[BÀI DỊCH] Bảy mươi dặm địa ngục (Phần 2)
Trong một lễ an táng mới diễn ra gần đây, các công nhân địa phương mặc đồ bảo hộ chống nhiễm độc đã đặt 12 túi đựng thi thể màu trắng xuống các huyệt mộ. Mười trong số đó được dán nhãn DESCONOCIDO, tức "không rõ danh tính".
(Dịch từ bài viết Seventy Miles in Hell của tác giả Caitlin Dickerson đăng trên The Atlantic - 06/08/2024)
🌍 Mọi người có thể ghé trang Transderledge để đọc phiên bản có highlight từ vựng tiếng Anh theo cấp độ và các bài dịch khác của mình ạ! Cảm ơn mọi người!
Sáng hôm sau, chúng tôi phải đối mặt với những chướng ngại khắc nghiệt nhất của tuyến đường này: các vách đá dựng đứng liên tiếp. Một số đoạn đã được căng dây thừng, nhưng không ai biết sợi nào đủ chắc để bám vào. “Trời ơi, tôi không dám nhìn đâu,” María Fernanda thốt lên khi cô con gái 7 tuổi của mình trèo qua vách đá. Cô che mắt lại và hét: “Bám cho chặt nhé, công chúa của mẹ!”
Đến lượt Katherine, một bé gái 8 tuổi, em trượt chân và rơi xuống con sông đầy đá bên dưới, cách đó khoảng 15ft (4,572m). Mẹ em, đi ngay phía sau, chết sững, trong khi một người khuân vác lao ngay xuống dòng nước. Katherine ngoi lên, khóc nức nở nhưng không bị thương. Gần như ngay lập tức, chúng tôi lại tiếp tục đi—không ai muốn nghĩ thêm về khoảnh khắc thoát chết trong gang tấc ấy.
Ngày tiếp theo là ngày thứ tư mà cả nhóm đi trong rừng, và là ngày thứ 15 kể từ khi rời Chile. Chúng tôi gặp một thân cây đổ, phủ đầy rêu ướt, buộc phải băng qua như đi trên xà thăng bằng bắc ngang dòng sông chảy xiết. Tôi khựng lại, chắc mẩm rằng mình sẽ trượt ngã. Rồi tôi thấy một bé gái mà tôi chưa từng gặp trước đó, đang đứng một mình, mắt mở to, có vẻ không biết phải làm gì. Một cậu thiếu niên trong nhóm bước tới, vòng tay qua bụng em và bế sang bờ bên kia. Đặt em xuống rồi tiếp tục bước đi như không có chuyện gì. Tôi nín thở và bước lên thân cây.

Một người dẫn đường người Colombia giúp Susej vượt qua vách đá trơn trượt. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Chúng tôi bắt đầu thấy những chiếc lều bị bỏ lại và tự hỏi liệu điều đó có phải là mình đang tiến gần đến rìa rừng, hay đơn giản là những người để lại chúng đã quá kiệt sức, đến mức không thể mang nổi cả những vật dụng tối thiểu. Và lần đầu tiên, chúng tôi thấy những người ngồi đơn độc trên những tảng đá hoặc gốc cây, ánh mắt vô định, rõ ràng là bị bạn đồng hành bỏ mặc. Chúng tôi băng qua một con sông phía sau một gia đình có ba bé gái, trong đó hai em khuyết tật. Cô chị cả trông ít nhất cũng phải 10 tuổi nhưng lại được quấn chặt như trẻ sơ sinh trong một tấm vải ép sát ngực người cha, chân tay dài thõng ra ngoài. Người cha trượt chân, úp mặt xuống nước, kéo cả hai chìm theo. Khi họ ngoi lên, cô bé ho sặc sụa, gào khóc. Người cha chỉ lắc mạnh người cho ráo nước, siết lại tấm vải, rồi tiếp tục đi. Ngay sát lối mòn là một thi thể đang phân hủy, được che lại bằng một tấm chăn.
Khoảng một tá sĩ quan biên phòng Panama được phân công theo sát chúng tôi bắt đầu xin chúng tôi chia sẻ nốt phần lương thực còn lại—cho đến khi mọi thứ cạn sạch. Họ cũng kiệt sức và liên tục muốn dừng lại nghỉ. Quân y của trung đội tu một chai dung dịch muối mà trước đó chúng tôi đã đưa cho anh ấy để pha loãng thuốc giải nọc rắn phòng khi bị rắn cắn. Nhưng anh đang gặp vấn đề cấp bách hơn nhiều: tiêu chảy do uống nước sông.
Tầm giữa trưa, chúng tôi tới một nơi gọi là Tres Bocas, hợp lưu của ba con sông—và cũng là chỗ mà vào cuối mùa mưa, thi thể thường dạt vào bờ. Nhiều người trong nhóm của María Fernanda đã tụt lại rất xa, cùng với một nửa lực lượng biên phòng. Một sĩ quan cảnh báo rằng chúng tôi vẫn còn cách rìa rừng ít nhất 13 dặm, nhưng với địa hình này, quãng đường sẽ như dài gấp đôi Chúng tôi không thể dừng lại chờ những người phía sau bắt kịp.
Trong suốt bốn tiếng, chúng tôi lúc đi nhanh lúc chạy, vượt xa những gì tôi từng nghĩ là cơ thể mình có thể chịu đựng. Cuối cùng, chúng tôi thoát khỏi tán rừng, tới một bãi đá, nơi hàng trăm người di cư đang chờ đợi. Nhiều người cho biết họ đã không ăn gì suốt nhiều ngày.
Tất cả cùng leo lên những chiếc xuồng máy do người bản địa điều khiển, với mức phí 25 đô la mỗi người. Hai tiếng sau, khi mặt trời lặn, chúng tôi đến Bajo Chiquito—một cộng đồng khoảng 200 người. Dù không có nước máy, điện hay bệnh viện, chính phủ Panama vẫn coi nơi đây là điểm tiếp nhận chính thức cho những người vượt qua được Darién Gap, và là một cột mốc quan trọng trong “dòng chảy di cư có kiểm soát” mà họ tuyên bố đã thiết lập được.
---------------------------------------------
Mật độ rừng rậm khiến người ta khó có thể cùng lúc đối diện với thảm họa nhân đạo đang âm ỉ diễn ra, cũng như hàng loạt thất bại chính sách đã đẩy con người tới bước đường này. Nhưng tất cả những vấn đề đó đều hiện rõ ở Bajo Chiquito, nơi mà hệ thống xử lý người di cư vốn đã yếu kém nay đang bị quá tải nghiêm trọng.
Run rẩy vì kiệt sức, chúng tôi leo lên những bậc thang dẫn vào làng. Từ lúc mặt trời mọc đến khi lặn, lối vào luôn chật kín người di cư chờ được làm thủ tục. Mỗi ngày, có tới 4.000 người đến đây. Có người phải được khiêng lên cầu thang; có người thì ngã quỵ ngay khi vừa tới nơi.
Mặc dù Panama có thu nhập bình quân đầu người cao nhất ở Mỹ Latinh, người dân bản địa của nước này lại sống trong cảnh nghèo đói cùng cực. Các chính trị gia Panama nhanh chóng lên án việc di cư đã làm thay đổi lối sống truyền thống của người bản địa, nhưng với những cộng đồng như Bajo Chiquito, đây lại là “của trời cho”. Lúc tôi ở đó, âm nhạc vang lên inh ỏi khi người di cư có tiền mua thức ăn, Wi-Fi, đồ vệ sinh cá nhân, quần áo sạch và lều trại. Người dân đi lại, tay cầm những xấp đô la Mỹ—đơn vị tiền tệ không chính thức của Darién Gap.

Bên trái: Người di cư đến Bajo Chiquito, một điểm tiếp nhận chính thức của Panama dành cho những người vượt qua được eo biển Darién. Bên phải: Người di cư cắm trại qua đêm ở Bajo Chiquito, nơi không có nước máy và điện. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Hầu hết những người di cư tôi gặp trong hàng chờ làm thủ tục đều kể rằng họ đã bị cướp tại một trạm kiểm soát cách đây chưa tới một ngày đi bộ. Phụ nữ nói họ bị sàm sỡ; một số người cho biết họ bị xâm hại bằng tay dưới danh nghĩa khám xét tìm tiền giấu kín. Những sĩ quan biên phòng Panama đứng gần đó tỏ ra không mấy quan tâm đến việc điều tra. Các thủ lĩnh bản địa nói rằng họ đã nhiều lần đề nghị chính phủ hỗ trợ giải quyết tội phạm nhắm vào người di cư, nhưng tình hình dường như ngày càng tồi tệ hơn. Tháng Hai, tổ chức Bác sĩ Không Biên giới <Doctors Without Borders> công bố một báo cáo về bạo lực tình dục đối với người di cư ở Darién Gap, cho thấy tần suất rất cao, thường chỉ thấy ở các vùng chiến sự. Không lâu sau đó, chính phủ đã yêu cầu tổ chức này rời khỏi khu vực.
Trên tường các ngôi nhà ở Bajo Chiquito, tôi nhìn thấy tờ rơi “MẤT TÍCH” in hình một cậu bé 9 tuổi người Việt Nam với đôi má phúng phính. Chính quyền Panama nói với tôi rằng trẻ em bị lạc gia đình trong rừng sẽ được giữ lại cho đến khi người lớn tới. Nhưng chỉ vài phút sau khi bắt đầu phỏng vấn những người trong hàng chờ, tôi gặp một bé gái 5 tuổi người Ecuador, tới đây cùng một nhóm người xa lạ mà em gặp trong rừng. Khi đến lượt bị thẩm vấn, không ai trong nhóm thừa nhận rằng họ không hề có quan hệ họ hàng với bé gái. Họ không có giấy tờ gì của em, nhưng các nhân viên di trú vẫn cho đi qua.
Một hàng người bệnh và bị thương kéo dài quanh phòng khám y tế duy nhất của Bajo Chiquito, nơi được mở ra để ứng phó với làn sóng người di cư. Trong khu vực chờ ngoài trời—chỉ có vài chục chiếc ghế nhựa đặt trên nền bê tông—người ta nôn mửa, băng bó các vết phát ban và vết thương rướm máu, bế theo những đứa trẻ bị tiêu chảy suốt nhiều ngày. Các bác sĩ phát vài viên thuốc hạ sốt hoặc cho chút kem bôi da đựng trong túi nhựa nhỏ, rồi gọi bệnh nhân tiếp theo.
Hai người phụ nữ dìu một người bạn suýt chết đuối vào; cô lầm bầm và không thể ngẩng đầu lên. Một y tá dẫn họ tới cáng và gắn ống truyền cho cô trong khi ba đứa con đứng nhìn hoảng loạn. Một lúc sau, y tá quay lại, và dù người phụ nữ vẫn chưa tỉnh táo, cô nói với gia đình rằng họ sẽ phải rời đi sớm, vì cơ sở này đóng cửa lúc 5 giờ chiều. Vài người đàn ông vừa khám xong đã giúp khiêng cô ra lều, trong lúc cô vẫn rên rỉ.
Sáng hôm sau, người di cư lại xếp hàng chờ lên xuồng, để được đưa tới một trại lớn hơn gần đường cao tốc, từ đó họ sẽ tiếp tục đi tới Costa Rica. Không ai biết chắc liệu mình có chỗ hay không, họ bắt đầu cãi vã, la hét với nhau bằng đủ thứ tiếng xem ai đến trước. “Ngày nào cũng như vậy,” một sĩ quan nói với tôi. Tôi thấy người phụ nữ ở phòng khám hôm qua đang ngủ gục trên một chiếc ghế dài, da cô ngả sang màu xám xanh. Đứa con út của cô—một cậu bé 8 tuổi—đặt đầu mẹ lên đùi mình, vừa vuốt tóc cô vừa xua ruồi. Hai đứa con lớn hơn đi đi lại lại trong làng, vẻ mặt lạc lõng, bàn bạc xem nên làm gì tiếp theo.
Bất chợt, Lynsey và tôi nghe thấy tiếng la hét. Chúng tôi chạy vào một ngôi nhà sơn màu hồng đang cho người di cư thuê và gặp lại một đại gia đình người Trung Quốc mà chúng tôi đã thấy ở phòng khám hôm trước. Họ bị sốt suốt nhiều ngày và chỉ được cho uống ibuprofen. Sáng hôm đó, người ông 70 tuổi—Yenian Shao—đã không tỉnh dậy nữa. Vợ và con gái ông đổ sụp lên thi thể, gào khóc và tụng niệm.

Các binh sĩ Panama đang khiêng thi thể của Yenian Shao, một người di cư Trung Quốc đã qua đời sau khi đến làng trong tình trạng bị sốt. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Các sĩ quan biên phòng gọi một điều tra viên địa phương. Khoảng một tiếng sau, anh ta tới. Dùng ứng dụng dịch thuật trên điện thoại, con trai của Yenian cố hỏi liệu thi thể cha mình có thể được hỏa táng hoặc đưa về Trung Quốc hay không, nhưng anh không hiểu câu trả lời. Giới chức thu dọn thi thể Yenian, rồi hạ xuống sườn đồi, đặt lên một chiếc xuồng. Vợ ông bước lên tiếp theo, ngồi giạng chân ôm lấy túi đựng thi thể chồng, rồi đến lượt những người còn lại trong gia đình. Dân làng đang quét rác trên đường. Ngay bên kia sông, những người di cư đầu tiên của ngày mới bắt đầu cập bến.
---------------------------------------------
Tháng Tư, chúng tôi quay lại Panama để ghé thăm Puerto Obaldía, một làng chài yên ả gần biên giới Colombia. Những ngôi nhà từng rực rỡ sắc màu nay đã phai bạc theo năm tháng. Ở đây có rất ít cơ hội kiếm sống. Di cư từng là một trong số đó.
Trong nhiều năm, người di cư đến Puerto Obaldía bằng thuyền từ Colombia. Dân địa phương bán thức ăn, cho họ dựng lều, và thu phí để sắp xếp chặng tiếp theo của hành trình—hoặc là các chuyến bay thuê riêng từ một đường băng nhỏ xíu đến Panama City, hoặc là đi thuyền đánh cá men theo bờ biển đến một ngôi làng khác, nơi có đường nhựa nối ra quốc lộ để rời khỏi đất nước. Điều này kéo dài cho đến năm 2015, khi số người di cư băng qua Darién Gap lần đầu tiên trong lịch sử đạt mốc 30.000 người, và Mỹ gây sức ép buộc Panama phải siết chặt kiểm soát. Lực lượng tuần tra biên giới bắt đầu bắt giữ người dân địa phương và truy tố họ với tội danh buôn người.
Khi tôi hỏi một người dẫn đường Colombia rằng băng nhóm sẽ phản ứng thế nào nếu tuyến đường này bị đóng, anh ta đáp: “Mở tuyến đường khác.”
Khi chúng tôi đến, thị trấn đang giữa mùa bầu cử thị trưởng, khắp nơi dán đầy áp phích của các ứng viên với nụ cười rạng rỡ. Tất cả đều vận động tranh cử với cam kết sẽ “đưa người di cư quay trở lại,” dù dường như không ai biết phải làm điều đó bằng cách nào. Những ứng viên mà tôi phỏng vấn, cũng như nhiều cư dân khác, thừa nhận rằng đã có lúc thị trấn bị quá tải. Có thời điểm trong năm 2015, khoảng 1.500 người di cư cắm trại tại cộng đồng chỉ vỏn vẹn 600 dân này. Nhưng họ khẳng định rằng mô hình cũ vẫn tốt hơn tình trạng hiện nay—cho cả họ lẫn người di cư.
Các chuyến thuyền chưa bao giờ dừng lại; chỉ là các băng nhóm đã tiếp quản, gắn mác đó là dịch vụ “VIP” và thu phí lên tới hơn 1.000 đô la mỗi người. Giờ đây, thuyền rời bến ngay sau khi mặt trời lặn, kể cả lúc biển động nguy hiểm, và đôi khi bị lật úp. Ít nhất năm người đã chết đuối trong năm nay, trong đó có một đứa trẻ người Afghanistan.

Một nhóm người Panama bản địa mạo hiểm vượt qua vùng biển động. Trước cuộc đàn áp năm 2015, nhiều người di cư đã đi thuyền dọc bờ biển Panama để tránh eo biển Darién; tuy nhiên, ngày nay, các băng đảng kiểm soát các tuyến đường vượt biển tính phí rất cao cho việc đi lại, khiến nhiều người phải chọn những con đường xuyên rừng, rẻ hơn và nguy hiểm hơn. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
“Chính phủ phải chịu trách nhiệm cho việc quá nhiều người đã thiệt mạng,” Alonsita Lonchy Ibarra Parra, một trong các ứng viên, nói với tôi. Một ứng viên khác, Luis Alberto Mendoza Peñata, cho biết cộng đồng đã kiến nghị lên chính quyền, hỏi vì sao người di cư được phép nghỉ ngơi và tiếp tế ở Bajo Chiquito, nhưng lại không được làm điều tương tự tại đây. “Họ không phản hồi thư của chúng tôi” ông nói. “Nếu nhập cư là bất hợp pháp ở Panama, thì tại sao ở đó lại được cho phép, còn ở đây thì không?”
Thế nhưng, Hoa Kỳ đang thúc ép Panama và các quốc gia Mỹ Latinh khác siết chặt kiểm soát di cư hơn nữa, chứ không phải nới lỏng. Gần đây, Panama đã đồng ý nhận 6 triệu đô la từ Mỹ để thực hiện các chuyến bay trục xuất. Mỹ cũng hối thúc Panama xây dựng các trung tâm giam giữ, tương tự như dọc biên giới Mỹ–Mexico. Tân tổng thống Panama đã tranh cử với lời hứa sẽ phong tỏa hoàn toàn Darién Gap. Nhưng nỗ lực nhằm làm điều đó—được Mỹ, Panama và Colombia công bố năm ngoái—không tạo ra tác động rõ rệt: hơn nửa triệu người vẫn vượt qua được, con số cao nhất từ trước đến nay. Tháng Sáu, phía Panama dựng một hàng rào dây thép gai ngay tại điểm chúng tôi từng băng qua. Khi tôi hỏi một người dẫn đường Colombia rằng băng nhóm sẽ làm gì tiếp theo, anh ta đáp: “Mở tuyến đường khác.” Chưa đầy một tuần sau, đã có người cắt thủng hàng rào, và dòng người di cư lại tràn qua.
Bên ngoài Darién Gap, người di cư và những kẻ đưa họ vượt biên tiếp tục tìm cách tránh các rào chắn được dựng lên. Gần đây, hàng trăm nghìn người đã bay thẳng tới Nicaragua—một quốc gia đi ngược lại sức ép từ Mỹ khi từ chối việc hạn chế cấp thị thực.
Mari Carmen Aponte, Đại sứ Hoa Kỳ tại Panama, cùng các quan chức Bộ Ngoại giao Mỹ mà tôi phỏng vấn cho biết chính phủ Mỹ đang cố gắng tìm điểm cân bằng giữa việc ngăn cản dòng người di cư và triển khai các chương trình nhằm bảo vệ họ. Họ dẫn chứng việc Mỹ đang mở các văn phòng trên khắp Mỹ Latinh để phỏng vấn những người xin quy chế tị nạn. Hoa Kỳ hy vọng trong năm nay có thể phê duyệt tới 50.000 hồ sơ, cho phép họ bay thẳng vào nước này — con số cao hơn rất nhiều so với trước đây.
Theo các quan chức, yếu tố then chốt của quá trình sàng lọc này là phân biệt giữa người tị nạn thực sự và người di cư vì kinh tế. Nhưng phần lớn mọi người rời bỏ quê hương vì nhiều lý do đan xen, chứ không chỉ vì một nguyên nhân duy nhất. Nhiều người di cư mà tôi gặp tại Darién Gap hiểu rất rõ những trường hợp nào thường chiếm ưu thế ở tòa án di trú Mỹ, và trường hợp nào thì không. Họ nhấn mạnh khía cạnh trong câu chuyện của mình mà có khả năng cao nhất giúp con cái họ được an toàn.
Và không ít lần, ngăn cản và bảo vệ không phải là hai chiến lược bổ trợ cho nhau, mà lại đối lập. Khi tôi kể với Aponte về những gì mình chứng kiến ở Puerto Obaldía — nơi chiến dịch siết chặt của Panama dường như chỉ đẩy người di cư vào tay các băng đảng và buộc nhiều người phải đi sâu hơn vào rừng — bà nói rằng bà chưa từng nhìn nhận vấn đề một cách trần trụi đến vậy. Bà thừa nhận mình đang cố đưa ra những lựa chọn “giữa hai thái cực — mà cả hai đều không hiệu quả”.
Cũng trong chuyến đi tới Puerto Obaldía, tôi được biết rằng vào tháng Một năm nay, Panama dường như đã nhượng bộ trước người dân địa phương, cho phép họ mở một trại nhỏ cách thị trấn khoảng bốn giờ đi bộ. Một nhóm sĩ quan đồng ý hộ tống Lynsey và tôi đến đó. Trên đường đi, người đại diện của bộ phận truyền thông thuộc lực lượng tuần tra biên giới phải dừng lại nhiều lần để nôn vì quá sức. Khi đến nơi, các sĩ quan hồi sức bằng cách uống Gatorade lạnh và ăn cơm gà nóng cho bữa trưa.
Nelly Ramírez, một phụ nữ 58 tuổi đến từ Venezuela, ngồi gục trên một chiếc ghế dài. Vào ngày thứ hai băng rừng cùng con gái và bốn đứa cháu, bà gãy chân vì bị trượt trên đám lá, vết thương vẫn đang chảy mủ. Những người di cư khác đã đưa bà tới trại, còn gia đình bà thì tiếp tục hành trình. Một phụ nữ làm việc tại đó cho bà đồ ăn và một chiếc võng. Không có tiền, bà hoảng loạn không biết nên làm gì tiếp theo. Nhưng bà tin rằng, nếu không có trại này, có lẽ mình đã chết một mình trong rừng.
Hai ngày sau, một số sĩ quan quay lại trại lúc rạng sáng. Họ không đến để điều tra những kẻ cướp bóc, hành hung người di cư trong rừng, hay những kẻ điều khiển các chuyến thuyền chết chóc với mức giá cắt cổ. Thay vào đó, họ tuyên bố những người vận hành trại đã tiếp tay cho nạn buôn người, chỉ vì bán đồ ăn và Wi-Fi. Rồi họ đốt trại.

Các binh sĩ thuộc lực lượng kiểm soát biên giới Panama đến một trại tạm dọc theo tuyến đường qua Darién Gap, một trong số những trạm dừng chân tạm thời nơi người di cư có thể nghỉ ngơi và mua nhu yếu phẩm. Vài ngày sau, các sĩ quan quay lại và phá hủy trại. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
---------------------------------------------
Nhóm 21 người của María Fernanda đã tan rã trước cả khi ra khỏi rừng, sau khi một số thành viên bị phát hiện lén giấu thức ăn, dù trước đó ai cũng nói đã cạn sạch. Sau khi đi qua Trung Mỹ, người có tiền thì bắt xe khách tới Mexico City. Những người còn lại ngủ trong các trại tạm trú và ngoài đường. Một trong những gia đình nghèo nhất đã bị bắt cóc ở miền nam Mexico. Họ gửi những tin nhắn tuyệt vọng vào nhóm để xin tiền chuộc. Nhưng hầu hết đều nói rằng họ không còn tiền để giúp.
Orlimar và người chị em họ Elimar giờ đã cắt đứt liên lạc. Hai người cãi nhau tại một bến xe ở Honduras, khi Elimar không còn muốn chờ Bergkan xoay xở đủ tiền để đi tiếp. Cô mua vé cho mình và các con, rồi báo với Orlimar rằng họ sẽ rời đi ngay khi loa gọi lên xe.
Bergkan nổi giận, theo lời anh kể, và buộc tội Elimar đã lợi dụng mình. “Tôi nói với cô ấy: ‘Cô dùng tôi như một tay cò vậy! Như một người khuân vác để trông giúp lũ trẻ!’”
Ở Mexico City, Elimar nộp đơn xin phỏng vấn với cơ quan di trú Mỹ thông qua ứng dụng CBP One của Cục Hải quan và Biên phòng Hoa Kỳ, được tạo ra nhằm tinh giản quy trình tiếp nhận tại biên giới. Nhưng sau một tháng chờ đợi, cô mất kiên nhẫn và thuê người đưa mình cùng các con vượt biên trái phép. Họ tự ra trình diện cơ quan di trú và được hẹn ngày ra tòa vào năm 2029 — một khoảng chờ dài nhưng không phải hiếm. Hiện họ sống trong một khu chung cư ở ngoại ô Dallas; các con Elimar theo học trường công. Cô làm công việc lau dọn văn phòng, còn bạn trai làm đầu bếp tại một nhà hàng nhượng quyền.
Khi gia đình Bergkan tới được miền nam Mexico, họ di chuyển bằng những chiếc xe van gọi là combi — phương tiện rẻ nhất đi trên các tuyến đường nông thôn nguy hiểm của đất nước này. Họ nói rằng không thể đếm nổi bao nhiêu lần bọn buôn bán ma tuý, cảnh sát và cả cán bộ di trú Mexico chặn xe đòi tiền hối lộ. Người Trung Mỹ và Caribe phải trả nhiều hơn người Venezuela — ai cũng biết họ nghèo nhất. Nhóm vũ trang cuối cùng ra giá khá “dễ chịu”: “100 peso một người”, khoảng 6 đô la. “Không nhiều đâu.” Mười sáu ngày sau khi rời Bajo Chiquito, họ đặt chân tới Mexico City.
Hiện Bergkan làm đủ nghề lặt vặt: đóng sách giáo khoa trong nhà máy, làm xây dựng ở nghĩa trang. Gia đình anh sống chen chúc trong một căn hộ tầng hầm hai phòng ngủ, cùng hơn chục người Venezuela khác. Họ cũng đã nộp đơn xin vào Mỹ qua CBP One và đang chờ tới lượt. Họ có thể liều mình nhảy lên chuyến tàu nguy hiểm khét tiếng la bestia để tới sát biên giới rồi vượt biên trái phép. Nhưng lúc này, Bergkan không còn đủ sức chịu đựng thêm bất kỳ rủi ro nào nữa.
---------------------------------------------
Khi ai đó chết trong rừng, cơ thể họ thường bị thú hoang ăn thịt, bị sông cuốn trôi, hoặc phân hủy trong môi trường nóng ẩm. Nhưng đôi lúc vẫn tìm thấy thi thể. Giới chức Panama đưa ra những con số mâu thuẫn về số thi thể được tìm thấy trong rừng — từ 30 đến 70 người mỗi năm. Tuy nhiên, có vẻ con số này bị đánh giá thấp đáng kể. Tại cộng đồng El Real hẻo lánh, bác sĩ địa phương Luis Antonio Moreno kể với tôi rằng một mồ chôn tập thể được đào năm 2021 đã nhanh chóng bị lấp đầy bằng hàng trăm thi thể người di cư — gấp đôi, thậm chí gấp ba con số được công bố.
Trong một lễ an táng mới diễn ra gần đây, các công nhân địa phương mặc đồ bảo hộ chống nhiễm độc đã đặt 12 túi đựng thi thể màu trắng xuống các huyệt mộ. Mười trong số đó được dán nhãn DESCONOCIDO, tức "không rõ danh tính".
Moreno đã điều hành bệnh viện xuống cấp của El Real suốt 18 năm. Nhà xác của bệnh viện là một trong số vài nơi ở khu vực này tiếp nhận thi thể được đưa ra khỏi rừng. Ông cho biết mình đã xử lý hài cốt của những người “đến từ mọi quốc gia, mọi lứa tuổi”. Một số vẫn còn giấy tờ tùy thân được bọc trong túi nilon mang theo bên mình. Có người thì chỉ còn là bộ xương. Moreno nghẹn ngào khi nhớ lại hai trường hợp năm ngoái: một là hai cha con chết đuối cùng nhau, thi thể hai người vẫn ôm chặt nhau khi được đưa tới; trường hợp thứ hai cũng là hai cha con, cả hai đều bị bắn vào đầu.
Nhà xác nằm cạnh khu bếp của bệnh viện. Moreno nói mùi hôi thối thường không thể chịu nổi, ngay cả trước cái ngày vào mùa xuân năm nay khi ông phát hiện điều hòa bị hỏng và các thi thể bên trong đang phân hủy. Tháng 3 năm 2023, Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế (ICRC) — tổ chức này có chương trình hỗ trợ các gia đình tìm kiếm người thân mất tích trên hành trình di cư — đã xây dựng một lăng mộ trong nghĩa trang địa phương, với sức chứa hàng trăm thi thể. Và nơi đó đang nhanh chóng kín chỗ.

Bên trái: Một phụ nữ đến Bajo Chiquito trong tình trạng mất nước nghiêm trọng và gần như không thể đi lại; cô đang nằm hồi phục tại phòng khám y tế duy nhất của làng. Bên phải: Vừa rên rỉ vừa lầm bầm, người phụ nữ được khiêng đến chiếc lều gần đó khi phòng khám đóng cửa vào buổi tối. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Trong một lễ an táng mới diễn ra gần đây, các công nhân địa phương mặc đồ bảo hộ chống nhiễm độc đã đặt 12 túi đựng thi thể màu trắng xuống các huyệt mộ. Mười trong số đó được ghi là desconocido — tức “không rõ danh tính”. Một túi mang tên một người đàn ông Venezuela đã được gia đình xác nhận. Ngay trước khi túi cuối cùng — cũng là túi nhỏ nhất — được đưa vào lăng mộ, một nhân viên của Ủy ban Chữ thập đỏ Quốc tế mở túi và đeo một chiếc thẻ kim loại lên cổ tay bé gái người Haiti mới 8 tháng tuổi nằm bên trong.
---------------------------------------------
Sau khi rời Panama, tôi nhắn tin tới số điện thoại in trên tờ rơi tìm cậu bé 9 tuổi mất tích ở Bajo Chiquito. Đầu dây bên kia là Bé Thị Lê — mẹ của cậu bé tên Khánh.
Là mẹ đơn thân, Bé từng làm công việc hành chính trong một trường học ở Việt Nam, nhưng mất việc khi đại dịch bùng phát. Chị bắt đầu xem những đoạn video do các tay buôn người đăng trên YouTube về hành trình băng qua Darién Gap; chuyến đi trông có vẻ khả thi. Một vài người thân đã sang Mỹ trước đó gửi tiền cho chị để sang cùng họ. Bé và Khánh mất gần một tháng để tới được khu rừng, bay lần lượt qua Đài Loan, Pháp, Brazil, rồi đi xe buýt và ô tô qua Peru và Ecuador để đến miền bắc Colombia.
Bé gửi cho tôi những bức ảnh và đoạn video chị quay con trai suốt hành trình — Khánh tạo dáng trên thuyền và ở các trạm trung chuyển. Trong một đoạn video, cậu bé ngồi trên giường trong phòng khách sạn, học tiếng Anh trên Duolingo. Em tập nói câu "Yes, coffee with milk please", phát âm đúng gần hết, chỉ vấp ở từ cuối. Ứng dụng yêu cầu em lặp lại hết lần này đến lần khác: please, please, please.
Trong rừng, họ đi rất chậm và nhanh chóng cạn kiệt lương thực. Đến ngày thứ năm, họ lội xuống một con sông trông giống hệt hàng chục con sông đã băng qua trước đó. Cả hai đều không biết bơi, nên họ khoác tay một người đàn ông Ecuador tên Juan. Cơn mưa suốt cả ngày bỗng nặng hạt hơn, và dòng nước đột ngột chuyển từ trong sang đục — dấu hiệu của một trận lũ quét. “Nước lúc đầu mới đến đầu gối tôi, nhưng chỉ hai bước sau, nước đã dâng tới cổ,” Bé kể. Cả ba bị dòng nước quật ngã. Bé bám được vào một tảng đá lớn. Juan cũng cố làm vậy, nhưng chiếc ba lô ngấm đầy nước kéo anh chìm xuống. Khánh tuột khỏi tay anh. Juan và Bé leo lên một bãi cát, nhìn về phía dòng nước đã cuốn Khánh đi. Cậu bé đã biến mất.
Bé nói rằng khi ngồi bệt trên bãi cát, chị cảm thấy toàn bộ sức lực như bị rút cạn, chết lặng và không thể nhúc nhích. Một vài người di cư trong nhóm kể rằng họ nghe thấy Khánh kêu “Mẹ ơi” khi bị nước cuốn đi. Họ chia buồn với chị rồi bước tiếp. Cuối cùng, Juan thuyết phục Bé đi tiếp để báo lại sự việc và tìm cách nhờ giúp đỡ. Một ngày rưỡi sau, họ leo lên Bajo Chiquito.

Nhà thờ Santa Cruz y la Soledad ở Thành phố Mexico đã trở thành nơi nghỉ chân cho những người di cư trên hành trình về phía bắc, đôi khi tiếp nhận hơn 1.000 người mỗi đêm. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Các nhân viên tuần tra biên giới dùng ứng dụng dịch thuật để ghi lại lời khai của Bé. Họ khuyên chị tiếp tục tới trại lớn gần đường cao tốc để báo cáo lần nữa. Bé làm theo, rồi nhờ anh trai đang sống ở Boston bay sang giúp. Hai anh em quay lại Bajo Chiquito và dán những tờ rơi mà sau này tôi nhìn thấy. Bé nói rằng giới chức ở đó không cho thấy ý định tìm kiếm Khánh, đồng thời nói rằng chị không được phép tự đi tìm. Theo lời thúc giục của anh trai, Bé ra trình diện cơ quan di trú Mỹ để xin tị nạn, rồi sang Boston, nơi chị hiện đang làm việc trong một tiệm làm móng. “Con trai tôi lúc nào cũng ở bên tôi, từ khi nó sinh ra cho đến bây giờ. Tôi không có chồng, nên có những lúc tôi không còn là chính mình,” chị nói. “Không thật sự tỉnh táo, không còn ở đó nữa. Thân xác tôi vẫn ở đây, nhưng cảm xúc thì không, vì tôi nhớ con.”
Không có thi thể để tang khóc, Bé trở nên ám ảnh với ý nghĩ rằng Khánh có thể đã được vớt lên hoặc trôi dạt vào bờ. Chị nghĩ có thể con bị ai đó bắt cóc trong rừng, hoặc đang được chăm sóc nhưng bị thương, hay không nhớ số điện thoại của mẹ. Chị tin rằng con mình vẫn đang chờ mình tới đón. Sau khi tôi liên lạc, trong nhiều tuần liền, Bé gần như ngày nào cũng gửi cho tôi những tin nhắn van nài. “Xin hãy giúp tôi tìm con trai.”
Khi tôi liên hệ với một người đại diện của ICRC về trường hợp của Khánh, tổ chức này đã cho cậu bé vào danh sách những người di cư mất tích mà họ đang cố gắng tìm kiếm. Nhiều tháng trôi qua, vẫn không có tin tức gì. Bé vẫn tiếp tục nhắn tin cho tôi. “Cô nghĩ gì về con trai tôi?” chị hỏi gần đây. “Tôi vẫn luôn chờ tin về con.”
------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài viết này xuất hiện trong ấn bản in tháng 9 năm 2024 với tiêu đề “Bảy mươi dặm ở Darién Gap”.
Về tác giả: Caitlin Dickerson là phóng viên của tạp chí The Atlantic. Cô đã nhận được giải thưởng Pulitzer năm 2023 cho hạng mục Phóng sự Giải thích.

Góc nhìn thời sự
/goc-nhin-thoi-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

