Chiếc răng ở Lào được cho là của một cô gái người Denisovan
Chiếc răng ở Lào được cho là của một cô gái người Denisovan
Tiếp nối phần 1, ở bài viết này chúng ta sẽ tiếp tục cùng nhau nhìn nhận những khám phá của con người về nguồn gốc tổ tiên và thành tựu vĩ đại của giống loài chúng ta. Thông qua đó, thêm hiểu và trân trọng những giá trị của sự sống mà chúng ta đang có.
-

Mối quan bệ bằng hữu và gia đình ở loài vượn hiện đại và người Neanderthal

Trong khi hầu hết các nghiên cứu về loài vượn tập trung vào các nhóm chỉ có một loài tại một thời điểm nhất định, thì một số loài vượn, chẳng hạn như tinh tinh và khỉ đột, lại xuất hiện trùng lặp ở nhiều địa điểm - tạo cho ta cơ hội để quan sát sự tương tác giữa chúng. Thông thường, khi hai loài có quan hệ họ hàng gần cùng chen chúc nhau tại địa điểm chung, hành động của chúng chủ yếu là đối kháng hoặc gây hấn với nhóm kia. Nhưng tại Công viên Quốc gia Nouabalé-Ndoki ở Cộng hòa Congo, tinh tinh và khỉ đột đã được nhìn thấy là hết sức thân thiện với nhau [22]! Từ hai loài kiếm ăn trên cùng một cái cây, cho đến những lúc mà chúng chơi đùa với nhau khi còn nhỏ, thậm chí còn có những cá thể đã hình thành tình bạn lâu dài, nhìn chung thì tinh tinh và khỉ đột đã hòa hợp với nhau trong khoảng thời gian 20 năm với nghiên cứu do Crickette Sanz thuộc trường Đại học Washington dẫn đầu và công bố vào tháng 10. Sự hợp tác giữa các loài này có khả năng là một lợi thế lớn trong việc ngăn chặn những kẻ săn mồi như báo hoa mai và giúp đỡ lẫn nhau tìm kiếm nguồn thức ăn có giá trị.
Mặc dù việc quan sát những động thái nhóm ở loài vượn khá đơn giản, nhưng việc tìm hiểu cách thức các nhóm người sơ khai đã tuyệt chủng và cách họ tương tác với nhau thì phức tạp hơn nhiều, bởi lẽ các nghiên cứu ở cấp độ quần thể thì yêu cầu nhiều hóa thạch từ cùng một địa điểm trong cùng một khoảng thời gian. Giữa hai hang động ở miền nam Siberia (Hang Chagyrskaya và Okladnikov), vào tháng 10, một nhóm nghiên cứu do Laurits Skov và Benjamin Peter dẫn đầu từ Viện Nhân chủng học Tiến hóa Max Planck đã giải trình tự DNA hạt nhân, ty thể và nhiễm sắc thể Y của 13 cá thể người Neanderthal. Từ những trình tự này, họ xác định rằng hai trong số những người Neanderthal đại diện cho một cặp cha con và hai người khác là anh em họ [23]. Ngoài ra, bằng chứng chỉ ra rằng một phần ba người Neanderthal là là một phần của một cộng đồng đã gắn bó chặt chẽ với nhau cùng sinh sống cách đây khoảng 54.000 năm [24]. Cách thức giải quyết với quy mô nhỏ như vậy hầu như chưa từng xảy ra trong lĩnh vực cổ sinh vật học. Thông qua phân tích DNA nhiễm sắc thể Y (truyền qua nam giới) và DNA ty thể (truyền qua nữ giới) cho thấy các cá thể mang DNA nhiễm sắc thể Y kém đa dạng hơn đáng kể, từ đó thấy được rằng phụ nữ người Neanderthal là những người di chuyển đến các nhóm khác nhau, đa dạng hóa vốn gen ty thể - theo một mô hình tương tự đã được quan sát thấy ở loài tinh tinh còn sống. Những phát hiện này cung cấp cho chúng ta hiểu biết mới về cấu trúc xã hội của người Neanderthal và thậm chí là khả năng về cách mà họ giao phối với giống loài của chúng ta.

Cách bệnh tật định hình chúng ta và cách chúng ta đã tiến hoá để chữa trị

"Y học hiện đại" được cho rằng đã xuất hiện ít nhất là vào thời điểm đó, (và có thể là kết quả của) nông nghiệp và các trung tâm dân cư có quy mô lớn. Có nhiều người hơn cũng đi kèm với nhiều bệnh tật hơn và con người sẽ tìm kiếm những cách mới để điều trị bệnh. Nhưng một phương pháp phức tạp về mặt y tế như cắt cụt chi được biết đến là xảy ra cách đây 7.000 năm và không được biết đến rộng rãi cho đến vài trăm năm trước, một thời gian dài sau sự trỗi dậy của các xã hội nông nghiệp. Tuy nhiên, một khám phá mới mẻ về Borneo ở Indonesia đã đưa chúng ta trở lại 31.000 năm về trước [25]! Nhóm nghiên cứu do Tim Maloney từ Đại học Griffith đứng đầu đã thực hiện khám phá này và cho thấy rằng có vẻ người này đã trải qua một cuộc phẫu thuật cắt cụt ngay trên mắt cá chân, và sau đó tiếp tục sống thêm 6-9 năm nữa nhờ vào quá trình sửa đổi của xương xung quanh vị trí bị cắt cụt. Bằng chứng này cho ta thấy rằng người hiện đại đã có một vốn kiến thức về y học phức tạp, chẳng hạn như cách xác định vị trí và cắt đứt các mạch máu, dây thần kinh, mô sơ và xương một cách an toàn mà hiệu quả, rất lâu trước khi nền nông nghiệp thực sự ra đời.
Tuy vậy, kiến thức về y học không chỉ có ở giống loài của chúng ta! Mặc dù các loài động vật như voi, gấu và các loài vượn khác được biết đến với việc ăn các loại nguyên liệu khác nhau để phục vụ mục đích y học [26], nhưng mãi đến năm nay, một nhóm nghiên cứu do Simone Pika dẫn đầu tại Đại học Osnabrück khám phá ra rằng loài vượn sử dụng thuốc mỡ bôi ngoài da để chữa bệnh [27]. Sau khi bắt côn trùng, những con tinh tinh hoang dã của quần xã Rekambo ở Gabon, Tây Phi đã dùng miệng bóp côn trùng, rồi chà xát chúng vào vết thương và sau đó bỏ chúng đi. Phân đoạn thực sự mang tính đột phá của nghiên cứu được công bố vào tháng 2 là những con tinh tinh không chỉ điều trị vết thương cho chính chúng mà còn chữa vết thương cho nhau. Loại hành vi quan tâm này được cho là dành riêng cho loài của chúng ta, nhưng có vẻ như việc quan tâm đến những người khác trong cộng đồng của một người có thể có một nguồn gốc sâu xa hơn trong lịch sử tiến hóa.
Một nghiên cứu mới mẻ khác được thực hiện vào tháng 7 do Pascal Gagneux và Ajit Varki thuộc Đại học California San Diego đứng đầu đã xem xét sự giao thoa giữa y học và di truyền học để khám phá lý do tại sao con người hiện đại lại có tuổi thọ sau sinh sản dài như vậy. "Giả thuyết grandmother" [28] cho rằng con người hiện đại có thể sống khoẻ mạnh qua tuổi trưởng thành về mặt sinh dục để chăm sóc các thành viên trong gia đình, đặc biệt là các cháu. Nhưng tuổi thọ lâu dài này đã phát triển từ khi nào - và như thế nào? Một gen cụ thể tạo ra các thụ thể miễn dịch (giống như các bộ phận chuyên biệt của tế bào hệ thống miễn dịch) được gọi là CD33 cho phép con người hiện đại ngăn ngừa một số tác dụng phụ của quá trình lão hóa, đặc biệt bảo vệ não khỏi chứng viêm và chứng mất trí nhớ. Gen cho ra các thụ thể CD33 này không có ở người Neanderthal hoặc Denisovan, nghĩa là đó có thể là một lợi thế mà loài của chúng ta có được so với họ, nhưng điều đó cũng có nghĩa là chúng ta phải tự mình có được nó thay vì thừa hưởng gen từ một tổ tiên chung. Một giả thuyết mà nghiên cứu này khám phá ra được xuất phát từ sức khỏe sinh sản: ý tưởng cho rằng chúng ta đã tiến hóa các thụ thể này để chống lại vi khuẩn bệnh lậu [29]. Vi khuẩn này tự bọc đường để bắt chước cơ thể con người và phiên bản thụ thể CD33 của chúng ta có thể chống lại nó một cách hiệu quả – bảo vệ sức khỏe sinh sản của chúng ta. Điều này có khả năng chỉ ra rằng sự thích nghi với sức khỏe sinh sản có thể đã được cơ thể con người đồng chọn để cho phép kéo dài tuổi thọ. Nói cách khác, chúng ta đã tiến hóa các thụ thể CD33 để chống lại bệnh lậu, và kết quả là cơ thể chúng ta có thể chống lại chứng mất trí nhớ và cho phép chúng ta có ông bà!

DNA cổ đại: người vừa đoạt giải Nobel

Mặc dù đã có những bước tiến quan trọng trong khám phá về di truyền học và sự tiến hóa của loài người trong năm qua, nhưng thành tựu đáng chú ý nhất thuộc về một người vừa đoạt giải Nobel: Svante Pääbo[30]! Sinh ra ở Thụy Điển vào năm 1955, Pääbo từ lâu đã dẫn đầu trong lĩnh vực aDNA, đặc biệt là về khía cạnh con người và giống loài họ hàng gần nhất của chúng ta. Năm 2010, nhóm của Pääbo đã giải mã được bộ gen của người Neanderthal ,[31] mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới về nhân học. Pääbo cũng đã đi đầu những khám phá mới trong nhân chủng học, bao gồm việc định hình người Denisovan [32] và hiểu về mối quan hệ di truyền giữa người Denisovan, người Neanderthal và giống loài của chúng ta – cũng như tỏ rõ về người lai Neanderthal -Denisovan đầu tiên của loài người[33]. Vì những lý do trên và còn nhiều hơn thế nữa, Pääbo đã được trao giải Nobel Sinh lý học và Y học năm 2022, kết thúc năm 2022 với một kết thúc tuyệt vời. Xin chúc mừng!
-
Được chỉnh sửa bởi Jason Organ, Tiến sĩ, Trường Y Đại học Indiana