Xã hội hiện đại được thiết kế chống lại việc làm cha mẹ
Tại sao chúng ta kiệt sức trong việc chăm con hơn tổ tiên dù sở hữu nhiều tiện nghi và giàu có hơn?

Mẹ và các con. Tranh của Mai Thu
Bạn đang 30 tuổi và là mẫu hình lý tưởng của người phụ nữ hiện đại. Bạn có nhan sắc khiến nhiều người ghen tị, đã lập gia đình, chồng bạn rất yêu thương bạn, cả hai vợ chồng đều có thu nhập cao và có tài sản riêng trước hôn nhân. Bạn làm quản lý cho một tập đoàn lớn với thu nhập mà nhiều người không nghĩ có ngày họ sẽ chạm tới được, và bạn kỳ vọng rằng sắp tới bạn sẽ được thăng chức hơn nữa. Bạn làm cho một tập đoàn đa quốc gia nên bạn cứ vài tháng thì lại được cử đi công tác nước ngoài, nếu không phải ở trong khu vực Đông Nam Á thì cũng là Úc, Mỹ, Châu Âu. Bạn xuất hiện trong nhiều chương trình truyền cảm hứng cho các cô gái trẻ và phụ nữ đang gặp khó khăn.
Ngoài công việc ra hầu như bạn không có gì phải lo nghĩ, trừ một việc chuẩn bị trả lời cho câu hỏi quen thuộc mùa Tết:
-Khi nào hai đứa có em bé?
Câu hỏi đứa dường như chạm vào một nỗi niềm thầm kín nào đó ở bên trong bạn? Tại sao chứ, tại sao? Nó giống như tất cả những thành tựu bạn đạt được, những niềm vui bạn có trong cuộc sống này đến giờ phút này, nó sẽ không hoàn hảo nếu không có hình ảnh một đứa bé bên cạnh. Mọi thứ như vô hình trong con mắt người khác. Lúc nào cũng thế, luôn là một lời khen cho những gì bạn đạt được và cái điệp khúc “nhưng mà cũng nên nghĩ đến việc có con”. Bạn cảm thấy đang rất hạnh phúc với cuộc sống hiện tại, sao mọi người không để bạn yên với niềm vui niềm tự hào đó mà luôn khiến bạn cảm thấy thiếu thốn.
Đó là chưa kể đến việc bạn luôn dễ dàng vô tình đọc phải một dòng tâm sự buồn của một phụ nữ nào đó trên mạng về việc chồng ngoại tình khi mang thai, cơ thể ốm yếu sau khi sinh, trí nhớ giảm sút, mất đi nhiều cơ hội việc làm lúc mang thai và có con, bị chồng chê xấu mập sau khi sinh. Rồi thì các cô vợ kể về những hoài bão bị dở dang: phải dừng một dự án kinh doanh, phải dừng quyển sách đang viết dở, phải bỏ giấc mơ đi du học. Câu chuyện đó nhắc lại cho bạn kế hoạch đi học chương trình MBA bên Mỹ vì bạn đã mong đi Mỹ từ lâu, và bằng MBA cũng là điều kiện tiên quyết để được thăng chức trong công ty của bạn.
Bạn không chỉ là muốn có con muộn, bạn thực sự muốn cho mọi người biết rằng bạn không muốn có con dù thu nhập của gia đình bạn hoàn toàn đủ để nuôi hai em bé. Bạn không hình dung được lợi ích gì mà việc đẻ con mang lại cho bạn. Những gì người ta nói cho bạn biết về việc có con thường là những lợi ích mơ hồ mà bạn thấy rằng bạn có thể tự lo được:
- Có con để bầu bạn tâm sự => Bạn có chồng, bạn bè, và nếu buồn thì bạn chăm mèo, chăm cây, tự cắm hoa.
- Có con để về già con chăm => Bạn đã tự chuẩn bị tài chính lo cho mình khi về già.
Bạn không phải không biết niềm vui khi chơi với trẻ con, bạn thăm họ hàng và cũng thích chơi với những em bé trong gia đình đó, thích thú thấy tụi nó cười, nựng má tụi nó và thường quay lại những khoảnh khắc ngô nghê của tụi nhỏ. Nhưng đó là con của người khác và mình chỉ tiếp xúc với em bé đó vài giờ đồng hồ. Niềm vui sướng thực sự khi làm mẹ là gì? Bạn đem câu hỏi đó vào những cuộc trò chuyện và thường chỉ nhận lại một câu trả lời kinh điển: “Khi nào có con thì sẽ biết”
Bạn có sẵn lòng trả cái giá rất cao kia để biết điều đó không?
Bạn nhìn chung quanh và cảm thấy xung đột bản thân, nhiều người khác muốn có tài chính tốt như bạn để có thể chăm con thì lại không được, còn bạn thì có đủ điều kiện người khác mơ ước lại chọn không có con. Có con thì hẳn là vui, hạnh phúc đấy, nhưng bạn tự hỏi chúng có đủ bù lại những gì bạn sẽ mất đi không?
Bạn và vô vàn người phụ nữ trẻ khác trên thế giới đang gặp phải vấn đề “thông tin bất cân xứng” kinh điển trong kinh tế học. Đó là tình huống khi một bên nắm được dữ liệu rõ ràng, còn phần còn lại lại thiếu thông tin để cân đối quyết định. Trong câu chuyện làm mẹ, chi phí được công khai, dễ đo lường, ai cũng có thể tính toán. Ngược lại, những lợi ích như niềm vui, sự gắn bó, cảm giác ý nghĩa lại thuộc dạng trải nghiệm (experience good), chỉ khi trực tiếp trải qua mới biết. Người chưa có con vì thế đứng trước một bài toán lệch: họ thấy toàn bộ chi phí, nhưng không thể định lượng lợi ích. Đây chính là lý do quyết định sinh con thường không phải là một phép tính kinh tế lạnh lùng, mà là một bước nhảy niềm tin vào những giá trị chỉ có thể được cảm nhận sau khi lựa chọn đã được thực hiện.
Nhưng chúng ta có thể đặt câu hỏi ngược lại là tại sao hồi xưa người ta có thể thoải mái sinh nhiều con như vậy? Người xưa có gặp phải vấn đề như người thời nay không?
Cái làng xưa và nay
Nói một cách dễ hiểu người xưa không gặp vấn đề “thông tin bất cân xứng” bởi vì họ không gán lợi ích kinh tế cho việc có con, do sinh con được xem là một nghĩa vụ bắt buộc và vì chi phí sinh con ngày xưa rất thấp. Hiện tượng “thông tin bất cân xứng” chỉ xuất hiện khi chúng ta phải đắn đo có nên làm một việc gì đó hay không, và sự đắn đo đó thường đến từ khía cạnh tài chính. Một ví dụ minh họa dễ hiểu là đám tang. Ở thời điểm hiện tại, khi có người nhà qua đời thì hẳn ai trong chúng ta cũng sẽ tổ chức đám tang, dù lớn dù bé. Không ai đặt câu hỏi: “Làm đám tang thì có lợi gì cho gia đình mình?”, nghe thật vô giáo dục, vô văn hóa. Nhưng bạn hãy hình dung rằng trong tương lai giả sử chi phí cho 1 đám tang rẻ nhất tăng lên mức 200 triệu/lần, thì lúc đó trong xã hội sẽ bắt đầu xuất hiện các thảo luận và bàn tán quanh câu hỏi này.
Xã hội hiện đại đã thay đổi lối sống của con người so với xã hội xưa tới mức việc có con chuyển từ nghĩa vụ thiêng liêng thành một vấn đề kinh tế, đến cả những người khá giả cũng phải cân nhắc xem nên có con hay không. Đây là những thay đổi của xã hội hiện đại đối với người xưa.
Có một câu ngạn ngữ xưa, thường được cho rằng xuất phát từ các bộ lạc châu Phi, là “Cần cả một ngôi làng để nuôi dạy một đứa trẻ” (It takes a village to raise a child). “Cái làng” ở đây không nhất thiết ám chỉ người xa lạ mà còn bao gồm cả những họ hàng xa sinh sống gần nhau, tức gia đình đa thế hệ. Nó truyền tải ba lớp ý nghĩa chính:
1. Chia sẻ gánh nặng: việc nuôi dạy trẻ quá phức tạp và vất vả để chỉ 1-2 người gánh vác. Nó cần sự hỗ trợ về thể chất (trông nom, bảo vệ) từ cộng đồng mở rộng (ông bà, hàng xóm, thầy cô). Một đứa trẻ không bao giờ chỉ được giữ bởi mẹ. Khi mẹ đi hái lượm/làm đồng, đứa trẻ được giữ bởi bà, chị gái lớn, hoặc các phụ nữ khác trong tộc.
2. Đa dạng hóa sự ảnh hưởng: cha mẹ không thể dạy con mọi thứ. Đứa trẻ cần học kỹ năng xã hội, văn hóa và giá trị sống từ nhiều hình mẫu khác nhau trong cộng đồng để trở nên hoàn thiện.
3. Mạng lưới an toàn: “cái làng” đóng vai trò giám sát. Nếu cha mẹ lơ là hoặc gặp khó khăn trong cuộc sống, cộng đồng sẽ lấp vào chỗ trống đó để đứa trẻ không bị bỏ rơi hay đi lệch hướng.
Đó là cuộc sống thời kỳ tiền công nghiệp. Khi cách mạng công nghiệp bùng nổ ở thế kỷ 19 và làn sóng cơ khí hóa lan ra các ngóc ngách toàn cầu, nó tạo ra một hiện tượng mới: nơi ở và nơi làm việc không còn gần nhau. Các thanh niên trẻ khi đến tuổi trưởng thành và đã được giáo dục đủ thì rời quê để đến các khu công nghiệp xa xôi, tách mình khỏi “cái làng”. Lúc này mô hình gia đình “hạt nhân” (nuclear family) lên ngôi, với hình ảnh thường được gợi lên là ba mẹ và bầy con. Mô hình này được ưa chuộng vì cuộc sống công nghiệp hóa đòi hỏi sự linh hoạt trong việc di chuyển đi đây đi đó, và việc chỉ có một gia đình hai thế hệ là một lợi thế.
Sự phát triển của mô hình gia đình hạt nhân cũng thúc đẩy tính riêng tư trở nên cao hơn. Bỗng nhiên việc chăm con không còn là trách nhiệm của những người ngoài (dù là họ hàng), mà hoàn toàn đổ lên vai người cha người mẹ. Nếu trước kia nuôi con là một hoạt động cộng đồng, đứa trẻ chạy chơi trong xóm, hàng xóm để mắt giúp, sai thì người lớn trong xóm có quyền nhắc nhở la mắng, thì bây giờ nuôi con là “dự án riêng” của hai vợ chồng. Người ngoài dù không đồng ý cũng không có quyền thay mặt cha mẹ lên tiếng giáo dục đứa bé, và chính bản thân cha mẹ hiện đại cảm thấy việc nhờ vả là phiền phức hoặc yếu kém.
Sự cực đoan trong việc tự chủ dạy con này thể hiện ở một điều phổ biến là hiện nay ở Việt Nam, các phụ huynh đã có tư tưởng: “Con ai người ấy nuôi”, tức ngay cả ông bà cha mẹ cũng không được can thiệp. Khi tôi dùng từ cực đoan tôi không nói theo hàm ý đó là điều xấu, tôi chỉ nói trong phạm vi so sánh với lối nuôi dạy con ngày xưa.
Có thể chúng ta không để ý nhưng chính cách vận hành của xã hội hiện đại cũng đã khích xu hướng “tự lực tự cường” này của gia đình. Nói cách khác, các doanh nghiệp tư bản đã dựng lên một cái làng mới thay thế cho làng xóm xưa, chỉ có điều đây là một cái làng thương mại. Ngày xưa, “làng” là miễn phí (ông bà, cô dì, hàng xóm). Ngày nay, chúng ta vẫn có “làng” nhưng phải trả tiền như chi phí đi học trường mầm non, thuê người giúp việc, đi khám bác sĩ, giao hàng. Áp lực hiện đại không chỉ là thiếu người, mà là áp lực tài chính để duy trì “cái làng thương mại” đó.
Cái làng ngày xưa vận hành dựa trên vốn xã hội và sự có đi có lại. Bạn nhờ bác ruột trông con hàng ngày và cho con ăn, đổi lại bạn lại mua quà biếu hoặc gửi gạo cho bác hoặc lâu lâu giúp lại bác một việc khác. Chi phí tài chính cho việc này là không đáng kể, nhưng bạn có món nợ ân tình và sự ràng buộc quan hệ. Bạn phải sống khéo léo để duy trì mạng lưới này. Ngày nay, cái làng hoạt động dựa trên vốn tài chính và giao dịch thị trường. Bạn không cần sống khéo với hàng xóm để nhờ trông con bởi vì bạn có thể thuê bà vú, gửi con đi nhà trẻ, và nếu bận không nấu cơm được thì đặt Grabfood cho con. Đổi lại là những điều này đều tốn kém rất nhiều tiền, và bạn sẽ luôn bị áp lực kiếm tiền đè lên vai.
Như vậy áp lực của cha mẹ hiện đại thực chất là áp lực của người quản lý nguồn vốn. Nếu ngày xưa bạn nghèo, bạn vẫn có thể có “làng” (vì cả làng cùng nghèo và cùng giúp nhau). Ngày nay, nếu bạn nghèo, bạn mất luôn cái làng. “Cái làng” trở thành một dịch vụ xa xỉ chứ không phải quyền lợi mặc định.
Con cái là hàng hóa xa xỉ
Áp lực tài chính này còn trở nên nặng nề hơn bởi vì ở xã hội hiện đại con cái trở thành một “thú vui xa xỉ” (luxury good) về mặt kinh tế: tốn kém vô cùng nhưng không mang lại lợi ích tài chính trực tiếp. Điều đó khác với thời xưa khi mà con cái được coi là một dạng bảo hiểm tuổi già và lao động miễn phí, có thể tạo ra được nguồn lợi nhanh chóng. Lấy ví dụ cực đoan nhất, chỉ khoảng 100 năm trước những người nghèo ở các nước giàu như châu Âu hay Mỹ vẫn có thể bán con cho người khác, mang tiền về cho nhà. Nếu không bị bán đi thì nó vẫn có thể đi lao động nặng nhọc phụ việc cho gia đình.

Một bé gái phụ cha mẹ đãi vàng ở Úc, tranh vẽ năm 1854

Một thợ lao động nhí trong xưởng rèn bên Mỹ. Ảnh chụp đầu thế kỷ 20.
Tua nhanh tới cuộc sống ở thế kỷ 21, lúc này cuộc sống của trẻ em rơi vào một thái cực khác hoàn toàn. Xã hội bây giờ ưu tiên nuôi nấng và bảo vệ sức khỏe trẻ em hơn, và các em gần như bị cấm hoàn toàn việc đi làm kiếm tiền nuôi gia đình, và gia đình thậm chí còn bị ép đưa con đi học cũng như sử dụng các dịch vụ y tế công (như tiêm vaccine). Với các thay đổi đó, trung bình một đứa trẻ hầu như không tạo ra bất kỳ một giá trị tài chính nào cho gia đình trong hơn 18 năm đầu đời, và khi qua tuổi đó, nếu đứa trẻ có đi làm thêm trong lúc học đại học, cao đẳng thì khả năng rất cao lương của nó cũng chỉ đủ để trang trải cuộc sống của chính nó.
Với mô hình đó, áp lực tài chính để nuôi nấng một đứa trẻ trở nên cực kỳ nặng nề vi chi phí chắc chắn tăng phi tuyến tính (ví dụ 10%/năm, sau 10 năm sẽ là 100%), trong khi thu nhập cha mẹ lại hoàn toàn không bảo đảm: có thể tăng mạnh năm sau, nhưng lại đi ngang nhiều năm sau đó và thậm chí giảm những năm sau đó nữa. Điều đáng buồn hơn là phần lớn chi phí này do cha mẹ phải tự gánh lấy và ít trông cậy được vào họ hàng (như đã phân tích ở trên). Lúc này chúng ta có một nghịch lý: để đảm bảo đủ tài chính nuôi con thì cha mẹ phải làm việc cật lực tích lũy lâu dài, nhưng vì như vậy cha mẹ lại không có thời gian để chăm con.
Ở đây cần nói thêm về một vấn đề nhức nhối ở thị trường lao động Việt Nam và rộng ra là Trung Quốc, đó là vấn nạn phân biệt tuổi tác (ageism). Cả hai thị trường lao động này đều có một sự phân biệt đối xử rất lớn với những người lao động văn phòng trên 35 tuổi, nói thẳng ra là các công ty gần như không mở cửa chào đón những người chỉ có tay nghề bậc trung hơn 35 tuổi (thể hiện rất rõ qua bộ phim “Upstream” nổi tiếng của Trung Quốc). Đến tuổi đó nếu bạn không lên được vị trí bậc cao (senior), và bạn bị sa thải, thì cánh cửa đi làm thuê coi như đóng sập trước mặt bạn. Còn nếu bạn đang có công việc việc thì cũng không dám nhảy việc, và như vậy bản thân rơi vào thế yếu, công ty hiện tại có chèn ép không tăng lương cũng không dám nghỉ làm.
Nạn kỳ thị này càng làm tăng nỗi bất an về tài chính của những người đang cân nhắc phải lập gia đình, và với những ai đang có gia đình thì đó thật là thảm họa. Ở tuổi đó có rất nhiều cha mẹ ngoài xoay sở tiền học cho con thì còn đang vay mua nhà mua xe, việc bị đứt gãy thu nhập sẽ khiến cả gia đình dễ rơi vào khủng hoảng.
Khi phân tích nguyên nhân phụ nữ sợ sinh con ở góc độ tài chính này, chúng ta dễ đi đến kết luận rằng chỉ cần gỡ được gánh nặng tài chính là sẽ giúp người mẹ thoải mái sinh con. Đây cũng chính là hướng giải pháp của chính phủ Việt Nam. Theo những tuyên bố được đưa ra thì trong các năm tới, chính phủ Việt Nam sẽ học theo các mô hình an sinh xã hội của các nước phát triển, đưa ra nhiều chính sách khuyến sinh như tặng tiền cho các mẹ, giảm học phí, miễn phí viện phí, có thể là hỗ trợ vay mua nhà nữa. Tin không vui là có rất ít dữ liệu cho thấy các chính sách này có hiệu quả.

Khối Bắc Âu từ lâu đã được coi là “phòng thí nghiệm” hoàn hảo để kiểm chứng mối liên hệ giữa sự thịnh vượng và tỷ lệ sinh, nhưng các con số gần đây lại kể một câu chuyện đáng báo động về nghịch lý của sự giàu có. Bất chấp việc sở hữu GDP bình quân đầu người thuộc nhóm cao nhất thế giới và chính sách nghỉ thai sản cực kỳ hào phóng: người mẹ được nghỉ thai sản cả năm và hưởng trợ cấp cao bằng hoặc gần bằng lương suốt thời gian đó, người cha được nghỉ ít hơn nhưng cũng là nhiều tháng, thì tỷ lệ sinh tại khu vực này đã lao dốc không phanh trong thập kỷ qua.
Điển hình là Phần Lan, nơi trong nhiều năm được ca ngợi là quốc gia hạnh phúc nhất thế giới, tỷ lệ sinh đã giảm từ mức 1,87 con/phụ nữ (năm 2010) xuống mức thấp kỷ lục khoảng 1,32 (năm 2022) – con số thấp nhất kể từ nạn đói thế kỷ 19. Tương tự ở Na Uy, quốc gia giàu có hàng đầu thế giới, người ta cũng chứng kiến tỷ lệ sinh giảm sâu từ 1,95 bé/phụ nữ xuống còn 1,41 trong cùng giai đoạn. Đáng chú ý, sự sụt giảm này diễn ra song song với việc phụ nữ tại đây đạt được sự tự chủ tài chính cao nhất: tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của phụ nữ Bắc Âu luôn duy trì trên 75-80%. Những con số này tuy đo ở các quốc gia khác nhau với các phương pháp khác nhau, đều dẫn đến cho thấy một thực tế lạnh lùng rằng khi phụ nữ có tài chính vững vàng và vị thế xã hội cao, chi phí cơ hội của việc sinh con trở nên đắt đỏ đến mức ngay cả những chính sách hỗ trợ hào phóng nhất của nhà nước cũng không đủ sức thuyết phục họ quay lại thiên chức làm mẹ theo cách truyền thống.
Chấp nhận xã hội mới
Có thể nói ngay lúc này chúng ta đang chứng kiến dấu chấm hết cho kỷ nguyên bùng nổ dân số, một giai đoạn đặc biệt trong xã hội loài người. Chỉ trong chưa tới 30 năm nữa, hiện tượng sụp đổ dân số sẽ xảy ra ở nhiều quốc gia: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, nhiều tỉnh ở Trung Quốc, và nhiều quốc gia châu Âu.
Nhưng sự sụt giảm tỷ lệ sinh không phải là một “căn bệnh” cần chữa trị bằng mọi giá, mà là một tín hiệu tiến hóa, buộc xã hội loài người phải tái cấu trúc để thích nghi với một thực tại mới. Thay vì tuyệt vọng tìm cách “kích cầu” những đứa trẻ chưa ra đời hay đè nặng áp lực lên vai những bậc cha mẹ đang kiệt sức, chúng ta cần chuyển hướng sang một chiến lược bền vững hơn: chấp nhận sự thu hẹp và tối ưu hóa nguồn lực.
Trong viễn cảnh này, trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa không còn là những công cụ đe dọa cướp việc làm, mà trở thành lực lượng lao động mới cứu rỗi nền kinh tế. Khi những đứa trẻ sinh học ngày càng khan hiếm và đắt đỏ, những đứa con silicon sẽ lấp đầy khoảng trống trong nhà máy, bệnh viện và chuỗi cung ứng. AI sẽ gánh vác những công việc lặp lại và nặng nhọc, giải phóng thế hệ trẻ ít ỏi khỏi vai trò công cụ lao động để họ tập trung vào những giá trị con người nhất: sáng tạo, thấu cảm và lãnh đạo. Áp lực sinh con để có người lao động sẽ biến mất, trả lại việc làm cha mẹ về đúng ý nghĩa nguyên thủy của nó: nuôi dưỡng một con người vì tình yêu thương, chứ không phải vì nghĩa vụ kinh tế.
Song song với đó, khái niệm “người già” cũng cần được viết lại hoàn toàn thông qua tư duy “già hóa năng động” (active aging). Với sự tiến bộ của y học, tuổi 60-75 không còn là sườn dốc bên kia của cuộc đời, mà là một “thời trung niên thứ hai” đầy tiềm năng. Xã hội tương lai sẽ không đẩy người cao tuổi ra rìa như một gánh nặng phúc lợi, mà sẽ tái hòa nhập họ như một nguồn vốn xã hội quý giá – những người có kinh nghiệm, sự ổn định và khả năng cố vấn. Nền kinh tế “bạc” vốn đang diễn ra ở vài nơi sẽ lan tỏa khắp thế giới. Trong nền kinh tế này người già và công nghệ cộng sinh để vận hành xã hội mà không cần dựa dẫm quá nhiều vào sức lao động của người trẻ.
Như vậy, “cái làng” nuôi con ngày xưa có thể đã tan rã, nhưng một “cái làng” kiểu mới đang dần hình thành trên nền tảng công nghệ và sự thay đổi nhận thức. Đó là một xã hội ít trẻ em hơn nhưng mỗi đứa trẻ đều được đầu tư tốt hơn; dân số già hơn nhưng khỏe mạnh và hữu ích hơn; và sự thiếu hụt nhân lực được bù đắp bởi trí tuệ máy móc. Xã hội hiện đại có thể đã được thiết kế chống lại việc làm cha mẹ theo kiểu cũ, nhưng nó đang mở ra cơ hội để chúng ta thiết kế lại một tương lai nơi con người được giải phóng khỏi gánh nặng nhân khẩu học để sống một cuộc đời chất lượng hơn.
Tác giả có sử dụng công cụ AI hỗ trợ để tìm nguồn và biên tập câu chữ.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất