Lời nói đầu

Vậy là đã 3 năm tôi viết trên Spiderum. Vì có nhiều bạn hỏi, và vì chủ đề này thực sự hữu ích, hôm nay tôi muốn ghi lại một kinh nghiệm cá nhân, thứ hiếm khi được chia sẻ trên không gian Internet trong nước: Tôi đọc gì, ghi chú thế nào, và suy nghĩ ra sao trong suốt 20 năm tiêu thụ nội dung.
Hiện nay, các bài viết về tiêu thụ nội dung nói chung, và đọc sách nói riêng, chủ yếu tập trung vào review sách, list các sách đáng đọc, kỹ thuật đọc (đọc nhanh, đọc lướt…), và kỹ thuật nhớ (highlight, giấy memo, app…). Tôi gọi đây là kỹ năng cứng.
Dù có hiệu quả nhất định, các thủ thuật này đều có chung giả thuyết: bạn đang xử lý MỘT cuốn sách. Do đó, chúng phù hợp khi số lượng sách và chủ đề không nhiều. Ví dụ 5 cuốn sách, 2 chủ đề. Hơn nữa, chúng tập trung vào việc ghi nhớ chính xác nội dung đã đọc. Một điều phi thực tế, mà cũng không cần thiết. Tại sao lại như vậy? Trong môi trường thực tế, bạn: Không chỉ đọc 1 quyển sách
Không chỉ đọc 1 chủ đề Không chỉ đọc sách
Đối với một số người, việc đọc 100–200 cuốn, trải rộng 25 chủ đề, kèm báo chí, video, trao đổi trực tiếp… là rất bình thường. Khi đó, việc ghi chú và highlight dày đặc cho từng cuốn vừa nặng nhọc, vừa chỉ mang tính trang trí. Không ai có thể xem lại nổi ¼, thậm chí nhớ đã note ở đâu – chưa nói áp dụng. Điều đó khiến người ta chán ngán sau khi đọc vài cuốn sách đầu tiên. Đọc nhiều để làm gì, khi mà:
Không nhớ nội dung đã đọc Nhớ cũng không biết để làm gì Đọc một cuốn đã cực, nghĩ đến cuốn tiếp theo còn đau khổ hơn Đọc nhiều thành “ngáo”, hoang tưởng, trở thành tấm gương xấu Không “ngáo” cũng thành “mọt sách”, thiếu kỹ năng xã hội, xa rời thực tế
Đó là lúc phải có kỹ năng mềm.
Đó là nơi tôi tiếp nhận nội dung từ nhiều nguồn mà không cần phải nhớ hết. Nơi tôi hiểu và nương theo cách thế giới thực vận hành. Từ đó, càng đọc thì càng ít phải cố nhớ hơn, nhưng lại sáng tạo hơn, muốn đọc nhiều hơn, và quan trọng là đọc để khôn ra, không bị “ngáo”. Thiết nghĩ, đó là một kỹ năng thiết yếu trong thời đại này. Gọi là “kỹ năng” thì có phần đao to búa lớn. Thực ra, đây chỉ là bài viết hệ thống lại những thói quen và ghi chép rải rác, từ khi tôi còn độc thân đến lúc lập gia đình. Những điều này góp phần hình thành thế giới quan, cũng như sự dí dỏm trong cuộc sống của tôi. Hy vọng nó cũng hữu ích với bạn.
Là một trong những thế hệ cuối cùng của nhân loại được trải qua tuổi thơ không có Internet, tôi có cơ hội trải qua nhiều sự kiện thuộc vào hàng chấn động vũ trụ. Tường Berlin sụp đổ, Giáng sinh năm 1991, Mở cửa, 2 lần Chiến tranh Vùng Vịnh, Nhân bản cừu Dolly, Y2K, Bong bóng dotcom, Sự kiện 11/9, Lehman Brothers sụp đổ… Tất cả đều kinh hoàng, tranh cãi, ảnh hưởng toàn cầu, nhưng lại được đón nhận dưới một nhịp độ và tâm thế rất khác, so với những thế hệ tiếp theo, lớn lên cùng mạng xã hội. Vì vậy, những thói quen trong bài viết này phần nào phản ánh tư duy của một thế hệ đã cũ nói mẹ ra là có thể sẽ hơi cổ hủ — và mọi điều tôi đúc kết được rồi cũng sẽ lỗi thời như một quy luật. Thậm chí chừng vài thế hệ nữa, chưa chắc con người còn tồn tại.
Nhưng cho đến lúc đó, chúc bạn có một cuối tuần hữu ích.
Một vài tóm tắt sách, suy nghĩ, ý tưởng, minh họa thường ngày
Một vài tóm tắt sách, suy nghĩ, ý tưởng, minh họa thường ngày

Chặn họng

Như một thói quen, khi muốn viết cái gì “dài dài” cho người nước ta, tôi phải làm vài dòng chặn họng trước.
Đầu tiên, tôi không có hứng thú viết một cái cẩm nang để chỉ bảo người ta phải làm thế này hay thế kia. Con người thường rất trơn tru khi đưa ra lời khuyên cho người khác, nhưng lại ú ớ khi phải giải thích chính mình. Tôi thì ngược lại. Tôi khẳng định: mình rất giỏi vế thứ hai, và không có thời gian cho vế thứ nhất. Tôi dành toàn bộ thời gian để phát triển những thứ có ích cho một mình tôi, và nhiệm vụ của bài này là đi giải thích nguồn gốc của chúng. Từ đó, người đọc sẽ hiểu quá trình xuất hiện thực tế của mọi thứ. Điều này có lợi hơn là những lời khuyên từ trên trời rơi xuống.
Terence Tao — nhà toán học Úc gốc Hoa, được coi là bộ óc thông minh nhất thế giới còn thở, với IQ 230 vượt qua cả Einstein, Newton và Hawking — trong một buổi phỏng vấn trên tờ The Atlantic, khi bàn về việc giải quyết các vấn đề hóc búa của toán học bằng AI, đã nói đại khái như sau: “Giải quyết các vấn đề toán học cũng giống như đi thám hiểm. Trước kia, bạn đi từng bước, để lại dấu vết cho người đi sau, rồi vẽ lại bản đồ. Nhưng AI giống như cái trực thăng, nó thả bạn thẳng đến đích, nhưng làm mất toàn bộ lợi ích của hành trình. Việc tới đích thực ra chỉ góp một phần giá trị trong toàn bộ quá trình giải quyết vấn đề mà thôi.”
Tiếp theo, tôi đề cập đến việc phát triển một thế giới quan nói chung, không ngụ ý rằng thói quen này có thể áp dụng vào nghiên cứu chuyên môn, hay nghề nghiệp thực sự nghiêm trọng. Người đọc tự quyết định có nên hay là không. Một lần nữa, tôi không có hứng thú làm Chúa, viết ra những điều răn luôn đúng cho tất cả mọi người, cho tất cả các vấn đề kinh thiên động địa của thế giới, từ giải quyết nạn đói ở Châu Phi, cho đến đàm phán giải trừ vũ khí hạt nhân ở Bình Nhưỡng.
Cuối cùng, tôi sẽ không chia đề mục theo lối thông thường, mà đi từ câu hỏi này đến câu hỏi khác để xâu chuỗi toàn bài lại như dây xích. Hình thức này khiến cho bài viết có thể tự chứng minh cho chính ý tưởng của bài viết, và khiến bạn đọc dễ nhớ hơn. Khi đọc xuôi xuống, bạn sẽ tự động đi qua 4 phần là: Đọc => Suy nghĩ => Ghi chú => Ví dụ.
Chúng ta bắt đầu.

Hằng ngày tôi đọc cái gì?

Buổi sáng tôi thường in ra giấy khoảng 2-3 bài báo để đọc – mỗi bài khoảng một trang A4. Đọc trên tờ giấy cảm thấy tập trung hơn.
Có ảnh hưởng nhất đến cách tôi suy nghĩ và viết là The Economist, tờ báo chính trị và kinh tế hơn 180 năm tuổi của Anh, theo đuổi tự do thương mại và tự do cá nhân. Nó duy trì vị thế của mình qua gần 2 thế kỷ nhờ vào chất lượng bài viết, và văn hóa nhất quán của tòa soạn. Các bài viết thi thoảng có một chút dry wit (kiểu hài thông minh dưới vẻ mặt nghiêm túc) và hầu hết đều được ẩn tên tác giả – một truyền thống kể từ khi thành lập. Nó khiến cho cả tờ báo là một thực thể thống nhất, còn các bài viết là tiếng nói chung.
Một số bài báo mấy tuần trước
Một số bài báo mấy tuần trước
Thập niên 80, để chống lại việc báo chí Anh khi đó thường lạm dụng nhiều thuật ngữ xa lạ để tỏ ra uyên bác, The Economist ban hành một hướng dẫn nội bộ (style guide) khá nổi tiếng. Nó rất gần với 6 quy tắc viết của George Orwell (tác giả của 1984) và được duy trì cho đến ngày nay: Không dùng các phép ẩn dụ và so sánh đã nhàm trên các tờ báo khác (ví dụ “con dao hai lưỡi”, mà hãy nghĩ ra cái gì sáng tạo hơn, còn nếu không nghĩ ra được, thì viết bình thường) Không dùng từ dài nếu tồn tại một từ ngắn tương đương Cắt bỏ mọi từ thừa mà câu vẫn nguyên nghĩa Tránh dùng thể bị động tối đa Không dùng thuật ngữ, biệt ngữ nếu tồn tại một từ phổ thông tương đương Nếu câu vẫn thô kệch và tối nghĩa thì phá bỏ 5 quy tắc trên
Tôi luôn ghi chép và viết trên Spiderum theo phương pháp này. Viết ngắn, rõ ràng, dùng các phép so sánh sáng tạo hơn những gì thường thấy, và hay chốt một câu gì đó châm biếm ở cuối bài. Khi viết đủ lâu, tôi nhận ra đây không phải quy tắc viết, mà là quy tắc suy nghĩ: tay bạn không thể viết rõ ràng nếu đầu bạn không suy nghĩ rõ ràng.
Một đặc trưng của tờ The Economist
Một đặc trưng của tờ The Economist
Ngoài ra, tôi cũng đọc các trang khác như Nikkei Asia,WSJ, The Spectator, The Atlantic, The New Yorker, New Scientist... Cũng như The Economist, đây là những tờ báo đầu tư vào nội dung. Mỗi bài giống một cuốn sách mini, giúp tôi tiếp cận được nhiều góc nhìn vào buổi sáng mà không bị mệt.

Tin nóng thì sao?

Tôi tin loài người sớm muộn cũng tự tạo ra tận thế, và tuyệt chủng trước khi lên được Sao Hỏa, nên thường không có hứng thú click vào các tin nóng (breaking news) mà chỉ lướt qua tựa để xem hôm nay đã đến ngày đó chưa. Những thứ như “Lào đưa người lên mặt trời” hay “Xe ben đâm vào tàu chở dầu ở Thái Bình Dương vì tránh máy bay phản lực” hoàn toàn không ăn nhập gì đến cuộc sống của tôi – chỉ làm buổi sáng trở nên nhức đầu. Trừ khi làm trong 5 ngành mà chén cơm phụ thuộc vào tin nóng là báo chí, tài chính, chính trị, logistics và marketing – còn lại, nếu muốn theo dõi chiến tranh tại Iran, tôi đợi chu kỳ tuần hoặc tháng, rồi đọc các bài tổng hợp được đầu tư công phu hơn trên các báo trả tiền ở trên. 
Tin nóng, tại thời điểm nó được đăng, là vô dụng với hầu hết mọi người. Những gì Tổng thống Mỹ biết thì tôi không biết, còn những gì tôi biết thì cả thế giới đều đã biết. Những gì thế giới không biết là tương lai, mà tương lai chỉ có thể dự đoán dựa trên thông tin của một quý, một năm, nhiều năm, trình độ phân tích, và vận may – chứ không phải một vài tin nóng trước mắt. Vì vậy, biết chậm 10 ngày cũng không thể chết. 
Lấy một ví dụ dễ hiểu về phân tích. Trong ngoại giao, có một trò gọi là brinkmanship. Nghĩa là bên A sẽ đẩy căng thẳng leo thang đến sát ngưỡng chiến tranh, khiến cái giá mà hai bên phải trả có thể sẽ rất đắt, để buộc bên B phải ngồi vào đàm phán. Sau đó bên A sẽ đạt được một số thỏa thuận – như lợi ích, viện trợ gì đó – và… leo xuống. Khi tôi biết rằng, bên A đã dùng chiến thuật này nhiều lần trong lịch sử, thì khi nhìn thấy tin tức bên A thử tên lửa, tập trận, chửi bậy chửi thề bên B, thay vì tập trung vào cái tin đó, tưởng tượng ra kịch bản chiến tranh, tôi có thể đối chiếu với lịch sử và đoán rằng “Nó lại hết tiền hết gạo rồi đó…”.
Thêm nữa, người ta thường nghĩ rằng, thôi cứ xem để biết chứ cũng không mất gì. Điều này hoàn toàn sai lầm. Khi tôi xem một thứ vô bổ, nó sẽ lởn vởn trong đầu và làm ảnh hưởng đến nội dung tiếp theo. Kết quả là một chuỗi nhức đầu làm hỏng bét buổi sáng ngày hôm đó. Click vào tin nóng không phải thói quen, mà là nghệ thuật.

Nghệ thuật đó là gì?

Hồi khoảng mười mấy tuổi, tôi hỏi một người chú chuyên xem tin tức kinh tế trên báo: “Chú nói ghét cái báo này sao cứ đọc nó hằng ngày chi vậy?”. Câu trả lời của chú ấn tượng tôi đến tận bây giờ, mà chắc chắn ai học truyền thông cũng nhận ra:
“Xem không phải để biết tin tức, mà để biết tại sao nó lại đăng tin tức đó vào lúc này.”

Còn sách thì sao?

Tôi thích các nội dung nền tảng của toán học, xác suất, thống kê, vật lý, khoa học thần kinh, hơn là các nội dung nâng cao. Lý do là, sau nhiều năm, tôi nhận ra hầu hết các vấn đề thường nhật – từ đọc hiểu, suy luận, cho đến giao tiếp – đều có thể được giải quyết bằng việc thuần thục kiến thức khoa học nền tảng.
Nếu để ý, bạn sẽ thấy các bộ môn ở trên đều có thể được kiểm chứng bằng logic và thực nghiệm. Nghĩa là ở mức độ nhất định, bạn hoàn toàn có thể tự học và áp dụng. Còn những kiến thức trừu tượng, nâng cao, khó đo lường khách quan, thì tôi chỉ đọc để biết. Nếu áp dụng tùy tiện, rất dễ bị “ngáo”, “tẩu hỏa nhập ma” vì không được đào tạo chuyên môn, và có người dẫn dắt tử tế.
Ví dụ: “Bạn có thể ghét, nhưng không nên phao tin người ta mắc ái kỷ và thái nhân cách chỉ vì họ có chút tự cao. Nó giống như nhà báo khảo sát người đi đường. Đến người thứ 8 thì anh ta có 4 người đồng tình với chính sách mới, rồi về viết là 50%. Well, 4 không phải 50, còn 8 cũng không phải 100. 4/8 chỉ là 50/100 về mặt toán học thôi. Nếu khảo sát thêm 92 người nữa mà đồng ý chỉ có 11 thì sao? Đó là cherry picking, là tra tấn dữ liệu. Đừng tra tấn Robert Hare hay gọi hồn Heinz Kohut để chống lại người yêu cũ và sếp nữa. Chửi thề được mà?”
Căn bản của toán, xác suất, tâm lý, truyền thông, và báo chí trong 125 chữ! Kiến thức khoa học nền tảng là rất quan trọng.
Lúc còn nhỏ đây là những cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc, và cả chương trình <i>C'est pas sorcier (nếu Google bạn sẽ nhận ra ngay lập tức).</i> Hai cuốn Vật lý này được xuất bản lần đầu vào 130 năm trước và là best seller hàng chục năm sau đó, đến nỗi nhà toán học Grigori Perelman cũng từng đọc khi còn nhỏ. Bản tôi có là năm 1989.
Lúc còn nhỏ đây là những cuốn sách đầu tiên mà tôi đọc, và cả chương trình C'est pas sorcier (nếu Google bạn sẽ nhận ra ngay lập tức). Hai cuốn Vật lý này được xuất bản lần đầu vào 130 năm trước và là best seller hàng chục năm sau đó, đến nỗi nhà toán học Grigori Perelman cũng từng đọc khi còn nhỏ. Bản tôi có là năm 1989.
Một số quyển sách ở gần bàn tôi ngồi, có cuốn nào lấy cuốn đó đại đại nhé.
Một số quyển sách ở gần bàn tôi ngồi, có cuốn nào lấy cuốn đó đại đại nhé.
Một số sách liên quan đến minh họa, nghệ thuật. Cuốn The Prado Guide giới thiệu mấy trăm tác phẩm, nó đồ sộ đến nỗi thi thoảng tôi mở ra để xem và ngẫm nghĩ 1-2 tác phẩm mà mấy năm rồi vẫn chưa xem hết.
Một số sách liên quan đến minh họa, nghệ thuật. Cuốn The Prado Guide giới thiệu mấy trăm tác phẩm, nó đồ sộ đến nỗi thi thoảng tôi mở ra để xem và ngẫm nghĩ 1-2 tác phẩm mà mấy năm rồi vẫn chưa xem hết.
Minh hoạ của Kim Jung Gi và Katsuya Terada
Minh hoạ của Kim Jung Gi và Katsuya Terada
Các sách tư duy, khoa học và xã hội Từ lúc có gia đình tôi đọc ebook nhiều hơn sách giấy, vì sau này hầu hết sách tôi đọc có khổ dày, đem theo liên tục rất bất tiện. Tôi đọc chủ yếu trên Kindle vì nhìn dịu mắt, ít xao nhãng hơn.
Các sách tư duy, khoa học và xã hội Từ lúc có gia đình tôi đọc ebook nhiều hơn sách giấy, vì sau này hầu hết sách tôi đọc có khổ dày, đem theo liên tục rất bất tiện. Tôi đọc chủ yếu trên Kindle vì nhìn dịu mắt, ít xao nhãng hơn.
Hiện tại tôi đọc mấy cuốn của Dorling Kindersley để hệ thống kiến thức giải thích cho con cái
Hiện tại tôi đọc mấy cuốn của Dorling Kindersley để hệ thống kiến thức giải thích cho con cái

Có xem Youtube không?

Tôi xem Youtube trên máy chạy bộ tại nhà. Một lần chạy 45 phút thì tôi sẽ chọn một phim tài liệu dài 30-60 phút về lịch sử, khoa học, tâm lý, điều tra trọng án…
Watch later của tôi kiểu vầy. "Your Brain: Who's in Control?" của đài PBS là một trong những phim tài liệu rất hay trên Youtube về não và hành vi con người.
Watch later của tôi kiểu vầy. "Your Brain: Who's in Control?" của đài PBS là một trong những phim tài liệu rất hay trên Youtube về não và hành vi con người.
Ngoài phim tài liệu dài, tôi thường xem phim ngắn (short film), thay cho các nội dung bắt trend vô bổ. Phim ngắn thường được làm bởi cả các studio chuyên nghiệp lẫn những người đam mê nghiệp dư. Với chủ đề trải dài từ châm biếm xã hội, hành động, cho đến kinh dị, dưới nhiều chất liệu từ người thật, hoạt hình, cho đến đất sét, và thời lượng đa dạng từ 1 đến 15 phút, phim ngắn thường nén kịch bản và có cách truyền tải thông điệp rất sáng tạo. Vì vậy độ ngắn của nó là nghệ thuật kể chuyện. Cũng như âm nhạc indie, phim ngắn là vùng đất của tự do, sáng tạo, nơi mà người ta không cần quá nhiều tiền, danh tiếng và buộc phải làm vừa lòng khán giả để có thể cất lên tiếng nói của mình.
Chất lượng của nhiều phim ngắn trên Youtube là cực kỳ ấn tượng và đáng xem hơn đa số phim điện ảnh hiện nay.
Chất lượng của nhiều phim ngắn trên Youtube là cực kỳ ấn tượng và đáng xem hơn đa số phim điện ảnh hiện nay.
"Sẽ có mưa rào" (1984) của xưởng Uzbekfilm, được xem là một phần di sản của điện ảnh Uzbekistan, tiên đoán về năm 2026 với đồ họa rất khác biệt so với hoạt hình của Liên Xô và Mỹ khi đó.
"Sẽ có mưa rào" (1984) của xưởng Uzbekfilm, được xem là một phần di sản của điện ảnh Uzbekistan, tiên đoán về năm 2026 với đồ họa rất khác biệt so với hoạt hình của Liên Xô và Mỹ khi đó.

Vậy tiêu thụ nội dung xong thì làm gì?

Có một câu nói đơn giản nhưng cực kỳ ấn tượng:
“Music is the silence between the notes.” (Âm nhạc không nằm ở nốt nhạc, mà ở những khoảng không giữa các nốt, miễn là chúng không quá dài do chưa đóng tiền Internet.)
Nhạc hay là do khoảng lặng đã tạo ra sự chiêm nghiệm về những nốt vừa vang lên, và sự mong chờ về những gì sắp xảy đến. Không có khoảng lặng thì âm nhạc chỉ là tiếng ồn.
Việc tiêu thụ nội dung cũng vậy. Nó có ý nghĩa ở quá trình ngẫm nghĩ, xử lý nội dung vừa xem, có được lợi ích, và cảm thấy thích thú muốn xem thêm. Ý tưởng trên đời là của người khác, nên nếu cứ đọc liên tục những ý tưởng, mà không xử lý, thì cũng chỉ là cái bồ chứa chữ cho thiên hạ – không thể có kiến thức và thế giới quan được.
Những chuyên gia sưu tập nội dung thường rất giỏi tranh luận online và ném ra những thứ vụn vặt. Bởi vì ngồi trước màn hình, người ta có đầy đủ Internet, Google và AI hỗ trợ cho việc đó – và hỗ trợ cho cái ảo tưởng mình luôn đúng. Nhưng khi trao đổi trực tiếp với người khác, hoặc đối diện với cuộc sống của chính họ, thì mọi việc thường không như ý, vì nội dung vụn vặt đâu có ích lợi gì cho thực tế. Điều đó khiến họ chán nản và quay lại những tranh luận online để thấy mình “được sống” – tạo thành một vòng xoáy khiến họ bị “ngáo”.
Như vậy, sau khi tiêu thụ nội dung, phải xử lý để có thể xây dựng thế giới quan, và mang lại lợi ích cho cuộc sống.

Vậy làm thế nào để xử lý nội dung?

Có lẽ nhiều bạn sẽ nghĩ ngay đến mô hình chuẩn Data - Information - Knowledge - Wisdom, viết tắt là DIKW, và đề xuất áp dụng nó để xử lý nội dung. Mô hình này đề xuất cách mà những mẩu dữ liệu dẫn đến việc ra quyết định.
Nó đơn giản như sau: “200k” => Data (Dữ liệu không có ngữ cảnh) “Hôm nay ăn ngoài cả ngày nên xài hết 200k” => Information (Thông tin có ngữ cảnh) “Tháng có 30 ngày, suy ra cuối tháng sẽ tốn đến 6tr” => Knowledge (Kiến thức được suy luận từ nhiều Thông tin) “Nên nấu ăn tại nhà nhiều hơn và đặt ra giới hạn chi tiêu” => Wisdom (Hiểu biết dẫn đến quyết định)
Nghe rất là chuẩn đúng không nào. 
Mô hình nhìn có vẻ rất chuẩn và hợp lý vô cùng
Mô hình nhìn có vẻ rất chuẩn và hợp lý vô cùng
Tuy nhiên tất cả những mô hình chuẩn đều không đúng hoàn toàn trên thực tế.
Mô hình DIKW chỉ là một triết lý và một khung lý thuyết. Nó chỉ đơn giản hóa và cấu trúc hóa vấn đề nhằm phục vụ cho các mục đích khoa học, phân tích dữ liệu, hay giáo dục mà thôi. Mọi thứ trong mô hình này đều là chủ quan do con người định nghĩa ra để chuẩn hóa các quy trình nghiên cứu. Nó không phải sự thật khách quan, không phải khoa học cứng như 1 + 1 = 2, và có nhiều điểm không hợp lý nếu áp dụng máy móc trong cuộc sống thường nhật.
Trên thực tế: - Cảnh sát điều tra đôi khi dựa trên trực giác rất mơ hồ để hành động (Hiểu biết) mà có qua chính xác 3 bước đầu đâu? - Một người có sẵn niềm tin là Trái đất phẳng (Kiến thức) thì anh ta lọc ngược lại Dữ liệu và Thông tin. Anh ta lấy “bề mặt chất lỏng luôn nằm ngang” cộng với “mắt thường nhìn thấy mặt biển phẳng”, để suy ra Trái đất phẳng. Nhưng lại bỏ đi việc “trọng lực có thể uốn cong mặt nước quanh khối cầu”. - Ranh giới định nghĩa mơ hồ giữa Thông tin và Kiến thức. Ví dụ: “gia tốc trọng trường trên bề mặt Trái đất là khoảng 9,8m/s2” đều có thể được xem là cả hai tùy vào cách bạn dùng. - Hiểu biết để ra quyết định cũng là khái niệm mơ hồ, mang tính triết học nhiều hơn khoa học, và là phần yếu nhất trong mô hình. Quyết định nên ra thế nào? Có thể ra quyết định ngược với dữ liệu ta đã có mà cuối cùng vẫn giải quyết được vấn đề không? Thế nào là một quyết định đúng và sai?
Tóm lại, con người trong thế giới thực có cảm xúc và thiên kiến. Từ bên dưới đi lên thẳng Hiểu biết, từ tầng trên luồn ngược lại tầng dưới, và các tầng ở giữa thì trộn lại như nồi cám heo là chuyện rất bình thường. Nó giống như mô hình giáo dục lý tưởng là bạn học mẫu giáo => 3 cấp => đại học => đi làm => làm chủ. Nhưng ai cấm bạn bỏ học giữa chừng rồi làm chủ đâu? Và làm chủ nhưng vẫn dốt vật lý hơn học sinh cấp 3 cũng đâu có gì lạ? Và bạn đi làm rồi, bạn quay ngược lại học đại học cũng đâu có gì mới? Nhưng nó vẫn là một mô hình chuẩn trong giáo dục. Kiểu như vậy.
Rất là vô tổ chức đúng không?
Rất là vô tổ chức đúng không?
Vậy thì, mô hình có tác dụng của nó, nhưng không phải chân lý trong thực tế.
Hơn nữa, DIKW chỉ đề xuất cách hoạt động, nó có thể áp dụng cho máy móc, nhưng không hướng dẫn được một con người thực, trong đời sống thực, phải làm như thế nào để đi qua các tầng. Nó giống như bạn không thể lái được xe nếu chỉ đọc lý thuyết chuẩn về động cơ 4 thì vậy.
Vì vậy, trong thực tế, tôi có những kinh nghiệm đơn giản hơn.

Một lưu ý quan trọng

Trên thực tế, bạn sẽ thấy rằng: - Sách, video, nói chuyện đã cung cấp sẵn ngữ cảnh, và đó đã là Thông tin rồi, chứ ít khi là Dữ liệu vô nghĩa. Chỉ khi làm nghiên cứu chuyên ngành mới có nhiều Dữ liệu mà thôi. - Như đã nói, ranh giới giữa Thông tin và Hiểu biết là rất mơ hồ. - Cũng như đã nói, Hiểu biết là một tầng gây tranh cãi, và phụ thuộc vào quan niệm của mỗi người. Vì vậy, không thể nghĩ bàn được về nó.
Do đó, trong bài viết này, chúng ta sẽ: - Bỏ qua Dữ liệu - Bỏ qua Hiểu biết, mặc dù đôi khi tôi vẫn đề cập đến nó - Tập trung vào quá trình xử lý Thông tin, có được Kiến thức, nhớ được nó, và những lợi ích xoay quanh
Phạm vi của bài viết
Phạm vi của bài viết
Chúng ta bắt đầu xử lý nội dung.

Một kinh nghiệm cá nhân về xử lý nội dung

Đây là cách thực dụng mà tôi xử lý nội dung hằng ngày.
Loại nội dung thứ nhất, chuyển ngay lập tức được thành Kiến thức. Đó là các facts khoa học chính xác — ví dụ gia tốc trọng trường trên bề mặt Trái đất là khoảng 9,8m/s2 — hoặc dùng công cụ fact-check được — ví dụ nói về nguồn gốc sinh ra, Hitler không phải người Đức, Stalin không phải người Nga, Napoleon cũng không phải người Pháp — hoặc các quy tắc xã hội được ngầm công nhận rộng rãi trong cộng đồng — ví dụ nhân viên sau khi hiểu số phận của mình thì sẽ tự viết đơn xin nghỉ, thay vì chờ nhận email sa thải như các nước khác. Tôi gọi đây là Kiến thức chung. Nó đúng trên toàn cầu hoặc một cộng đồng.
Loại nội dung thứ hai, nó tùy vào ngữ cảnh mà có đúng hay không. Đó là các lời khuyên, quan điểm, khung lý thuyết từ người khác. Dù ban đầu chúng có vẻ rất hay, nhưng đều phải áp dụng thực tế thì mới biết có hiệu quả – hoặc hiệu một phần – với bản thân hay không. Khi tôi thấy phần nào có tác dụng, tôi gọi là Kiến thức cá nhân. Ví dụ hai người nuôi con, quản lý công việc theo hai kiểu trái ngược nhau và đều đạt được thành quả. Vậy thì, Kiến thức này hoàn toàn không thể so sánh được giữa người này và người khác. Những tranh luận hơn thua về Kiến thức cá nhân thường là phí thời gian và có kết cục không tốt. Bài viết này cũng chính là một Kiến thức cá nhân của tôi. Tuy nhiên, nếu bạn đấm vào cằm tôi một cái, thì theo Kiến thức chung về vật lý và sinh học của con người, tôi gần như sẽ ngất dù tôi là ai và có Kiến thức cá nhân như thế nào. Giờ bạn đã phân biệt được rồi đúng chưa?

Lợi ích thực tế của cách làm này là gì?

Nghệ thuật thuyết trình và giao tiếp!

Linus Torvalds là kỹ sư phần mềm huyền thoại người Mỹ gốc Phần Lan – cha đẻ của nhân Linux, nền tảng cho hầu hết các máy chủ, siêu máy tính và Android. Do nắm giữ vị trí quan trọng, ông này hơi bị khó tính về chuyên môn: code chạy được chỉ là một phần, nó còn phải có cấu trúc logic gọn gàng, xử lý được cả những trường hợp biên, mà không dư thừa lệnh if. Trong một phỏng vấn (phút 16:04), Linus nói: “Tôi thích làm việc với mấy người có good taste, nghĩa là nhìn ra những quy luật tổng thể, và biết nên làm thế nào một cách tự nhiên!”
Tôi cực kỳ thích định nghĩa đó. Good taste không nên là mấy cái trò ẩm thực để tra tấn cho bộ não nặn ra dopamine khó khăn hơn người khác, rồi coi đó là tiến hoá! Hậu duệ khủng long tồn tại được là vì nhỏ đi, sử dụng hiệu quả oxygen và tài nguyên hơn, chứ đếu phải nó biết cách cầm ở đế ly khi uống Champagne và cầm ở bầu ly khi uống Cognac! Good taste nên là tư duy rõ ràng và biết làm thế nào một cách tự nhiên. Và nó mang lại lợi ích thực sự trong cuộc sống:
Một là, luôn có thói quen fact-check lại các nội dung quan trọng bằng tools. Fact-checking là miễn phí nhưng có những người không dùng! Đó là lý do tại sao tôi nói DIKW không hoạt động đúng trên thực tế: Thông tin nào người ta thích, nó sẽ đi thẳng lên Kiến thức và Hiểu biết! Có mỗi câu “Con người tiến hóa từ khỉ” thôi mà bao nhiêu năm rồi cũng không ai fact-check lại xem ngữ nghĩa của câu đó tầm bậy ở chỗ nào – lại còn tự hào đi đặt thêm câu hỏi đần độn là “Tại sao con khỉ không tiến hóa tiếp thành người?”. Tôi nhớ là câu hỏi đần độn một cách tự hào này xuất hiện từ hồi tôi còn học tiểu học, cho đến nay vẫn còn nhiều người nhắc lại!
Hai là, khi phân biệt ra Kiến thức chung và Kiến thức cá nhân, nó khiến tôi cực kỳ tự tin khi trình bày vấn đề trước người khác. Khi trình bày, cái gì là Kiến thức chung, tôi chỉ nói khi nó chắc chắn đúng, còn cái gì là Kiến thức cá nhân, tôi nói thoải mái, bất chấp bạn có đồng ý hay không. Vì nó chắc chắn đúng đối với tôi! Nghệ thuật nằm ở chỗ, chỉ cần nhớ cái ranh giới, không nhầm lẫn, ảo tưởng nó là Kiến thức chung, rồi bắt ai cũng phải nghe theo là được. Đó là lý do tôi viết rất tự tin trên Spiderum, cũng như thuyết trình mạnh dạn trước nhiều người hồi còn đi học, cũng như khi đi làm, hay workshop mà không sợ người khác bắt bẻ. Đừng sợ hãi khi nói ra Kiến thức cá nhân. Mạnh dạn lên!
Dựa vào tư duy đó, tôi thậm chí có thể đề cập đến vấn đề phân biệt chủng tộc và vùng miền trong một cuộc nói chuyện mà không gặp nguy hiểm.
Ví dụ, tôi nghe ai đó nói “Mexico là nước phân biệt chủng tộc”.  Trường hợp tôi chưa bao giờ sống tại Mexico, vậy hiển nhiên nó không bao giờ biến thành Kiến thức cá nhân được. Tuy nhiên, tôi có thể dùng nó như một định kiến bí mật để phòng thân. Trường hợp tôi định cư tại Mexico, tôi cũng chỉ có thể sống tại một vài nơi nhất định. Với 31 bang và tổng diện tích 2 triệu km2, gấp 6 lần Việt Nam, tôi chỉ có thể Kiến thức cá nhân theo kiểu “Quán La Penca ở Cancún không ưa người nước ngoài, còn gia đình nhà thằng Javier ở Mérida thì rất chào đón mình”. Nghĩa là chỉ có một phần trong câu nói kia là Kiến thức cá nhân.
Do đó, khi có mặt nhiều người, tôi không bao giờ nói “Mexico là nước phân biệt chủng tộc (hoặc không)”. Nếu có một người bạn của tôi sắp đến Mexico, và buổi nói chuyện có nhiều người xuất hiện, tôi chỉ nói: “Quán La Penca ở Cancún không ưa người nước ngoài, còn gia đình nhà thằng Javier ở Mérida thì rất chào đón tao” Người bạn đó sẽ tự biết phải làm gì.
Hoặc một số người hay nói như sau ở nơi công cộng: “Tôi đi du học ngành X, giờ tôi về. (Vì trải nghiệm đó của tôi) Tôi khuyên bạn và cả thế giới không nên đi du học”. Trong khi hoàn toàn có thể nói: “Năm đó tôi học ngành X, hơi khó tìm việc, cộng với tỷ lệ thất nghiệp tới 10%, và tôi cũng không biết nhiều người trong network ngành. Ngành khác thì tôi không rõ, còn thị trường hiện tại thì tôi không còn cập nhật nữa.” Cung cấp facts vừa an toàn, vừa có ích hơn nhiều! Ít nhất bạn cũng cho người khác có cơ hội để họ phân tích. Tôi có thể giữ định kiến bí mật để chia sẻ với người thân, nhưng khi công khai, không bao giờ tôi nhầm lẫn Kiến thức cá nhân và Kiến thức chung.
Ba là, kể cả khi người đối diện giao tiếp không mạch lạc, nói chuyện rắc rối, nếu có kiên nhẫn để nghe thì tôi vẫn đoán được sơ sơ cái nào là Kiến thức cá nhân của họ, chứ không phải Kiến thức chung. Nghệ thuật là hãy để cho họ cung cấp thật nhiều thông tin, vì số lượng thông tin càng nhiều sẽ càng thấy rõ vấn đề. Nhờ vậy đôi khi vẫn có thông tin hữu ích. Tôi không thay đổi được người khác, nhưng có thể thay đổi mình.
Tư duy đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả khi thành thục
Tư duy đơn giản nhưng cực kỳ hiệu quả khi thành thục
Vì vậy khi nhìn về thực tế không gian mạng, không gian giao tiếp, không gian tranh luận trong nước, tôi thấy nó như cái nồi cám heo vậy. Người nói không phân biệt được mình đang nói cái gì – cái tôi thường quá trớn, áp đặt Kiến thức cá nhân của mình là Kiến thức chung – người nghe cũng không phân biệt được mình đang tiếp thu cái gì – chấp nhận đó là Kiến thức chung, không kiểm tra lại. Không gian trở nên thừa những “tuyên bố”, “lời khuyên” chủ quan chắc nịch, thiếu những facts, logic, và chia sẻ rành mạch để kiểm chứng. Do đó, chất lượng trao đổi thông tin hiện nay rất kém, mất thời gian.
Trong một không gian cám heo như vậy, bạn có thể nhớ câu thần chú sau của tôi, nó là thiên thần, là hiện thân của suy nghĩ rành mạch giữa "cá nhân" và "chung": “Tôi tin có tâm linh, không có nghĩa tôi tin có ma. Tôi tin có ma, không có nghĩa tôi tin vào câu chuyện ma bạn kể.”
Đó là cách tôi xử lý nhanh nội dung trên thực tế, cũng như những lợi ích từ nó. Giờ hãy chuyển sang việc làm sao tôi nhớ được nội dung sau khi xử lý.

Xử lý xong, làm thế nào nhớ được chúng?

Trói buộc trong cơ thể vật lý mang lại những hạn chế rất lớn: trí não, thời gian, năng lực, và tuổi tác luôn là hữu hạn, nên sự thật phũ phàng là: Tôi không bao giờ nhớ được hết nội dung / Tôi cũng không bao giờ chuyển hết những gì tôi nhớ thành Hiểu biết / Ghi chú mọi thứ chỉ tạo ra cảm giác “có vẻ sẽ nhớ”, chứ thật sự không hiệu quả trên thực tế.
Mọi người khi sinh ra đều không hiểu nhiều về cách mà đầu óc của bản thân hoạt động – tôi cũng vậy. Nhưng ngay cả lớn lên, cũng không có mấy ai thực sự muốn cải thiện điều đó. Khi chọn một quyển sách Tâm lý học, thứ mà người ta muốn biết, vẫn là suy nghĩ trong đầu của… người khác! Tôi không có IQ như Terence Tao, nên ban đầu, cũng như mọi người, tôi không có phương pháp. Nhưng khi tiêu thụ nhiều thông tin, tôi bắt đầu nghiên cứu về chính mình: đọc nhiều thì quên nhiều là bình thường, nhưng tại sao có những thứ lại ở lại rất lâu, và vì sao tôi có thể liên kết một thứ với rất nhiều thứ khác một cách tự nhiên?
Ví dụ, ở đầu bài, tôi nhớ ra phỏng vấn của Terence Tao mà không cần đến Google hay AI gợi ý. Hoặc thường xuyên cảm hứng ra những thứ nửa đùa nửa thật như:  “Về mặt xã hội thì việc háo hức cho người khác lời khuyên vô tội vạ là một bản năng tự nhiên của con người nhằm xây dựng tầm ảnh hưởng. Nhưng xét về mặt logic, đó là một hành động vô trách nhiệm. Thứ nhất là anh không bất tử, điều đó chứng tỏ anh không đặc biệt hơn người khác. Thứ hai là anh không thể chết chung với người anh khuyên để chứng kiến rằng, ở thế giới bên kia, họ không gặp phải hậu quả gì khi sống theo những gì anh nói. Đến ngay cả một thằng bán iPhone dựng còn có trách nhiệm hơn anh, vì người mua có thể thỏa thuận với nó để hoàn lại tiền nếu có sự cố trong 3 ngày sử dụng!”
Đoạn trích của Terence Tao tôi đọc tháng trước
Đoạn trích của Terence Tao tôi đọc tháng trước
Sau một thời gian dài quan sát đầu óc của mình, tôi nhận thấy nó hoạt động như sau.
Thứ nhất là, càng ngày tôi càng tập trung vào một số chủ đề yêu thích và có lợi cho cuộc sống bản thân – như xác suất, kỹ thuật suy nghĩ, nghiên cứu não bộ – hoặc các chủ đề dạy con – như kiến thức khoa học phổ thông, tâm lý trẻ. Nhờ vậy khối lượng nội dung giảm đi đáng kể. Những gì tôi không xem cũng quan trọng như những gì tôi xem. Ngoài những chủ đề đó, tôi đơn giản chấp nhận mình không biết! Ví dụ khi bạn Trung Hội Đồng Cừu giới thiệu nhiều khung lý thuyết, có cái tôi cũng gật gù, có cái tôi không hiểu mẹ gì cả, và chấp nhận thực tế là không có chuyên môn để hiểu!
Thứ hai là, tôi cảm thấy những nội dung có liên quan đến Hiểu biết của tôi, thì dường như nó ở lại lâu hơn trong đầu. Bạn có thể hình dung Hiểu biết của tôi là cục nam châm, còn những câu chữ tôi đọc là mạt sắt. Một cuốn sách có 100 điều hay, thì cũng chỉ “hút” được khoảng 10 cái tôi thấy ấn tượng nhất — nghĩa là gần gũi, bổ sung hoặc phản bác lại Hiểu biết đã có của tôi — còn 90 nội dung kia ít liên quan hơn thì cũng nhớ, nhưng không lâu bằng. Tôi chấp nhận rằng có thể quên chúng vào một lúc nào đó. Vì vậy, dù nạp nhiều nội dung, nhưng nhờ tập trung vào một số chủ đề nhất định, các nội dung đều có tỷ lệ liên quan đến nhau rất cao, dẫn đến dễ nhớ hơn.
Thứ ba là, tôi có cảm giác rằng bộ não, đặc biệt là của tôi, nó thích những chi tiết được liên kết với nhau, thay vì danh sách rời rạc. Kể cả khi tôi đọc về một chủ đề lạ, tôi vẫn có thể nhớ một vài nội dung, nếu nó nối được với những chủ đề tôi thích. Nên tôi vẫn có thể đọc các chủ đề khác để thay đổi không khí. Việc tôi có thói quen bẩm sinh là thường xuyên suy nghĩ và ghi chép chung về toàn bộ trải nghiệm — thay vì một trải nghiệm rời rạc — và thích nói đùa, đọc những trò đùa pha trộn nhiều lĩnh vực như triết học, tôn giáo, kinh tế, xã hội, có thể vô tình đã làm cho khả năng nhớ theo mạng lưới này trở nên thuần thục hơn. 
Ví dụ: “Nếu có thể chọn một hình tượng để đầu thai, hãy chọn Plato. Xuất thân dòng dõi quý tộc, bản thân là rường cột của triết học nhân loại, đủ tài chính để mua đất thành lập trường đại học đầu tiên trong thế giới phương Tây và dạy free 100%. Bản thân cái tên “Plato” cũng có nghĩa là Gigachad. Nếu ngày nay, Plato mở một trường quốc tế tư thục, có lẽ ông là Chủ tịch hội đồng quản trị, kiêm Nhà sáng lập, kiêm Giám đốc học thuật, kiêm Giáo sư đầu ngành, kiêm luôn Giám đốc giáo dục thể chất, và Huấn luyện viên trưởng đội tuyển đấu vật của trường. Năm 1940, có một em bé sơ sinh cũng tên là Plato sinh ra ở Oklahoma, sau khi đặt tên cho cha mẹ mình, em nhận ra tên mình phạm huý nên đã hốt hoảng sửa lại trong giấy khai sinh thành Chuck Norris.”
Vì vậy trên Spiderum, tôi đánh giá cao những bài viết không đầu không cuối, thậm chí sai lỗi chính tả, nhưng cố gắng mô tả cảm xúc và suy nghĩ của chính mình, hơn những bài viết có khuôn mẫu như sau: Chúng ta có vấn đề X => Còn đây là 10 khung lý thuyết từ 10 ông tác giả khác nhau giải thích X => Kết luận rằng, chúng ta nên làm 5 điều và tránh 5 điều để giải quyết X.
Những bài đó tôi có thể thay bằng một câu duy nhất với 40 từ: “Chào các bạn, chúng ta có vấn đề X, vậy hãy prompt vào ChatGPT để nó gợi ý ra 10 cái khung lý thuyết giải thích X, và 5 điều nên và tránh để giải quyết X, rồi ngồi đọc.” Súc tích hơn nhiều!
Thu hẹp chủ đề và nội dung không có nghĩa là không thể đọc các nội dung khác
Thu hẹp chủ đề và nội dung không có nghĩa là không thể đọc các nội dung khác
Cuối cùng là, khi không phải làm việc gì, tôi thích nhìn mọi người, nhìn xung quanh, và suy nghĩ — hơn là lấp vào khoảng trống đó bằng điện thoại. Đó là chuyện rất bình thường vào thời chưa có smartphone. Người ta thường ngồi ở trạm xe hay phòng khám và bắt chuyện với người khác, hoặc không làm gì cả! Những lúc đó đầu óc của người ta thường hồi tưởng về quá khứ, lên kế hoạch tương lai, suy nghĩ về những kịch bản "nếu-thì" trong cả quá khứ lẫn tương lai, phân tích người lạ, lắng nghe âm thanh, suy nghĩ nội tâm... Đó là lúc tôi liên kết được nhiều suy nghĩ nhất. Bạn thấy cái minh hoạ hình phễu tôi vừa vẽ để gộp cả 3 giải thích trừu tượng vào trong một hình ảnh duy nhất không? Khả năng làm việc với những thứ trừu tượng tăng lên khi bạn thường xuyên đối thoại với đầu óc của mình. Còn đối với nhiều người hiện nay là "Hey, tôi là smartphone nè, bạn đang có khoảng trống trong đầu đúng không, bãi rác xã hội đầy rồi, cho tôi đổ tạm một ít vào đầu bạn nhé!". Ngay cả lúc người ta ngồi trước một không gian rất đẹp, thứ họ làm đầu tiên là chụp lại nó, và thứ họ làm sau đó, cho đến thứ họ làm cuối cùng, là chờ xem người ta bình luận gì. Nếu tất cả các khoảng trống trong ngày đều được lấp bằng smartphone như vậy thì bạn xử lý thông tin vào lúc nào?
Tóm lại, chúng ta không có gì để bàn về hai điều đầu tiên, và điều cuối cùng nữa, mà chỉ còn điều thứ ba khó hiểu nhất – sự liên kết.
Bên dưới là tổng hợp lại các kinh nghiệm cá nhân của tôi để hỗ trợ cho việc gia tăng liên kết giữa các Thông tin. Chúng ta bắt đầu bằng việc phân loại sách, và nội dung nói chung.

Phân loại sách thì có gì đặc biệt?

Thông thường, người ta sẽ phân loại sách ra thành Lịch sử, Chính trị, Khoa học, Triết học… Đây là cách phân loại dành cho người bán sách, với số lượng hàng ngàn cuốn. Cá nhân tôi đâu có nhiều sách như vậy. Nếu không tính báo chí hay video, một năm tôi chỉ đọc gần 10 cuốn, và tổng cho đến nay chưa quá 200 cuốn. Vì càng lớn sách sẽ càng khó hơn, chưa kể còn đọc lại. Vì vậy, nếu không buôn sách, thì cách phân chia đó không có một ý nghĩa gì cả. 
Tôi chia mọi Thông tin mình tiêu thụ thành 4 mục đơn giản, và đặt tên cho chúng là FAST:
F - Fundamentals Kỹ năng nền tảng như tính diện tích hình học, tính xác suất đơn giản, kỹ thuật suy nghĩ và trình bày, kiểm chứng thông tin, hiểu biết căn bản về cơ thể và hành vi. Tất cả đều là kiến thức căn bản, nhưng buộc phải đọc kỹ và đọc lại. Đây là không gian mà tôi tương tác với chính tôi.
A - Art Sách liên quan đến hội hoạ, minh hoạ, thủ công mỹ nghệ, thưởng thức nghệ thuật. Đây là không gian tôi tương tác với nghệ thuật.
S - Society Toàn bộ sách liên quan đến xã hội. Từ lịch sử, quan điểm, chính trị, kinh tế, giáo dục, tội phạm, tiểu thuyết, cho đến tản văn chuyện phiếm. Đây là không gian mà tôi quan sát mọi người trong xã hội tương tác với nhau. 
T - Trees Sách liên quan đến thiên nhiên, hệ sinh thái, vì tôi thích mảng này. Đây là không gian tôi tương tác với thiên nhiên.
Cách phân chia này cực kỳ đơn giản và dễ nhớ, nên nó dễ dàng trở thành một hệ thống phân loại trừu tượng trong đầu – không chỉ sách mà mọi loại nội dung.
“Oh, đây là vật lý căn bản, kiến thức nền tảng.” “Oh, đây là học thuyết Truman trong Chiến tranh Lạnh, kiến thức xã hội.”
Khi tôi luôn có một cái điểm tựa như vậy ở trong đầu, nó làm tôi không bị lạc lõng, không bị bơ vơ trước mọi nội dung. Đọc một nội dung bất kỳ biết xếp nó vào đâu, liên kết với thứ gì. Như kiểu khi thuyết trình, bạn nắm chặt trong tay một cây viết lông bảng hay cái điện thoại để cảm thấy vững chãi hơn về mặt tâm lý học.

Khoan đã, cái Society này có vẻ thập cẩm nhỉ?

Đây là một kinh nghiệm kỳ lạ. Nghe có vẻ sai sai, nhưng những ai đọc sách hoặc nghiên cứu cái gì đó nhiều năm, đều công nhận là trên đời có một trường phái lộn xộn như vậy, và nó rất hiệu quả với một số người, trong đó có tôi.
Cá nhân tôi giải thích nó như sau. Cũng như buôn bán sách, con người chia nhỏ mọi lĩnh vực trong xã hội ra để tiện nghiên cứu và phát triển. Ví dụ khoa học thì chia ra Vật lý, Hoá học, Sinh học. Trong Vật lý thì chia ra Điện tử, Nano, Quang học, Vũ trụ. Nhưng thật ra trong tự nhiên, toàn bộ mọi thứ đều liên quan đến nhau, đều là một khối, không hề được phân chia!
Ví dụ: “Để chế tạo được một cái tàu vũ trụ, người ta phải vận dụng đến ít nhất là 50 chuyên ngành to nhỏ khác nhau, tùy theo cách bạn phân loại từng ngành, từ những lĩnh vực hiển nhiên là Lý, Hoá, Sinh, cho đến quản lý dự án, nguồn vốn, cho đến thiết kế trải nghiệm người dùng UI/UX, cho đến… triết học. Yes, triết học! Nó có tên là Đạo đức học vũ trụ (Astroethics) – AKA “sống tốt đời đẹp đạo trong môi trường không gian” – một nhánh cháu, của một nhánh con, của Triết học!”
Việc chứa toàn bộ những gì thuộc về tương tác xã hội vào cùng một không gian Society giúp mức độ liên kết Thông tin của tôi mạnh mẽ hơn – từ cách con người săn bắn hái lượm cho đến chiến tranh hạt nhân, từ cách họ xây dựng những mô hình phúc lợi xã hội sơ khai cho đến cách họ mâu thuẫn và phạm tội. Phân loại quá vụn không có tác dụng gì đối với người đọc cá nhân, ngoài việc nhìn có vẻ “chuyên nghiệp”. Trong thế giới thực, không cá nhân nào giải trí bằng cách nghiên cứu 8 ngành khoa học riêng biệt cùng một lúc hết! 
Ví dụ, trong Society, tôi có thể nhận xét về 3 thứ tưởng chừng không liên quan đến nhau như sau.
Ví dụ 3 xã hội này nhé
Ví dụ 3 xã hội này nhé
“Khi bạn nhìn vào xã hội của La Mã, Nhật Bản, và Mexico, bạn sẽ thấy các nô lệ giống như công nhân vận hành nền kinh tế, các samurai giống như cảnh sát và sở thuế, còn các trùm cartel giống như chủ tập đoàn kinh doanh. Ghép 3 vai trò này lại có thể như một xã hội nhỏ. Tuy nhiên 3 vai trò này đều không thoát khỏi quy luật của lợi nhuận biên. Tức là lợi nhuận càng về sau sẽ càng giảm. Chủ không cần trả lương cho nô lệ nhưng chứa thêm nô lệ làm tăng áp lực quản lý và rủi ro phản loạn. Lãnh chúa với quá nhiều samurai còn gặp thêm vấn đề về phân phát bổng lộc vì samurai có nhận lương. Riêng ma túy ban đầu sinh ra siêu lợi nhuận, nhưng lợi nhuận biên sẽ giảm nếu thị trường dần bão hoà, khó tìm khách hàng mới, chi phí vận chuyển đến các thị trường mới gia tăng, và đặc biệt là những khoản tiền khổng lồ để mua chuộc cảnh sát và chính trị gia đội lên phi mã. Các trùm cartel sẽ sớm nhận ra rằng có thuê thêm 100 tay súng thì hàng cũng không thể đi nhiều và nhanh hơn được, nên cách khả thi để giữ đường lợi nhuận biên không chúc xuống là thanh toán các cartel khác để chiếm địa bàn. Và cơ hội tốt nhất để một cartel làm việc đó là khi chính phủ mở các đợt truy quét và may mắn trùm của cartel đối thủ bị tiêu diệt, để lại khoảng trống quyền lực. Đó là lý do người ta hoài nghi về độ hiệu quả của các chiến dịch này do chính phủ tổ chức, mà mới nhất là hơn một tháng trước, ngày 22/2/2026, khi cảnh sát tiêu diệt thành công El Mencho, trùm cartel CJNG quyền lực nhất Mexico, thì bạo lực lại càng gia tăng hơn. Từ đó bạn có thể cảm nhận được sự phức tạp và khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội của con người — những sinh vật vĩnh viễn bị ràng buộc bởi bản năng — vì nó không đơn giản là cứ làm cho một hay hai cá nhân biến mất là xong.”
Tôi nghĩ bạn chỉ có thể hình dung được trường phái này khi có một lượng Thông tin và Hiểu biết nhất định. Nếu không, bạn buộc phải xây dựng từ từ.

Cách tôi thực sự đọc sách

Giờ tôi sẽ lấy 3 quyển sách này để minh họa cho bạn dễ hình dung.
Một là, cuốn Anh em nhà Himmler (nguyên văn tiếng Đức Die Brüder Himmler: Eine deutsche Familiengeschichte) của Katrin Himmler, nói về lịch sử và góc khuất của gia đình Himmler, lãnh đạo Schutzstaffel (SS) thời Đức Quốc Xã.
Hai là, cuốn Văn minh Việt Nam (nguyên văn tiếng Pháp La civilisation annamite) của Nguyễn Văn Huyên năm 1939, nói về văn hóa, đời sống, tính cách của người Việt Nam đầu thế kỷ 20.
Ba là, cuốn Nào tối nay ăn gì? Thế lưỡng nan của loài ăn tạp (nguyên văn The Omnivore’s Dilemma) của Michael Pollan, nói về nguồn gốc thực phẩm và những vấn đề đạo đức, môi trường đằng sau việc ăn uống của con người hiện đại.
Đối với loại hồi ký như Anh em nhà Himmler, hoặc tiểu thuyết, mặc dù có thể bỏ qua một số trang, nhưng thường tôi đọc từ đầu đến cuối, vì tình tiết và các nhân vật xuất hiện theo dòng thời gian.
Đây gọi là đọc tuyến tính (linear reading).
Đối với loại khảo cứu như Văn minh Việt Nam, hoặc sách kỹ năng, bàn về nhiều vấn đề khác nhau, tôi đọc bất cứ phần nào muốn tìm hiểu trước trong mục lục. Chẳng hạn tôi nhảy vào đọc về Hoàng đế trước, rồi đến Nghệ thuật, rồi đến Công nghiệp, rồi đến Làng mạc sau. Giống như đọc Doraemon vậy! Về căn bản, mục lục của những sách này là để giữ cho nội dung ngăn nắp, nó ít ảnh hưởng đến nội dung tổng thể của cuốn sách. Đường đi của cách đọc này giống như bạn quấn băng keo vòng quanh, cho đến khi nó kín hết một kiện hàng. Đây mới là cách đọc quen thuộc của tôi. Kể cả hồi ký thi thoảng tôi cũng đọc theo cách này.
Đây gọi là đọc phi tuyến tính (non-linear reading).
Đối với thể loại mà tác giả trình bày luận điểm của mình như Tối nay ăn gì, tôi cũng không đọc từ đầu đến cuối. Thường là đọc phần mở đầu và kết luận của cả cuốn sách trước, rồi mới nhảy vào các phần bất kỳ ở giữa. Trong các phần đó, tôi cũng đọc mở đầu và tóm tắt của nó, trước khi đọc kỹ nội dung ở giữa.
Đọc phi tuyến tính có lịch sử lâu đời. Thời xưa, khi máy in chưa phổ biến, sách phải chép bằng tay nên rất hiếm và đắt đỏ, còn những người biết chữ thì không nhiều. Chỉ những học giả và tu sĩ mới có nhu cầu đọc sách mà thôi. Họ tiếp cận được cuốn nào thì đọc cuốn đó, đọc nhảy từ cuốn này qua cuốn khác, rồi chép lại những ý hay vào một cuộn giấy riêng. Sau đó về nhà, họ nghiền ngẫm và diễn giải lại, chủ yếu để phục vụ tranh luận, giảng đạo hoặc viết lách. Đọc sách thời đó không phải để trải nghiệm, mà như kiểu “thu thập hái lượm” các mảnh ý tưởng để tái cấu trúc thành hiểu biết của riêng mình. Điển hình là Kinh Thánh cũng không có dòng thời gian liền mạch mà là tập hợp của những lớp nội dung khác nhau. Việc đọc nhảy, đọc phi tuyến tính ngày nay rất gần với cách đọc cổ xưa đó.
Một cuốn sổ cá nhân (commonplace book) từ thế kỷ 17. Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Commonplace_book
Một cuốn sổ cá nhân (commonplace book) từ thế kỷ 17. Nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Commonplace_book
Nó có một số điểm mạnh như sau:
Duy trì hứng thú với quyển sách vì tôi luôn tiếp cận được ngay những thông tin mình quan tâm. Tưởng tượng phải bắt đầu từ trang 1 và lết qua 350 trang nữa ở phía trước khiến tôi mệt mỏi — trong khi chưa chắc gì đọc theo ý tác giả như vậy đã phù hợp hệ thống sắp xếp thông tin của mình. Tìm điểm vào phù hợp giúp tôi tránh được việc phải đi cả hành trình dài — trong khi có thể đến đúng chỗ ngay từ đầu.
Có thể xử lý khác nhau với các loại nội dung, vì nội dung xuất hiện trong một cuốn sách là không bình đẳng. Một số tôi cần, một số thì không, một số dễ hiểu, một số vượt quá sức hiểu của tôi. Vì vậy, phải xử lý khác nhau: cái nào dễ đọc trước, cái nào khó bỏ qua, lúc khác quay lại.
Những chỗ “hổng” xuất hiện khi đọc nhảy — tức là đề cập đến chi tiết tôi chưa đọc — tạo ra những suy nghĩ khác biệt. Nó buộc não tôi phải lấp vào chỗ trống đó. Thậm chí liên kết được với những cuốn sách khác tốt hơn, so với đọc tuyến tính theo dẫn dắt của tác giả.
Bạn có thể liên tưởng đến ví dụ sau.“Con chuột nào đi bằng 2 chân?”
=> Chuột Mickey “Vậy con vịt nào đi bằng 2 chân?”=> Vịt Donald
Nhưng nếu bạn không đọc câu hỏi đầu tiên. “Con vịt nào đi bằng 2 chân?” => Dễ dàng nhận ra con vịt nào cũng đi bằng 2 chân cả — vì không bị mồi bởi Mickey!
Đôi khi tôi chỉ hoàn thành 2/3 cuốn sách vì 1/3 còn lại là những chi tiết tôi không hứng thú, điều đó mang lại một cảm giác rất kỳ lạ cho cuốn sách. Nó luôn nằm đó, nhưng luôn mới, luôn chờ tôi khám phá tiếp bất cứ lúc nào — chứ không phải “đã xong”, “đã hết nhiệm vụ”.
Tuy nhiên, đọc phi tuyến tính cũng có mặt trái của nó.
Đôi khi, nó phá vỡ một lập luận công phu, làm cho kết luận của tác giả bị yếu — vì đọc thiếu dẫn chứng. Vì vậy, đối với dạng sách lập luận chặt chẽ, dù đọc nhảy nhót nhưng luôn phải đọc đủ, và chắc chắn là đọc sâu mọi lập luận.
Tôi cho rằng đọc phi tuyến tính hoàn toàn có thể áp dụng ngay với sách khảo cứu, kỹ năng như đã nói. Nhưng đối với những cuốn có lập luận, quan điểm, người đọc cần có lịch sử tiêu thụ sách tương đối, cộng với kiến thức nền tảng khá, thì cách đọc này mới phát huy hiệu quả.

Phương pháp Feynman mà người ta hay nói, có hiệu quả không?

Rất có hiệu quả.
Nó đơn giản là: bạn xem được thứ gì đó => thử giải thích lại toàn bộ => xuất hiện những lỗ hổng, những chỗ chưa thực sự hiểu => xem lại, tổ chức lại và hoàn thiện. Điều đó góp phần ghi nhớ ý tưởng. Series chính trị vừa rồi mà bạn xem trên Spiderum chính là minh họa trực quan nhất. Nó thử tổng hợp và sắp xếp lại những kinh nghiệm tôi hiểu nhưng chưa bao giờ giải thích lại cho người khác.
Đây là một bình luận tôi đăng năm ngoái trên bài viết của một bạn, tôi chụp lại để khỏi viết nữa:

Còn vấn đề ghi chú thì sao?

Thi thoảng ghi chú thẳng vào sách nhưng không phải để đọc lại mà để sau khi đọc xong dễ tóm tắt. Khi tóm tắt lại, tôi không bao giờ dùng mục lục của sách. Mục lục là cách tư duy của tác giả, không phải của tôi. Tôi chỉ chọn vài nội dung ấn tượng trong sách, vẽ lại thành một mô hình khác theo cách hiểu của tôi, và phó mặc nội dung còn lại cho trí nhớ. Nên tóm tắt sách của tôi thường không quá 500 chữ. Nghe có vẻ phí phạm nội dung nhưng khi đọc hàng chục, hàng trăm cuốn sách, đó là cách thực tế. Các chi tiết vụn chỉ cần nhớ nó có tồn tại là được, sau này dùng tools tra lại.
Ví dụ một cuốn sách nổi tiếng cho bạn dễ hình dung, là cuốn Atomic Habits (2018) của James Clear – bàn về cách xây dựng những thói quen tốt dựa trên những kiến thức khoa học về bộ não. Quyển sách có giá trị, nhưng tôi thấy có nhiều ý lặp lại (chuyện thường của các tác giả), và đôi khi ví dụ của phần này đáng ra nên minh hoạ cho phần trước đó thì hay hơn. Vậy thì khi tóm tắt, tôi sẽ lược bỏ chi tiết thừa, và sắp xếp lại các cặp “lý thuyết/ví dụ” khác với tác giả để có một mô hình tổng thể phù hợp với tôi. Ngoài ra với những chi tiết như “anh ta sắp xếp đồ vật rất ngăn nắp không phải vì thích ngăn nắp, mà khi làm vậy, đồ đạc sẽ luôn ở vị trí sẵn sàng cho lần sử dụng sau”, thì nó cũng là Hiểu biết và lối sống của tôi cả chục năm rồi, không cần nhớ nữa, nên bỏ ra khỏi ghi chú. Bạn có thể tưởng tượng chính cái việc tôi đọc sách và ghi chú hàng chục năm nó đã là 2/3 của cuốn sách này rồi. Cho nên ghi chú cuối cùng rất ngắn.
Vì vậy càng về sau – khi đã có nhiều trải nghiệm và Hiểu biết – tóm tắt sẽ càng ít. Tác giả nào có góc nhìn ấn tượng lắm, lộn cái bàn lắm, game-changing lắm thì mới phải tóm lại toàn bộ. Còn lại thường là nhận xét một vài ý. Khi đọc qua những nội dung mình đã biết, thì bản thân việc nó được nhắc lại như vậy, cũng đã giúp mình nhớ lâu hơn rồi.

Một lưu ý quan trọng khi ghi chú

Ghi chú không chỉ có lược trích, mà có cả chỉ trích.
Có nghĩa là không chỉ ghi lại ý tưởng của tác giả, mà còn có suy nghĩ cá nhân, hoài nghi, đồng tình hoặc phản biện. Tác giả cũng là người, cũng rất giỏi ở chỗ này, và mắc lỗi ở chỗ khác. Việc “đối thoại” với tác giả theo cách như vậy, giống như hôm nay tôi đã gặp ai đó, nói chuyện, rồi khi về tôi viết nhật ký lại. Nó khiến cho hàng trăm trang ghi chú của tôi đồng nhất với nhau mặc dù nói về những tác giả khác nhau, những cuốn sách khác nhau. Thay vì chỉ là cuốn sổ liệt kê lại hàng chục ý tưởng rời rạc. Buồn buồn ngồi đọc lại như đám rừng, không biết vì sao mình lại ghi như vậy.
Giờ tôi sẽ lấy ví dụ là một cuốn tiểu thuyết để minh họa, vì nếu lấy một cuốn non-fiction chê thì sẽ tạo ra định kiến không hay cho nhiều người – và tôi thì không muốn vậy.
Dan Brown từng nhầm lẫn giữa “bit”“byte” trong cuốn tiểu thuyết Digital Fortress (1998). Đây là lỗi kỹ thuật nghiêm trọng. Kiểu như “chuỗi 64 bit có 64 ký tự (ví dụ a, b, c…)” trong khi thực ra chuỗi 64 bit tức là có 64 số 0 hoặc 1 (1 bit). Nếu dùng bảng mã ASCII (chuẩn 8-bit) để mã hóa cứ 8 bit (1 byte) thành 1 ký tự (a, b, c… ), thì chuỗi đó chỉ chứa được 8 ký tự thôi (8 bytes). Tất nhiên tác giả tiểu thuyết thì phóng đại và sai sót chuyên ngành cũng bình thường, không ảnh hưởng đến nội dung chính. Về mặt giải trí tôi vẫn thấy nó rất hay và kịch tính.

Quản lý những ghi chú này ra sao?

Tôi viết tay vào sổ, hoặc tờ giấy nào đó.
Viết tay cho phép vừa viết vừa minh họa, khiến cho nội dung rất ngắn và dễ hiểu. Trên iPad tôi cũng thường viết tay. Sau đó chụp lại và ném hết vào đâu đó như Google Photos, Apple Notes, thi thoảng chèn vào Obsidian. Tôi sắp xếp đồ đạc vật lý thì rất ngăn nắp, nhưng không hiểu sao tôi sắp xếp thông tin lại rất lộn xộn, và cảm thấy như vậy thoải mái hơn.
Giàn ý tổng hợp lại để viết bài này
Giàn ý tổng hợp lại để viết bài này
Thực ra thì dùng cái gì ghi chú, quản lý cũng chẳng quan trọng. Các ứng dụng ngày nay vì muốn cạnh tranh nhau nên đều quảng cáo những tính năng kỳ dị mà người dùng thực tế chẳng bao giờ dùng đến. Trong khi Giáo sư Oxford J.R.R. Tolkien thì viết những dòng đầu tiên của The Hobbit mặt sau bài kiểm tra của sinh viên khi chấm bài, “Tolkien của Mỹ” George R.R. Martin thì viết Game of Thrones bằng WordStar 4.0 chạy trên MS-DOS, Christopher Nolan thì không có smartphone, thì đây là phòng làm việc của người mà Google, NASA và toàn bộ hạ tầng Internet đều phải mang ơn:

Làm ơn đừng xem tụi KOL giới thiệu mấy cái setup bàn làm việc, mấy cái app này sốc, app kia kinh hoàng nữa. Tôi nhớ có một thằng mà cứ mỗi tháng nó lại giới thiệu một app quản lý công việc khác nhau mà nó cho là best nhất nó từng dùng. Một tháng!
Công nghệ thật diệu kỳ. Nhưng đừng có nhầm lẫn giữa việc “chọn lấy cái nào phù hợp nhất”, và “chọn lấy mọi thứ mới nhất” chỉ bởi vì công nghệ diệu kỳ!
Thi thoảng tôi cũng ném vào Obsidian nhưng nó rất đơn giản, không bao giờ khổng lồ như Obsidian của các KOL hết
Thi thoảng tôi cũng ném vào Obsidian nhưng nó rất đơn giản, không bao giờ khổng lồ như Obsidian của các KOL hết

Những hình vẽ vớ vẩn để làm gì?

Tôi nghĩ ngoài ngoài viết chữ, minh họa buộc não phải huy động thêm nhiều vùng xử lý khác, khiến nội dung trở nên ấn tượng và dễ nhớ hơn. Khi xem lại, hình ảnh cũng giúp nắm ý nhanh hơn chữ. Vì vậy, minh họa – dù xấu hay đẹp, tùy tiện hay chỉnh chu – đều có giá trị.
Tôi chưa từng học vẽ bài bản. Việc minh họa phát triển tự nhiên qua nhiều năm. Nghệ thuật chỉ là một phần. Những hình vẽ trông có vẻ tùy tiện này vẫn dựa trên chút kiến thức về thị giác, tâm lý và logic – nền tảng khoa học là quan trọng! Vẽ phức tạp mà thiếu những yếu tố này thì chưa chắc đã dễ hiểu.
Có lẽ ở một dịp khác, tôi sẽ viết một bài không chuyên về chủ đề thú vị này.
Có những trang rất "nghiêm trọng" nhưng cũng có trang không có ý nghĩa gì cả
Có những trang rất "nghiêm trọng" nhưng cũng có trang không có ý nghĩa gì cả

Ghi chú vào lúc nào trong ngày?

Thường là vào ban đêm trước khi đi ngủ, hoặc bất cứ lúc nào trong ngày có thời gian. Riêng những suy nghĩ thoáng qua cần được ghi lại ngay lập tức trước khi trôi mất, thì tôi lấy điện thoại ra ghi chú vài từ vào đó. Chỉ cần đủ để cuối ngày tôi hiểu là được, vì dù sao chúng cũng sẽ được viết tay và minh họa rõ ràng lại. Đôi khi cầm một điện thoại nào đó mà không có app ghi chú, tôi còn tạo tin nhắn mới, ghi nhanh ý tưởng vào đó rồi gửi cho một số 00000 để nó “Not Delivered” và lưu lại. Tools chưa bao giờ là giới hạn.

Những cuốn sổ ghi chú đi về đâu?

Có những minh họa tôi vẽ khá đẹp và chi tiết, nhưng rồi đều bị đốt hoặc cho vào máy hủy chẻ ra. Việc nhìn chúng biến mất dần cũng để lại một dấu ấn, khiến tôi nhớ lâu hơn.
Chẳng hạn khi đang viết những dòng này, tôi nhớ một mảnh ghi chú. Nó bình và minh họa về một giai thoại siêu thực của Phật Giáo Kim Cương thừa (Vajrayana) nhằm mô tả tính không và bất nhị. Có một đạo sư và học trò đi qua bình nguyên rộng lớn thì gặp mưa đá. Ông thấy một chiếc sừng bò đã mục dưới đất, thản nhiên bước vào và ngồi gọn trong đó để trú mưa. Người học trò kinh ngạc vì cái sừng không hề to ra, đạo sư cũng không hề nhỏ lại – còn anh ta thì không thể nhét nổi bàn tay mình vào!
Tờ giấy nằm trong một cuốn sổ khá dày, không chẻ ra hủy được, phải châm hai lần mới cháy hết.

