Facebook không là nơi hóa giải hết những suy tư


Người thực sự quan tâm đến những trăn trở, suy tư của mình sẽ không tìm mình chỉ trên face.
Đời sống thực tại của người xưa là nơi họ trao đổi và hóa giải những suy tư cá nhân. Ngày nay, từ khi có mạng xã hội facebook (face) ra đời (cùng nhiều mạng xã hội khác), nhu cầu chia sẻ, luận bàn những suy tư cá nhân của con người ta trên không gian mạng ngày càng phổ biến hơn. Tôi cũng vậy.
Một thời gian khá lâu sau, tôi nghe được nhận xét: “Sao Sang dạo này ít viết trên face thế nhỉ?” Thời gian trôi đi, ngày trước face là nơi để tôi giải tỏa về nhiều chuyện trong cuộc sống, giờ thì tôi viết trên trang blog của mình. Trước câu hỏi đó, tôi im lặng, không trả lời, chỉ mỉm cười cho qua, vì người thực sự quan tâm đến những trăn trở, suy tư của mình sẽ không tìm mình chỉ trên face.
Bước sang tuổi 21 được vài tháng, tôi bỗng dưng nảy ra nhiều thứ rất kỳ lạ trong đầu. Những thứ đó không lạ gì ngoài những sự ám ảnh về thân xác. Song, sự ám ảnh đó lại biểu biểu cho sự ám ảnh lớn hơn: về bản thể. Từ đó, tôi đi đến thắc mắc nhiều về những mối quan hệ xung quanh. Và tôi có câu trả lời: nhiều khi, ta thực sự thân thiết với một ai đó trên mạng xã hội nhưng bước ra ngoài đời thì lại phớt lờ nhau, hoặc không thế, thì hụt hẫng/thất vọng vì một chuyện gì đó về nhau. [Những mối quan hệ lâu dài của tôi lại khác. Tôi không cần lôi chuyện mạng xã hội vào đây làm gì, vì những mối quan hệ dài lâu vốn vững bền (nhưng cũng có lúc xung động đến mức dữ dội)].
Cái tuổi đó, 21, nó không chỉ khiến tôi trăn trở về bản thể, hình hài (như tóc dạo này đã mọc dài chưa, lông có ra nhiều không, có bị sụt cân không, móng tay có thường xuyên cắt vì bị khích động không), nó khiến nhu cầu chia sẻ những suy tư của tôi ít lại. Biểu hiện là, tôi viết ngắn lại trên mạng xã hội, “thu mình” lại để quan sát xung quanh (xem mọi người nghĩ gì, chia sẻ điều gì về gia đình, tiền bạc hay công việc, những chuyến đi chơi), vì tôi nhận ra face, cũng như các mạng xã hội khác, không thể giúp tôi (hay là chúng ta?) hóa giải hết những suy tư của bản thân. Vấn đề đó dễ nhận ra với những ai có sự chiêm nghiệm về nó, khó đối với những ai lạm dụng tính chất kết nối, chia sẻ của face quá mức.
Ví như chúng ta chia sẻ hôm nay đi chơi cùng lũ bạn, post (đăng) ảnh “phè phỡn” với những ly trà sữa xanh xanh trắng trắng, với vài dòng tâm trạng vui vẻ vì bạn bè lâu ngày mới gặp mặt. Hay như chúng ta chia sẻ những dòng trạng thái thật dài, phát biểu cảm nghĩ về chuyện nhân tình thế thái, ở mức độ nhỏ thì như vậy, rộng lớn hơn là chuyện Đảng, Nhà nước, những nhà cầm quyền… chỉ mong rằng mọi người thấu hiểu, comment (bình luận) lại, từ đó câu chuyện ngày càng được thổi phồng lên, tâm tư ta của ta như trút được phần gánh nặng. Thế nhưng đối với những ai “lậm” face quá mức, nhu cầu contact (tương tác) lẫn nhau càng lớn, xem trang mạng xã hội là nơi sống thực của mình, thì suy tư về cá nhân của người đó cũng như về xã hội càng lớn. Đó là một “hệ lụy” tất yếu của việc dành quá nhiều thời gian cho mạng xã hội và thiếu nhận thức về bản thân vậy.  Hậu quả là, gia đình phải gánh chịu những cá nhân “sống ảo”, quên đi đời sống thực tại bên ngoài cùng mục đích sống cao đẹp của bản thân, dẫn đến sự trì trệ cho xã hội, cộng đồng. Những suy tư càng lớn về đời sống, face không là nơi “chứa đựng” nổi. Phải có những hình thức khác để giải tỏa suy tư: đó là hướng đến cuộc sống bên ngoài, hãy trò chuyện và biết lắng nghe với những người xung quanh. Câu chuyện của mọi người xung quanh (có thể về việc chuyển đến căn hộ mới, chia tay bồ, hay công việc tiến triển tốt đẹp, v.v) đôi khi giúp ta lớn hơn rất nhiều.
Người Việt xưa chưa từng sống “nhờ” vào face, nhưng ngày nay, vì tính chất cuộc sống, công việc, không có chiếc smartphone (điện thoại thông minh) có face kết nối mạng, người ta dễ trở thành “người thừa” của xã hội. Sự thừa thải càng lớn khi tính chất công việc cần phải tương tác càng nhiều, mà face lại là nơi tương tác hết sức tiện lợi. Thế nên, không face, người ta rất sợ lỡ một cuộc hẹn nào đấy với bạn bè, dòng họ; không face, người ta càng dễ phớt lờ nhau; không face, người ta càng ít cơ hội tạo tiếng tăm cho mình; không face là cả một hệ lụy dài đằng đẵng chỉ gói gọn trong hai chữ “người thừa” của xã hội. Vì thế mà, sáng thức giấc, ta vội check (kiểm tra) face ngay, xem ai nhắn cho mình, thông báo gì mình đã bỏ lỡ trong khi ngủ. Người xưa, nhất là người nông dân, thức dậy từ tảng sáng, vội vo nồi cơm để ăn no bụng, nhà khá giả thì pha ấm trà/chè từ canh năm, xong mới lật đật “một mai, một cuốc, một cần câu” (thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm) đi ra ruộng, đến nhóc nhen kêu mới về. Cuộc sống quanh năm gắn với bưng biền, ruộng nước mà vẫn yên vui. Đám cưới đám mừng gì là đến tận nhà mời mọc, câu chào câu xởi lởi thật vui biết bao nhiêu. Sự giáp mặt như thế khiến cho mối quan hệ càng bền chặt. Đời sống hiện đại hóa, công nghiệp hóa đi lên, người nông dân buộc phải thích nghi, nhiều người rũ cái chân phèn mà làm người của thời mới. Dân số càng ngày càng đông. Thế nên, những lề thói vốn góp phần giữ chặt quan hệ giữa người với người càng bị bó hẹp lại chốn nông thôn, nhường chỗ cho những làn gió mới của công nghệ phương Tây ùa vào. Đời sống chuyển từ nông thôn “bán anh em xa mua láng giềng gần” sang thị thành “cửa nhà ai nấy đóng, đèn nhà ai nấy rạng”. Từ đó, cái tâm tư thầm kín của người ta không thể chia sẻ theo kiểu mặt gặp mặt, đi đến từng nhà bày tỏ, mà face đã “thay lời muốn nói” rất nhiều. Tìm người yêu hay thậm chí mối lái đôi khi còn nhờ đến cả face. Do vậy mà cái sự thâm tình của người ta trông thì rất tiện lợi (nhờ face) nhưng không lâu bền, thậm chí là cái đuôi con mắt nhiều khi gặp nhau ngoài đời dài, nặng hơn cái sự ân tình của nhân cách con người ta là vậy. Tôi không cổ xúy cho lối sống xưa, vì lối sống ấy ngày nay không còn mảy may phù hợp hoàn toàn, mà là tôi muốn đề cao việc bày tỏ lối sống tâm tư giữa người với người qua việc gặp mặt, đối thoại trực tiếp. Chung quy lại vẫn là hướng đến đời sống thực tại mà thôi.
Face luôn là con dao hai lưỡi. Càng ngày, nguy cơ rò rỉ thông tin người dùng trên face càng lớn. Nó như là lời cảnh báo cho những ai “đem hết ruột gan” của mình ra và chia sẻ với tất cả mọi người trên trang mạng xã hội này.
Tôi rất mừng vì mình đã qua rồi cái thời “trẩu tre” luôn luôn phấn khích vì những lời khen trên face. Những lời khen đôi khi không giúp con người ta lớn lên được, còn sự chê bai, phê bình thì luôn giúp họ khôn ra và lớn hẳn lên. Người khôn sẽ nhìn vào sự phê bình, còn kẻ ngu thì luôn mong lời khen.
Bản thân tôi rất ghét sự xu nịnh, luồn cúi. Những diễn ngôn trên face với tôi, đôi khi, thành ra ngu xuẩn biết nhường nào. Những diễn ngôn đó không tác động gì đến tôi được, tôi rất ghét khi phải nghe chúng nhiều, vì rất phí thời gian và chướng mắt khi đọc phải.
Độ tuổi nào cũng có thể “lạm dụng” face, nhưng lạm dụng theo chiều hướng tiêu cực là điều không đáng chút nào. Face có thể là nơi dung chứa những thành phần “ảo tưởng sức mạnh”, “anh hùng bàn phím”, “trẩu tre”, diễn ngôn, nội dung phản động, một cuộc đời nào đó… nhưng những suy tư về bản thể, về những chiều sâu nội cảm của con người, face không thể là nơi hóa giải, vì nó không phải là một con người, nó chỉ có chức năng gắn kết, liên lạc, phổ biến tin tức đại chúng, chứ nó không có chức năng lắng nghe, chia sẻ, hành động… như một con người hay một tổ chức ngoài đời thực được.
Đông Phong
Bài gốc:
5
603 lượt xem
5
0
0 bình luận