niềm nhẹ nhõm lớn cho phi hành đoàn PB4Y có liên quan – xảy ra ngày 31 tháng 10 năm 1944, khi các tháp pháo 20mm của một chiếc “Emily” bắn hơn 200 viên đạn mà chỉ trúng đúng một phát vào chiếc Liberator đang truy đuổi.
Mặc dù H8K có hỏa lực mạnh, nhưng các phi hành đoàn dường như không tận dụng được sức mạnh đó. Điều này đặt ra câu hỏi về bản chất và chất lượng huấn luyện bắn súng của người Nhật, hoặc ít nhất là huấn luyện mà IJNAF cung cấp cho các phi hành đoàn thuyền bay. Tương tự, cũng có câu hỏi về việc các phi công thuyền bay Nhật được huấn luyện thế nào để đối phó với các cuộc tấn công trên không.
Ngoài ra, các Báo cáo Hành động Phi cơ còn nhiều lần nhắc đến việc súng máy 0,50 inch của PB4Y nhanh chóng bắn cháy động cơ của H8K. Các báo cáo cho thấy việc bảo vệ thùng nhiên liệu của “Emily” nhìn chung khá thành công, vì phi hành đoàn PB4Y thường tỏ ra thất vọng khi không thấy máy bay bùng cháy sau khi bắn trúng thùng nhiên liệu như với các loại máy bay Nhật khác. Rất có thể, trong khi IJNAF chú trọng bảo vệ hệ thống nhiên liệu của H8K, họ lại bỏ qua động cơ, vô tình tạo ra một điểm yếu chí tử.

KẾT QUẢ

Hải quân Mỹ đã quyết định mang một chiếc H8K về Mỹ để tiến hành các cuộc thử nghiệm chuyên sâu. Sau khi chọn ra chiếc máy bay còn trong tình trạng tốt nhất, họ đã vận chuyển nó đến NAS Whidbey Island, Washington, trên tàu tàu tiếp tế thủy phi cơ USS Cumberland Sound (AV-17) vào tháng 11 năm 1945. Chiếc máy bay được nhìn thấy tại cơ sở Oak Harbor của Trạm Không lực Hải quân, phía sau là ba chiếc PBM-5 Mariner đang đặt trên càng di chuyển bờ biển. Nhân viên Hải quân Mỹ đã tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng chiếc “Emily” tại Oak Harbor và kết luận rằng nó không thể bay xuyên quốc gia đến trung tâm thử nghiệm tại NAS Patuxent River. (80G-278283, RG80, NARA)
Hải quân Mỹ đã quyết định mang một chiếc H8K về Mỹ để tiến hành các cuộc thử nghiệm chuyên sâu. Sau khi chọn ra chiếc máy bay còn trong tình trạng tốt nhất, họ đã vận chuyển nó đến NAS Whidbey Island, Washington, trên tàu tàu tiếp tế thủy phi cơ USS Cumberland Sound (AV-17) vào tháng 11 năm 1945. Chiếc máy bay được nhìn thấy tại cơ sở Oak Harbor của Trạm Không lực Hải quân, phía sau là ba chiếc PBM-5 Mariner đang đặt trên càng di chuyển bờ biển. Nhân viên Hải quân Mỹ đã tiến hành kiểm tra kỹ lưỡng chiếc “Emily” tại Oak Harbor và kết luận rằng nó không thể bay xuyên quốc gia đến trung tâm thử nghiệm tại NAS Patuxent River. (80G-278283, RG80, NARA)
Đến cuối năm 1944, lực lượng H8K của Không lực Hải quân Đế quốc Nhật Bản (IJNAF) buộc phải tiến hành trinh sát ban đêm (sử dụng radar ASV để định vị các hạm đội tàu sân bay của Hải quân Mỹ) nhằm tránh bị máy bay tuần tra Mỹ và máy bay tiêm kích tàu sân bay đánh chặn vào ban ngày. Tuy nhiên, số lượng ngày càng tăng của các tiêm kích đêm F6F trên tàu sân bay Mỹ và từ các căn cứ trên đất liền đã khiến ngay cả các chuyến bay đêm cũng trở nên nguy hiểm đối với phi hành đoàn “Emily” vốn được giao nhiệm vụ truy tìm Lực lượng Đặc nhiệm Tàu sân bay tốc độ cao ngoài khơi Nhật Bản và Okinawa.
Như đã đề cập trước đó, vào ngày 11 tháng 3 năm 1945, hai chiếc H8K đã hộ tống 25 máy bay ném bom P1Y1 “Frances” trong một cuộc tấn công bất thành nhằm vào căn cứ hạm đội của Hải quân Mỹ tại Ulithi, và đây đã trở thành chiến dịch lớn cuối cùng của “Emily”. Trong các trận chiến trên quần đảo Nhật Bản và quanh Okinawa từ tháng 3 đến tháng 5 năm 1945, máy bay Hải quân Mỹ từ tàu sân bay đã tuyên bố bắn rơi 5 chiếc H8K, với 4 chiếc trong số đó vào ban đêm, và phá hủy thêm 4 chiếc khác trong các cuộc tấn công bằng hỏa lực súng máy. IJNAF tập trung số “Emily” còn lại vào Không đoàn Takuma đóng tại Biển Nội địa. Tổng cộng, trong 6 tháng cuối cùng của chiến tranh, IJNAF đã mất 25 trên tổng số 28 chiếc H8K có trong biên chế ở Nhật. Đáng chú ý là có một chiếc đã sống sót sau chiến tranh và hiện đang được trưng bày tại một bảo tàng ở Nhật Bản.
Sau đó, Hải quân Mỹ vận chuyển chiếc “Emily” đến Norfolk và thực hiện chuyến bay cuối cùng của một chiếc thuyền bay Type 2 đến NAS Patuxent River, nơi nó được thử nghiệm thủy động lực học. May mắn thay, chiếc máy bay đã được Hải quân Mỹ bảo tồn và sau đó hoàn trả lại cho Nhật Bản. (80G-265581, RG80, NARA)
Sau đó, Hải quân Mỹ vận chuyển chiếc “Emily” đến Norfolk và thực hiện chuyến bay cuối cùng của một chiếc thuyền bay Type 2 đến NAS Patuxent River, nơi nó được thử nghiệm thủy động lực học. May mắn thay, chiếc máy bay đã được Hải quân Mỹ bảo tồn và sau đó hoàn trả lại cho Nhật Bản. (80G-265581, RG80, NARA)
Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Hải quân Mỹ đặc biệt quan tâm đến việc thu giữ một chiếc H8K để thử nghiệm, và đã tìm thấy ba chiếc còn hoạt động tại căn cứ hải quân Takuma. Chiếc được lựa chọn từng phục vụ trong Không đoàn 802 tại Trung Thái Bình Dương. Với sự giúp đỡ của đội ngũ kỹ thuật IJNAF và một phi công “Emily”, Hải quân Mỹ đã cho chiếc thuyền bay đến Yokohama, phía nam Tokyo. Từ đây, H8K được vận chuyển bằng tàu qua Thái Bình Dương đến NAS Whidbey Island, phía bắc Seattle, Washington, nơi cuộc kiểm tra cho thấy nó không đủ điều kiện để bay qua toàn nước Mỹ. Thay vào đó, chiếc thuyền bay được vận chuyển qua Kênh đào Panama đến NAS Norfolk, Virginia, vào tháng 5 năm 1946.
Hai phi công hải quân sau đó đã thực hiện chuyến bay cuối cùng của một chiếc H8K, từ Norfolk đến NAS Patuxent River (trung tâm thử nghiệm bay của Hải quân Mỹ) tại Maryland, trong đó họ mất hai động cơ trên đường và một động cơ khi hạ cánh. Sau khi sửa chữa, chiếc máy bay bắt đầu các thử nghiệm thủy động lực học vào tháng 8 năm 1946, hoàn thành vào tháng 1 năm 1947. Sau đó, Hải quân Mỹ đưa nó trở lại NAS Norfolk để cất giữ.
Năm 1959, trong chuyến thăm các cơ sở nghiên cứu tại Mỹ, Tiến sĩ Shizuo Kikuhara, người đã thiết kế H8K, đã đến thăm chiếc “Emily”, lúc đó được bọc một lớp cao su để bảo vệ khỏi tác động của thời tiết. Chuyến thăm này đã dẫn đến nỗ lực đưa nó trở lại Nhật Bản. Việc này cuối cùng đã thành công vào năm 1979, khi “Emily” được trao tặng cho Bảo tàng Khoa học Hàng hải Tokyo. Sau hai năm trùng tu, máy bay được đưa ra trưng bày công chúng và duy trì tại Bảo tàng cho đến năm 2004, khi Cơ quan Phòng vệ Nhật Bản tiếp nhận quyền sở hữu và chuyển nó đến căn cứ Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) tại Kanoya, gần Kagoshima, trên đảo Kyushu. Hiện nay, chiếc máy bay đang được trưng bày tại đây như một phần của Bảo tàng JMSDF.
Di sản của H8K cũng tiếp tục tồn tại trong các thủy phi cơ Shin Meiwa PS-1/US-1 được chế tạo cho JMSDF. Sau chiến tranh, chính quyền chiếm đóng Đồng minh đã giải tán các tập đoàn công nghiệp lớn của Nhật Bản và cấm sản xuất máy bay. Công ty Kawanishi bị giải thể, nhưng được tái lập vào năm 1949 dưới tên Công ty Công nghiệp Shin Meiwa để sản xuất máy móc hạng nặng. Công ty cũng đã tham gia vào các dự án cho Không quân Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên.
Di sản của thuyền bay Type 2 vẫn tiếp tục tồn tại trong mẫu thuyền bay Shin Meiwa PS-1/US-1, được thiết kế cho Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) bởi Tiến sĩ Shizuo Kikuhara, người từng là cha đẻ của H8K. Phiên bản US-1A cứu hộ trên biển, được thấy trong ảnh, từng phục vụ trong Phi đoàn Cứu hộ Hàng không số 71 của JMSDF tại Căn cứ Không quân Atsugi cho đến năm 2017, khi nó được thay thế bởi phiên bản cải tiến US-2. (Wikipedia/CC BY 4.0)
Di sản của thuyền bay Type 2 vẫn tiếp tục tồn tại trong mẫu thuyền bay Shin Meiwa PS-1/US-1, được thiết kế cho Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản (JMSDF) bởi Tiến sĩ Shizuo Kikuhara, người từng là cha đẻ của H8K. Phiên bản US-1A cứu hộ trên biển, được thấy trong ảnh, từng phục vụ trong Phi đoàn Cứu hộ Hàng không số 71 của JMSDF tại Căn cứ Không quân Atsugi cho đến năm 2017, khi nó được thay thế bởi phiên bản cải tiến US-2. (Wikipedia/CC BY 4.0)
Mặc dù nhiều kỹ sư hàng không của công ty đã tìm được việc làm ở nơi khác sau khi Kawanishi bị giải thể, Tiến sĩ Shizuo Kikuhara vẫn ở lại và trong thập niên 1950 ông đứng đầu một ủy ban nghiên cứu thiết kế thủy phi cơ. Dù loại thủy phi cơ cỡ lớn khi ấy đã nhanh chóng mất đi sự ưa chuộng trong nhiều lực lượng hải quân, Tiến sĩ Kikuhara và nhóm của ông đã phát triển PS-1 cho JMSDF. Chiếc máy bay này có khả năng cất cánh và hạ cánh trên quãng ngắn, đồng thời có khả năng đi biển tốt, một phần nhờ vào các vây chống bắn tóe lấy cảm hứng từ thiết kế H8K. JMSDF đã tiếp nhận 23 chiếc PS-1, phục vụ cho đến năm 1989.
Tiến sĩ Kikuhara cũng thiết kế một phiên bản lưỡng dụng của PS-1 dành cho tìm kiếm và cứu nạn trên không - biển, được đặt tên là US-1 và biến thể nâng cấp US-1A. Shin Meiwa (đổi tên thành ShinMaywa vào năm 1992) đã chế tạo 14 chiếc. Năm 2004, công ty phát triển một phiên bản cải tiến của máy bay tìm kiếm và cứu nạn, đặt tên là US-2, hiện vẫn đang phục vụ trong JMSDF.
Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, Hải quân Mỹ đã lần lượt bổ sung các phi đoàn PB4Y-2 Privateer vào các Không đoàn Hạm đội ở Thái Bình Dương. Đến tháng 8 năm 1945 đã có 8 phi đoàn Privateer đóng tại Okinawa, quần đảo Mariana và Philippines, cùng với 5 đơn vị khác vẫn sử dụng PB4Y-1 hoặc đang chuyển đổi sang PB4Y-2. Sau chiến tranh, Privateer thay thế Liberator trong các phi đoàn tuần tra trên bộ của Hải quân Mỹ. Privateer đã thực hiện các nhiệm vụ tình báo tín hiệu ngoài khơi Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và trong Chiến tranh Triều Tiên thì đã thả pháo sáng hỗ trợ các cuộc tấn công ban đêm vào đoàn xe đối phương. Các phi đoàn thời tiết của Hải quân Mỹ sử dụng Privateer để theo dõi bão ở vùng Caribe và bão nhiệt đới ở Thái Bình Dương. PB4Y-2 phục vụ trong Hải quân Mỹ thường trực cho đến năm 1954, sau đó trong các phi đội Dự bị Hải quân Mỹ thêm vài năm nữa. Lực lượng Tuần duyên Mỹ cũng tiếp nhận một số ít Privateer được cải biến cho nhiệm vụ tìm kiếm và cứu nạn, sử dụng chúng cho đến năm 1958.
Chiếc PB4Y-2 Privateer có một sự nghiệp lâu dài trong Hải quân Mỹ, Tuần duyên Mỹ, và nhiều lực lượng không quân nước ngoài sau chiến tranh. Vào năm 1951, Hải quân Mỹ tái định danh các PB4Y-2 còn lại thành P4Y-2. Bức ảnh này cho thấy một hàng máy bay P4Y-2 của Phi đoàn VP-9 tại NAS Barbers Point, Hawaii. Các chiếc Privateer của VP-9 đã tham chiến trong Chiến tranh Triều Tiên, thực hiện nhiệm vụ thả pháo sáng cho các máy bay tiêm kích đêm của Thủy quân Lục chiến Mỹ. (80G-443411, RG80, NARA)
Chiếc PB4Y-2 Privateer có một sự nghiệp lâu dài trong Hải quân Mỹ, Tuần duyên Mỹ, và nhiều lực lượng không quân nước ngoài sau chiến tranh. Vào năm 1951, Hải quân Mỹ tái định danh các PB4Y-2 còn lại thành P4Y-2. Bức ảnh này cho thấy một hàng máy bay P4Y-2 của Phi đoàn VP-9 tại NAS Barbers Point, Hawaii. Các chiếc Privateer của VP-9 đã tham chiến trong Chiến tranh Triều Tiên, thực hiện nhiệm vụ thả pháo sáng cho các máy bay tiêm kích đêm của Thủy quân Lục chiến Mỹ. (80G-443411, RG80, NARA)
Nhiều lực lượng không quân nước ngoài cũng tiếp nhận PB4Y-2, đáng chú ý là Không lực Hải quân Pháp (Aéronavale), lực lượng đã sử dụng loại máy bay này trong các nhiệm vụ tuần tra và tìm kiếm cứu nạn trong các cuộc chiến tranh thuộc địa ở Đông Dương và Algeria. Khi được yêu cầu hỗ trợ lực lượng Pháp đang bị vây hãm tại Điện Biên Phủ, Aéronavale đã trang bị cho một số PB4Y-2 kính ngắm ném bom Norden, và mất hai chiếc trong các phi vụ này. PB4Y-2 cũng từng tham chiến với Không quân Trung Hoa Dân quốc, lực lượng này tiếp nhận 38 chiếc để làm nhiệm vụ tuần tra, tập kích quấy rối Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và các phi vụ bí mật thả điệp viên xuống Hoa lục và miền bắc Miến Điện. Không quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã bắn hạ một chiếc PB4Y-2 khi nó đang ném bom thành phố Hạ Môn vào ngày 12 tháng 9 năm 1954, trong khi vào ngày 14 tháng 2 năm 1961, phe Quốc dân mất thêm một chiếc PB4Y-2 trên không phận Miến Điện, bị Không quân Miến Điện sử dụng máy bay Sea Fury bắn hạ.
Sau khi kết thúc thời kỳ phục vụ quân sự, nhiều chiếc PB4Y-2 đã được chuyển cho các hãng hàng không dân sự. Sau khi được thay thế động cơ bằng loại Wright R-2600 Cyclone 14, một số chiếc được sử dụng như máy bay chữa cháy, thả chất chống cháy xuống các đám cháy rừng cho đến khi nghỉ hưu vào năm 2002. Trong khi một số ít Privateer hiện vẫn đang được trưng bày tại các bảo tàng hàng không ở Mỹ, thì không còn bất kỳ chiếc PB4Y-1 nào tồn tại đến ngày nay.
Link Phần 1: