Vì sao các cuộc cách mạng trên khắp thế giới nổ ra?
Nếu không phải chỉ vì "dân chúng quá khổ", vậy đâu là nguyên nhân thực sự ẩn sâu dưới những cuộc cách mạng?
Trong suốt chiều dài lịch sử loài người, từ phương Đông tới phương Tây, các cuộc cách mạng nổ ra ở khắp mọi nơi. Chúng được coi là những cơn địa chấn chính trị vĩ đại, làm sụp đổ những đế chế tưởng chừng không thể lay chuyển và thay đổi hoàn toàn dòng chảy của nhân loại.
Tuy nhiên, khi đứng trước câu hỏi "Vì sao các cuộc cách mạng lại nổ ra?", rất nhiều người lại thường đưa ra những lời giải thích một cách đơn giản quá mức. Chúng ta rất dễ hài lòng với kịch bản quen thuộc được dập khuôn qua nhiều thế hệ: một chế độ tàn ác bóc lột, người dân lầm than nên vùng lên lật đổ. Đây là mô típ đau khổ tích tụ dẫn đến một giới hạn, rồi sau đó thì tự động bùng nổ.
Tuy nhiên thực tế, lịch sử chưa bao giờ vận hành theo cách hiểu “trắng đen” với ranh giới rạch ròi giữa thiện và ác như vậy. Nếu không phải chỉ vì "dân chúng quá khổ", vậy đâu là nguyên nhân thực sự ẩn sâu dưới những cuộc cách mạng đó?
Bài viết này tốn rất nhiều công sức để ngâm cứu, và nội dung của nó cũng tương đối khó, xin nhấn mạnh là tương đối khó, không hề dễ tiếp cận nên mình muốn lưu ý trước với tất cả các bạn khán thính giả. Từ lúc bắt đầu đến lúc viết xong bài mất nhiều thời gian để hoàn thiện thành ra cũng bị ngâm khá lâu.
Ngoài ra, mình chọn viết chủ đề này vì chúng ta đang sống trong một thời đại mà có quá nhiều đổi thay diễn ra hàng ngày, các cấu trúc xã hội ở nhiều nơi trên thế giới đang căng dần lên, chiến tranh ở Iran, Ukraine, suy thoái ở Cuba, dịch chuyển chuỗi cung ứng từ Trung Quốc sang các nước khác tạo do xung đột địa chính trị làm cho người ta nhìn thấy những nguy cơ mới của chiến tranh thế giới thứ ba hay khả năng nổ ra các cuộc cách mạng mới ở đây đó.
Cách chúng ta giải thích hiện tượng cách mạng sẽ quyết định cách chúng ta nhìn chính xã hội mình đang sống.

I. Những câu hỏi lớn
Đầu tiên, chúng ta sẽ cùng bàn về một câu hỏi tưởng quen mà lạ, vì sao các cuộc cách mạng lại xảy ra?
Cách giải thích phổ biến nhất, cách mà hầu hết chúng ta đã được học từ sách giáo khoa, từ phim ảnh, từ những câu chuyện kể đi kể lại qua nhiều thế hệ, nghe đơn giản và dễ đồng cảm, đó là cách mạng xảy ra khi dân chúng khổ quá không chịu nổi nữa nên vùng lên lật đổ một vị vua tàn bạo hoặc một giai cấp thống trị hà khắc. Cách hiểu đơn giản nhất chính là người xấu áp bức, người tốt nổi dậy. Khổ đau tích lũy đến một ngưỡng thì bùng nổ.
Lịch sử được kể như một câu chuyện đạo đức, có nhân vật chính, nhân vật phản diện, có cao trào và kết cục công bằng. Trong câu chuyện đó thường có một vài vĩ nhân xuất hiện đúng lúc để dẫn dắt dân chúng, và nếu không có những vĩ nhân đó thì dường như lịch sử đã khác đi hoàn toàn. Thực tế thì điều đó không phải là sự thật, đó chỉ là diễn ngôn phổ biến nhất của xã hội về sự thật mà thôi.
Tuy vậy, đây không phải một cách giải thích buồn cười hay ngốc nghếch, nó chỉ hơi ngây thơ thôi. Nó có sức sống dai dẳng vì nó chạm vào một nhu cầu tâm lý rất thật của con người, nhu cầu thấy thế giới vận hành theo logic đạo đức, kẻ ác phải bị trừng phạt và kẻ bị áp bức sẽ có ngày được giải phóng. Nhưng sức sống tâm lý của một cách giải thích không đồng nghĩa với độ chính xác của nó, và các nhà nghiên cứu lịch sử nghiêm túc đã nhìn thấy vấn đề của narrative này từ rất lâu.
Karl Marx vào giữa thế kỷ 19 đưa ra một cách nhìn khác theo thiên hướng có tính chất hệ thống hơn. Chắc hẳn Marx cũng là một người có tư duy hệ thống khi ông đặt cách mạng vào trong khung phân tích về mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất. Với Marx, cách mạng không phải sản phẩm của đạo đức hay của vĩ nhân mà là sản phẩm tất yếu của cấu trúc kinh tế. Khi quan hệ sản xuất cũ trở thành gông cùm cho lực lượng sản xuất mới, mâu thuẫn sẽ tích lũy cho đến lúc vỡ ra, và giai cấp mới sẽ thay thế giai cấp cũ ở vị trí thống trị. Cách nhìn này đặt cấu trúc lên trên cá nhân, đặt kinh tế lên trên đạo đức, và mở ra một truyền thống phân tích cách mạng bằng công cụ xã hội học thay vì bằng câu chuyện đạo đức.
Alexis de Tocqueville, gần cùng thời với Marx nhưng đi từ hướng khác. Sau khi nghiên cứu cách mạng Pháp, ông đã nhận ra một nghịch lý làm ông bối rối. Theo logic thông thường, một chế độ càng tàn bạo thì càng dễ bị lật đổ. Nhưng lịch sử cho thấy điều ngược lại. Khoảnh khắc nguy hiểm nhất của một chế độ xấu thường không phải lúc nó xấu nhất, mà là lúc nó bắt đầu tự cải thiện, lúc nó nới lỏng và cho phép một ít tự do. Tocqueville không giải thích đầy đủ được cơ chế đằng sau nghịch lý này, nhưng ông đã đặt vấn đề một cách đủ rõ để các thế hệ sau không thể bỏ qua.
Đến giữa thế kỷ 20, nhà xã hội học Ted Gurr mở rộng hướng đi của Tocqueville bằng khái niệm “thiếu thốn tương đối - relative deprivation”. Ông cho rằng bạo lực chính trị không nảy sinh từ mức sống tuyệt đối thấp mà từ khoảng cách giữa những gì người ta kỳ vọng có và những gì họ thực sự có. Khi đời sống đang cải thiện, kỳ vọng tăng nhanh hơn thực tế, và chính khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế mới là thứ châm ngòi. Barrington Moore trong cuốn Social Origins of Dictatorship and Democracy phân tích vì sao các xã hội đi qua quá trình hiện đại hóa lại rẽ vào những con đường chính trị khác hẳn nhau và ông lập luận rằng kết cục phụ thuộc vào cách các liên minh giai cấp được hình thành trong quá trình chuyển đổi.
Theda Skocpol trong cuốn States and Social Revolutions so sánh ba cuộc cách mạng lớn gồm Pháp, Nga, Trung Quốc rồi kết luận rằng cách mạng không được làm ra bởi các nhà cách mạng mà xảy ra khi nhà nước suy yếu đến mức không kiểm soát được các lực lượng xã hội đã tồn tại sẵn từ trước.
Mỗi cách tiếp cận này bóc được một lớp. Marx chỉ ra cấu trúc kinh tế nằm dưới bề mặt đạo đức. Tocqueville và Gurr chỉ ra rằng tâm lý xã hội không vận hành theo đường thẳng từ khổ đến nổi dậy. Moore và Skocpol chỉ ra nhà nước không chỉ là sân khấu mà là một tác nhân có sức mạnh và điểm yếu riêng, và chính sự suy yếu của nhà nước mới là điều kiện quyết định.
Bây giờ mình muốn giới thiệu với mọi người một cách nhìn mới hơn nữa, không phải để phủ nhận các cách nhìn trên mà để đặt chúng vào một bức tranh lớn hơn. Đó là cách tiếp cận của ngành “Cliodynamics - động lực học lịch sử”, do một nhóm học giả đứng đầu là Peter Turchin, Jack Goldstone, Walter Scheidel phát triển từ cuối thế kỷ 20. Bên cạnh Cliodynamics, mình cũng kết hợp với công cụ hiện đại khác là tư duy hệ thống, khoa học phức hợp và lý thuyết trò chơi để soi sáng các sự kiện lịch sử
Để thấy vì sao khung này cần thiết, có thể bắt đầu bằng ba câu hỏi mà các cách giải thích quen thuộc gặp khó.
Thứ nhất, nếu cách mạng là cuộc nổi dậy của người nghèo chống người giàu, thì tại sao hầu hết các lãnh đạo cách mạng lớn trong lịch sử đều không phải nông dân hay công nhân mà là luật sư, nho sĩ, giáo sĩ, trí thức được đào tạo bài bản.
Thứ hai, nếu cách mạng là phản ứng với bạo chúa, thì tại sao đa phần những bạo chúa thường chết già trên ngai vàng, còn những người kế vị ôn hòa hơn lại là người rơi đầu. Ví dụ như Louis XVI bị chém chứ không phải Louis XIV, Nicholas II bị xử bắn chứ không phải Ivan Bạo chúa.
Thứ ba, nếu cách mạng là hệ quả của khổ đau tích lũy đến ngưỡng, thì tại sao các giai đoạn khổ nhất lại thường không phải là giai đoạn bùng nổ, còn các giai đoạn đang khá lên mới là giai đoạn nguy hiểm. Nước Nga 1917 khá hơn Nga 1870, Pháp 1789 giàu hơn Pháp 1700, và nạn đói Đinh Mậu 1876-1879 ở Trung Quốc làm chết 13 triệu người nhưng không lật được nhà Thanh, trong khi cách mạng Tân Hợi 1911 thành công khi đời sống đã cải thiện.
Ba chỗ hụt này không phải chi tiết vụn mà là ba cửa sổ cùng nhìn về một thiếu sót trong cách chúng ta đang giải thích hiện tượng. Chúng sẽ là ba điểm kiểm tra mà khung động lực học lịch sử cần giải đáp một cách có hệ thống.
II. Ai là người dẫn dắt các cuộc cách mạng
Hãy tưởng tượng một hệ thống đào tạo ngành luật sản xuất ra khoảng năm mươi nghìn sinh viên tốt nghiệp mỗi năm, trong khi thị trường việc làm trong ngành luật chỉ mở ra khoảng hai mươi lăm đến ba mươi nghìn vị trí mới hàng năm. Đây không phải con số giả định mà là bức tranh gần đúng của ngành luật Mỹ trong khoảng 1985 đến 2010. Tỷ lệ tốt nghiệp so với việc làm trong ngành này vào khoảng hai trên một, và đã được chính các giáo sư luật Mỹ chỉ ra nhiều lần trong các cuộc tranh luận về khủng hoảng giáo dục luật.
Hai mươi nghìn người dư ra mỗi năm đi đâu. Họ không quay về làm ruộng hay làm công nhân vì đã bỏ ba năm và hàng trăm nghìn đô la vào trường luật. Họ không chấp nhận công việc thấp hơn nhiều so với kỳ vọng vì cả gia đình đã đầu tư cho họ suốt hai mươi năm với niềm tin rằng tấm bằng sẽ đổi được một vị trí xứng đáng. Họ có kỹ năng soạn thảo văn bản, có khả năng thuyết phục đám đông, có mạng lưới bạn bè cùng khóa cũng đang ở trong tình trạng giống họ. Họ có vốn, họ chỉ thiếu ghế.
Tình trạng này, lặp lại ở quy mô lớn qua nhiều năm. Peter Turchin gọi nó là “elite overproduction - sản sinh dư thừa tinh hoa”. Trong một giai đoạn thịnh vượng kéo dài, giới tinh hoa của xã hội sinh nhiều con hơn vì có điều kiện nuôi con tốt hơn, và họ đầu tư mạnh cho mỗi người con với kỳ vọng các con sẽ giữ được vị thế của gia đình. Những người này mang đầy đủ bằng cấp, có mạng lưới quan hệ tốt. Họ được gọi là “elite aspirants - những người kỳ vọng để trở thành tinh hoa” và bản thân họ cũng khát khao để trở thành tinh hoa.
Nhưng số ghế elite thật trong xã hội không tăng theo cùng nhịp, vì quyền lực phần lớn là trò chơi có tổng bằng không, có người lên thì người khác phải xuống, có một ghế chủ tịch tỉnh thì không thể có hai người cùng ngồi. Cạnh tranh giữa các elite aspirants trở nên khốc liệt, và một bộ phận không tìm được ghế sẽ rơi vào tình trạng mà Turchin gọi là “frustrated aspirants - những người khao khát bị thất vọng”. Họ muốn và không chịu không quay về tầng lớp dưới vì họ không có kỹ năng của tầng lớp dưới và tâm lý không cho phép. Họ quay sang dùng chính vốn mà hệ thống đã trang bị cho họ để thách thức hệ thống. Họ trở thành “counter elite - tinh hoa đối kháng”.
Nhìn từ góc này, câu hỏi ai dẫn đầu các cuộc cách mạng từ Á sang Âu sẽ có một câu trả lời mạch lạc.
Bắt đầu với châu Âu và cuộc đại cách mạng dân chủ tư sản Pháp, người lãnh đạo cuộc cách mạng này là Robespierre - một luật sư hành nghề ở Arras trước khi vào chính trị, thuộc tầng lớp trí thức đang lên của nước Pháp vào cuối thế kỷ 18 nhưng bị chặn lại bởi hệ thống đặc quyền của giới quý tộc. Rồi cuộc cách mạng vô sản đầu tiên với lãnh tụ là Lenin, ông là con một quan chức thanh tra giáo dục trong chế độ Sa Hoàng, tốt nghiệp luật hạng ưu nhưng sự nghiệp luật bị chặn vì anh trai ông bị xử tử trong một âm mưu ám sát hoàng đế, nghĩa là ông mang đầy đủ vốn trí thức của một tinh hoa nhưng cánh cửa chính thức đã đóng lại với ông.
Tương tự ở châu Á thì Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình nho học, cha là phó bảng, bản thân ông là nho sĩ được đào tạo bài bản trước khi rẽ sang con đường cách mạng. Mao Trạch Đông tốt nghiệp trường sư phạm, làm thủ thư tại thư viện Đại học Bắc Kinh, là người đọc rộng và viết nhiều từ rất sớm. Hồng Tú Toàn của phong trào Thái Bình Thiên Quốc là nho sĩ thi khoa cử nhiều lần đều trượt, và chính từ đây, tức việc bị hệ thống từ chối dù đã đầu tư cả đời vào nó, là bước ngoặt đẩy ông sang con đường lập một vương quốc riêng. Khomeini được đào tạo trong hệ thống giáo dục Shia hàng chục năm trước khi trở thành người lãnh đạo cuộc cách mạng Iran 1979.
Không một ai trong danh sách này là nông dân hay công nhân. Tất cả đều là những người đã đi qua hệ thống đào tạo chính thức và tích lũy được cái mà nhà xã hội học Pierre Bourdieu gọi là vốn văn hóa, khả năng viết, khả năng diễn đạt, khả năng tổ chức, khả năng đọc tình hình chính trị. Họ không ở đáy xã hội. Họ ở một vị trí đặc biệt, đủ cao để thấu hiểu nhưng lại bị chặn để khiến động cơ hành động xuất hiện. Các dữ kiện thực tế này cho thấy logic mà các diễn ngôn xã hội nói rằng các lãnh tụ cách mạng là kết tinh của tầng lớp, giai cấp nghèo khổ như giai cấp nông dân khó mà đứng vững được.
Lý do vì sao cách mạng cần những người là tinh hoa đối kháng dẫn dắt chứ không thể được tạo ra bởi dân chúng đơn thuần, nếu nhìn kỹ, khá mang tính kỹ thuật. Một cuộc biểu tình có thể nổ ra từ phẫn nộ, nhưng một cuộc cách mạng thành công đòi hỏi tổ chức xuyên tỉnh, xuyên vùng, đôi khi xuyên biên giới. Nó đòi hỏi phải có người soạn được tuyên ngôn có khả năng thống nhất được hàng triệu người với nhau, dựng được mạng lưới liên lạc bí mật, có người quản lý được dòng tiền, có người đàm phán được với các thế lực trung gian, có người điều phối được các nhóm võ trang khi cần.
Những kỹ năng này không tự nhiên có ở một người nông dân dành cả ngày trên đồng ruộng hay một công nhân dành mười hai tiếng trong xưởng máy. Chúng chỉ có ở những người đã được hệ thống giáo dục và các thiết chế xã hội nuôi dưỡng suốt nhiều năm. Nói cách khác, cách mạng là sản phẩm của hai lực cùng hội tụ, sức nóng từ dưới lên của dân chúng bất mãn và khả năng tổ chức từ tầng giữa, của chính những người đã được hệ thống đào tạo nhưng hệ thống không có chỗ cho họ.
Đây là một chỗ cần dừng lại một nhịp để xem xét kỹ lượng. Theo trực giác thông thường, một xã hội càng cho nhiều người học cao, càng đào tạo nhiều tiến sĩ, nhiều luật sư, nhiều kỹ sư, thì càng ổn định và tiến bộ. Khung “overproduction - sản xuất dư thừa” cho thấy điều ngược lại nếu một điều kiện không được đáp ứng, đó là xã hội không có đủ ghế xứng đáng cho những người đã được đào tạo. Nếu số người có bằng cấp cao tăng nhanh hơn số ghế có thể hấp thụ họ, thì chính thành tựu giáo dục sẽ trở thành nguyên liệu cho bất ổn.
Nước Mỹ hiện nay là một ví dụ thường được Turchin nhắc tới, số người có bằng luật, bằng MBA, bằng PhD đã tăng gấp nhiều lần so với thập niên 1960, trong khi số vị trí quyền lực thực sự thì không mở rộng tương ứng. Nga cuối thế kỷ 19, Trung Quốc cuối thời Thanh, Iran thập niên 1970 đều có dấu vết của cùng một động lực, tầng lớp trí thức được đào tạo mở rộng nhanh hơn khả năng hấp thụ của bộ máy hành chính và kinh tế. Ngay cả bây giờ, lịch sử cũng đang lặp lại khi báo chí, truyền thông đưa tin ở Trung Quốc có nhiều người giấu bằng thạc sĩ, tiến sĩ để đi làm shipper, một cơn khủng hoảng thừa đang thực sự diễn ra.
Có điều cần lưu ý trước khi đi sang phần tiếp theo. “Counter elite - tinh hoa đối kháng” nếu chỉ có một mình chưa thể làm nên cách mạng. Một nhóm trí thức bất mãn không có dân chúng bất mãn đi cùng sẽ chỉ thành một vài cuộc biểu tình cô lập, một vài tờ báo bị cấm, một vài vụ bắt bớ rồi chìm. Chúng ta mới chỉ tìm ra mảnh ghép đầu tiên, trả lời cho câu hỏi về nhân vật dẫn dắt.
Còn hai mảnh ghép nữa vẫn đang chờ, tại sao dân chúng lại bất mãn ngay trong giai đoạn đang khá lên, và tại sao chính nhà nước lại yếu đi đúng vào thời điểm cần mạnh nhất.
III. Ba căng thẳng cấu trúc xã hội.
Một căn nhà cổ đứng vững hàng trăm năm không phải vì nó không chịu áp lực, mà vì kết cấu của nó phân phối áp lực đều cho nhiều cột, nhiều xà, nhiều mối nối. Khi một cột bị mối ăn rỗng từ bên trong, tải trọng của nó không biến mất mà dồn sang các cột bên cạnh. Các cột bên cạnh gánh thêm, và nếu cấu trúc vẫn đủ dự phòng thì căn nhà tiếp tục đứng, có thể người ở bên trong không hề biết có cột đã rỗng. Nhưng nếu cột thứ hai cũng dần yếu đi, rồi cột thứ ba, thì đến một lúc tải trọng tổng cộng đã vượt quá khả năng chịu của những cột còn lại. Từ ngoài nhìn vào, căn nhà vẫn còn nguyên hình dáng, vẫn còn mái, vẫn còn cửa. Nhưng một cơn gió mạnh hơn thường lệ, một trận mưa kéo dài hơn bình thường, hay thậm chí một đứa trẻ chạy qua đập mạnh vào tường, cũng đủ làm cả căn nhà đổ sụp.
Xã hội cũng có những cột chịu lực của nó, và Turchin cùng các nhà động lực học lịch sử gọi đó là “căng thẳng cấu trúc - structural strain”. Khái niệm này bắt đầu nguồn nhà xã hội học Robert Merton cuối những năm 1930 và được mở rộng bởi Neil Smelser sang nghiên cứu phong trào xã hội trong những năm 1960. Turchin kế thừa truyền thống này và hình thức hóa nó bằng ngôn ngữ toán học và dữ liệu lịch sử quy mô lớn. Ba căng thẳng cấu trúc là ba loại áp lực tích lũy trong cấu trúc xã hội, phát sinh từ chính cách xã hội được tổ chức chứ không từ ý đồ của cá nhân nào cụ thể.
- Căng thẳng thứ nhất là “elite overproduction - dư thừa tinh hoa” đã được bàn ở phần trước, vì có quá nhiều người được đào tạo để làm tinh hoa nhưng số ghế không mở rộng tương ứng, một bộ phận trí thức thất thế trở thành “counter elite - tinh hoa đối kháng”, mang vốn văn hóa và tri thức đi thách thức hệ thống đã đào tạo ra họ.
- Căng thẳng thứ hai là “popular immiseration - bần cùng hóa tầng lớp dưới”. Xin lưu ý rằng “popular immiseration” không phải nghèo đói tuyệt đối theo nghĩa chết đói hay không có gì ăn. Các nhà nhân khẩu học đo nó bằng những chỉ số khá cụ thể như+ Tiền lương thực - tức lương danh nghĩa sau khi đã trừ lạm phát+ Tuổi thọ trung bình+ Và những năm gần đây là cái mà các nhà kinh tế Anne Case và Angus Deaton gọi là “deaths of despair - tức tử vong do tự tử, do rượu, do ma túy”, những cái chết phản ánh không phải đói ăn mà mất hy vọng.
Một xã hội có thể giàu lên về tổng GDP nhưng đồng thời trải qua bần cùng hóa tầng lớp dưới nếu phần lớn tăng trưởng đó chảy về một bộ phận nhỏ trên cùng, còn đa số bên dưới thấy tiền lương thực đứng yên hoặc giảm, tuổi thọ giảm và cơ hội vươn lên ngày càng thu hẹp.
Điều làm popular immiseration trở nên quan trọng hơn chỉ là một câu hỏi về mức sống tuyệt đối là bởi nó gắn với một khám phá tâm lý xã hội học kinh điển. Trong Thế chiến 2, nhà xã hội học Samuel Stouffer được giao nhiệm vụ nghiên cứu tinh thần của binh lính Mỹ.
Ông và nhóm của ông phỏng vấn hàng trăm nghìn người và phát hiện ra một nghịch lý làm cả quân đội bối rối. Binh chủng không quân, nơi thăng tiến nhanh nhất, nơi một người có thể lên cấp úy trong vòng một đến hai năm, lại là nơi có mức bất mãn cao nhất. Binh chủng hiến binh, nơi thăng tiến chậm nhất, nơi phải mất nhiều năm mới lên được một cấp, lại là nơi có mức hài lòng cao nhất. Về logic thông thường, kết quả phải ngược lại. Ai cũng nghĩ thăng tiến nhanh thì vui hơn, thăng tiến chậm thì ấm ức. Thực tế cho thấy điều trái ngược, và Stouffer giải thích bằng khái niệm “relative deprivation - tiếng Việt có lẽ dịch là thiếu thốn tương đối”.
Cảm giác thiệt thòi không đo bằng mức sống tuyệt đối mà đo bằng khoảng cách giữa thực tế và điểm tham chiếu để so sánh. Người lính không quân so sánh bản thân với đồng đội cùng khóa đã lên cấp cao hơn, còn mình vẫn ở chỗ cũ, và cảm giác tụt hậu xuất hiện. Người lính hiến binh so sánh với đồng đội cùng khóa cũng thăng tiến chậm như mình, và không thấy có gì bất công. Một người có thể khá hơn cha mẹ mình về vật chất nhưng vẫn cảm thấy thiệt thòi sâu sắc nếu anh ta so sánh với bạn bè cùng lớp đã giàu gấp mười lần, hoặc so sánh với hình ảnh của chính mình trong mơ ước khi còn sinh viên. Điểm tham chiếu quyết định cảm giác, không phải mức tuyệt đối.
Ted Gurr trong cuốn Why Men Rebel xuất bản năm 1970 đưa khái niệm này lên tầm lý thuyết chính trị và lập luận rằng bạo lực chính trị không nảy sinh từ nghèo đói mà từ khoảng cách mở rộng giữa kỳ vọng và thực tế. Và đây chính là chìa khóa giải một trong ba câu hỏi mở đầu, tại sao cách mạng lại xảy ra trong các giai đoạn đang khá lên chứ không phải lúc khổ nhất. Lý do là khi đời sống bắt đầu cải thiện, kỳ vọng tăng vọt, thường nhanh hơn tốc độ cải thiện thực tế. Khoảng cách giữa cái người ta nghĩ đáng lẽ mình phải có và cái người ta thực sự có phình ra.
Nga sau 1861 giải phóng nông nô không làm nông dân giàu hơn bao nhiêu, nhưng làm họ bắt đầu nghĩ rằng họ đáng được có đất, có quyền, có phẩm giá. Khi thực tế không theo kịp kỳ vọng mới, bất mãn lớn hơn nhiều so với thời kỳ nông nô còn chịu đựng số phận một cách thụ động. Pháp thế kỷ 18 giàu lên so với thế kỷ 17, nhưng chính sự giàu lên làm giới bình dân thành thị nhìn thấy rõ hơn cái mà giới quý tộc đang độc chiếm, và so sánh này là nguyên liệu cho phẫn nộ.
- Căng thẳng thứ ba là “state fiscal crisis - khủng hoảng tài chính nhà nước”. Cơ chế này nghe có vẻ kỹ thuật nhưng thực ra khá trực quan. Trong giai đoạn giới tinh hoa tích lũy sức mạnh, họ vận động để giảm thuế đánh vào chính họ. Lập luận thường là thuế thấp sẽ kích thích đầu tư và tăng trưởng, và lập luận này có thể đúng một phần, nhưng cái không được nhắc đến là hệ quả đối với ngân sách nhà nước.
Khi nguồn thu từ giới tinh hoa giảm mà chi tiêu của nhà nước không giảm tương ứng, vì nhà nước vẫn phải trả lương cho bộ máy, vẫn phải duy trì quân đội, vẫn phải đầu tư vào hàng hóa công, ngân sách xuất hiện thâm hụt, nhà nước bù đắp bằng cách vay nợ. Nhưng ai là người cho nhà nước vay tiền. Chính là giới tinh hoa, những người vừa được giảm thuế và giờ có thặng dư tiền mặt để mua trái phiếu nhà nước. Lãi của trái phiếu lại chảy về họ, tạo thành một vòng lặp tài chính mà trong đó giới tinh hoa vừa là người được giảm thuế vừa là người được hưởng lãi nợ công, giới tinh hoa tài chính và tinh hoa chính trị vốn dĩ vị thế cao nên bản thân luật lệ cũng được tạo ra bởi chính họ và nó được thiết kế để họ có lợi nhiều nhất, nhưng có lợi cho họ thì lại tạo ra sự tổn thất cho nhà nước.
Tình trạng này, nếu kéo dài qua vài thập niên, dần dần làm rỗng khả năng hành động của nhà nước. Nhà nước không còn đủ tiền để đầu tư vào giáo dục công, y tế công, hạ tầng công. Khi khủng hoảng xảy ra, dù là khủng hoảng tài chính, thiên tai, hay dịch bệnh, nhà nước không có dự trữ để ứng phó. Khi bất ổn xã hội leo thang, nhà nước cũng không còn đủ sức để trấn áp hoặc để đàm phán giải pháp.
Nước Pháp trước 1789 là một ví dụ kinh điển, triều đình nợ ngập đầu sau các cuộc chiến tranh thế kỷ 18, nhưng mọi cố gắng của Louis XVI để cải cách hệ thống thuế đều bị giới quý tộc chặn đứng. Khi không còn lối thoát tài chính, nhà vua phải triệu tập Hội nghị 3 đẳng cấp và đó là cánh cửa mở ra cách mạng.
Ba căng thẳng cấu trúc gồm “elite overproduction - dư thừa tinh hoa”,“popular immiseration - bần cùng hóa tầng lớp dưới” và “state fiscal crisis - khủng hoảng tài chính nhà nước”, nếu tồn tại riêng rẽ, không cái nào tự thân đủ sức làm vỡ một xã hội. Dư thừa tinh hoa chỉ sinh ra tầng lớp trí thức bất mãn ngồi viết báo và than phiền, bây giờ thì có thêm mạng xã hội nữa để xả thôi chứ cơ bản chưa tạo ra thay đổi gì lớn. Bần cùng hóa tầng lớp dưới chỉ sinh ra các cuộc nổi dậy cục bộ mà nhà nước có thể dập tắt. Khủng hoảng tài chính nhà nước chỉ sinh ra các đợt cải cách thuế hoặc cắt giảm chi tiêu đau đớn nhưng trong tầm kiểm soát. Điều nguy hiểm chỉ xuất hiện khi ba căng thẳng cùng tồn tại cùng một lúc và bắt đầu kết nối với nhau, tức là chúng chia sẻ các nút chung và bắt đầu đẩy nhau lên cao hơn nữa.
Đây là chỗ mà tư duy hệ thống và khoa học phức hợp cung cấp một công cụ nhìn không thay thế được bằng bất kỳ cách nào khác. Đa số các hệ thống xã hội và sinh thái không vận hành theo logic nguyên nhân A đẩy sang B. Chúng vận hành qua các vòng lặp phản hồi, trong đó kết quả của một bước lại trở thành đầu vào cho chính nó sau một vòng quay. Các vòng lặp có hai loại.
Một là “vòng lặp cân bằng - balancing loop”, tự đưa hệ thống về trạng thái ổn định. Hai là “vòng lặp tự củng cố - reinforcing loop”, đẩy hệ thống càng ngày càng xa khỏi trạng thái ban đầu. Điều nguy hiểm trong một xã hội không phải là có căng thẳng, mà là có nhiều vòng lặp tự củng cố cùng chạy một lúc mà không có đủ vòng lặp cân bằng để đối trọng.
Giữa ba căng thẳng cấu trúc trên có ít nhất ba vòng lặp tự củng cố đang chạy ngầm mà nhìn từ bên ngoài rất khó thấy.
- Vòng lặp thứ nhất là vòng giữa “elite overproduction” và “state fiscal crisis”. Khi giới tinh hoa đương quyền vận động hoặc tạo ra luật giảm thuế, nhà nước thu ít hơn, tài chính yếu đi. Nhưng cùng lúc đó, số tiền giới tinh hoa tiết kiệm được từ giảm thuế không nằm yên, một phần được dùng để đầu tư cho con cái đi học trường tốt, mở rộng mạng lưới quan hệ, đầu tư thêm bằng cấp.
Thế hệ sau của giới tinh hoa do đó đông đảo hơn và được trang bị tốt hơn, số “elite aspirants - những người kỳ vọng để trở thành tinh hoa” khao khát ghế tăng nhanh. Nhưng nhà nước tài chính yếu lại càng khó mở thêm ghế trong bộ máy công để hấp thụ họ. Kết quả là cạnh tranh giữa elite aspirants trở nên khốc liệt hơn, một bộ phận trở thành “counter elite - tinh hoa đối kháng”, và chính nhóm này lại quay lại vận động chính trị để bảo vệ hoặc mở rộng lợi ích của giai cấp mình, trong đó có việc tiếp tục chống tăng thuế. Vòng lặp khép lại. Mỗi vòng quay đều khiến mọi thứ căng thêm.
- Vòng lặp thứ hai là vòng giữa “elite overproduction” và “popular immiseration”. Khi số elite aspirants tăng nhanh hơn số ghế thật, phần không tìm được ghế tương xứng sẽ trượt xuống các vị trí thấp hơn kỳ vọng của họ. Họ không quay về làm ruộng nhưng họ đi làm trợ lý, làm giáo viên bán thời gian, làm công việc dịch vụ trung cấp.
Việc này đẩy những người vốn ở vị trí đó, tức tầng lớp dưới đang cố vươn lên, bị chặn lại. Lương thực ở tầng này bị ép xuống vì cạnh tranh lao động dày đặc hơn. Tầng lớp dưới khó vươn lên hơn, bần cùng hóa tương đối sâu hơn, và họ càng không có khả năng đầu tư cho con cái để con cái bước vào tầng lớp trên. Cánh cửa dịch chuyển xã hội khép lại, nhưng tinh hoa tầng trên vẫn tiếp tục đẩy con mình đi học để giữ vị thế gia đình. Kết quả là elite overproduction tiếp tục tăng trong khi popular immiseration cũng tiếp tục tăng. Hai căng thẳng không triệt tiêu nhau mà cùng leo lên.
- Vòng lặp thứ ba là vòng giữa “popular immiseration” và “state fiscal crisis”. Khi tầng lớp dưới bị bần cùng hóa tương đối, họ cần nhà nước hỗ trợ nhiều hơn, y tế công, giáo dục công, trợ cấp thất nghiệp. Nhưng nhà nước đang ở trạng thái tài chính yếu vì tầng tinh hoa đã giảm thuế, nên không đủ nguồn để đáp ứng nhu cầu tăng từ dưới. Một số nhà nước cố gắng vay thêm để duy trì hàng hóa công, nhưng nợ càng tăng, lãi phải trả càng cao, và tiền đó lại chảy về chính nhóm người giàu đang nắm trái phiếu. Tầng lớp dưới nhận được ít hơn thực tế so với những gì ngân sách danh nghĩa ghi, vì một phần ngày càng lớn của ngân sách bị hút vào trả lãi trái phiếu. Bần cùng hóa tương đối sâu thêm, và nhà nước lại tài chính yếu thêm.
Ba vòng lặp này không chạy độc lập mà chia sẻ các nút. Giới tinh hoa là nút chung của vòng một và vòng hai. Tầng lớp dưới là nút chung của vòng hai và vòng ba. Nhà nước là nút chung của vòng ba và vòng một. Cả ba vòng đan vào nhau thành một mạng lưới tự củng cố lớn, và đây là lý do các nhà khoa học phức hợp hay nói rằng hệ thống không thể quy giản về tổng các phần. Nếu chỉ nhìn từng vòng riêng lẻ, người ta chỉ thấy tốc độ tăng vừa phải. Khi ba vòng cùng chạy và đẩy lẫn nhau, tốc độ tăng không còn tuyến tính mà phi tuyến, phi tuyến tức là tăng theo cấp số nhân hoặc nhanh hơn. Đây là lý do các xã hội có thể tồn tại nhiều thập niên trong trạng thái tưởng như ổn định, rồi trong một khoảng thời gian rất ngắn, chỉ vài năm, toàn bộ cấu trúc chuyển sang trạng thái khác hẳn.
Từ góc nhìn này, có thể thấy rõ hơn vì sao các cách giải thích đơn chiều về cách mạng đều nhìn thiếu. Khi một nhà bình luận nói cách mạng Pháp xảy ra vì dân Pháp bị áp bức, anh ta mới nhìn thấy một cạnh của một vòng lặp và bỏ qua toàn bộ mạng lưới đang vận hành. Khi một nhà phân tích khác nói cách mạng Nga xảy ra vì giới trí thức cấp tiến dẫn dắt, anh ta nhìn thấy một nút của mạng lưới đó nhưng không thấy các vòng lặp đang nuôi nút ấy. Khi người thứ ba nói cách mạng Iran xảy ra vì nhà nước Shah quá tham nhũng, anh ta nhìn thấy triệu chứng ở một vị trí của mạng lưới nhưng không thấy các dòng chảy đang tạo ra triệu chứng ấy. Không ai trong số họ hoàn toàn sai, nhưng mỗi người đều nhìn thiếu. Cách mạng không phải sản phẩm của một căng thẳng đến ngưỡng mà là sản phẩm của một mạng lưới vòng lặp tự củng cố chạy đủ lâu và đủ mạnh.
Hệ quả thực tế của cách nhìn này rất khác với hệ quả của cách nhìn đơn chiều. Khi xem hệ thống là một tập hợp vòng lặp tự củng cố đan vào nhau, rõ ràng mọi cố gắng cải cách chỉ đụng vào một nút hoặc một cạnh đều thất bại. Tăng thuế đánh vào giới tinh hoa mà không mở thêm ghế cho những người này chỉ làm vòng lặp thứ nhất chạy chậm lại nhưng đẩy vòng lặp thứ hai chạy nhanh hơn vì giờ đây họ sẽ cạnh tranh khốc liệt hơn để giữ vị trí của con cái.
Cải thiện đời sống tầng lớp dưới qua trợ cấp mà không đụng đến cấu trúc thuế chỉ làm vòng lặp thứ ba tạm hoãn nhưng đẩy vòng lặp thứ nhất nhanh hơn vì nhà nước phải vay thêm. Mở thêm ghế cho những người muốn trở thành tầng lớp tinh hoa qua mở rộng bộ máy nhà nước mà không đụng đến nguồn thu chỉ đẩy state fiscal crisis đến nhanh hơn. Muốn hạ nhiệt cả hệ thống thì phải tác động đồng thời vào nhiều điểm để phá nhiều vòng lặp cùng lúc, hoặc phải tìm được một điểm đòn bẩy mà tư duy hệ thống gọi là “leverage point” - một vị trí mà một thay đổi nhỏ tạo ra chuyển động lớn xuyên qua nhiều vòng lặp. Cải cách lịch sử thành công thường không phải vì nhà cải cách làm nhiều thứ, mà vì họ chạm đúng vào một vài điểm đòn bẩy then chốt.
Nhưng đến đây, chúng ta mới chỉ nói về điều kiện cần. Ba căng thẳng có thể cùng tăng, các vòng lặp tự củng cố có thể đang chạy hết công suất, và xã hội vẫn chưa vỡ nếu một điều kiện nữa được đáp ứng, đó là khả năng tự cải tổ của chính giới tinh hoa đương quyền. Họ có thể nhìn thấy các vòng lặp đang quay, có thể hiểu rằng nếu không điều chỉnh thì cả tập thể sẽ sụp, nhưng điều họ nhìn thấy không tự động chuyển thành hành động cải tổ. Giữa nhận thức và hành động có một bài toán cấu trúc khác, lần này không phải về nhà nước hay về tầng lớp dưới mà về chính mối quan hệ giữa các tinh hoa với nhau. Đó là bài toán mà phần tiếp theo sẽ đi vào.
IV. Tại sao giới tinh hoa không tự cứu lấy mình
Hãy hình dung một phòng họp kín. Trong đó có một trăm người thuộc giới tinh hoa của một xã hội, không phải nhân vật hư cấu mà là người thật như chủ tịch các tập đoàn lớn, các bộ trưởng đang tại vị, vài tướng lĩnh, vài chủ ngân hàng, một số nhà báo có ảnh hưởng, một số học giả có tiếng. Họ được triệu tập vì một lý do đơn giản: Các báo cáo kinh tế và xã hội trên bàn đã rõ, nhà nước đang nợ ngập đầu, dân chúng bất mãn ở mức cao nhất trong ba thập niên, các vòng lặp tự củng cố đang chạy hết công suất, và nếu không có thay đổi thì trong mười đến mười lăm năm tới xã hội sẽ đổ vỡ. Tất cả những người trong phòng đều biết điều này. Không ai là kẻ ngu dốt cả vì họ là tầng lớp đứng đầu mà, và họ cũng không phải kẻ ác độc vì họ được đào tạo tốt và có văn hóa. Tất cả đều hiểu rằng nếu cả tập thể cùng đồng ý hy sinh một phần lợi ích ngắn hạn như nộp thêm thuế, từ bỏ một số đặc quyền, chịu một số ràng buộc mới, thì cả tập thể sẽ được cứu. Vậy họ có đồng ý không.
Câu trả lời của lịch sử là không. Và không phải vì họ không nhìn thấy, mà vì cấu trúc trò chơi họ đang chơi với nhau không cho phép họ hành động theo điều họ thấy.
Đây là chỗ lý thuyết trò chơi đưa vào một công cụ phân tích mà bất kỳ ai muốn hiểu hành vi tập thể của giới tinh hoa đều cần nắm. Bài toán này được các nhà toán học của tập đoàn RAND hình thức hóa vào đầu những năm 1950 dưới cái tên “Prisoner's Dilemma - nghịch lý người tù”.
Tên gọi này xuất phát từ một tình huống giả định, hai nghi phạm bị bắt và thẩm vấn riêng, nếu cả hai cùng im lặng thì cả hai chịu án nhẹ, nếu cả hai cùng khai thì cả hai chịu án trung bình, nếu một người khai trong khi người kia im lặng thì người khai được thả còn người im lặng chịu án nặng. Bài toán đơn giản về mặt toán học nhưng có hệ quả sâu rộng. Trong một loạt các tình huống, lựa chọn cá nhân có lợi nhất và lựa chọn tập thể có lợi nhất không trùng nhau, và không có cơ chế nào tự nhiên đảm bảo các tác nhân sẽ hợp tác.
Áp dụng vào phòng họp của giới tinh hoa, bài toán lộ ra đáp án. Với mỗi người trong phòng, bất kể những người khác có đồng ý nộp thêm thuế hay không, lựa chọn có lợi nhất cho cá nhân vẫn là không nộp. Nếu những người khác nộp và mình không nộp sẽ được hưởng lợi ích tập thể mà không phải trả giá, mình được cứu nhưng không mất tiền. Nếu những người khác không nộp thì mình nộp chỉ làm mình thiệt một mình mà không cứu được gì. Logic này không phải logic của kẻ tham lam. Nó là logic của bất kỳ ai suy nghĩ về lợi ích cá nhân một cách tỉnh táo. Và vì tất cả mọi người trong phòng đều suy luận như vậy. Kết quả tập thể là không ai nộp, dù tất cả đều biết kết quả ấy dẫn đến sụp đổ.
Nhà kinh tế chính trị Mancur Olson đưa hiện tượng này lên một tầm phân tích rộng hơn trong cuốn The Logic of Collective Action xuất bản năm 1965. Ông chỉ ra rằng trong nhiều cấu trúc trò chơi, lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể không tự động trùng nhau, và khi không có cơ chế cưỡng chế đủ mạnh, hợp tác tập thể không tự nảy sinh dù tất cả mọi người đều có lợi nếu hợp tác thành công. Olson gọi đây là “nghịch lý hành động tập thể - collective action problem”, và ông quan sát rằng nghịch lý này đặc biệt nghiêm trọng trong các nhóm lớn và không đồng nhất, nơi ảnh hưởng của một cá nhân đến kết quả tập thể là nhỏ còn chi phí cá nhân phải bỏ ra để đóng góp là lớn. Phòng họp của những tinh hoa chính là loại nhóm này. Mỗi người biết mình chỉ là một trong một trăm, đóng góp của mình có hay không cũng không quyết định kết quả, nhưng chi phí nộp thêm thuế thì rất cụ thể và tổn thất là thật.
Đây là chỗ phân tích cấu trúc đẻ ra một câu trả lời khác hẳn phân tích đạo đức cho một trong những câu hỏi mở đầu của bài, câu hỏi vì sao các ông vua ôn hòa hơn lại bị lật đổ trong khi các bạo chúa tàn bạo lại thường chết già trên ngai. Phân tích đạo đức hỏi vua có phải là người tốt không, có nhân văn không, có thiện chí không. Câu hỏi đó dẫn đến cùng kết luận quen thuộc, Louis XVI có thiện chí nên đáng lẽ phải được dân yêu, sao lại bị chém. Phân tích cấu trúc hỏi một câu khác hẳn, hệ thống có cho phép người ở vị trí vua hành động theo lợi ích tập thể của cả giai cấp cầm quyền hay không. Và khi đặt câu hỏi theo cách này, sự việc của Louis XVI có thể giải mã. Ông không độc ác hơn Louis XIV, thực ra ông nhân văn hơn rõ rệt, ông thậm chí có chương trình cải cách cụ thể khi lên ngôi. Nhưng ông bị mắc kẹt trong một bài toán điều phối mà ngay cả một vị vua có thiện chí nhất cũng không tự mình giải được.
Khi Louis XVI cố gắng cải cách thuế vào giữa những năm 1780 để chặn khủng hoảng tài chính đang đến, ông đã hai lần đề xuất đánh thuế đồng đều lên mọi giai cấp, kể cả giới quý tộc vốn được miễn thuế trong phần lớn lịch sử nước Pháp. Cả hai lần đều bị giới quý tộc chặn đứng thông qua các nghị viện địa phương nơi họ có ảnh hưởng lớn. Từng cá nhân quý tộc không ngốc và không hoàn toàn ác. Họ biết nhà nước đang suy yếu nguy hiểm. Nhưng từng cá nhân đều suy luận rằng nếu mình từ bỏ đặc quyền mà những người khác vẫn giữ đặc quyền thì mình mất vị thế tương đối trong chính giai cấp mình, và cả giai cấp cùng sụp thì là chuyện sau, còn mất vị thế tương đối là chuyện ngay bây giờ. Tập thể quý tộc Pháp, dù biết nguy cơ nhưng không vượt được nghịch lý người tù của chính mình. Đến năm 1787, Louis XVI bế tắc về tài chính đến mức phải triệu tập hội nghị 3 đẳng cấp lần đầu tiên sau 175 năm không họp. Phần còn lại là lịch sử. Cánh cửa triệu tập hội nghị này vừa mở ra đã trở thành cánh cửa cho cách mạng, vì khi tầng thứ ba, tức đại diện của dân thường, bước vào phòng họp với ý thức rằng giai cấp cầm quyền không còn nắm được tình thế, họ tự tổ chức thành Quốc hội Lập hiến và lịch sử đã diễn ra như chúng ta thấy.
Bài toán điều phối của giới tinh hoa Nga đầu thế kỷ 20 có khung tương tự. Nicholas II không phải bạo chúa, thậm chí ông do dự đến mức nhiều sử gia sau này mô tả ông là người không đủ quyết đoán cho vị trí của mình. Sau cuộc cách mạng 1905, ông đã nhượng bộ lập ra Duma, tức nghị viện, và ban hành một bộ luật cơ bản có màu sắc hiến pháp. Từ năm 1906 đến 1911 đã có một số cải cách nhỏ như cho nông dân có đất và trở thành chủ sở hữu nhỏ, làm giảm áp lực nông thôn. Nhưng các cải cách này không đi kèm với cải cách tương đương trong cấu trúc thuế và trong cách giới quý tộc địa chủ chia sẻ gánh nặng. Tại sao, không phải vì Nicholas II ác mà vì giới quý tộc địa chủ Nga, giống như giới quý tộc Pháp một thế kỷ trước, không tự đồng thuận được để hy sinh lợi ích ngắn hạn của mình, cải cách cuối cùng đóng lại. Đến 1917, khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất đẩy nhà nước Nga vào khủng hoảng tài chính nặng, không còn thời gian để giải bài toán điều phối nữa.
Để làm rõ hơn việc bài toán này khó đến đâu, lý thuyết trò chơi có một khái niệm gọi là “costly signal - tín hiệu đắt”. Đây là một hành động mà người thực hiện không thể nuốt lời dễ dàng, và chính vì không thể nuốt lời nên nó chứng tỏ cam kết thật. “Lời hứa suông - cheap talk” thì ngược lại, không có giá trị vì ai cũng có thể nói. Trong bài toán điều phối của giới cầm quyền, vấn đề lớn nhất là không có ai dám đi trước. Nếu mình đi trước nộp thuế mà những người khác không theo thì mình thiệt một mình. Không có cơ chế nào đảm bảo những người khác sẽ theo sau. Đây là lý do hầu hết các cố gắng cải tổ mức độ nhẹ đều thất bại, vì chúng có tính chất cheap talk, dễ đảo ngược, không tạo áp lực đủ mạnh lên các tinh hoa khác để họ cũng phải theo.
Ngược lại, các cải tổ thành công trong lịch sử thường mang hình thức costly signal, mạnh đến mức chính người thực hiện cũng không thể rút lui. Franklin Roosevelt năm 1933, khi nước Mỹ ở bờ vực sụp đổ kinh tế sau cuộc Đại Khủng hoảng, đã đi một nước đi mà nhiều nhà sử học sau này mô tả là cứu chủ nghĩa tư bản Mỹ khỏi chính nó. Thuế thu nhập cao nhất đánh vào giới giàu có được tăng lên đến 79 phần trăm vào năm 1936, và hệ thống an sinh xã hội được thiết lập năm 1935. Những thay đổi này không thể đảo ngược qua đêm, không thể rút lời hứa sau một chu kỳ bầu cử. Chúng là tín hiệu đắt mà giới tinh hoa Mỹ buộc phải chấp nhận vì đã có đồng thuận rằng lựa chọn không cải tổ sẽ dẫn đến đổ vỡ hoàn toàn. Otto von Bismarck ở Đức thập niên 1880 đi trước Roosevelt nửa thế kỷ với cùng tư duy. Ông thiết kế hệ thống bảo hiểm xã hội đầu tiên trên thế giới, bảo hiểm y tế năm 1883, bảo hiểm tai nạn lao động năm 1884, bảo hiểm hưu trí năm 1889. Mỗi luật này được ban hành trước tiên không phải vì Bismarck thương dân mà vì ông tính toán rằng nếu không vô hiệu hóa sức hút của phong trào xã hội chủ nghĩa đang lớn mạnh thì nền quân chủ Đức sẽ mất. Đó là cải tổ từ trên xuống để cứu trật tự đang có, không phải lòng nhân đạo ngẫu hứng.
Điểm cần nhấn mạnh ở đây là cả Roosevelt và Bismarck đều không giải bài toán nghịch lý người tù của giới tinh hoa bằng cách thuyết phục từng người một. Họ giải bằng cách thay đổi chính cấu trúc trò chơi. Roosevelt lợi dụng khủng hoảng đủ sâu để tạo đồng thuận rằng không cải tổ là đồng nghĩa với sụp đổ, và trong trạng thái đó giới tinh hoa chấp nhận thuế cao vì rủi ro của việc không chấp nhận lớn hơn rõ rệt. Bismarck dùng quyền lực nhà nước của mình để áp đặt giải pháp lên các tinh hoa, bao gồm cả những người không muốn, và biến đồng thuận thành việc đã rồi. Trong cả hai trường hợp, giải pháp không đến từ thiện chí tập thể tự nguyện mà đến từ một thay đổi cấu trúc buộc hành vi tập thể phải thay đổi theo.
Quay lại với câu hỏi mở đầu về các vị vua. Giờ đã rõ hơn vì sao các vị vua ôn hòa lại là người bị lật đổ. Bạo chúa thực sự tàn bạo thường cai trị bằng đàn áp trực tiếp và không cần đến sự đồng thuận của giới đồng cấp với mình. Họ giải bài toán điều phối bằng cách loại bỏ nó, không phải hợp tác mà là thống trị bằng sợ hãi. Các vị vua ôn hòa phụ thuộc nhiều hơn vào sự đồng thuận của giới quý tộc, giới quan liêu, giới thương nhân lớn, và chính sự phụ thuộc này đặt họ vào đúng giữa bài toán nghịch lý người tù khi cần cải tổ. Họ là những người duy nhất có thể nhìn thấy nhu cầu cải tổ vì họ không mù quáng trong ảo tưởng độc tài, nhưng họ cũng là những người bất lực nhất để thực hiện cải tổ vì họ bị trói trong lưới điều phối với các tinh hoa khác. Louis XIV không cần cải tổ vì ông tin mình là Nhà nước, và ông đúng trong chừng mực hệ thống thời ông. Louis XVI cần cải tổ vì hệ thống đã đến điểm giới hạn, nhưng ông không có quyền lực tuyệt đối của Louis XIV để phá lưới điều phối. Khoảng cách giữa nhận thức và khả năng hành động là bi kịch của chính ông, và cũng là bi kịch của nhiều vị vua ôn hòa trong giai đoạn chuyển tiếp.
Quyết định then chốt của số phận một xã hội không phải là cán cân sức mạnh giữa phe đương quyền và phe đối kháng, mà là khả năng tự cải tổ của chính phe đương quyền. Sức mạnh của “counter elite - tinh hoa đối kháng” là một biến phụ thuộc, không phải biến độc lập. Khi giới tinh hoa đương quyền giải được bài toán điều phối của mình và cải tổ kịp, không gian chính trị cho counter elite thu hẹp, và dù có bao nhiêu trí thức bất mãn thì cũng không dẫn đến cách mạng. Khi giới tinh hoa đương quyền không giải được, không gian chính trị mở ra và counter elite, vốn đã tồn tại sẵn, chỉ việc bước vào. Counter elite không tạo ra khoảng trống, họ lấp vào khoảng trống đã có sẵn do chính bất lực của giới đương quyền.
Nhưng ngay cả khi giới tinh hoa không tự cải tổ được, chúng ta vẫn còn một câu hỏi chưa trả lời từ đầu bài, câu hỏi về khoảnh khắc. Tại sao xã hội có thể trong trạng thái căng thẳng rất lâu, các vòng lặp tự củng cố có thể chạy hàng thập niên, bài toán điều phối có thể bế tắc qua nhiều thế hệ, mà cách mạng không xảy ra, rồi đột nhiên trong một khoảng thời gian ngắn, mọi thứ chuyển pha. Đó không phải câu hỏi về con người mà về chính hình thái mà sự tích lũy và sự đổ vỡ diễn ra. Đây là chỗ khoa học phức hợp đưa vào công cụ cuối cùng để bức tranh đầy đủ.
V. Cách mạng không tuyến tính, nó bùng nổ
Một xã hội có thể căng lên trong nhiều thập niên mà bề mặt vẫn yên ổn. Mọi người vẫn đi làm, vẫn đi chợ, vẫn tin rằng ngày mai giống hôm nay. Rồi trong vài tháng, đôi khi vài tuần, toàn bộ cấu trúc chuyển sang một trạng thái khác hẳn. Chế độ tồn tại hàng trăm năm bổng sụp đổ, các thiết chế bị đảo lộn, các nhóm xã hội thay nhau “lên voi xuống chó”. Đây không phải suy thoái tuyến tính từ từ mà là “chuyển pha - phase transition”, một loại hiện tượng mà hệ thống phản ứng với các thay đổi nhỏ một cách không tương ứng và đột ngột chuyển sang trạng thái chất lượng khác.
Ba căng thẳng cấu trúc tích lũy và các vòng lặp tự củng cố quay ngày càng nhanh là phần không nhìn thấy của quá trình này. Phần nhìn thấy là sự yên ổn bề mặt cho đến khi đột ngột không yên ổn nữa. Đây là lý do các cách giải thích cách mạng theo logic đường thẳng luôn không bắt đúng được hiện tượng. Nếu xã hội suy thoái từ từ rồi vỡ, lịch sử đã dễ đoán. Thực tế là nhiều xã hội căng đến mức tưởng sắp vỡ rồi không vỡ, nhiều xã hội khác nhìn yên ổn rồi làm vỡ vụn trật tự cũ, bùng nổ phong trào mới đòi thay đổi trong vài tuần.
Nhà vật lý Per Bak cuối những năm 1980 đưa ra một mô hình giúp hình dung loại hệ thống này, gọi là mô hình đống cát. Khi cát được thả dần xuống một điểm, đống cát lớn lên từ từ và phần lớn các hạt rơi xuống không gây gì. Đến khi đống cát đạt một độ dốc nhất định, nó bước vào trạng thái tới hạn tự tổ chức, nguyên văn tiếng Anh là “self-organized criticality”. Ở trạng thái đó, một hạt cát rơi có thể tạo ra các trường hợp:- Không gây vấn đề gì- Có thể gây trượt nhỏ- Có thể gây trượt lớn chuyển dịch cả một phần lớn đống cát.Ta không thể dự đoán được hạt nào sẽ kích hoạt điều gì và kích cỡ vụ trượt không tương ứng với kích cỡ hạt châm ngòi.
Các xã hội có ba căng thẳng cấu trúc tích lũy đến ngưỡng hành xử giống đống cát tới hạn. Trên bề mặt là những sự kiện thường ngày, một người bán hàng rong bị tịch thu xe, một công nhân mất việc, một thiếu nữ bị bắt vì trang phục không chịu đeo khăn, một cuộc biểu tình nhỏ. Đa số rơi xuống như hạt cát và không gây vấn đề gì. Rồi một hôm, một sự kiện cùng loại kích hoạt toàn bộ. Mohamed Bouazizi là người bán hàng rong ở Tunisia bị nhân viên thành phố tịch thu xe hàng và tát vào mặt trước mặt đám đông ngày 17 tháng 12 năm 2010. Sau đó, ông tự thiêu trước tòa nhà hành chính địa phương. Đây không phải vụ tự thiêu đầu tiên ở Tunisia, cũng không phải vụ va chạm đầu tiên giữa dân thường và cảnh sát. Nhiều vụ tương tự đã xảy ra trước đó và không dẫn đến gì lớn. Nhưng lần này, đống cát đã tới hạn. Trong bốn tuần, chế độ Ben Ali cầm quyền 23 năm sụp. Trong ba tháng, các chế độ ở Ai Cập và Libya sụp đổ theo.
Bouazizi không phải nguyên nhân của cách mạng Tunisia. Ông là hạt cát cuối cùng. Nguyên nhân là đống cát đã được xây lên suốt nhiều thập niên bởi ba căng thẳng cấu trúc. Nếu không phải Bouazizi thì sẽ là một người khác, một sự kiện khác, trong vài tuần hoặc vài tháng sau. Nhầm lẫn sự kiện châm ngòi với nguyên nhân là một trong những lỗi phổ biến nhất khi đọc lịch sử, vì sự kiện châm ngòi là cái nhìn thấy được, trong khi nguyên nhân thật sự là mạng lưới vòng lặp không nhìn thấy vận hành phía dưới.
Hiểu logic chuyển pha cũng giải được câu hỏi còn lại trong ba câu hỏi mở đầu. Tại sao cách mạng không xảy ra lúc xã hội khổ nhất mà xảy ra lúc đã bắt đầu khá lên. Ở phần trước đã có một lớp trả lời qua khái niệm relative deprivation, khoảng cách giữa kỳ vọng và thực tế phình ra khi đời sống đang cải thiện. Lớp thứ hai là logic đống cát. Khổ đau tại một thời điểm cụ thể không đồng nghĩa với hệ thống đã đến trạng thái tới hạn. Một xã hội đang đói khổ có thể chưa ở ngưỡng nếu các vòng lặp tự củng cố chưa chạy đủ lâu. Một xã hội đang khá lên có thể đã ở ngưỡng nếu các vòng lặp đã tích lũy qua nhiều thập niên.
Nạn đói Đinh Mậu 1876 đến 1879 ở Trung Quốc đến 13 triệu người nhưng nhà Thanh chưa đến tới hạn, các vòng lặp chưa chạy đủ lâu. Đến 1911, sau khi khoa cử bị bãi bỏ năm 1905 làm tầng lớp nho sĩ mất đường vào bộ máy, sau nhiều thập niên tô nhượng cho các cường quốc làm yếu tài chính nhà nước, sau nhiều thập niên nông dân mất đất, đống cát đã tới hạn. Cuộc binh biến nhỏ ở Vũ Xương ngày 10 tháng 10 năm 1911 đủ để triều đại 267 năm sụp trong bốn tháng.
Nhưng logic đống cát chưa giải thích hết. Một vụ lở cát xảy ra tự động do trọng lực, không cần ai phối hợp. Cách mạng thì cần hàng triệu người cùng hành động, và sự phối hợp này lại là bài toán riêng, khác bài toán điều phối của giới tinh hoa mà phần trước đã bàn. Đây là bài toán của đám đông.
Mỗi người dân thường khi cân nhắc có xuống đường hay không đang tính toán một nước đi rất cụ thể. Nếu hàng trăm nghìn người cùng xuống thì cảnh sát không thể đàn áp tất cả, chế độ có thể sụp, người xuống đường được hưởng kết quả. Nếu chỉ vài trăm người xuống thì họ bị bắt, bị đánh, bị tù, không thay đổi gì. Người đi đầu chịu rủi ro cao nhất. Người đi sau khi đám đông đã đủ lớn thì tương đối an toàn. Nhưng để đám đông đủ lớn thì cần có người đi đầu. Đây là bài toán hàng triệu người đang đồng thời tính toán mà không giao tiếp trực tiếp với nhau.
Vấn đề này được giải trong thực tế qua cơ chế mà nhà kinh tế Thomas Schelling đặt tên vào những năm 1960 là “focal point - điểm hội tụ”, kết hợp với một khái niệm khác của lý thuyết trò chơi là “common knowledge - tri thức chung”. Counter elite có vai trò kỹ thuật là tạo điểm hội tụ cho đám đông, một ngày biểu tình cụ thể, một quảng trường cụ thể, một khẩu hiệu thống nhất, một biểu tượng chung, một gương mặt đại diện xuất hiện công khai.
Tri thức chung không chỉ là mỗi người đều biết một thông tin, mà là mỗi người đều biết rằng những người khác cũng biết, và biết rằng những người khác biết rằng mình biết, đệ quy đến vô cùng. Chính điều này đã giải bài toán của đám đông, khi mỗi cá nhân biết rằng hàng triệu người khác cùng biết cùng một điểm hội tụ vào cùng một thời điểm, rủi ro đi đầu giảm xuống vì có cơ sở để tin rằng đám đông sẽ xuất hiện.
Một hệ quả của logic chuyển pha mà ít được nhắc đến nhưng quan trọng là chính những người ở vị trí quan sát hệ thống rõ nhất, tức giới tinh hoa đương quyền, lại thường nhìn thấy ít nhất khi hệ thống đến gần ngưỡng. Lý do là họ nhìn bề mặt, và bề mặt vẫn trông bình thường cho đến lúc chuyển pha. Shah Iran cuối những năm 1970 vẫn nhận báo cáo rằng Iran là hòn đảo ổn định trong khu vực, CIA vào tháng 8 năm 1978 vẫn đánh giá chế độ Shah không có nguy cơ trong mười năm tới, đến tháng 2 năm 1979 chế độ đã sụp. Louis XVI cuối năm 1788 vẫn tin việc triệu tập hội nghị 3 đẳng cấp sẽ giải được khủng hoảng một cách trật tự, chín tháng sau nhà tù Bastille bị tấn công. Nicholas II cuối năm 1916 vẫn tin mùa đông sẽ làm “hạ nhiệt” biểu tình ở Petrograd, chính mùa đông đó chế độ sụp. Đây không phải vì họ thiếu hiểu biết, mà vì bề mặt hệ thống ở trạng thái tới hạn không cho phép dự đoán chuyển pha.
Đến đây bức tranh đã dựng lên khá đầy đủ. Ba căng thẳng cấu trúc tích lũy, các vòng lặp tự củng cố quay, bài toán điều phối của giới tinh hoa bế tắc, hệ thống đến trạng thái tới hạn, một focal point được kích hoạt, đám đông giải được bài toán phối hợp, và chuyển pha xảy ra. Nhưng bức tranh vẫn thiếu một mảnh. Logic chuyển pha cho biết hệ thống sẽ rời trạng thái cũ, nhưng không cho biết nó đi vào trạng thái nào.
Một xã hội đến ngưỡng và vỡ có thể đi ra thành dân chủ tự do kiểu Mỹ 1776, có thể thành cách mạng cộng sản kiểu Nga 1917, có thể thành cách mạng tôn giáo kiểu Iran 1979, có thể thành phát xít kiểu Đức 1933, hoặc có thể sẽ tan rã thành mảnh nhỏ như La Mã thế kỷ 5 nếu thiếu người lãnh đạo. Cùng một loại chuyển pha, cùng một logic cấu trúc, nhưng kết cục khác nhau hoàn toàn. Tại sao, đó là câu hỏi mà phần tiếp theo sẽ đi vào.
VI. Những ngã rẽ của lịch sử
Khi một xã hội đi đến ngưỡng chuyển pha, nó không đi ra theo một con đường duy nhất.
“Cliodynamics - động lực học lịch sử” đưa ra một khung đơn giản để tổ chức các ngã rẽ này, dựa trên hai biến
- Biến thứ nhất là ba căng thẳng cấu trúc đã đến ngưỡng hay chưa
- Biến thứ hai là tinh hoa đương quyền có khả năng tự cải tổ hay không.
Hai biến này cắt nhau thành bốn ô:
- Ô thứ nhất, căng thẳng chưa đến ngưỡng, giới tinh hoa không cải tổ. Đây là ổn định biểu kiến, trạng thái của phần lớn các xã hội trong phần lớn thời gian. Không có nghĩa không có vấn đề, mà có nghĩa các vấn đề chưa tích lũy đủ để buộc phải hành động.
- Ô thứ hai, căng thẳng chưa đến ngưỡng, giới tinh hoa chủ động cải tổ. Đây là cải cách chủ động, hiếm nhưng có thật. Minh Trị Duy Tân ở Nhật Bản năm 1868 là ví dụ điển hình. Giới samurai cấp cao nhìn thấy sức ép từ phương Tây sau khi hạm đội Commodore Perry vào vịnh Edo năm 1853 và họ tự phá bỏ đặc quyền giai cấp của chính mình, từ bỏ quyền đeo kiếm, từ bỏ quyền thu thuế riêng, chuyển đất đai về cho nhà nước trung ương. Đây là trường hợp hiếm khi một giai cấp cầm quyền giải được bài toán điều phối trước khi căng thẳng đến ngưỡng, và kết quả là Nhật Bản tránh được số phận thuộc địa hóa.
- Ô thứ ba, căng thẳng đã đến ngưỡng nhưng giới tinh hoa cải tổ kịp. Đây là cải cách bị ép, như Roosevelt với New Deal và Bismarck với hệ thống bảo hiểm xã hội mà phần trước đã nói. Xã hội tránh được cách mạng nhưng trả giá bằng một số thay đổi cấu trúc sâu.
- Ô thứ tư, căng thẳng đến ngưỡng và giới tinh hoa không cải tổ. Đây là ô cách mạng. Pháp 1789, Nga 1917, Iran 1979 đều ở đây.
Khung bốn ô cho biết xã hội có rời trạng thái cũ hay không, nhưng chưa cho biết rời xong sẽ đi vào đâu. Đây là chỗ cần một khái niệm nữa của khoa học phức hợp mang tên “path dependency - phụ thuộc đường đi”. Khi hệ thống chuyển pha, vùng kết cục có thể rất rộng, và kết cục nào sẽ được hiện thực hóa phụ thuộc vào chi tiết cụ thể của lịch sử tại thời điểm tới hạn. Cấu trúc quyết định vùng khả năng, chi tiết quyết định khả năng nào hiện thực hóa.
Đây là lý do nước Nga 1917 không thành dân chủ kiểu Pháp 1789 dù cả hai đều là cách mạng lật đổ chế độ quân chủ. Năm 1917, ý thức hệ mác-xít đã có sẵn trong giới trí thức Nga suốt nửa thế kỷ, đảng Bolshevik đã xây dựng mạng lưới tổ chức ngầm qua nhiều thập niên, chiến tranh thế giới đang tàn phá đất nước, và Lenin đã chuẩn bị một chiến lược cụ thể. Khi cơ hội mở ra, chính nhóm này đứng gần cửa nhất và họ bước vào. Iran 1979 đi vào tay giới giáo sĩ Shia vì họ đã có mạng lưới xã hội sâu qua các đền thờ, có ý thức hệ tôn giáo ăn sâu trong dân chúng, có Khomeini đã xây dựng uy tín hàng chục năm trong lưu vong. Dân Iran không chọn thần quyền theo nghĩa nào đó, mà trong vùng khả năng mở ra tại thời điểm tới hạn, chính nhóm có đủ tổ chức và đủ ý thức hệ lúc đó là giáo sĩ.
Có một ô thứ năm nằm ngoài khung cần nhắc đến. Khi căng thẳng đến ngưỡng, giới tinh hoa bế tắc, nhưng đồng thời counter elite cũng không đủ mạnh để lấp khoảng trống, xã hội không biến thành cách mạng mà tan rã. La Mã thế kỷ 5 không có lực lượng nội tại nào đủ tổ chức để thay thế đế chế đang sụp, kết quả là phân mảnh thành các vương quốc man di nhỏ. Somalia từ đầu những năm 1990 là ví dụ hiện đại, chính quyền trung ương sụp mà không có counter elite đủ mạnh, đất nước phân mảnh thành các lãnh địa quân phiệt và đến nay vẫn chưa hợp nhất lại thành một nhà nước chức năng.
Đối chiếu năm ô đưa đến một kết luận mà trực giác quen thuộc khó chấp nhận. Sức mạnh của “counter elite - tinh hoa đối kháng” là biến phụ thuộc, không phải biến độc lập. Counter elite không tạo ra khoảng trống, họ chỉ lấp vào khoảng trống đã có sẵn do chính bất lực của tinh hoa đương quyền. Muốn đoán một xã hội có ổn định hay không, trực giác thông thường nhìn vào phe đối kháng, phe mạnh thì bất ổn, phe yếu thì ổn. Khung động lực học lịch sử lật logic này. Hãy nhìn vào chính giới tinh hoa đương quyền. Họ có giải được bài toán điều phối của mình không, họ có thực hiện được “costly signal - tín hiệu đắt” nào để phá lưới lợi ích ngắn hạn không, họ có cải tổ đúng nhiều “leverage point - điểm đòn bẩy” nào cùng lúc không. Phe đối kháng chỉ là tấm gương phản chiếu tình trạng của phe đương quyền, không phải biến cần theo dõi chính.
Đến đây bài viết đã xây xong toàn bộ khung phân tích cấu trúc của cách mạng. Nhưng còn một câu hỏi ngược lại cần trả lời trước khi kết. Nếu cách mạng là sản phẩm của căng thẳng tích lũy, vòng lặp tự củng cố, bài toán điều phối bế tắc, và chuyển pha khi đến ngưỡng, thì một xã hội ổn định thực sự là xã hội như thế nào.
VII. Ổn định và trạng thái động
Một xã hội ổn định không phải xã hội không có căng thẳng mà là xã hội có cơ chế liên tục xả căng thẳng trước khi nó đến ngưỡng. Ổn định không phải trạng thái tĩnh mà là trạng thái động, duy trì bằng những vòng lặp cân bằng thường ngày gần như vô hình.
Dịch chuyển xã hội hấp thụ “elite aspirants - những người kỳ vọng để trở thành tinh hoa” vào hệ thống trước khi họ trở thành “counter elite - tinh hoa đối kháng”. Thuế lũy tiến ngăn tiền tích tụ quá mức ở tầng trên. Bầu cử cho phép bất mãn biểu hiện qua lá phiếu thay vì qua đường phố. Báo chí độc lập, công đoàn, tòa án, các hội nghề nghiệp tạo hàng nghìn điểm xả nhỏ xử lý mâu thuẫn tại chỗ trước khi nó leo thang.
Đảo ngược này lật ngược một hình ảnh quen thuộc. Xã hội ồn ào đầy tranh luận, đầy biểu tình ôn hòa, đầy báo chí phê phán, đầy tòa án xử các vụ nhạy cảm, có thể thực ra đang an toàn hơn nhiều so với xã hội yên tĩnh bất thường nơi không ai phản đối thành tiếng. Sự yên tĩnh có thể là dấu hiệu các cơ chế xả đã ngừng hoạt động, và căng thẳng đang tích lũy ngầm dưới bề mặt không có lối thoát. Cách mạng không bắt đầu ở quảng trường. Nó bắt đầu ở chỗ những cơ chế xả đầu tiên ngừng hoạt động, ở chỗ một tòa án mất độc lập, một tờ báo bị đóng cửa, một công đoàn bị vô hiệu hóa, một cuộc bầu cử mất ý nghĩa. Mỗi lần một cơ chế xả tắt, một chút căng thẳng nữa mất chỗ thoát và quay về tích lũy trong cấu trúc. Đến một lúc, không còn cơ chế nào hoạt động, và chỉ cần một hạt cát cuối cùng.
VIII. Lời kết
Mình hy vong khung nhìn này giúp các bạn thấy được các vòng lặp đang vận hành, các căng thẳng đang tích lũy, các cơ chế xả đang hoạt động hay đang tắt dần, hiểu sâu hơn về lịch sử và bối cảnh xã hội mà chúng ta đang sống. Câu hỏi quan trọng cho những người cảm thấy có gì đó bất ổn trong xã hội đó là không phải xã hội có bao nhiêu người bất mãn, mà là xã hội có nghe thấy họ trước khi họ hết kiên nhẫn hay không.
Hãy nhìn xung quanh xem trong những nơi bạn sống và làm việc, ở công ty bạn, ở gia đình bạn, ở cộng đồng bạn thuộc về, căng thẳng nào đang âm thầm tích lũy mà chưa có chỗ xả, và những ai là người nên lắng nghe nhưng họ lại không nghe thấy những sóng ngầm bên dưới.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

