salomé by franz von stuck (1906)
salomé by franz von stuck (1906)
Mbiti - triết gia người Kenya từng khẳng định quan điểm về thời gian của người cổ đại về thời gian khác hẳn với quan niệm được Phương Tây hiện tại truyền bá. 
Phương Tây hiện đại tính toán thời gian là một giới hạn có sẵn mà anh ta di chuyển trong đó, là phần còn lại hoặc sắp tới của một khoảng cố định.
Nó là không gian 3 chiều: chiều quá khứ “chuyện đã xảy ra”, hiện tại “khoảnh khắc thoáng quá”, và tương lai “chuyện gì chưa tới, chuyện được kỳ vọng, và quan trọng hơn cả - chuyện đã được lên kế hoạch”.
Thái độ cởi mở hướng tới tương lai và sẽ sẵn lòng sắp xếp các ưu tiên của mình dựa theo những tuyên bố thuần túy mang tính tương lai chính là điều khiến khái niệm thời gian hiện đại của phương Tây khác biệt so với khái niệm tương tự ở người cổ đại.
Còn người châu Phi dưới nhãn quan lưu trú từ thời cổ đại suốt 6000 năm văn minh loài người nghĩ gì về thời gian? Mbiti viết trong cuốn “African Religions and Philosophy” như sau: 
“Theo những quan niệm truyền thống, thời gian là một hiện tượng hai chiều, với một quá khứ dài, một hiện tại, và gần như không có tương lai. Khái niệm tuyến tính về thời gian trong ý nghĩ của người Châu Âu, với một quá khứ không thể xác định, hiện tại và một tương lai vô tận, gần như không xuất hiện vì những sự kiện nằm trong (tương lai) đó chưa xảy ra, người ta vẫn chưa thực hiện cúng, và vì thế, không thể cấu thành thời gian. Tuy nhiên, nếu các sự kiện tương lai chắc chắn sẽ xảy ra, hoặc nếu chúng rơi vào nhịp điệu bất khả kháng của tự nhiên, thì chúng cũng chỉ đại diện cho một thời gian tiềm năng, chứ không phải thời gian thực sự. Chuyện gì đang xảy ra bây giờ chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai, nhưng một khi sự kiện đó đã xảy ra rồi, thì nó sẽ không còn ở trong tương lai nữa mà là ở hiện tại và quá khứ. Vậy nên thời gian thực sự là những gì ở hiện tại và những gì ở quá khứ. Nó di chuyển ‘ngược lại’ thay vì ‘tiến lên’: và người ta đưa ra quyết định không phải về những gì trong tương lai, và chủ yếu dựa trên những gì đã diễn ra.” 
Cụ thể hơn, Mbiti sử dụng 2 từ Swahili để mô tả thời gian - đó là Sasa và Zamani. 
Sasa, không chỉ là một thời điểm HIỆN TẠI trong thời gian, nó còn là khoảng thời gian mà một người tồn tại, trong khoảng đó người ta đưa bản thân vào quá khứ và tương lai.
Trong Sasa là khoảng thời gian chứa cả tương lai, hiện tại, và quá khứ.
Sasa là lịch sử, là thời gian mà trong đó Adam đã rời vườn địa đàng và bỏ lại sự hoàn hảo, là thời kỳ mà loài người sống trong đau khổ vì sự không hoàn hảo của anh ta.
Là thời kỳ mà không có điểm kết hay thay đổi đáng kể.
Là nhịp điệu chán chường vĩnh hằng của sinh ra, sống, chết đi rồi lại lặp lại.
Là lịch sử nhân loại với nỗi kinh hoàng của sự mệt mỏi, chuyển động và kiệt sức.
Là thời kỳ mà con người phải chịu đựng sự mất mát của sự hoàn hảo, đau khổ, sai lầm và đói khát.
Sasa là thời kỳ phàm tục.
Tuy nhiên, Sasa cũng là khoảng thời gian có ý nghĩa nhất đối với một người, bởi anh ta đã có, hoặc sẽ có hồi ức của riêng mình cho mỗi sự việc trong thời kỳ này.
Một người càng lớn, thì thời kỳ Sasa của anh ta càng dài. Một cộng đồng cũng sẽ có sasa riêng của nó, và sasa của cộng đồng sẽ cao hơn sasa của cá nhân. Nhưng với cả cộng đồng và cá nhân, thì thời gian rực rỡ nhất chính là thời HIỆN TẠI.
Bản thân sasa là một chiều thời gian hoàn thiện, với tương lai gần, một thời hiện tại sống động, và một quá khứ đã được trải nghiệm. Chúng ta có thể gọi nó là Tiểu thời đại (Micro-time/Little Time). Tiểu thời đại chỉ có ý nghĩa đối với 1 cá nhân hay một cộng đồng nếu họ tham gia hoặc trải nghiệm nó. 
Ngược lại với thời kỳ phàm tục Sasa, Zamani là thời kỳ linh thiêng.
Nó là thời kỳ vàng của quá khứ, khi con người tận hưởng những đặc quyền của mình trong Vườn Địa đàng.
Nó là sự hoàn hảo lý tưởng mà người ta mơ ước, là thời kỳ hoàng kim của tổ tiên, thời kỳ mà thời gian không có nỗi đau.
Nó là sự tận hưởng vĩnh hằng, của sự hoàn hảo và ổn định, vượt lên trên cả thời gian, là thực tại của sự lý tưởng.
Nó không phải trước hay sau, nên nó không đơn giản là quá khứ hay tương lại, mà là sự vô tận hoàn hảo của vĩnh hằng. 
Mbiti cho rằng, lịch sử của Châu Phi chảy ngược từ Sasa về Zamani. Người châu Phi tìm kiếm cách để khôi phục thời kỳ linh thiêng Zamani, thông qua những nghi lễ và việc xóa bỏ lịch sử Sasa. Họ khao khát quay trở lại Zamani bởi vì, trong sự trở lại này, họ có thể tìm thấy sự cân bằng và nghỉ ngơi. Trong Zamani, họ vượt lên cả thời gian, sống vĩnh hằng và tận hưởng cảm giác hoàn hảo và nhẹ nhõm.
Đó là lý do tại sao Mbiti đã nêu rằng đối với người châu Phi - lịch sử quay ngược trong cảm giác hoài niệm về trạng thái hoàn hảo ban đầu của con người trong một quá khứ xa xưa hoặc trong vĩnh hằng. Đối với người châu Phi, để tận hưởng sự vĩnh hằng này, họ phải khôi phục các giá trị hoặc ít nhất là cảm xúc về quá khứ lý tưởng đó thông qua các nghi lễ hoặc tập quán mà trân trọng các giá trị của quá khứ đó. Những hoạt động này bao gồm cả việc trân trọng những giá trị lý tưởng của một cộng đồng.
Trong tư duy phương Tây, Kim tự tháp là thành tựu của kỹ thuật. Nhưng theo nhãn quan Mbiti, đó là nỗ lực đưa một cá nhân thoát khỏi "Sasa" (thời gian phàm tục đầy đau khổ) để nhập vào "Zamani" (sự vĩnh hằng của các vị thần). Các Kim tự tháp không được gọi là "mộ" theo nghĩa đen, mà là Per-djet (Ngôi nhà vĩnh cửu). Người Ai Cập không xây dựng để phục vụ nhu cầu hiện tại (Sasa). Họ tính toán sai số của các khối đá cực nhỏ (chỉ vài mm) và định hướng theo các chòm sao để đảm bảo rằng khi xác xác thân tan biến, linh hồn sẽ tìm thấy lộ trình chính xác để quay về trạng thái hoàn hảo ban đầu. Đây chính là biểu hiện của việc thao túng thời gian: dùng vật chất hữu hình để chạm vào cái vô hình.
Người cổ đại hướng về một ý tưởng mà đã được hoàn thiện và đã tồn tại rồi, nơi mà họ tìm thấy sự bình yên, thay vì nhắm tới một thế giới với tương lai mịt mù, nhất là khi nó hứa hẹn những sự phát triển không ai lường trước được. Thời gian về mặt con số không có ý nghĩa nhiều đối với họ, cái quan trọng là sự kiện.
Một người mẹ mang thai sẽ đếm số tháng, điều quan trọng sẽ là thai kỳ chứ không phải tháng, những tháng đó chỉ có ý nghĩa bởi vì cái thai tồn tại mà thôi. Hay nếu một người nói, tôi sẽ dâng lễ cho Chúa lúc mặt trời lặn - thì cái việc mặt trời lặn lúc 12 giờ hay 12 rưỡi không phải vấn đề, miễn là có lễ được dâng lên. Nói cách khác theo quan điểm của người cổ đại, chúng ta có thể kiểm soát và thao túng thời gian - có thể tạo ra số lượng thời gian tùy theo nhu cầu. 
Nghe thì rất hợp lý, nhưng quan niệm lỏng lẻo về thời gian này khiến người Châu Phi hiện tại gặp khá nhiều rắc rối khi gặp mặt, làm việc với các đối tác nước ngoài. Việc xuất hiện muộn/hoàn thành công việc muộn không chỉ xuất hiện ở một quốc gia - người ta quan sát được điều này ở từ công dân các nước Liberia, Ghana, Uganda, Nigeria, Zimbabwe, hay Zambia. Người ta còn đùa ở Ghana là GMT viết tắt cho Ghana Man Time, một chương trình có thể bắt đầu lúc 8h nhưng sẽ là bình thường nếu người tham dự xuất hiện trễ 1-2 tiếng. Dần dần, người châu Phi mang tiếng xấu là những kẻ ‘mang tư duy thời gian tồi tệ’, thêm 1 điểm trừ cho những đối tác nước ngoài muốn đầu tư vào đây hoặc thuê người lao động tới từ châu Phi. 
Nhưng hãy thử nhìn nhận Ghana Man Time đây không đơn thuần là sự thiếu kỷ luật. Nó xuất phát từ một logic triết học: Sự kiện tạo ra thời gian, chứ không phải đồng hồ.
Tức là: "Chúng ta có cuộc họp lúc 8 giờ, vì vậy hành động 'họp' phải phục vụ cho mốc '8 giờ'." Nhưng logic này vô nghĩa vì: "Cuộc họp chỉ bắt đầu khi mọi người có mặt và sự kết nối được thiết lập. Trước khi mọi người đến, 'thời gian họp' đơn giản là chưa tồn tại."
Trong thế giới quan này, việc một người mẹ chăm sóc đứa trẻ đang khóc mà đến muộn cuộc họp là hành động hợp lý, vì sự kiện "chăm sóc" ở Sasa có giá trị thực tế hơn một con số trừu tượng trên mặt đồng hồ.
Với sự toàn cầu hóa, thế hệ trẻ châu Phi đang sống trong một "thời gian lai tạp". Họ vẫn giữ sự linh hoạt của Sasa nhưng buộc phải vận hành theo nhịp điệu tuyến tính của kinh tế toàn cầu. Hiểu về quan niệm này của người cổ đại và cộng đồng Châu Phi không phải để chúng ta biện minh cho việc đi trễ, mà để hiểu rằng "nhịp điệu" của mỗi nền văn hóa là khác nhau. Thay vì nhìn vào một người đi muộn và coi đó là sự lười biếng, ta có thể thấy ở đó một con người đang ưu tiên cho những kết nối nhân văn hiện hữu hơn là những con số vô hồn.