Một ví dụ

Phần cuối cùng này, tôi sẽ mô tả quá trình một Thông tin (Information) trở thành Kiến thức (Knowledge), và cuối cùng là Hiểu biết (Wisdom) của tôi. Ví dụ này bao hàm toàn bộ những gì đã đề cập bên trên. Hy vọng rằng nó có thể minh họa sinh động cho bài viết.
Lúc trước, tôi hay xem một loại nội dung trên Youtube mà đối với nhiều người là không bình thường: phỏng vấn các bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt (Schizophrenia) và sang chấn tâm lý.
Bạn có thể tìm thấy một số video mới, được đăng trong những năm gần đây, và có phụ đề rất đầy đủ. Một cô gái hoang tưởng rằng mình luôn bị theo dõi, bị phân thân ra làm hai, và cử động giống như búp bê. Phim tài liệu của Bộ Y tế & Phúc lợi Canada minh họa về triệu chứng của 3 người đàn ông mắc tâm thần phân liệt. Phỏng vấn một người phụ nữ trưởng thành cảm thấy không thể hiểu được hành vi của chính mình, vì bị sang chấn tâm lý do chính người cha lạm dụng khi còn nhỏ.
Đó là Thông tin.
Phỏng vấn bệnh nhân tâm thần phân liệt và sang chấn tâm lý
Phỏng vấn bệnh nhân tâm thần phân liệt và sang chấn tâm lý
Sau đó, tôi còn nhớ mình đã trải nghiệm trong cuộc sống và ghi vào sổ tay đại khái những ý như:
“Dựa trên thống kê và các phương pháp thực hiện thống kê, người ta vẫn tranh cãi về việc người mắc chứng tâm thần phân liệt có khuynh hướng bạo lực hay không, nhưng quan điểm chung là họ nhút nhát, nên chính họ mới thường là nạn nhân của bạo lực. Những tình huống họ trở nên nguy hiểm đa phần là ảo giác tăng nặng do không được điều trị hoặc tự ý dùng rượu và chất kích thích. Tại những cộng đồng chưa có nhận thức cao và đồng cảm với người bệnh, người ta thường có khuynh hướng kỳ thị, chế nhạo, không chẩn đoán và điều trị cho họ kịp thời ngay từ sớm. Vì vậy, có lẽ chỉ khi bệnh của họ phát nặng lên, dẫn đến bạo lực thì công chúng mới biết đến, và có “thiên kiến kẻ sống sót” rằng người tâm thần luôn bạo lực…
Trường hợp điển hình là Hà Văn Pẩu tại Lạng Sơn, một người tâm thần không được điều trị sớm đã nấu lên và ăn thịt một bé gái trong lúc bị ảo giác quá nặng. Tuy nhiên nếu xem xét lại lịch sử cuộc đời anh ta thì nhận định trên phát huy tác dụng. Pẩu có triệu chứng tâm thần từ khi còn đi học, nhưng được điều trị rất ít. Có lẽ do nhiều yếu tố gia đình, xã hội, cũng như nguồn lực, sau này anh ta gặp rất nhiều biến cố cuộc đời, và còn mắc thêm trầm cảm nặng, nhưng vẫn không được điều trị. Sau sự việc đáng tiếc thì cuối cùng gia đình cũng không còn cách xử lý nào khác là nhốt vào hầm để anh ta qua đời. Điều này cho thấy công tác điều trị và nhận thức cộng đồng là rất hạn chế...
… Cộng đồng không chỉ nhận định không chuẩn về người tâm thần, mà kể cả không chuẩn về người bình thường. Một số người dửng dưng khi nhìn thấy người khác hoặc trẻ con bị hành hạ, dưới danh nghĩa là giáo dục, và họ nói rất tự hào là, hồi nhỏ họ cũng vậy có sao đâu! Và những người này đôi khi được xã hội cho là bình thường, thậm chí là mạnh mẽ. Well, chứng kiến người khác đau khổ mà vẫn thấy bình thường, đó là bệnh hoạn. Và chính họ đã trả lời luôn cái nguồn gốc của sự bệnh hoạn đó: thế hệ của họ cũng giống hệt như vậy nên họ muốn nó được áp dụng lên thế hệ sau. Thật lạ lùng khi người ta coi mầm mống của cái ác và bạo lực là mạnh mẽ, nhưng lại ghê tởm cái ác đúng nghĩa khi nó thực sự giáng lâm...
… Quay lại những buổi phỏng vấn người tâm thần trong trạng thái bình tĩnh. Người ta có thể cho đó là điên loạn, nhưng tôi lại so sánh chúng với những buổi phỏng vấn người nổi tiếng trên truyền hình. Thứ nhất, bệnh nhân cố gắng mô tả chân thực những ảo giác trong đầu họ, mặc dù nghe rất điên loạn, thay vì thể hiện những kỹ năng nói dối, nói theo kịch bản, khoe khoang tinh tế. Thứ hai, khi được điều trị, được tôn trọng và ở trong trạng thái bình tĩnh, bệnh nhân rất nhút nhát và biết họ không bình thường, biết người khác cũng kỳ thị họ và họ cũng rất đau khổ với điều đó, thay vì hoang tưởng rằng mình là người nổi tiếng thì có cái quyền này và quyền kia. Chính Hà Văn Pẩu về sau cũng hối hận nói, anh ta chỉ ước có thể đẻ được một đứa con rồi trả lại cho gia đình kia, chứ giờ cũng không biết làm thế nào để chuộc tội. Thứ ba, trong những cuộc phỏng vấn bệnh nhân, người hỏi tôn trọng người nói, người nói cũng chân thành trả lời, cuộc nói chuyện diễn ra yên tĩnh, không ai giành nhau nói để thao túng hay thể hiện cái gì cả. Đã bao lâu rồi trong xã hội này, người ta không được tham gia một cuộc trò chuyện đúng nghĩa như vậy dù là giữa người thân?
Bạn có thể thấy những gì tôi ghi chú thường móc vào những Hiểu biết đã có, và phát triển nhiều hơn Thông tin ban đầu. Những nội dung này cho tôi sự đồng cảm, và sự choáng ngợp về bộ não. Nó có một tiềm năng rất lớn, nhưng khi nó hư hỏng chỗ nào đó, cũng có thể trở thành một ngục tù kinh khủng cho bệnh nhân. Vì vậy, khi có con, tôi rất chú ý đến vấn đề tinh thần.
Đó là Kiến thức.
Sau đó, khi con tôi còn nhỏ, có lẽ khoảng trong khoảng 2-4 tuổi, tôi thường thấy một hiện tượng thú vị. Đang bình thường, thì đột nhiên nó mếu hoặc khóc, không vì lý do gì cả, rồi sau đó tự nó bình thường trở lại! Hoặc nó sẽ ngồi lắp ráp cái gì đó, nhưng thất bại, và khó chịu rất dữ dội trên khuôn mặt. Thông thường, người ta sẽ cho đó là chuyện trẻ con và bắt nó không nên thế này thế kia. Tuy nhiên, dựa trên những gì đã đề cập ở trên, tôi bắt đầu phỏng đoán xem nó đang thực sự nghĩ gì. Bởi vì trẻ 2 tuổi chưa thực sự có nhiều trải nghiệm và trải nghiệm 2-3 năm qua của đó đều là tốt, vậy cái gì tạo ra những hành vi đó? 
Về sau tôi phỏng đoán rằng – dựa trên chính trải nghiệm chủ quan của tôi và mọi điều kiện khách quan mà tôi có thể tính đến – trong lúc nó sinh hoạt, một cảm xúc mãnh liệt – như buồn, vui, thương nhớ, hoặc bực tức – đã đột nhiên bùng phát bên trong não của nó. Nhưng nó hoàn toàn không biết đó là cái gì, xử lý ra sao, vì chưa bao giờ có kinh nghiệm, và thậm chí không đủ vốn từ vựng để gọi tên cảm xúc đó!
Đôi khi bạn bất chợt làm điếu thuốc rồi nhớ người này người kia, nhớ kẻ thù, nhớ những chuyện xấu hổ quá khứ, và nó rất chill vì bạn đã làm hàng trăm lần trong đời rồi. Bạn biết rõ những cảm xúc đó gọi là gì và biết cách xử lý nó. Kể cả khi bạn yêu ai đó lần đầu trong đời, bạn cũng biết đó là yêu, đơn giản vì bạn từng… xem Titanic. Con nít hoàn toàn không có những kinh nghiệm đó. Cộng thêm việc bộ não vẫn chưa phát triển hoàn thiện. Cộng thêm việc nhạy cảm với thế giới hơn người lớn. Nó vẫn phải đối phó với những cảm xúc bất chợt, điều đó khiến bộ “vi xử lý” của nó bị choáng ngợp và bối rối.
Sau này, bất ngờ là, hiện tượng đó thực sự được người ta nghiên cứu rồi, và họ nghĩ ra cách ứng phó ngược lại. Đó là dạy cho trẻ biết cách gọi tên những cảm xúc để thuần hóa những cảm xúc đó, “name it to tame it”. Khi con nít được hướng dẫn để nói ra cảm xúc, bạn sẽ thấy nó thường mô tả những thứ cực kỳ thú vị. Nó đột nhiên nhớ nhung một người bà, nó đột nhiên cảm thấy rằng một hành động nào đó của một người bạn trong lớp là không tốt, thậm chí mô tả được khá rõ tình tiết trong một giấc mơ, và biết cách trình bày suy luận của mình. Điều đó rất khác biệt so với những đứa trẻ được dạy phải im lặng, không nên nói những điều “vô nghĩa”, vì có nói cũng không ai muốn nghe.
Đó là Hiểu biết.
Bạn có thể thấy rằng tôi xem những loại Thông tin không ngờ tới. Sau đó ghi nhớ, liên kết, áp dụng, và có những Hiểu biết về sau tôi cũng không ngờ tới.

Kết thúc

Tôi viết đã rất dài rồi. Có những điều dài dòng khi giải thích nhưng trên thực tế thì diễn ra rất nhanh do trực giác. Dù sao, tất cả đều là kinh nghiệm quan trọng, nên tôi không muốn bỏ sót hoặc nói quá vắn tắt. 
Bài viết đã đi qua từ toán, thống kê, lịch sử, báo chí, truyền thông, xã hội, tội phạm, bộ não và con nít với hơn 10.000 chữ mà không cần dựa trên bất cứ một khung lý thuyết nào. Nhìn trên lý thuyết, ta có những chuyên ngành nghiên cứu, những phân loại sách, những mục lục, những mô hình lý thuyết rất đẹp, nhưng thế giới thực không phân chia rõ ràng như vậy. Khung lý thuyết chỉ là hình dạng của thế giới hỗn loạn trong đầu các nhà nghiên cứu, là những đề xuất để con người có thêm công cụ định hướng, chứ không phải quy luật đúng với tất cả mọi người. Nếu chưa từng thực sự rót lý thuyết đó vào bản thân, áp dụng, phá tung, giải thích và chất vấn được nó theo kinh nghiệm cuộc sống cá nhân, thì khung lý thuyết chỉ là bức tranh treo trên tường, là cái cùm, là cái ảo tưởng về tri thức của mình, nhưng nằm trong đầu người khác mà thôi.
Vì vậy, để an toàn nhất trước những khung lý thuyết trong một thế giới hỗn loạn, tôi nghĩ rằng, nên trang bị: (1) kiến thức khoa học nền tảng — vì tạm thời đúng nhất (2) khả năng suy nghĩ rành mạch — để có thảo luận giá trị. Sau đó dùng 2 thứ trên để: (3) áp dụng, chỉnh sửa những lý thuyết, và trở thành (4) “chuyên gia về chính bản thân mình”, không phải người khác
Tôi cho rằng, ngoài việc tiêu thụ thông tin, nhiều vấn đề lớn trong cộng đồng của chúng ta — như chất lượng thảo luận, sự tự tin lành mạnh vào bản thân, sự bình yên nội tại trong cuộc sống hiện đại — đều có thể được cải thiện đáng kể thông qua 4 điều cơ bản trên. Đó là những điều "biết rồi nói mãi", nhưng vẫn chưa nhiều người có hứng thú tự cải thiện nó cho bản thân mình, trong bối cảnh (1) kiến thức nền tảng ở cấp phổ thông nặng nề tính thi cử, (2) những môn học dạy tư duy chưa có, (3) những lý thuyết đang được chấp nhận chỉ bởi vì có cảm tình với tác giả, và (4) truyền thông đang khuyến khích khán giả nhận xét về quan điểm của người khác quá nhiều, thay vì hiểu biết chính mình.
Chúng ta có IQ, độ phủ, và tốc độ Internet không hề thấp so với thế giới, nên khả năng tiếp cận tài liệu, quan điểm từ những tác giả có bộ óc phi phàm đều là dư thừa — chỉ thiếu kỹ năng cơ bản mà thôi. Đối với một người không có kiến thức nền tảng, thì mọi ý tưởng nâng cao rót vào đầu, về căn bản, đều trở thành tôn giáo.
Chúc bạn tiêu thụ thông tin hiệu quả, và chinh phục mọi cuộc chiến nội tâm của bản thân mình: