(Dịch từ bài viết Seventy Miles in Hell của tác giả Caitlin Dickerson đăng trên The Atlantic - 06/08/2024)

Darién Gap từng được xem là không thể vượt qua. Giờ đây, hàng trăm nghìn người di cư đang liều mình trước địa hình hiểm trở, bạo lực , đói khát và bệnh tật để băng qua khu rừng này, hướng tới Hoa Kỳ.

Lúc bình minh ở làng Bajo Chiquito, một nhóm người di cư đang chờ lên những chiếc ca nô máy, tiếp tục hành trình về phía bắc.
Lúc bình minh ở làng Bajo Chiquito, một nhóm người di cư đang chờ lên những chiếc ca nô máy, tiếp tục hành trình về phía bắc.
Họ tập trung trong bóng tối mờ mịt trước khi mặt trời mọc. Lũ trẻ mắt nhắm mắt mở, bước đi xiêu vẹo vì buồn ngủ. Người lớn thì tay xách nách mang ba lô và con nhỏ, đứng lắng nghe một người làm việc dưới quyền của băng đảng ma túy quyền lực nhất Colombia – Gulf Clan – đang hét lời chỉ dẫn vào loa, tạm thời át đi âm thanh hỗn độn của chim muông và côn trùng trong rừng: Phải đảm bảo ai cũng có đủ đồ ăn, nước uống, đặc biệt là trẻ em. Những mảnh vải màu xanh dương hoặc xanh lá buộc trên cây nghĩa là đi tiếp. Màu đỏ báo hiệu đi sai đường, phải quay lại.
Tiếp đó là những lời cầu nguyện cho cả đoàn sống sót: “Lạy Chúa, xin hãy phù hộ từng bước chân của chúng con.” Khi mặt trời ló rạng sau đường chân trời cũng là lúc họ lên đường.
Sáng hôm ấy, có hơn 600 người cùng lao vào khu rừng, bắt đầu hành trình dài khoảng 70 dặm (112km) từ bắc Colombia sang nam Panama. So với tiêu chuẩn ở đây, chừng đó người thậm chí còn được xem là “vắng”. Họ đến từ Haiti, Ethiopia, Ấn Độ, Cộng hòa Dân chủ Congo, Brazil, Peru, Ecuador và Venezuela, tất cả đều đang tiến về phía bắc, băng qua dải đất duy nhất nối Nam Mỹ với Trung Mỹ.
Trong suốt nhiều thế kỷ, Darién Gap được cho là không thể vượt qua. Những nhà thám hiểm hay kẻ tham vọng đánh chiếm thuộc địa từng dấn thân vào đây thường chết vì đói khát, bị thú dữ tấn công, chết đuối vì nước sông dâng đột ngột, hoặc đơn giản là lạc lối và không bao giờ trở ra. Những hiểm họa đó vẫn tồn tại, nhưng vài năm gần đây, khu rừng này đã trở thành một “siêu xa lộ” cho những người nuôi hy vọng đặt chân đến Mỹ. Theo Liên Hợp Quốc, năm 2024 có thể sẽ có hơn 800.000 người vượt qua Darién Gap – tăng hơn 50% so với con số không tưởng của năm 2023. Trẻ em dưới 5 tuổi là nhóm tăng nhanh nhất.
Trong nhiều năm, Mỹ đã tìm cách ngăn chặn dòng người di cư này bằng cách gây sức ép lên các quốc gia láng giềng Mỹ Latinh, yêu cầu đóng các tuyến đường di cư quen thuộc và từ chối cấp thị thực cho người nước ngoài bay tới những nước gần biên giới Mỹ. Nhưng thay vì hạn chế người di cư, biện pháp này chỉ khiến họ chuyển hướng sang con đường xuyên rừng, đồng thời đặt quyền kiểm soát vào tay các tổ chức tội phạm – những kẻ hăm hở chớp lấy cơ hội. Gulf Clan, hiện tự gọi mình là Ejército Gaitanista de Colombia, kiểm soát toàn bộ khu vực miền bắc Colombia này. Trước đây chúng vận chuyển ma túy và vũ khí qua Darién Gap; giờ thì vận chuyển cả con người.
Bất kỳ ai muốn làm việc trong khu vực Darién Gap đều phải được băng đảng chấp thuận và nộp lại một phần thu nhập. Chúng xây cầu thang trên sườn đồi, lắp thang ở vách đá và dựng trại có Wi-Fi. Mọi thứ đều được quảng bá trên TikTok và YouTube, và bất kỳ ai cũng có thể đặt chuyến trực tuyến. Có rất nhiều lối xuyên rừng. Tuyến đường khắc nghiệt nhất cũng là tuyến rẻ nhất – hiện có giá khoảng 300 USD/người, đi bộ băng rừng. Đi bằng thuyền dọc bờ biển có thể tốn hơn 1.000 USD.
Tôi đến Darién Gap vào tháng 12 cùng nhiếp ảnh gia Lynsey Addario vì muốn tận mắt chứng kiến con người sẵn sàng đánh đổi những gì để tới được Mỹ. Trước chuyến đi, tôi đã nói chuyện với một số nhà báo từng đến đó. Có người từng mắc thương hàn, bị phát ban, phải sơ tán khẩn cấp, hay nhiễm những căn bệnh kỳ lạ kéo dài hàng tháng. Có người còn bị trói trong rừng và bị cướp dưới họng súng. Họ nói rằng dù có một số biện pháp để giảm rủi ro, nhưng sau cùng, sống sót vẫn là chuyện may rủi.
Mỗi năm, chính quyền Panama phát hiện hàng chục thi thể trong rừng. Còn nhiều người khác thì bị thiên nhiên nuốt chửng, không để lại dấu vết. Những cái chết này không chỉ là hệ quả của điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, mà còn bắt nguồn từ logic sai lầm của Mỹ và các quốc gia giàu có khác: rằng nếu khiến việc di cư trở nên khó khăn hơn, số người dám đi sẽ giảm. Điều đó chưa từng xảy ra – không ở Địa Trung Hải, không ở sông Rio Grande, và cũng không ở Darién Gap. Trái lại, mỗi năm số người di cư lại tăng lên. Những gì tôi chứng kiến trong rừng cho thấy một quy luật: càng siết chặt di cư, các băng đảng và nhóm nguy hiểm càng thu lợi, và càng nhiều người di cư phải bỏ mạng.
---------------------------------------------
Đêm trước khi khởi hành, một người đàn ông Venezuela tên là Bergkan Rhuly Ale Vidal đi đi lại lại quanh khu trại ở cửa rừng, cứ xếp vào rồi lại dỡ ra đồ của gia đình. Anh và bạn đời, Orlimar, đi cùng hai con: Isaac, 2 tuổi, và Camila, 8 tuổi. Ngay cả ban đêm, không khí vẫn oi bức, và đầu óc Bergkan quay cuồng vì lo lắng. Nếu một đứa trẻ ngã và bị thương thì sao? Nếu con bị sốt? Nếu bị rắn cắn? Trong nỗ lực cứu vãn tương lai của gia đình, liệu anh có đang mắc phải một sai lầm nghiêm trọng?
Bergkan Rhuly Ale Vidal và bạn đời của anh, Orlimar, bắt đầu hành trình vượt qua Darién Gap cùng các con của họ, Isaac, 2 tuổi, và Camila, 8 tuổi. Họ đi cùng với người chị em họ của Orlimar là Elimar và hai đứa con của cô ấy. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Bergkan Rhuly Ale Vidal và bạn đời của anh, Orlimar, bắt đầu hành trình vượt qua Darién Gap cùng các con của họ, Isaac, 2 tuổi, và Camila, 8 tuổi. Họ đi cùng với người chị em họ của Orlimar là Elimar và hai đứa con của cô ấy. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Ngay ngày đầu tiên, con đường đầy những tảng đá lởm chởm và dây leo giăng ngang như bẫy. Lối mòn ngoằn ngoèo, cắt qua một con sông không biết bao nhiêu lần, đến mức tôi chẳng buồn đổ nước ra khỏi đôi ủng cao su nữa, vì chỉ vài phút sau chúng lại đầy nước. Mấy đôi giày thể thao của gia đình Bergkan đã rách toạc và mục nát. Các sườn đồi trơn trượt vì bùn, dốc đến nỗi nhiều lúc chúng tôi không đi bộ mà phải bò, bám vào những rễ cây dập nát.
Chúng tôi đi ngang qua các quầy bán nước suối và Gatorade, 5 USD cho hai chai. Những người khuân vác, được gọi là mochileros, vây quanh gia đình, mời chào dịch vụ. “Chúng tôi vác ba lô và bế trẻ con!” họ hô vang. Giá khoảng 100 USD một ngày, và họ cũng sẵn sàng trao đổi đồ đạc với người di cư. Orlimar thử đổi một chiếc tai nghe cũ lấy đôi giày mới, nhưng bị từ chối. Vài lần, cô và Bergkan mất kiên nhẫn với đám người khuân vác và hét lên: “Chúng tôi không có tiền!”
Giữa buổi sáng, chúng tôi tới ngọn đồi khó nhất trên tuyến đường. Sau nửa tiếng leo dốc, Bergkan khuỵu xuống, thở nặng nhọc. Orlimar quăng phịch đồ đạc xuống đất. “Trong cái túi đó có gì?” anh hỏi cô.
“Giày—dép,” Orlimar đáp bằng giọng nhỏ đến mức gần như không nghe thấy.
Bergkan bảo cô vứt bỏ bất cứ thứ gì có thể để giảm tải. Orlimar bắt đầu lôi ra những bộ quần áo sạch. “Người khác sẽ dùng được chúng,” anh nói. Nhưng các gia đình xung quanh cũng đang tháo dỡ đồ đạc của họ. Những người còn đủ sức leo tiếp cứ lầm lũi vượt qua chúng tôi, mắt nhìn thẳng về phía trước, như thể sự kiệt sức là một căn bệnh có thể lây chỉ qua ánh nhìn.
Minh hoạ bởi La Tigre
Minh hoạ bởi La Tigre
Băng qua khu rừng có thể mất 3-10 ngày, tùy vào thời tiết, trọng lượng hành lý và cả yếu tố may rủi. Một chấn thương nhỏ cũng có thể trở thành thảm họa, ngay cả với những người khỏe mạnh nhất. Những kẻ buôn lậu thường cố tình nói giảm thời gian hành trình—Bergkan được bảo rằng chỉ cần chuẩn bị cho hai ngày. Chỉ vài giờ sau khi lên đường, anh bắt đầu nhận ra rằng họ vẫn chưa tiến sâu vào rừng như kế hoạch, đồng nghĩa với việc có thể họ sẽ không đủ lương thực để ra khỏi đây.
Bergkan và Orlimar từng hình dung về một cuộc sống rất khác. Họ quen nhau từ thời thiếu niên và cùng học đại học: Orlimar theo ngành điều dưỡng, Bergkan học kỹ thuật. Nhưng nền kinh tế Venezuela đã sụp đổ vào năm 2014 vì tham nhũng và quản lý yếu kém. Sau đó là cuộc đàn áp của tổng thống cánh tả Nicolás Maduro, kéo theo các lệnh trừng phạt từ Mỹ. Tương lai mà họ từng nỗ lực xây dựng bỗng chốc tan biến. Trong vòng một thập kỷ qua, ít nhất 7,7 triệu người Venezuela đã rời bỏ quê hương.
Trong suốt 5 năm, Bergkan và Orlimar làm bất cứ công việc gì, ở Venezuela rồi sang Peru, chứng kiến bạn bè lần lượt rời đi, hướng về Mỹ. Rồi Elimar, người chị em họ thân thiết như chị em ruột của Orlimar đưa ra một đề nghị: bạn trai của Elimar, đang sống ở Dallas, sẽ chi tiền để cả gia đình Bergkan đi xuyên rừng theo tuyến rẻ nhất, với điều kiện Elimar và hai con của cô—lúc đó 6 và 8 tuổi—được đi cùng. “Ở Venezuela, không ai có thể cho bạn vay tiền, chứ đừng nói là số tiền lớn như vậy,” Bergkan kể với tôi. “Đó là cơ hội của chúng tôi.” Họ dự định chỉ ở lại Mỹ cho đến khi kinh tế Venezuela phục hồi để có thể quay về quê nhà.
Những người di cư đã vứt bỏ quần áo và đồ dùng để giảm trọng lượng hành lý. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Những người di cư đã vứt bỏ quần áo và đồ dùng để giảm trọng lượng hành lý. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Chúng tôi lê bước lên dốc hàng giờ liền. Isaac chao đảo trên vai Bergkan. Nắm chặt hai bàn chân con trai, Bergkan áp dụng chiến lược chạy nước rút lên dốc khoảng 30 giây rồi lại gục xuống. Tay chân anh run rẩy, gương mặt tím tái đáng lo ngại. “Mọi gánh nặng đều bắt nguồn từ trong đầu bạn,” anh tự động viên chính mình. Camila vài lần đứng khựng lại, khiến dòng người phía sau phải dừng theo, rồi kêu: “Mẹ ơi, con không thể đi nổi nữa!”
Khoảng 1 giờ chiều, Isaac ngủ thiếp đi, thân người mềm nhũn đung đưa theo từng bước chân. “Cảm giác như cân nặng của thằng bé tăng gấp ba vậy,” Bergkan nói với Orlimar. Họ dừng chân trên sườn đồi để xốc lại tinh thần. Elimar dùng kẹo mút để cố dỗ cháu tỉnh dậy, nhưng Isaac không phản ứng. Một vài cha mẹ khác dừng lại hỏi xem cậu bé có ổn không. Bergkan lấy ra một gói bột điện giải từ trong ba lô, pha với nước, rồi lay Isaac tỉnh dậy và bảo cả bốn đứa trẻ uống hết. “Chúng ta sẽ đưa các con ra khỏi đây,” Bergkan nói—dường như là với chính mình hơn là với bất cứ ai khác.
Những người dẫn đường và khuân vác theo sát người di cư, iPhone luôn bật máy quay và liên tục hỏi: “Chúng tôi đối xử với bạn tốt chứ?” Họ đăng tải các video lên mạng xã hội, rao bán hành trình xuyên rừng như thể chỉ là cuộc dạo chơi thư giãn giữa thiên nhiên.
Cuối cùng, một người khuân vác giải thích rằng chúng tôi đi quá chậm để có thể đến Panama trong ngày; cả nhóm sẽ phải ngủ lại ở một khu trại dành cho những người tụt lại phía sau. Khi đến đó, trước mắt chúng tôi là sàn gỗ để dựng lều, buồng tắm và nhà vệ sinh tạm bợ, cùng vài bếp ngoài trời, nơi người Colombia bán cơm gà—tất cả đều phải trả tiền. Xung quanh, nhiều người bắt đầu mua Wi-Fi với giá 2 USD một giờ để nhờ người thân gửi thêm tiền; mỗi giao dịch bị tính phí 20%. Elimar đi vòng quanh trại, hỏi vay tiền những người Venezuela khác để liên lạc với bạn trai. Bergkan, Orlimar và các con ngồi xuống, xoa bóp tay chân đau nhức. Họ không có ai để gọi.
---------------------------------------------
Trong ba chuyến đi tới Darién Gap suốt năm tháng, tôi thấy những cây cầu mới và các con đường được lát dần len sâu hơn vào rừng, các điểm phát Wi-Fi mở rộng phạm vi, còn những địa danh trước đây chỉ được truyền miệng nay đã xuất hiện trên Google Maps. Nhìn xuống dòng sông cuộn xiết, tôi bám chặt vào những sợi dây—thứ khiến việc lách qua các vách đá dựng đứng phía sau những bậc cha mẹ đang địu con khóc trên ngực trở nên “an toàn” hơn một chút.
Những người dẫn đường và khuân vác theo sát người di cư trong rừng, iPhone luôn bật máy quay và liên tục hỏi: “Bạn có thấy ổn không?” “Chúng tôi đối xử với bạn tốt chứ?” Họ quay phim không ngừng trong ngày đầu tiên, khi mọi người vẫn còn đủ sức gượng cười. (Ngay cả tôi cũng xuất hiện trong một video như thế.) Các đoạn clip được đăng lên mạng xã hội, rao bán hành trình xuyên rừng như thể chỉ là cuộc dạo chơi thư giãn giữa thiên nhiên. Động cơ kiếm lời của các băng đảng đã trở thành một yếu tố nữa tiếp tục thúc đẩy làn sóng di cư.
Bergkan và các con đang leo lên một đoạn đường mòn trên núi gần biên giới Colombia với Panama. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Bergkan và các con đang leo lên một đoạn đường mòn trên núi gần biên giới Colombia với Panama. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Liên Hợp Quốc đã cố gắng chống lại những thông điệp này bằng cách bố trí viên chức di cư tại các bến xe và trạm kiểm soát trên đường tới Darién Gap; họ cảnh báo người dân về những hiểm nguy phía trước và cố thuyết phục họ suy nghĩ lại. Nhưng những nỗ lực đó hầu như không mang lại hiệu quả. “Người ta đến đây với một suy nghĩ duy nhất trong đầu, kiểu như: ‘Tôi nhất định phải đến được Mỹ,’” Cristian Camilo Moreno García, một viên chức di cư của Liên Hợp Quốc làm việc tại miền bắc Colombia, nói với tôi. “Quay đầu không phải là một lựa chọn.”
Sáng ngày thứ hai của hành trình, khoảng 150 người lần lượt rời khỏi khu trại, đứng chờ mặt trời mọc rồi mới bắt đầu đi tiếp. Bergkan và gia đình không ăn gì; họ cần tiết kiệm vài hộp cá ngừ và những gói bánh quy ít ỏi còn lại. Bọn trẻ vẫn mặc đồ ngủ—một trong số những bộ đồ sạch cuối cùng còn lại của chúng. Hai người phụ nữ đứng ở cuối hàng thu những khoản tiền cuối cùng, rồi phát cho mỗi người một chiếc vòng tay, loại giống như ở các lễ hội âm nhạc, để đánh dấu đã thanh toán. “Vui lòng chuẩn bị sẵn tiền để cả đoàn di chuyển nhanh hơn” một người hét lớn.
Chúng tôi đi dọc theo một sống núi hẹp, hai bên là những vách đá dốc đứng, tất cả đều lê bước chậm hơn hẳn ngày hôm trước. Sau khoảng một tiếng rưỡi, Luciano—con trai của Elimar—khuỵu xuống đất. Người lớn vội vây quanh. “Cởi áo sweater ra—thằng bé đang ngạt thở!” một người la lên. Không nói một lời, một người khuân vác mà Lynsey và tôi thuê nhấc bổng cậu bé lên vai, rõ ràng là không thể chịu đựng thêm cảnh Luciano vật lộn. Anh ta lao nhanh lên dốc rồi biến mất khỏi tầm mắt. Elimar trông suy sụp nhưng cũng nhẹ nhõm phần nào khi tạm thời bớt đi một đứa trẻ phải lo, ít nhất là cho tới điểm dừng chân tiếp theo.
Tin tức lan dọc theo đoàn người rằng chúng tôi sắp tới biên giới Panama. Những người khuân vác vốn ồn ào mời chào dịch vụ suốt hai ngày bắt đầu im lặng hẳn. Ở Panama, trục lợi từ di cư là hành vi phi pháp và có thể bị phạt tù hơn 12 năm. Lực lượng tuần tra biên giới Panama, gọi là SENAFRONT, đã mạnh tay thực thi luật này, kể cả với những người bán nước, mang ba lô hay dẫn đường cho người di cư. Người khuân vác từng bế Luciano vạch áo lên, để lộ vết sẹo trên ngực do trúng đạn—anh nói rằng mình bị thương trong một chuyến đi trước, khi lực lượng chức năng xả súng sang phía Colombia. Anh cảnh báo rằng chúng tôi nên sẵn sàng bỏ chạy. (Khi tôi hỏi Jorge Gobea, người đứng đầu cơ quan này, liệu các sĩ quan của ông có từng bắn qua biên giới vào các người dẫn đường Colombia hay không, ông trả lời: “Nếu có người có vũ trang chống lại lực lượng Panama, chúng tôi sẽ dùng vũ lực.”)
Biên giới được đánh dấu bằng một lá cờ Panama và những đống rác. Một số người tạo dáng chụp ảnh, ăn mừng một cách gượng gạo, không rõ họ đang tiến gần đến đích của hành trình hay vẫn ở giai đoạn đầu. Orlimar làm dấu thánh giá, rồi ngồi xuống gục đầu giữa hai đầu gối. Elimar là người đầu tiên nhận ra các lính biên phòng Panama đang tiến tới và cảnh báo: “Cúi xuống! Cúi xuống!”
Lynsey và tôi chúc gia đình họ may mắn, rồi cùng các khuân vác Colombia chạy nhanh trở xuống núi.
Những người di cư tập trung tại điểm khởi đầu của một con đường mòn xuyên qua Darién Gap. Đoạn rừng rậm rạp này thường mất từ ​​ba đến mười ngày để vượt qua. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Những người di cư tập trung tại điểm khởi đầu của một con đường mòn xuyên qua Darién Gap. Đoạn rừng rậm rạp này thường mất từ ​​ba đến mười ngày để vượt qua. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
---------------------------------------------
Sau khi chia tay gia đình Bergkan ở biên giới, chúng tôi quay ngược lại để đi theo tuyến đường bộ chính thứ hai xuyên Darién Gap. Tuyến này được cho là dễ hơn một chút, và vì thế cũng đắt hơn. Chúng tôi đã xin được sự cho phép của chính phủ Panama để theo tuyến đường này đến tận điểm cuối.
Sau một ngày đi bộ, chúng tôi ngủ lại ở một khu trại khác, nhập vào một đoàn đông người do một bà mẹ người Venezuela tên María Fernanda Vargas Ramírez dẫn đầu; cô có ba người con và từng sống cùng gia đình ở Chile. Các thành viên ban đầu quen nhau qua mạng xã hội, rồi dọc đường thu nhận thêm người, cho đến khi nhóm có 21 người—chỉ duy nhất một người không phải là người Venezuela. Những người vượt Darién Gap thường hình thành mối gắn kết kiểu gia đình với các di dân khác họ gặp trên đường. Họ trông nom con cái của nhau và mỗi lần dừng nghỉ đều đếm người, đảm bảo không ai bị lạc. Nhưng nhóm này đặc biệt thân thiết. Các thành viên chia sẻ đồ ăn và nước uống rất thoải mái và nói rằng họ dự định sẽ đi cùng nhau đến tận nước Mỹ.
Khi chúng tôi tiến gần biên giới Panama lần thứ hai, một người hướng dẫn Colombia—chuẩn bị quay lại—nhờ vài người trong chúng tôi để mắt tới một phụ nữ tên Cataña, người mà anh vừa dẫn theo cùng tuyến đường này nhưng chưa bao giờ ra khỏi rừng. Anh mở điện thoại, cho chúng tôi xem ảnh cô ngồi trên xe buýt và trong một nơi trông giống trạm trung chuyển. Cô có vẻ trầm tư, không chắc mình nên nghĩ gì về chuyến đi phía trước. “Cô ấy đi rất chậm, nên những người khác trong nhóm đã bỏ cô lại,” anh nói.
“Tôi không nghĩ nhóm này lại bỏ rơi ai đó,” tôi đáp.
“Rồi cô sẽ thấy,” anh nói. Khi lương thực cạn dần, con người rất dễ mất kiên nhẫn.
Tuyến đường này mới hơn, chưa bị hàng trăm nghìn người giẫm nát. Cây cối rậm rạp bao phủ bốn phía, khiến lối đi khó bị phát hiện. Chúng tôi bước qua dấu chân báo đốm và đi ngang một con Bothrops—loài rắn lục nguy hiểm nhất Nam Mỹ—đang cuộn mình trên một cành cây ngay sát mắt cá của chúng tôi. Trong một khe núi, chúng tôi nhìn thấy thứ trông như dấu tích của một cú ngã chết người: một chiếc giày thể thao, một hộp sọ, và xương chân quấn băng quanh đầu gối như một chiếc garô.
Susej, 7 tuổi, an ủi mẹ mình, María Fernanda Vargas Ramírez, người lãnh đạo không chính thức của một nhóm 21 người di cư vượt qua Darién Gap. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Susej, 7 tuổi, an ủi mẹ mình, María Fernanda Vargas Ramírez, người lãnh đạo không chính thức của một nhóm 21 người di cư vượt qua Darién Gap. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Khi đã vào lãnh thổ Panama, chúng tôi đối mặt với những mối nguy khác: cướp bóc và tấn công tình dục. Phần lớn các vụ tấn công này do người bản địa Panama gây ra. Suốt nhiều năm, làng mạc của họ thường xuyên bị các băng đảng ma túy và lực lượng bán quân sự càn quét. Một số người bản địa đã tự vệ bằng vũ khí, hoặc tham gia vào các hoạt động buôn lậu. Khi đó chính phủ hầu như không bảo vệ họ, và hiện nay cũng chỉ làm rất ít để ngăn chặn tình trạng này.
Những người khuân vác mà chúng tôi thuê tiếp tục đồng hành khuyên chúng tôi nên bám sát nhau, vì cho rằng bọn cướp sẽ e ngại các nhóm đông người. Sau đó chúng tôi mới biết điều đó là sai—thực tế, chúng nhắm vào các nhóm lớn, có lẽ vì nó hiệu quả hơn so với cướp mỗi lần vài người. Nỗi lo lắng tăng lên khi chúng tôi đi ngang qua vài chiếc ba lô bị bỏ lại. Chúng tôi len lỏi qua bụi rậm ngày càng dày cho đến khi tôi nhận ra không còn bất kỳ dấu vết nào của một con đường. Một người khuân vác buộc tội người khác đã dẫn cả nhóm đi lạc. Họ bắt đầu cãi vã, cho đến khi người thứ ba rít lên: “Đừng la hét!” Chúng tôi quay đầu, nhưng lối đi đã bị một thân cây đổ chặn ngang. Một người khuân vác hét lên thúc giục: “Bế bọn trẻ lên và đi mau!”
Giữa trưa, chúng tôi đến một khu trại tên La Bonga, nơi duy nhất trong rừng mà chính phủ Panama cho phép bán thức ăn và nước uống cho người di cư. Lynsey và tôi gặp lại những sĩ quan tuần tra biên giới được phân công theo sát chúng tôi - là một điều kiện để chuyến đi này được cho phép. Chúng tôi tiếp tục lội bùn, băng sông thêm sáu tiếng nữa rồi mới dừng lại nghỉ đêm. Trời lúc mưa lúc tạnh; Người lớn phải chia nhau vài chiếc lều ít ỏi và buộc phải ngủ luân phiên.
Một phụ nữ Venezuela tên Adrianny Parra Peña chui vào chiếc lều ngột ngạt, khuôn mặt lấm lem bùn đất. Cô và chồng đã giúp María Fernanda bằng cách chăm sóc hai cậu con trai sinh đôi 9 tuổi của María, bế chúng qua sông và đỡ chúng lên những đoạn dốc đứng. Adrianny kể rằng cô từng mong có con, nhưng đây đã là lần thứ ba trong sáu năm cô và chồng phải tái định cư—lần lượt ở Peru, rồi Chile, và giờ là Mỹ, cô hy vọng vậy. “Chúng tôi mệt mỏi vì phải di cư mãi như thế này,” cô nói với tôi. “Đây không phải là cách để sống.”
Trái: Một người di cư cõng con trai 4 tuổi lên đồi. Phải: Một tấm chăn che phủ hài cốt người bị bỏ lại dọc đường đi. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
Trái: Một người di cư cõng con trai 4 tuổi lên đồi. Phải: Một tấm chăn che phủ hài cốt người bị bỏ lại dọc đường đi. (Lynsey Addario chụp cho The Atlantic với sự hỗ trợ từ National Geographic Society)
(Còn tiếp...)
🌍 Mọi người có thể truy cập website Transderledge để đọc phiên bản highlight từ vựng tiếng Anh và các bài dịch khác của mình ạ!