[WW2]: Vì sao Pháp sụp đổ?
Nhân dịp 86 năm kể từ ngày nước Pháp thất trận trước quân phát xít

Khi đề cập đến lịch sử nước Pháp, chúng ta thường hay nói đùa rằng người Pháp là một dân tộc giương cờ trắng, với dân Việt Nam là thất bại tại Điện Biên Phủ hay cả thế giới là thất bại trước Đức Quốc Xã. Thực tế, trong dòng lịch sử nước Pháp từ khi lập quốc đến nay, họ từng chiến thắng rất nhiều trận chiến và từng không ít lần đối đầu với cả Châu Âu. Vậy điều gì đã thực sự xảy ra trong Đệ Nhị Thế Chiến? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Nước Pháp hoàn hảo sau và nền quân sự của họ
Nước Pháp, trong phần lớn thời gian lịch sử của nó, là quốc gia có tầm ảnh hưởng bậc nhất đến thế giới phương tây. Cô con gái cả của Công giáo Âu châu nằm ở một vị trí thuận lợi cho phép nó trở thành quốc gia có thể tiếp xúc với cả Bắc Hải lẫn Địa Trung Hải. Địa hình đồng bằng và đồi núi thấp cho phép giao thương và trao đổi diễn ra thuận lợi, và thêm vào đó là sự thống nhất về văn hóa được phổ quát.
Giao thương là thế, các dãy núi như Pyrenees, Alps cũng trở thành địa điểm để nước Pháp có thể phòng thủ chặt chẽ. Dưới thời chế độ Ancien Regime, nhà nước cũng xây dựng hạm đội hải quân để tiện bề phòng thủ trước người Anh và Tây Ban Nha. Các đời vua từ triều đại Capetian cũng nỗ lực để giành lấy lãnh thổ, từ việc củng cố đất Brittany, chiếm lấy Burgundy, phòng thủ mặt nam Marseilles - và đến lúc này, tấm áo giáp của nước Pháp đã hoàn thiện.
Nhưng tấm áo giáp này không phải là không có điểm yếu. Đông bắc Pháp hay ngày nay là Vùng Đất Thấp, hoàn toàn bằng phẳng. Là điểm cận kết của đồng bằng Bắc Âu, nó tựa như một mũi tên chí mạng có thể ghim thẳng vào kinh đô Paris cao quý của người Pháp. Nhưng quốc gia nào có thể làm được điều đó? Cư dân của Vùng Đất Thấp có quá ít quân số để đe dọa nước Pháp. Anh Quốc khó lòng có thể đọ với Pháp trong một cuộc chiến trên đất liền. Đế chế Nga và Đế chế Áo ở quá xa. Còn lại ai trên Lục địa già? Nước Đức, hay một ngàn năm trước là Thánh chế La Mã của dân tộc Đức.

Dân tộc Đức, sống rải rác khắp nơi trong Thánh chế La Mã của Trung Âu, là lực lượng lớn nhất có thể thách thức được nước Pháp ngay trước biên giới của nó. Để trấn áp nỗi sợ xâm lược này, các lãnh đạo nước Pháp đã giành nhiều thế kỷ để giữ cảnh chia cắt nước Đức và kiếm tìm biên giới tự nhiên để phòng thủ vương quốc. Trong thời kỳ chiến tranh 30 năm, Hòa ước Westphalia ngăn chặn sự thống trị của nhà Habsburg và giành được quyền kiểm soát vùng đất Alsace. Trong thời đại của Vua Mặt Trời Louis Đệ Thập Tứ, nước Pháp đánh chiếm các thành phố chiến lược và tạo vùng đệm quan trọng nhằm ngăn chặn Thánh chế La Mã của nước Đức.

Người Pháp đạt đến đỉnh cao quân sự vào thời kỳ Đệ Nhất Đế chế của Napoleon. Napoleon không chỉ củng cố lãnh địa Vùng Đất Thấp, mà còn tiêu diệt Thánh chế La Mã, đả bại Vương quốc Phổ, quật ngã Đế chế Áo, thành lập một hệ thống chư hầu các bang Tây Đức mang tên Liên Bang Sông Rhine hòng kiểm soát chặt an ninh phía đông. Sự thành công của Napoleon không chỉ đến từ phong cách cầm quân nhấn mạnh vào tấn công và tác chiến đa trận, mà còn ở sự thích nghi cao độ và quân số đông đảo - điều hoàn toàn không tưởng trong các đội quân chuyên nghiệp nhưng nhỏ bé của người Đức.

Nhưng sự kiêu ngạo của Hoàng đế Pháp đã khiến ông phải trả cái giá đắt trong chiến dịch Nga năm 1812, khi nửa triệu quân Pháp tử vong tại đồng bằng Bắc Âu. Một năm sau, các bang của Đức, nhiều bang trước đó từng là thành viên của Liên Bang Sông Rhine, dưới vai trò chủ đạo từ hai cường quốc Áo - Phổ đã lật đổ Hoàng đế Pháp và đánh bại ông trong trận Leizpig vào tháng 10 năm 1813. Trận Leipzig được coi là trận chiến lớn nhất mọi thời đại vào thời điểm nó diễn ra, và đã giết chết giấc mơ về đế chế Pháp của Napoleon. Tai hại hơn cả, tinh thần dân tộc được khơi trào đã dẫn đến giấc mơ về một nước Đức thống nhất, giờ đang trong tầm mắt của người Phổ.
Sau sự sụp đổ của Napoleon, nước Pháp rơi vào hỗn loạn chính trị xuyên suốt một thời gian dài. Góc nhìn đương thời về quân sự cũng có sự thay đổi - các tay viết như Jomini tập trung vào các nguyên tắc hình học của chiến tranh. Dù vậy, lý thuyết quân sự của họ vẫn tương đối thống nhất khi bản thân di sản từ thời Napoleon - đặt trọng tâm vào tấn công vẫn còn rất mạnh. Các tướng lĩnh tin rằng thiên tài quân sự và lòng dũng cảm cá nhân có thể chiến thắng mọi thứ. Họ ưu tiên các cuộc tấn công trực diện, sử dụng lưỡng lê và đội hình các cánh quân từ thời Napoleon, nhưng lần này thay vì một đội quân đông đảo, quân đội được tổ chức sang hình thái chuyên nghiệp và ít ỏi hơn.

L'offensive à outrance - Tấn công là mọi giá là cách họ gọi lý thuyết quân sự đấy, và nếu như chiến dịch quân sự ở Châu Phi là lời chứng minh hoàn hảo cho lý thuyết đấy, thì chiến tranh Pháp Phổ đã khiến lý thuyết đấy bùng nổ thêm một tầm cao mới. Năm 1870, thủ tướng Phổ Otto von Bismarck đã khéo léo lôi kéo cháu trai của Napoleon, Hoàng đế Napoleon Đệ Tam vào một cuộc chiến với hầu như cả dân tộc Đức. Với ưu thế về đường sắt và pháo binh, Vương quốc Phổ đã đánh bại Pháp tại Sedan. Lối đánh tập trung vào sự chuyên nghiệp của người Pháp, lần đầu tiên đã gặp phải chướng ngại trước một đội quân đông đảo, hậu cần tốt và sử dụng tối đa các phương tiện hậu cần - những đội quân mà theo nhiều tính chất, không khác gì mấy với đội quân Pháp thời Napoleon.

Trong khi công nghệ đòi hỏi người lính phải tản mát ra và tìm chỗ ẩn nấp, thì lý thuyết quân sự Pháp vẫn yêu cầu binh lính đứng thành hàng lối để duy trì tinh thần tấn công. Điều này dẫn đến các cuộc chiến diễn ra đẫm máu và thương vong lớn không đếm xuể, nhưng người Pháp vẫn tin rằng lý do nước Pháp thất bại là đã còn tinh thần tiến công và hậu cần kém cỏi. Chịu ảnh hưởng từ các nghiên cứu của Ardant du Picq và lý thuyết của Ferdinand Foch, giới quân sự Pháp tôn thờ elan vital - "đà sống”, một khái niệm triết học từ triết gia Henri Bergson. Họ cho rằng lòng dũng cảm và quyết tâm tấn công của người lính Pháp có thể đánh bại mọi hỏa lực.
Đệ nhất Thế chiến diễn ra, và elan vital được áp dụng với kết quả kinh hoàng - hàng trăm nghìn người Pháp mất mạng trước súng máy binh sĩ Đức. L’offensive à outrace bị thay thế bằng L'artillerie conquiert, l'infanterie occupe - pháo quân tấn công, bộ binh trấn thủ. Trong trận Verdun, dưới sự chỉ đạo của Thống chế Petain, quân Pháp học cách xây dựng các công trình phòng thủ kiên cố, sử dụng pháo binh tập trung và hậu cần đường bộ. Ferdinand Foch là nhà chiến lược táo bạo, và Phillippe Pétain là nhà chiến thuật cẩn trọng. Và nhờ phòng thủ của Petain và cuộc chiến tiêu hao của Foch, Pháp đã chiến thắng trong Đệ Nhất Thế Chiến.
Nhưng điều này không có nghĩa là chiến thắng của nước Pháp đầy màu hồng. Họ bị chấn thương tâm lý vì tổn thất nhân mạng quá lớn - gần 1,4 triệu người chết, hằng triệu người khác chịu thương vong và nền kinh tế Pháp gần như bị phá hủy. Và dù Đế chế Đức sụp đổ cùng Hoàng đế của họ, dân tộc Đức vẫn còn ở đấy.

Nước Pháp rối loạn
Sau thời kỳ của Đệ Nhất Thế Chiến, nước Đức bước vào một cuộc cách mạng năm 1918 và theo sau đấy là các nỗ lực khôi phục kinh tế, trong khi bản thân vẫn phải trả nợ công cho Pháp. Khi Đức không trả được nợ, Pháp đã đưa quân vào chiếm đóng vùng công nghiệp Ruhr của họ - một hành động tai hại, khi Pháp không chỉ bị cô lập về ngoại giao mà còn làm khiến dân Đức căm hận.
Đầu thập niên 20, bất chấp các khó khăn về kinh tế, cả hai nước này dần ổn định để bắt đầu sự bùng nổ về văn hóa và kinh tế. Paris trở thành trung tâm của thế giới, xã hội Pháp vượt qua nỗi đau của chiến tranh bằng sự phóng khoáng trong đời sống và sự phát triển của công nghệ. Dưới thời Stresemann, nền ngoại giao Đức cũng đưa đến cho họ 5 năm ổn định tạm thời.
Tuy nhiên, từ năm 1929, cuộc Đại Suy Thoái nổ ra dẫn đến sự bất ổn chính trị trầm trọng trong chính quyền hai nước. Ở Đức, phe cộng sản bị phế truất, Hitler nắm quyền và bắt đầu thực hiện một loạt các cuộc thanh trừng chính trị đẫm máu. Ở Pháp, cánh cực hữu và cực tả mâu thuẫn gay gắt, thậm chí dẫn đến một cuộc đảo chính không thành vào năm 1934.

Leon Blum
Năm 1936, Mặt trận Bình dân - Liên minh các đảng cánh tả do Léon Blum lãnh đạo đã giành chiến thắng trên chính trường Pháp. Họ đưa ra những cải cách xã hội quan trọng, bao gồm tuần làm việc 40 giờ và nghỉ phép có lương lần đầu tiên cho công nhân. Nhưng sự chia rẽ vẫn còn đó, và vào năm 1938, trước sự phản đối của một số sĩ quan trong quân đội, Pháp cùng Anh ký Hiệp ước Munich, nhượng bộ Hitler ở Tiệp Khắc với tham vọng hòa bình. Bên giới quân đội thì cũng không yên. Sau cái chết của chiến lược gia Foch vào năm 1929, tư duy quân sự trở nên cực kỳ bảo thủ. Học thuyết đánh trận chủ đạo giờ là Bataille conduite - đánh trận có phương pháp. Các lãnh đạo Pháp tin rằng chiến tranh tương lai sẽ giống Đệ nhất Thế chiến nhưng hiện đại hơn. Mọi thứ phải được kiểm soát chặt chẽ từ bộ tổng tham mưu, hỏa lực pháo binh phải được tính toán từng mét vuông. Họ coi nhẹ tính chủ động của cấp dưới - ngược lại hoàn toàn với dân Đức đề cao lối đánh tác chiến nhiều phần của Napoleon.

Dưới thời kỳ giữa thế chiến, người Pháp bắt đầu xây dựng phòng tuyến Maginot, một biểu tượng của học thuyết phòng ngự. Pháp chi những khoản tiền khổng lồ để xây dựng hệ thống pháo đài ngầm kiên cố ở biên giới phía Đông, tin rằng nó sẽ bảo vệ nước Pháp vĩnh viễn khỏi các cuộc tấn công của Đức và tiết kiệm nhân lực. Nếu quân Đức vượt qua được Maginot, thì Pháp sẽ để các sư đoàn tinh nhuệ nhất qua Bỉ để chờ quân Đức đến tấn công. Tuy nhiên, bản chất của Tuyến Maginot là một hệ thống phòng thủ thụ động thay vì phòng thủ chiều sâu, các mạch trọng điểm như Ardennes hay Bỉ đều không được thủ kỹ càng, và bản chất Tuyến Maginot là phòng thủ trước đại pháo, thay vì không quân hay các lực lượng khác.
Dù có những người như Charles de Gaulle kêu gọi thành lập các sư đoàn thiết giáp độc lập và cơ động, nhưng Bộ Tổng tham mưu Pháp vẫn coi xe tăng chỉ là công cụ hỗ trợ bộ binh, được phân tán mỏng dọc theo mặt trận. Điều này cộng thêm với việc nước Pháp không áp dụng công nghệ vô tuyến sẽ trở thành các vết thương chí mạng về sau của nước Pháp.

de Gaulle
Tháng 9 năm 1939, Đức tấn công Ba Lan, Pháp chính thức tuyên chiến. Dù cam kết ủng hộ Ba Lan, cả Anh và Pháp đều thất bại trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự thực tế. Điều này được người Ba Lan gọi là “sự phản bội từ phương tây”; trong khi với các nước khác gọi đây là cuộc chiến kỳ quặc, vì trên thực tế người Pháp và Anh hầu như không làm gì xuyên suốt 8 tháng giai đoạn của cuộc chiến, bởi ban đầu họ chọn chiến lược đường dài là phòng thủ trên bộ và phong tỏa thương mại để làm suy yếu kinh tế Đức, sau đó chờ đợi kế hoạch tái vũ trang hoàn tất trước khi tấn công. Kể cả khi quân Pháp có đưa quân tiến sâu vào vùng Saar từ Đức, họ vẫn không áp tận dụng chiến thắng này mà rút về vị trí cũ chỉ sau chưa đến 10 ngày. Hitler còn đưa một lời đề nghị hòa bình vào tháng 10 năm 1939 nhưng không thành công. Đến lúc này, với mặt đông đã tạm thời yên ổn, Hitler bắt đầu chuyển sang nước Pháp.

Chiến lược song phương
Ban đầu, qua tài liệu Chỉ Thị Số 6, có thể thấy rõ Hitler muốn chiếm các vùng đất thấp càng sớm càng tốt để bảo vệ vùng công nghiệp Ruhr trọng điểm của nước Đức và bắt đầu đánh Anh. Có thể thấy rõ nước Đức vẫn chưa có ý định chinh phục nước Pháp. Điều này càng được thể hiện qua kế hoạch Aufmarschanweisung - tấn công chính diện qua trung Bỉ, đẩy lùi quân Pháp về dòng Somme với tổn thất dự đoán có thể lên đến gần nửa triệu quân.

Manstein
Bất mãn trước các kế hoạch này, cả hai tướng von Rundstedt và Erich von Manstein cho rằng kế hoạch của Halder không tuân thủ nguyên tắc chiến tranh chớp nhoáng và đề cao tính cơ động trên chiến trường. Thay vào đó, Manstein tuyên bố đề xuất dồn toàn bộ lực lượng thiết giáp vào vùng Sedan, tương tự như cách nước Phổ làm 70 năm trước. Họ sẽ chọc thủng qua rừng Ardennes, tiến thẳng ra eo biển Manche. Đây là Manœuvre sur các arrière - một lối đánh đặc trưng của Hoàng đế Pháp Napoleon, nhưng khác với quân Pháp thời đế chế đề cao kỵ binh và pháo binh, lần này quân Đức có sử dụng thêm lực lượng thiết giáp để tiến vào Sedan. Một khi tiến vào Sedan xong, họ sẽ bao vây từ từ chủ lực quân đồng minh.

Tuy nhiên, kế hoạch này cũng mang rất nhiều tính rủi ro, đặc biệt về vấn đề hậu cần và sự kỷ luật của người lính. Bộ Tổng tham mưu Đức bác bỏ đề xuất này nhiều lần, coi đó là quá mạo hiểm và phi thực tế. Tuy vậy, vào tháng 1 năm 1940, một máy bay Đức chở kế hoạch tấn công vào trung tâm Bỉ bị bắn rơi và lộ tài liệu vào tay Đồng minh, và với việc quân Đồng minh đã biết được kế hoạch cũ, người Đức buộc phải sửa đổi chiến lược. Tháng 2 năm 1940, trọng tâm chiến trường được dời đến vùng Ardennes và phương nam. Tướng Manstein cũng đã có được cơ hội trình bày trực tiếp với Hitler, và trước kế hoạch mạo hiểm này, Hitler lập tức ủng hộ vì nó hứa hẹn một chiến thắng mang tính chất hủy diệt, quyết định, và vinh quang cho người Đức.
Phản ứng trước sự kiện này, đa số các tướng lĩnh Đức kinh hoàng, gọi tướng Halder là "kẻ đào huyệt cho lực lượng thiết giáp" vì cho rằng việc dồn quân vào địa hình hiểm trở như Ardennes là tự sát nếu Pháp phản công vào sườn. Bất chấp sự lo ngại, Hitler tự tin tuyên bố chiến dịch sẽ kết thúc chỉ trong 6 tuần. Với kế hoạch đó, người Đức bắt đầu chuẩn bị khoảng 3 triệu quân cho chiến dịch phương tây, bao gồm 157 đơn vị, 135 đơn vị được điều động để tấn công.
Trái ngược với các mô tả hiện đại về lực lượng quân Đức vô địch với những cỗ xe thiết giáp hầm hố, họ sử dụng rất nhiều ngựa và chỉ khoảng 1 phần 10 là có sử dụng thiết bị di chuyển máy móc. Phân nửa quân Đức chỉ được huấn luyện trong vòng chưa quá vài tuần, xe tăng thì có khoảng hơn hai ngàn chiếc.

Đổi lại, người Đức rất hoàn thiện về hệ thống chỉ huy chiến dịch. Quân Đức được chia thành ba cụm quân chính. Đầu tiên là Cụm Tập Đoàn Quân A do Gerd von Rundstedt chỉ huy. Là một sĩ quan kinh nghiệm dày dặn, phục vụ từ thời Phổ, tướng von Rundstedt được kỳ vọng sẽ dẫn dắt quân Đức vượt qua tuyến đường chiến lược Ardennes và tác chiến độc lập trên địa hình kẻ thù. Thứ hai là Cụm tập đoàn quân B do tướng Fedor von Bock điều quân, nổi tiếng là người tôn thờ kỷ luật của người lính, ông được giữ vai trò mồi nhờ và dẫn dụ quân đồng minh vào Vùng Đất Thấp. Thứ ba là Cụm tập đoàn quân C của Wilhelm Ritter von Leeb - khác với hai tướng chuyên tấn công trên, Leeb thiên về chiến tranh phòng thủ và được giao nhiệm vụ áp chế Phòng tuyến Maginot, hòng giam chân lực lượng dự bị của Pháp.

Để bổ trợ tấn công, người Đức cũng tích cực sử dụng chiến thuật Bewegungskrieg - chiến tranh cơ động, một phiên bản được cải tiến từ chiến thuật thời Napoleon. Bằng cách kết hợp hỏa lực mạnh, bộ binh di chuyển nhanh, thiết giáp và không quân, thêm vào đó là hệ thống vô tuyến trong xe tăng, người Đức có thể kiểm soát được hệ thống chiến thuật và phối hợp chặt chẽ từ cấp chiến thuật đến cấp chiến lược, từ đó cản phá được các tuyến liên lạc và quân số của nước Pháp. Hệ thống chỉ đạo nhiệm vụ - Auftragstaktik cũng được triển khai, đề cao sự đổi mới giữa các sĩ quan và nhóm sĩ quan dự bị.
Bên Đức chuẩn bị kỹ càng như thế, bên Pháp thì như thế nào? Do Bỉ giữ thái độ trung lập từ năm 1936, Pháp không thể bố trí quân sẵn trên đất Bỉ mà phải đợi quân Đức xâm lược mới có thể tiến quân vào ứng cứu. Có 3 kế hoạch chính đã được cân nhắc: Escaut, Breda và Dyle. Ban đầu, Tổng tư lệnh Gamelin ưu tiên kế hoạch Escaut. Quân Pháp sẽ tiến đến dòng sông Escaut. Đây là phương án thận trọng vì khoảng cách di chuyển ngắn, phù hợp nếu quân Đức tiến quân quá nhanh như ở Ba Lan. Nhưng đến cuối năm 1939, kế hoạch Dyle đã được đưa vào. Quân Pháp sẽ tiến xa hơn vào Bỉ, thiết lập phòng tuyến dọc sông Dyle, từ Antwerp qua Louvain và từ Wavre đến Namur. Ngoài ra, kế hoạch Brenda cũng được tận dụng nhằm điều Tập đoàn quân số 7 tiến thẳng vào Hà Lan đến Breda.

Gamelin
Chiến lược của tướng Gamelin là chuẩn bị cho một cuộc chiến dài kỳ. Người Pháp, với đồng minh Anh sẽ phế nền kinh tế Đức, xây dựng lực lượng để tiến hành phản công địch. Đến cuối cùng, tiềm năng kinh tế của người Pháp sẽ đem đến cho họ lợi thế quân sự trước quân Đức giờ đã quá rệu rã. Tướng Gamelin tự tin tuyên bố - "Chúng ta có thể nhìn về tương lai với sự bình thản hoàn toàn."
Là một trí thức quân đội, Gamelin được coi là thông minh nhưng bị coi là "trơn tuột như cát". Ông ta giỏi lấy lòng chính trị gia hơn là quyết đoán trong quân sự. Khác với các chỉ huy đồng cấp bên Đức, Gamelin vẫn chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh trận địa. Ông và dàn chỉ huy Pháp coi xe tăng chỉ là công cụ hỗ trợ bộ binh thay vì tập hợp thành các sư đoàn thiết giáp độc lập - cơ động. Sau biến cố ở Bỉ, Gamelin quyết tâm để các tập đoàn quân phía Bắc tiến vào Bỉ và Hà Lan, còn Tập đoàn quân số 2 và số 9 của Pháp đóng vai trò là điểm chốt chặn tại khu vực Sedan. Đúng như quân Đức kỳ vọng, bộ chỉ huy quân Pháp tin rằng vùng rừng núi Ardennes là vật cản tự nhiên cực kỳ khó vượt qua. Họ cho rằng nếu Đức tấn công qua đây, Pháp sẽ có thừa thời gian để nhận biết và điều quân ứng cứu.

Bên cạnh sự yếu kém về học thuyết quân sự và cách bố trí trận đánh, các công báo tình báo của Pháp, hầu như đều không được Bộ chỉ huy tiếp nhận. Trinh sát hàng không phát hiện quân Đức xây cầu phao vượt sông Our dọc tuyến đường Luxembourg - Đức, Thụy Sĩ thì tuyên bố quân Đức đang tập hợp rất đông tại Our, thậm chí đến tùy viên quân sự ở Bern còn cảnh sát - quân Đức sẽ tấn công Sedan trong quãng thời gian mùng 8 đến 10 tháng 5. Đứng trước các báo cáo đấy Gamelin vẫn giữ nguyên niềm tin vào Kế hoạch D. Sự tự tin thái quá không chỉ là vấn đề duy nhất với người Pháp.
Trong giai đoạn đầu cuộc chiến, nước Pháp đã huy động ⅓ nam giới từ tuổi 20 đến 45 tuổi, với quân số đến 5 triệu người, một nửa trong số đó được điều lên mặt trận phía bắc. Quân Pháp có đến 117 đơn vị, được bổ trợ bởi 13 đơn vị từ quân Anh cùng các đơn vị Hà Lan, Bỉ và Ba Lan.
Từ năm 1934, quân Pháp đã được đầu tư từ 20% ngân sách đến 33% ngân sách. Họ có đến 2,900 xe tăng hiện đại, nhiều hơn cả quân Đức. So với xe tăng B1 và SOMUA S35, có thể thấy quân Pháp được trang bị giáp dày và hỏa lực mạnh hơn nhiều, chưa kể đến đó là 11,200 khẩu pháo, nhiều hơn so với 7,710 khẩu pháo của dân Đức. Sản xuất của họ - tuy chỉ bắt đầu từ năm 1938 nhưng cũng bùng nổ và hiệu quả hơn nhiều so với bên phía Đức.

Tuy nhiên, bên dưới lớp vỏ hào nhoáng đấy, người Pháp lại mắc những sai lầm nghiêm trọng. Công nghiệp quốc phòng Pháp bị trì trệ do máy móc cũ kỹ, quy trình thủ công và sự quan liêu của quân đội. Thượng tầng liên tục đòi hỏi các mẫu thử nghiệm thay vì sản xuất hàng loạt nhanh chóng. Xe tăng bị coi thường và không được tiếp tế đầy đủ, tốc độ bắn rất kém trong khi thiếu radio, thậm chí để truyền tin người Pháp còn dùng cờ hoặc các liên lạc viên. Điểm yếu nghiêm trọng nhất của quân Pháp là phòng không - họ thiếu pháo cao xạ so với quân Đức, số lượng máy bay ném bom của Pháp bị Đức áp đảo hoàn toàn, điều này đồng nghĩa với việc khi Đức chơi quân bài tấn công bằng đường không thì dân Pháp có rất ít bài để đe dọa lại địch.
Trong tháng 9 năm 1939, các đơn vị được tuyển của người Pháp cực kỳ hỗn loạn, không chỉ yếu từ hậu cần mà còn về vấn đề tổ chức. Các đơn vị thiết giáp chỉ được huấn luyện cho có, và khi so sánh các bảng số liệu, các sử gia còn ước tính được trung bình, công nghệ máy móc ở Pháp cũ hơn Đức 13 năm.

Đức xâm lược Pháp
Ngày 9 tháng 5, quân Đức bắt đầu chiến dịch. Sáng ngày 10 tháng 5, Đức bắt đầu đánh vào Hà Lan, Bỉ và Luxembourg. Quân Đức nhanh chóng chiếm được Luxembourg và bắt đầu tổ chức tiến công vào Vùng Đất Thấp. Lính nhảy dù từ Đức bắt đầu tiến đánh Hague, Rotterdam và Eben-Emael.
Bên phía Pháp, dù nhận được tin báo từ sớm, tình báo Pháp tỏ ra hoài nghi do đã có nhiều báo động giả trước đó. Tổng tư lệnh Gamelin chỉ được đánh thức lúc 6:30 sáng và ra lệnh thực hiện Kế hoạch Dyle đúng một tiếng sau đó. Cụm tập đoàn quân 1 của Pháp tiến vào Bỉ, trong lúc đó người Đức vẫn đang cần mẫn đánh Vùng Đất Thấp, họ tiêu diệt ½ số máy bay của Hà Lan vào ngày đầu tiên và chiếm được Eben-Emael - pháo đài kiên cố nhất đất Bỉ. Hà Lan đầu hàng vào ngày 14 tháng 5, bên Bỉ thì cũng không khá khẩm hơn khi không quân Đức tiêu diệt gần ½ lực lượng không quân của họ trong ngày đầu tiên.

Ngày 12 tháng 5 năm 1940, quân Pháp lần đầu tiên chạm trán với quân Đức tại Hannut. Giao tranh ác liệt bắt đầu. Xe tăng Pháp gây bất ngờ cho quân Đức nhờ giáp dày. Nhiều xe Panzer của Đức bị bắn cháy khi cố gắng áp sát. Tuy nhiên, sự thiếu hụt radio khiến các đơn vị Pháp không thể bọc lót cho nhau.
Sang ngày hôm sau, Đức tập trung hỏa lực và sử dụng ưu thế trên không để chia cắt các cụm xe tăng Pháp. Nhờ radio, quân Đức thực hiện chiến thuật tập trung nhiều xe tăng bắn vào một mục tiêu Pháp từ nhiều hướng. Tuy nhiên, quân Pháp vẫn bám trụ và sau khi gây tổn thất nặng nề cho quân Đức và hoàn thành nhiệm vụ trì hoãn, quân đội Pháp rút lui về phòng tuyến Gembloux. Kế hoạch Bredau với Hà Lan giờ đã phá sản hoàn toàn và số xe tăng của người Pháp mất trong trận Hannut cũng thế, trong khi Đức sửa chữa phần lớn các xe tăng hỏng và bắt đầu tiến quân.

Cùng thời điểm đó, mũi tiến công Ardennes của người Đức bắt đầu. Với 134,000 lính và 1,600 xe cộ vượt qua địa hình hiểm trở của rừng Ardennes, họ từ từ vượt qua từ ngày 10 đến 12 tháng 5. Trong khi đó, bên Pháp vẫn tập trung hầu hết không quân lên phía bắc, bỏ lỡ thời cơ vàng để ném bom đoàn xe tăng Đức đang tắc nghẽn ở Ardennes. Sự chờ đợi của người Đức đã đem đến cho họ trái ngọt, khi tại Sedan vào ngày 13 tháng 5, 1,000 máy bay Đức ném bom dữ dội vào thành trì của người Pháp trong 8 giờ liên tục. Dù thiệt hại vật chất không quá lớn, nhưng nó đã đè bẹp tinh thần của các đơn vị đồn trú Pháp, vốn toàn là các sư đoàn dự bị.

Chọc thủng Ardennes, quân Đức vượt sông tại các điểm Sedan - Houx - Montherme, một trong số các chỉ huy ngày hôm đó là Guderian và Rommel. Nhưng cũng có một số sĩ quan nổi bật khác - sĩ quan Rubarth và các kỹ sư xung kích đã dùng xuồng cao su vượt sông Meuse, phá hủy các lô cốt Pháp bằng bộc phá cầm tay, từ đó mở đường cho xe tăng vượt sông.
Quân Pháp bắt đầu hoảng loạn tột độ. Thay vì tiến hành phản công, Sư đoàn Thiết giáp Dự Bị 3 bị ép phòng thủ và bỏ lỡ cơ hội chặn đánh quân Đức. Sư đoàn Thiết giáp Dự bị 1 còn thê thảm hơn nữa, khi đang dàn quân thì họ bị kẹt giữa dòng người tị nạn từ miền đông bắc. Xe tăng hết xăng, xe bồn tiếp tế bị kẹt lại phía sau, khi còn chưa kịp dàn quân thì họ bị tiêu diệt bởi tướng Rommel. Hậu quả là người Pháp để hở sườn một mặt trận dài hơn 100km, và đến cuối ngày 15 tháng 5, quân Pháp đã lâm vào tình thế tuyệt vọng. Trong khi phòng tuyến sông Dyle vẫn được trấn thủ, thì ở phía Nam, quân Đức đã chọc thủng hoàn toàn hệ thống phòng thủ trên sông Meuse, mở toang cánh cửa tiến vào trung tâm nước Pháp.

tướng George
Biết được tin quê nhà đang bị xâm lược, chỉ huy quân Pháp tại Bỉ là tướng Alphonse George bật khóc. Là người từ lâu đã phản đối việc tập hợp các sư đoàn tinh nhuệ nhất tại Bỉ, ông lúc này lại bị ép phải làm việc với một chỉ huy cách xa thực địa chiến trường và bất tài tên Gamelin. Dẫu có duy trì một vẻ ngoài cực kỳ bình tĩnh, các cấp dưới nhận thấy bên trong Gamelin dường như có nỗi sợ hãi len lỏi. Ông ta không hề can thiệp vào việc chỉ huy của tướng Georges, nhưng lại gây áp lực và khiến Georges càng thêm lúng túng trước thảm cảnh dân tộc.
Trong lúc đó, quân Đức vẫn đang vận chuyển hơn bốn vạn thiết bị qua bốn tuyến đường riêng biệt trên một tuyến đường trải rộng đến 250km. Dọc đường đi, các máy bay Pháp cố tấn công nhưng đều bị máy bay Đức trả đũa lại, dẫn đến số lượng máy bay của Pháp giảm còn hơn ½ . Cả hai tướng Guderian và Rommel đều bỏ lệnh dừng chân lại mà tiếp tục đánh thọc sâu, gây thiệt hại cho quân Pháp. Quân Rommel tiến suốt 30 dặm trong ngày đầu, và đến ngày 17 tháng 5, ông tự hào tuyên bố đã chiếm được một vạn tù binh Pháp - đổi lại bằng ba mươi sáu thương vong. Trước đó, ngày 15 tháng 5, khi quân Pháp đang thất bại liên tiếp, thủ tướng Pháp là Paul Reynaud điện đàm với thủ tướng Anh lúc bấy giờ là Winston Churchill. Với sự thất vọng và buồn rầu, ông tuyên bố -
“Chúng tôi đã bị đánh bại”.
Lo lắng trước an nguy của đồng minh, Churchill ngay lập tức đến Pháp vào chiều ngày 16 tháng 5 để quan sát tình hình. Khi ông hỏi Tổng tư lệnh Gamelin về lực lượng dự bị ở đâu, Gamelin chỉ trả lời một cách thản nhiên -
Aucune - không có.
Chính giây phút này về sau đã được Churchill nhớ lại như thời khắc gây sốc nhất trong sự nghiệp của mình.

Trở lại vào ngày 17 tháng 5, tướng de Gaulle dẫn dắn đơn vị của mình phản công tại Montcornet - một trong các trận phản công hiếm hoi của người Pháp, nhưng thất bại do thiếu đơn vị hậu cần. Đến ngày 18 tháng 5, khi được yêu cầu giải trình thảm bại, Gamelin lại viết một báo cáo đổ lỗi cho Georges và các tướng lĩnh xung quanh, trừ bản thân ra. Ngay ngày hôm sau, Gamelin đưa ra mệnh lệnh duy nhất kể từ khi chiến sự bắt đầu. Ông ta bắt đầu bằng việc lấp liếm trách nhiệm và lí sự rằng vì cấp dưới nên nước Pháp mới thấy trận, và sau đó tuyên bố tấn công vào sườn quân Đức từ cả hai cánh phía Bắc - Nam trong vòng vài giờ. Hiển nhiên, kế hoạch này không hề có tính hợp lý vì trước mắt:
- Quân Pháp đã mất hoàn toàn lực lượng dự bị
- Quân Pháp không còn ưu thế trên không
- Quân Pháp không thể kéo giãn lực lượng để bảo vệ Paris
Không ai chấp nhận kế hoạch, hay chính xác hơn là trò hề của Gamelin. Hiểu rằng mình sắp bị thay thế bởi Tướng Weygand được triệu từ Trung Đông, mệnh lệnh từ Gamelin ngày hôm đó mang tính bào chữa thay vì cứu vãn tình hình. Mặt dày hơn cả, trong ngày tụ tập lại trụ sở của tướng Georges, trong khi các sĩ quan khác đang kiệt sức và tuyệt vọng, Gamelin vẫn thản nhiên ăn uống ngon lành và tán chuyện phiếm. Ông ta lố bịch và thảm hại đến mức buồn cười. Nhưng điều gì đến cũng phải đến, ngày 20 tháng 5, tướng Gamelin bị Weygand thay thế, và đến tận lúc xuống mồ vị cựu tổng tư lệnh vẫn tuyên bố mình không hề sai. Đúng vào tối hôm đó, các đơn vị thiết giáp Panzer của quân Đức đã tiến ra eo biển Manche tại cửa sông Somme. Quân Pháp ở Vùng Đất Thấp đã hoàn toàn bị bao vây.

Khi vừa nhậm chức, Tướng Weygand nhận ra hy vọng duy nhất là tấn công vào quân Đức tại điểm hẹp nhất giữa Arras - Somme. Tuy nhiên, quân Pháp thì không còn khả năng tổ chức hậu cần. Weygand phải chờ đến 2 giờ mới có được máy bay hộ tống. Khi đến căn cứ Béthune, ông thấy nơi này bị bỏ hoang. Vị Tổng tư lệnh quân đội Pháp bị bỏ lại một mình với viên trợ lý mà không có điện thoại hay phương tiện liên lạc. Lúc tìm được điện thoại bên nhà trọ gần đó, Weygand mới thấy bức ảnh chính ông bên cạnh thống chế Foch mất từ năm 1929 - nếu Foch ở đây, hẳn ông và Weygand đều sẽ bật cười tức tưởi trước sự thảm cảnh của nước Pháp từng một thời xưng bá Châu Âu.

Chiều ngày 21 tháng 5, ba cuộc họp liên tiếp mới diễn ra tại tòa thị chính Ypres với sự tham gia của Pháp, Bỉ và muộn nhất, là Anh. Cùng ngày hôm đấy, người Anh tổ chức một cuộc tấn công vào Arras nhưng bất thành và khiến phe Anh mất 60 xe tăng. Anh với các nước khác cũng đang mâu thuẫn - Weygand muốn quân Bỉ rút lui về phía Tây để rút ngắn chiến tuyến, giải phóng quân Anh-Pháp cho cuộc phản công. Vua Leopold Đệ Tam thì từ chối vì cho rằng quân Bỉ đã quá rệu rã, và rút quân đồng nghĩa với việc bỏ rơi hoàn toàn lãnh thổ Bỉ. Bên Pháp nghe thế bèn cho rằng Vua Leopold có xu hướng thân Đức, chủ hàng.
Phía Anh thì đến quá muộn - lúc này Weygand đã rời đi và hết sức mất thiện cảm với phía Anh. Kế hoạch phản công của Weygand cũng sụp đổ - người Pháp không thể tập hợp quân đội, không quân Đức làm chủ bầu trời, các tướng Anh bỏ rơi cánh phía bắc của quân Pháp. Ngày 23 tháng 5, Lãnh chúa Gort, chỉ huy quân Anh ra lệnh toàn quân Anh rút quân. Hải quân Anh chính thức phát động Chiến dịch Dynamo để cứu quân Anh.

Ngày 24 tháng 5, Hitler cũng đã lệnh quân Đức dừng lại vài ngày để bơm nhiên liệu và ổn định lực lượng. Điều này đã cho phía Anh thời cơ quý giá để dẫn dắt hằng trăm con tàu dân sự từ Anh đến hỗ trợ các tàu chiến đón lính. Nhưng không quân Đức vẫn còn đó - họ oanh tạc liên tục vào các bãi biển và tàu bè, và ép không quân Anh phải đánh chặn liên tục. Trong khi quân Anh rút đi, các đơn vị quân đội Pháp đã chiến đấu dũng cảm tại Lille và ngay tại vành đai Dunkirk để kìm chân quân Đức, tạo điều kiện cho đồng minh sống sót.
Ngày 28 tháng 5, Vua Leopold Đệ Tam đầu hàng. Thủ tướng Reynaud tức giận gọi Bỉ phản bội, còn Weygand tuyên bố Bỉ là đồ con heo. Đến ngày 3 tháng 6, khoảng 3 vạn lính Pháp đã được di tản đến Anh Quốc. Quân Đức tiến vào Dunkirk và bắt giữ gần 4 vạn lính Pháp ở lại chặn hậu. Lực lượng đồng minh đã hoàn toàn tan biến. Hiện tại chỉ còn nước Pháp, đơn độc, trước Đức Quốc Xã.

Nước Pháp sụp đổ
Ngày 27 tháng 5 đến ngày 4 tháng 6, de Gaulle, chỉ huy Sư đoàn Thiết giáp 4 dẫn dắt lực lượng xe tăng tấn công dữ dội. Dù thiếu sự hỗ trợ từ bộ binh - không quân, vị tướng đã đẩy lùi quân Đức và bắt sống hàng trăm tù binh. Quân đội Đức phải chuyển sang thế phòng ngự trước thiết giáp Pháp và chịu thương vong nặng. Nhưng một cánh én không thể làm nên mùa xuân.
Ngày 5 tháng 6, quân Đức bắt đầu tiến hành chiến dịch Fall Rot - Trường Hợp Đỏ. Mặc dù ở thế yếu, quân đội Pháp đã chiến đấu kiên cường hơn trong giai đoạn đầu, họ thiết lập các điểm phòng thủ chiều sâu tại các thị trấn - làng mạc để gây sức ép đến quân Đức. Tuy nhiên, sau 3 ngày, ưu thế không quân và quân số của Đức đã phá vỡ các điểm nghẽn, buộc quân Pháp phải rút lui qua sông Seine.

Ngày 10 tháng 6, Paris bị tuyên bố là thành phố mở để tránh bị hủy diệt. Chính phủ Pháp dời đến Tours, hằng triệu người dân tháo chạy về phía tây nam. Ngày 11 tháng 6, trong hội nghị Briare, thủ tướng Churchill bay sang Pháp lần nữa để đề xuất chiến đấu du kích hoặc rút lui về Bắc Phi. Nhưng lúc này, quân đội Pháp đã kiệt quệ. Khi Churchill rời đi, cả Weygand và thống chế Petain đều đề xuất đình chiến - lúc này, tình hình càng tệ hơn nữa khi Ý tuyên chiến với Pháp. Cả Weygand và Reynaud lúc này đều có ý tưởng rất khác nhau - Reynaud thì muốn quân đội đầu hàng còn chính phủ dời đến Bắc Phi để đánh tiếp. Ngược lại, Weygand thì muốn cứu “danh dự” của quân đội và để chính quyền đầu hàng.

Ngày 13 tháng 6, Churchill gặp Thủ tướng Pháp Paul Reynaud tại Tours. Reynaud trở nên tuyệt vọng vì không thể giữ được lời hứa với phía Anh. Phái chủ chiến của Reynaud và de Gaulle giờ đã hoàn toàn lép vế trước phái chủ bại của Petain và Wygand. Sang ngày 14 tháng 6, chính phủ Pháp rời đến Bordeaux. Dân Pháp tị nạn tràn về phía tây rất nhiều, xã hội thì bài Anh, bài Do Thái và tư tưởng chủ bại tràn lan trong dân chúng. Cùng hôm đó, Sư đoàn Bộ binh 18 Đức tiến vào Paris từ phía Bắc và phía Đông. Không có tiếng súng, không có sự kháng cự. Paris vắng lặng như tờ. Những người dân còn ở lại đứng nhìn từ ban công với những giọt nước mắt khi thấy lính Đức diễu hành dưới Khải Hoàn Môn và treo cờ chữ vạn lên đỉnh Tháp Eiffel. Nước Pháp đã mất đi kinh đô của nó.
Chiếm được Paris, quân Đức vòng ra sau phòng tuyến Maginot, bao vây hoàn toàn các lực lượng tại đây. Khoảng năm mươi vạn lính Pháp bị bắt làm tù binh. Mặc dù phòng tuyến Maginot được thiết kế rất kiên cố và gây nhiều khó khăn cho bộ binh Đức, chúng dần bị vô hiệu hóa bởi pháo quân và không quân. Ngày 16 tháng 6, Reynaud bị ép từ chức. Lúc này, với sự hỗ trợ từ de Gaulle ở Luân Đôn, thủ tướng Churchill đề xuất để nhà nước Anh - Pháp thành một thực thể chính trị duy nhất. Reynaud ủng hộ, nhưng thống chế Petain và nội các Pháp thì không. Thống chế Petain tuyên bố rõ ràng -
Tại sao Pháp phải hợp nhất với một cái xác?

Hiển nhiên, vị Thống chế cũng không nhận ra Pháp cũng đang trở thành một cái xác. 10 giờ sáng ngày hôm đó, Reynaud chính thức từ chức và bị thống chế Petain thay thế. Thống chế Petain tuyên bố đình chiến và ngừng xung đột lại. Địa điểm chọn ký hòa ước Pháp - Đức lại là rừng Compiegne - đúng vị trí toa tàu nơi Đức từng ký đầu hàng 22 năm trước đó. Trong cả chiến dịch, đã có đến gần 10 vạn lính Pháp bị giết, khoảng 20 vạn dân thường bị giết hại, 12 vạn thương binh và gần 2 triệu tù nhân. Đệ Tam Cộng Hòa sụp đổ, và thời kỳ chiếm đóng của người Đức bắt đầu.

Hậu sự
Sau chiến thắng, tỷ lệ ủng hộ Hitler đạt đỉnh cao vào tháng 7 năm 1940 - kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Đức là dân Pháp, nay đã bị đánh quỵ. Ngay cả những người phản đối chế độ cũng bị cuốn vào bầu không khí chiến thắng. Để ăn mừng, Hitler đã phong hàm Thống chế cho 12 vị tướng cùng lúc- một sự kiện chưa từng có tiền lệ trong lịch sử nước Đức. Về phía Pháp, họ bị chia thành hai vùng: vùng chiếm đóng phía Tây Bắc và vùng tự do phía Nam. Chính phủ phía nam, được đề cập đến với tên gọi Vichy do Pétain đứng đầu bị de Gaulle, lúc này đang lưu vong bên Anh coi là bất hợp pháp. Và vào ngày 18 tháng 6 năm 1940, de Gaulle, với sự hỗ trợ người Anh đã đứng lên phát biểu. Những gì diễn ra sau đó đã đưa de Gaulle vào lịch sử:
"Những nhà lãnh đạo, những người trong nhiều năm qua đã đứng đầu quân đội Pháp, nay đã lập ra một chính phủ. Chính phủ này, với cái cớ rằng quân đội của chúng ta đã tan rã, đã thỏa hiệp với kẻ thù để ngừng chiến đấu.
Dĩ nhiên, chúng ta đã bị khuất phục bởi các lực lượng cơ giới, lục quân và không quân của kẻ thù. Chính xe tăng, máy bay và chiến thuật của quân Đức — những thứ quan trọng gấp bội so với quân số của chúng — đã khiến chúng ta phải rút lui. Chính xe tăng, máy bay và chiến thuật của quân Đức đã làm cho các nhà lãnh đạo của chúng ta sững sờ đến mức đưa họ tới vị thế như ngày hôm nay.
Nhưng, liệu lời cuối cùng đã được thốt ra chưa? Liệu hy vọng có phải lụi tàn? Liệu thất bại này là dấu chấm hết? Không!"

Và với bài phát biểu ngày 18 tháng 6 của de Gaulle, một ý tưởng về nước Pháp đã được thành hình.
Vì sao nước Pháp thất bại?
Khi đề cập đến tất cả các diễn biến bên trên, chúng ta đã thấy được các vấn đề cốt lõi - nước Pháp rất yếu về quân sự, đặc biệt là về mảng không quân, thiết giáp, và học thuyết. Nhìn lại sự kiện này, các sử gia đương thời khẳng định nước Pháp thua vì giới thượng lưu đã thất bại tiếp thu những cái mới - bao gồm những cái tên như Gamelin, Weygand và Petain. Ba thập kỷ sau đó, các sử gia thế hệ sau tin rằng Đệ Tam Cộng Hòa là một nền cộng hòa mục rữa , thiếu ổn định chính trị, phân cách xã hội và luôn hoài niệm về quá khứ, thay vì chịu tiến đến tương lai. Các lãnh đạo Pháp có thể tấn công lúc Ba Lan đang thua, xây dựng một quân đội cơ động, hay chí ít là phòng vệ tốt hơn.

Khi Charles de Gaulle qua đời, góc nhìn này một lần nữa thay đổi. Lần này, các sử gia mới lập luận rằng nước Pháp đã chuẩn bị đầy đủ - với các chiến lược gia đương thời, điều kiện đồng minh ít ỏi và nan đề an ninh, việc người Pháp có chiến lược tiến đánh lâu dài là đúng đắn. Sự thất bại lần này của họ đến từ tư duy và sự yếu kém trong khâu tổ chức, hay nói rộng ra là một bộ máy cồng kềnh, thiếu linh hoạt. Người Pháp hầu như không có cách kiểm định thông tin trước làn sóng gây nhiễu thông tin từ địch, thêm vào đó là không có cơ chế tích hợp tin tức tình báo vào kế hoạch tác chiến. Khi chiến tranh chưa bắt đầu, người Pháp quá tự tin, coi thất bại không thể xảy ra. Đến khi thất bại xảy ra, bộ chỉ huy lại tê liệt toàn diện và hầu như không dám đánh tiếp.

Mặc dù lập luận một quốc gia mục rữa dần bị bác bỏ, nhưng cũng phải thừa nhận Pháp bị trói buộc bởi tư duy phòng ngự của một xã hội cầu hòa sau Đệ nhất Thế chiến. Việc xây dựng một đội quân cơ động chuyên nghiệp là điều khó được chấp nhận trong nền tảng chính trị của Đệ Tam Cộng hòa.

Chế độ Vichy của nước Pháp
Và đến đây, hãy cùng quay trở lại vào năm 1940, khi nước Pháp đang thua trận. Thống chế Petain lúc đấy đã bảo rằng nước Pháp “Quá ít trẻ con, quá ít vũ khí, và quá ít đồng minh”. Nhân khẩu kém nước Đức là vấn đề khách quan, nhưng về phía chủ quan, Pháp đã thất bại về công nghiệp quân sự lẫn ngoại giao, dù có đến hai thập kỷ chuẩn bị. Người Pháp chỉ tập trung xây dựng xe tăng sau Đại Suy Trầm, và dù hệ thống xe tăng của họ có phần tiên tiến hơn so với người Đức, họ không hề để tâm đến vấn đề hậu cần hay tập trung vào không quân hay vũ khí phòng không. Những nhà cải cách quân sự như de Gaulle là một cánh én, không thể làm nên cả một mùa xuân.

Nhìn sang mặt ngoại giao, ta thấy nước Pháp cũng làm chưa tốt. Sau Đệ Nhất Thế Chiến, Pháp ký hiệp ước với Ba Lan, Tiệp Khắc, Romania và Nam Tư để kìm Đức từ hai phía. Mặt khác, Pháp không hòa giải được mối quan hệ bất hòa giữa các đồng minh phương đông, thậm chí từ bỏ Tiệp Khắc để nhân nhượng cho Hitler. Bỉ thì tuyên bố trung lập, từ đó hở sườn phía bắc của họ. Quan hệ với Ý cũng bị hủy hoại và dẫn đến Đức có đồng minh thân cận là Ý, còn Pháp giờ chỉ còn có Anh. Nhưng quan hệ giữa Pháp và Anh luôn đầy lo lắng - người Anh thì luôn sợ Pháp ích kỷ bảo vệ Paris mà bỏ rơi các cảng eo biển; người Pháp lại sợ Anh sẽ rút chạy về nước bất cứ lúc nào. Chỉ sau khi Hitler chiếm Prague, Anh mới cam kết quân sự thực sự với Pháp và thực hiện nghĩa vụ quân dịch. Nhưng điều đó không thể xóa sạch 20 năm nghi kỵ giữa hai cường quốc với nhau, nữa là hằng trăm năm lịch sử gây chiến. Cả Anh với Pháp đều đã thất bại trong việc phối hợp với nhau, dẫn đến nước Pháp phải chịu 4 năm liền bị nước Đức đô hộ.

Khác xa với chiến thắng Đệ Nhất Thế Chiến, thất bại năm 1940 là sự nhục nhã tận cùng của nước Pháp. Sau này, khi giải phóng và xây dựng lại nước Pháp, Tổng thống de Gaulle đã cố gắng coi giai đoạn từ năm 1914 đến năm 1944 là một cuộc đấu tranh 30 năm với nước Đức - với ông, thất bại năm 1940 chỉ là bước lùi cho chủ nghĩa anh hùng của người Pháp trong thời kỳ Kháng chiến.
Tuy vậy, ngược lại với de Gaulle thừa nhận thất bại dân tộc, người Pháp lại cố tình quên lãng hoặc lướt qua khi nói về thất bại năm 1940. Nỗi nhục nhã của sự sụp đổ quá lớn khiến người ta không muốn nhắc lại, nhất là khi nó bị che lấp bởi những bi kịch như sự đê hèn của chính quyền Vichy, thảm kịch Holocaust hay việc dân Pháp hợp tác với giặc diệt chủng. Đen tối hơn cả, số lượng 1,8 triệu tù binh Pháp bị bắt trong chiến tranh bị chính quê nhà hắt hủi và rời khỏi rìa xã hội. Để khôi phục lòng tự hào dân tộc, nước Pháp hậu chiến cần những anh hùng của phong trào Kháng chiến, chứ không cần những chiến sĩ gợi nhắc về một thất bại nhục nhã. Sau tất cả, câu chuyện “30 năm” của tướng de Gaulle càng làm chìm khuất trải nghiệm thực tế của những người lính đã ngã xuống hoặc bị bắt năm đó.
Và khi ta nhìn lại những gì đã xảy ra, thì những người lính Pháp đã ngã xuống hoặc thất thế hơn 80 năm trước đó, xứng đáng có được sự ghi nhận và nên được nhớ đến như bài học về thất bại của cả một dân tộc, thay vì bị lãng quên theo dòng chảy của lịch sử.


Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
