Viết bài: Trần Phan - Nats Blackfyre
Hiệu đính: Hải Stark
Một bài viết từ thời tám hoánh bên Spiderum. Với mục đích tổng hợp thông tin, mong mọi người đọc và chia sẻ.

Khái quát chung về văn minh Hy Lạp 

Quanh vùng đồng bằng Thessaly rộng lớn và màu mỡ ở phía bắc cùng những đồng bằng Attica, Bessi ở miền trung, con người đã định cư nơi đây và xây dựng một trong những nền văn minh lâu đời nhất thế giới - Hy Lạp. Không như những nền văn minh khác, địa hình Hy Lạp bị chia cắt rất mạnh bởi đồi núi. Vì vậy mà bên trong Hy Lạp tồn tại những vùng văn hóa nhỏ hơn, mỗi vùng lại có một đặc trưng riêng; từ ngôn ngữ, văn hóa đến bản sắc. Dù vậy, dân Hy Lạp vẫn nhận thức được sự tương đồng giữa những vùng và thành bang với nhau. Tuy vậy, sự phân chia vùng miền và liên kết rời rạc giữa nhiều vùng này đã dẫn đến việc Hy Lạp chưa bao giờ được thống nhất bởi một chính thể bản địa. Và trong suốt hàng ngàn năm, các thế lực bản địa người Hy Lạp hầu như luôn có xung đột với nhau, dẫn đến các sự kiện quan trọng trong lịch sử Hy Lạp.
Với sự phát triển của làng mạc, người Hy Lạp dần gây dựng lên những thành thị quy mô lớn. Những đô thành của họ đều ở bên trong thung lũng hoặc đồng bằng và trở thành những trung tâm quyền lực.
Về mặt địa lý thì vùng bán đảo cực nam Peloponnese của Hy Lạp được chia thành bảy vùng lớn: Laconia, Messenia, Elis, Archaia, Korinthia, Argolis và Arcadia. Miền trung Hy Lạp được chia thành tám vùng: Aetolia, Acarnarnia, Locris, Doris và Phorcris cùng với Boeotia, Attica và Megaeries. Ở miền bắc, ta có Thessaly và Epirus. Xa hơn nữa chúng ta có Macedonia, một vùng đất rộng lớn chia thành hai miền là Hạ Macedonia và Thượng Macedonia, cả hai đều mang đậm ảnh hưởng của văn hóa Hy lạp. Tuy nhiên, phía bắc Macedonia lại là lãnh địa của những cư dân khác tiếng, và điều này dẫn đến những cuộc xung đột thường xuyên giữa nền văn hóa Hy Lạp và những cư dân du mục. Họ sử dụng từ “barbaros” để miêu tả những người dân không nói tiếng Hy Lạp, và từ này trở thành nguyên mẫu cho từ barbarian trong tiếng Anh sau này.
Những vùng của bán đảo Peloponnese
Những vùng của bán đảo Peloponnese
Địa hình đồi núi khiến giao thông đường bộ khó khăn dẫn đến việc người Hy Lạp ưa chuộng sử dụng thuyền làm phương tiện giao thông và liên lạc chính. Trong vùng biển Hy Lạp, có hằng hà vô số những hòn đảo lớn nhỏ, dao động từ 1000 đến 6000 hòn đảo, nhưng chỉ có 200 trong số đó có người sinh sống. Nổi tiếng nhất trong số đó có lẽ là Crete, nơi xuất xứ của nền văn minh Minoa cổ đại. Những đảo ở phía tây như Corse cũng trở thành chất keo kết dính giữa Hy Lạp với miền nam bán đảo Ý và hòn đảo Sicily giàu có. Vì vậy, mặc dù thuyền bè vẫn chưa hiện đại nhưng người Hy Lạp từ xưa đã có thể dễ dàng vượt biển đến những miền đất xa lạ.
Địa lý và cảnh quan Hy Lạp tương đối đa dạng, khí hậu tươi tốt, ít mưa lẫn tuyết. Vào đông và xuân, khi những cơn gió biển thổi vào đất liền, mưa sẽ ập đến, thi thoảng cùng với đó là những cơn bão. Đất đai Hy Lạp cũng có nhiều khoáng sản để khai thác. Dù địa hình nhiều đồi núi, nhưng nông nghiệp của họ vẫn phát triển qua các hoạt động chăn nuôi, trồng trọt - nổi tiếng nhất có lẽ là những cây ô liu, thứ mà về sau đã trở thành biểu tượng của toàn Hy Lạp. Bên cạnh đó, họ cũng trồng thêm nho và các loại ngũ cốc. Thủ công nghiệp của họ cũng phát triển mạnh mẽ, họ biết đúc đồng, rèn sắt và chế tác kim loại. Một số nghề nghiệp phổ biến khác có thể kể đến dệt vải, làm gốm, chế tác trang sức và chế tạo gốm sứ.
Với những thiếu sót về đất đai, chìa khóa khiến người Hy Lạp phát triển mạnh mẽ đến thế chính là thương mại. Trong giai đoạn cận cuối của Thời Đại Đồng Thau, người Hy Lạp đã bước vào một trạng thái của tiền toàn cầu hóa, trở thành một trong năm nền văn minh mạnh nhất quanh Địa Trung Hải thời bấy giờ. Họ thiết lập một loạt các thuộc địa từ Tây Ban Nha đến Biển Đen. Bên cạnh việc sử dụng các con thuyền để đánh bắt xa bờ, họ còn xuất khẩu rượu, dầu và gốm sứ; đồng thời nhập khẩu lương thực, ngũ cốc.
Những thế lực lớn của thời đại Đồng Thau
Những thế lực lớn của thời đại Đồng Thau

Đời sống cư dân Hy Lạp 

Nét đặc trưng của xã hội Hy Lạp cổ đại là sự chia phân chia giữa người tự do và nô lệ, vai trò khác nhau giữa nam giới và nữ giới, sự ít phân biệt địa vị xã hôi dựa trên gốc gác ra đời, và sự quan trọng của tôn giáo. Chỉ có những người tự do mới có quyền làm cư dân thành phố và được bảo vệ đầy đủ bởi luật pháp trong một thành bang. Tuy vậy, không có quá nhiều khác biệt về địa vị giữa những người tự do với nhau, vì cấu trúc xã hội trong phần lớn các thành bang Hy Lạp là tương đối bình đẳng và ít ai thực sự có đặc quyền nổi trội.
Ở Hy Lạp, nô lệ hoàn toàn không có quyền lực hay địa vị. Họ có quyền có gia đình và sở hữu tài sản, nhưng họ không được phép có quyền lực chính trị. Chế độ nô lệ rất phát triển ở Hy Lạp, với con số ước lượng khoảng ⅓ dân số Hy Lạp, Tuy vậy, khác với thực dân thời cận đại phân biệt nô lệ dựa trên chủng tộc, nô lệ của Hy Lạp đến từ những tù bình chiến tranh, những người bị bắt cóc, con nợ lẫn những người bị bán bởi chính gia đình mình. Xét theo quan điểm chủng tộc, nếu nô lệ thời cận đại thường bị giới hạn trong một đến hai chủng tộc khác với chủng tộc của chủ nô thì nô lệ Hy Lạp cổ đại có thể từ dân Hy Lạp đến dân ngoại quốc. Những nô lệ của Hy Lạp cổ đại cũng có thể hưởng một cuộc sống tốt hơn, tuy vậy điều này tùy thuộc vào ý thích của chủ nô. 
Một trang phục của phụ nữ Hy Lạp xưa
Một trang phục của phụ nữ Hy Lạp xưa
Khi nhắc đến trang phục của cư dân Hy Lạp, chúng ta vẫn thường nhớ đến những bộ quần áo vải dài trắng. Trên thực tế, loại áo này được gọi là toga và phải mãi đến thời La Mã chúng mới xuất hiện. Thực tế mà nói, theo các mô tả từ các bức tranh nghệ thuật, người Hy Lạp thường mặc chiton, một loại áo dài tunic thắt ở vai, được cả nam lẫn nữ mặc. Những kiểu trang phục như vậy được làm tử vải lanh hoặc vải len, với quần áo được cố định bằng móc cài, ghim trang trí cùng thắt lưng. Áo của nam giới chỉ dài đến đầu gối, còn đối với phụ nữ chúng dài đến mắt cá chân. Một loại trang phục đáng chú ý khác cũng là Pelops, một tấm vải dài hình chữ nhật với mép trên được gấp xuống bằng ½ ban đầu, phủ bên dưới eo hoặc bên trên mắt cá chân. Để di chuyển, người Hy Lạp thường sử dụng dép sandal. Trong các lễ hội, họ sẽ mặc thêm nhẫn, vòng được làm từ vàng, bạc hoặc đá quý, trong khi phụ nữ có thể đeo thêm periscelis, một loại lắc chân dành cho cả thường dân lẫn quý tộc. 
Luật pháp của dân Hy Lạp thường quy định rằng những người đàn ông sinh ra tại một thành bang và là công dân hợp pháp, sở hữu đất đai mới có thể được luật pháp bảo trợ hoàn toàn. Trong khi đó, phụ nữ thường tham gia công việc quán xuyến trong gia đình, quản lý nhà cửa và giáo dưỡng con cái.
Công việc giáo dục cũng là một điều được chú trọng trong văn hóa Hy Lạp cổ. Trong rất nhiều năm, giáo dục mang tính tư nhân - tự phát; trong số đó các nhà nghèo sẽ dạy dỗ con cái của họ trong khi những gia đình giàu có hơn có thể sẽ thuê thầy giáo về dạy. Trong thời kỳ Hy Lạp Hóa diễn ra sau cái chết của Alexander I năm 454 TCN,  người Hy Lạp đã bắt đầu xây dựng các trường tư. Các bé nam thường được dạy văn, cách đọc, viết và trích dẫn văn học - thơ ca cũng như sử dụng âm nhạc. Chúng cũng thường dạy cách chiến đấu, với trường hợp tiêu biểu nhất là thành bang Sparta cho trẻ con học quân sự từ năm 7 tuổi. Các bé gái cũng được dạy cách đọc và viết, cũng như toán học. Tuy nhiên khác với nam giới, nữ giới không nhận được giáo dục sau thời thơ ấu. Người Hy Lạp cũng đào tạo một số nô lệ chuyên về giáo dục gọi là paidagogos, có trách nhiệm trông và giáo dục trẻ con.
Khi các ngôi trường dần được hình thành, các thầy giáo Hy Lạp thường mở các lớp trong phòng học tư. Một số trường tư nổi bật nhất của Hy Lạp có thể kể đến là Học viện Plato được triết gia Plato thành lập; hay Lyceum được triết gia Aristotle thành lập. Tại đó, bên cạnh tham gia rèn luyện trí thức, các học sinh cũng có thể tham gia các hoạt động thể thao như đấu vật, chạy nhảy, ném đĩa và giao. Đến tuổi 18, quá trình học mới chấm dứt mà thay vào đó các học sinh sẽ tham gia quân đội trong khoảng từ một đến hai năm. Sau đó, họ có thể tiếp tục phục vụ trong quân đội hoặc có thể tham gia vào những công việc chung của xã hội, một số giàu có thì tiến vào sâu trong bộ máy chính trị. Vào buổi tối, một số đàn ông có thể sẽ tổ chức những buổi tiệc tùng, rượu vang trong nhà và tham gia bàn luận các vấn đề với nhau. 
Công việc giáo dục, với tầm quan trọng của nó, vẫn thường được coi là điều không thể thiếu cho sự phát triển trí tuệ và được coi như công việc thể dục tinh thần. Thầy của Plato, triết gia Socrates - người mà sau này đã có một ảnh hưởng khổng lồ đối với lịch sử thế giới, quan niệm rằng với những cuộc tranh luận trong toán học là để mở mang cho giao tiếp trong đời sống chính trị, cũng như tin rằng con người không nên đọc vì hủy hoại trí nhớ. Nhưng đối với Plato, toán học cùng việc tranh luận nên được sử dụng trọng việc nghiên cứu triết học và là nền tảng để tu rèn luyện về chính trị. 

Chiến trận Hy Lạp 

Người Hy Lạp khi đánh trận thường rất ưa thích đội hình chiến thuật Phalanx. Bộ binh được trang bị đầy đủ sẽ tạo thành một đội hình cầm khiên đứng sát nhau, chĩa mũi giáo về phía trước. Các trận chiến giữa các thành bang Hy Lạp đều được quyết định qua cuộc chiến giữa các phalanx, thứ mà về sau vua Philip II và con trai ông là Alexander Đại Đế đã cải tiến bằng việc sử dụng những ngọn giáo gọi là sarissa, dài từ 5 – 7m, gấp đôi với những ngọn giáo Hy Lạp thông thường. Phalanx vừa có tác dụng khiến kẻ thù hoang mang sợ hãi lại cản được sức mạnh từ kỵ binh, vốn đã bị hạn chế từ địa hình không bằng phẳng của Hy Lạp. 
Hạn chế tương đối lớn là các thành bang Hy Lạp thường bị áp lực về hậu cần. Do đó, các cuộc chiến thường chỉ được quyết định qua một trận đánh duy nhất. Điều này chỉ thay đổi sau cuộc chiến Hy Lạp - Ba Tư, với sự liên minh của nhiều thành bang. Từ đó trở đi, trọng tâm chiến tranh dần chuyển sang hải chiến và sử dụng chiến lược tiêu hao - phong tỏa.
Hải quân cũng là một lực lượng quan trọng với các thành bang Hy Lạp. Lực lượng này có thể trở thành một dạng áp lực về mặt chính trị khi 1 thành bang có thể vừa dễ dàng tiến công lẫn phòng thủ. Người Hy Lạp rất ưa thích sử dụng chiến thuật dùng thuyền húc kẻ thù. Một chiến thuật hải quân được ưa chuộng là c , tức là sử dụng thuyền để xâm nhập đội hình chiến đấu của đối phương qua các tàu ga-lê, sau đó sẽ quay ngược lại để tấn công vào các vị trí yếu của quân địch. Bên cạnh đó họ cũng áp dụng chiến thuật khác tên periplous, là lợi dụng ưu thế về tốc độ để vờn quanh đội hình kẻ thù rồi sau đó chớp lấy thời cơ, dụ kẻ thù để đâm vào mục tiêu.
Trong lịch sử các thành bang Hy Lạp, Sparta có thể coi là thành phố khét tiếng nhất. Lý do khiến cho thành bang này nổi bật đến như vậy là bởi sự kỷ luật đáng kinh ngạc của những người lính Sparta cũng như chiến thuật sử dụng tường khiên của họ. Người Sparta rất coi trọng tấm khiên - họ sẽ bị nhìn nhận là những kẻ hèn nát và đào ngũ nếu như trở về mà không có tấm khiên. 
Kỵ binh Hy Lạp cổ đại
Kỵ binh Hy Lạp cổ đại
Một thành bang nổi tiếng khác là Athens thì lại chỉ có chế độ nghĩa vụ quân sự kéo dài đến trong 2 năm. Do đó, nền quân sự của Acthens chỉ tập trung vào xây dựng sức mạnh thủy quân, cùng với đó là các đạo quân từ chư hầu và thuộc địa. Một đặc điểm khác của các thành bang Hy Lạp là họ không có duy trì lực lượng kỵ binh mạnh. Kỵ binh của người Hy Lạp được biết đến với tên gọi Hippeus. Ví dụ như thành bang Athens duy trì lực lượng kỵ binh chỉ độ 200 - 300 người. Chỉ đến khi hứng chịu một thất bại lớn trước quân Thessaly, Athens mới bắt đầu xây dựng một lực lượng kỵ binh cơ động hơn, với 1200 quân thường trực; trong đó có 200 người được huấn luyện để biết bắn cung. Đến giai đoạn sau này, người Hy Lạp mới bắt đầu triển khai chiến thuật kỵ binh xung phong, trong đó các cánh kỵ binh cùng lúc tiến lên để càn quét triệt để quân địch, thay vì sử dụng chiến xa rủi ro hơn nhiều trước đó. 

Văn hóa Hy Lạp 

Trong các loại hình nghệ thuật ở Hy lạp cổ đại, thứ nổi tiếng nhất có lẽ là điêu khắc và kiến trúc. Điều kiện thương mại đã giúp người Hy Lạp giao thoa với văn hóa phương Đông, thậm chí đến cả Ấn Độ để tạo thành nghệ thuật Hy Lạp - Ấn Độ với màu sắc tươi sáng trên nền nét đá cẩm thạch trắng tinh khiết. Phương thức tạo hình của người Hy Lạp đề cao tính tự nhiên nhưng được lý tưởng hóa, tập trung vào việc diễn giải các tác phẩm theo một cách sinh động và bày tỏ tư tưởng sâu sắc. Bố cục được thể hiện một cách hài hòa với nhiều khung cảnh được miêu tả chi tiết. Kiến trúc Hy Lạp cổ nổi tiếng với các đền đài cùng các nhà hát không có mái vòm, cả hai đều là những công trình quy mô lớn. Ngoài các đền thờ, một công trình đặc biệt khác của Hy Lạp là stoa, một dãy cột có mái dùng làm nơi họp chợ và tranh luận. 
Những di sản về kiến trúc của Hy Lạp về sau đã được biết đến như hình tượng nghệ thuật cổ điển, trở thành những hình mẫu ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà tư tưởng - nghệ sĩ, mà cũng dẫn đến một phong trào nghệ thuật lớn diễn ra hàng ngàn năm sau ở Châu Âu là thời kỳ Phục Hưng. 
Tôn giao của Hy Lạp cổ là tôn giáo đa thần. Các hoạt động tôn giáo đều mang tính chất địa phương, với các tư tế thường đóng vai trò quản lý làng hoặc thậm chí là thành phố.   Vào những dịp đặc biệt, người Hy Lạp sẽ tổ chức các buổi lễ lớn để vinh danh vị thần tối cao nhất thành bang của họ
Bên cạnh các tư tế, thì những người có vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng của người Hy Lạp cổ chính là các nhà tiên tri. Trong số các nhà tiên tri nổi danh của Hy Lạp cổ đại, nổi tiếng nhất có lẽ là Oracle - nữ tiên tri đền Delphi, nữ tư tế của thần Apollo.
Tất cả nữ tư tế của thành Delphi khi muốn được chọn đều phải là người gốc thành Delphi và phải được những gia đình cao quý và được kính trọng nhất thành phố chọn. Một nữ tư tế khi được chọn sẽ phải tham gia vào các hoạt động thiện nguyện và tôn giáo cả đời. Ban đầu, những nữ tư tế có thể là những nàng trinh nữ trẻ, nhưng sau sự kiện một nữ tư tế bị hãm hiếp, người dân Delphi đã quyết định nâng tuổi trở thành Oracle lên thành hơn 50 tuổi mới được gia nhập. Tuy nhiên, Oracle vẫn sẽ mặc áo trinh nữ để vinh danh những người tiền nhiệm.
Những Oracle chỉ đưa lời khuyên 1 lần mỗi tháng, vào ngày thứ 7 trong tháng đó - bởi ngày ấy trùng với sinh nhật của Apollo, vị thần tiên tri. Họ cũng chỉ hoạt động trong vòng 9 tháng, bởi trong mùa đông thần Apollo đang đi về phía bắc. Mỗi khi một buổi tiên tri bắt đầu, các nữ tư tế cùng những khách mời sẽ phải tắm rửa và thanh lọc bản thân. Người Hy Lạp đến từ các thành phố quyền lực sẽ được ưu tiên trước. Nhờ có các Oracle, thành Delphi giờ trở nên giàu có và nổi danh toàn đất Hy Lạp.
Đền Delphi ở Hy Lạp ngày nay
Đền Delphi ở Hy Lạp ngày nay
Văn học và thơ ca của Hy Lạp chiếm một phần quan trọng trong kho tàng thế giới. Người Hy Lạp có một bảng chữ cái đầy đủ và hoàn thiện gồm 24 ký tự, vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Các tập sử thi nổi tiếng nhất nền văn học Hy Lạp cổ đại chắc chắn là hai trường ca Iliad và Odyssey, được viết dựa trên truyền thuyết dân gian về thành Troy. Nhà thơ Hesiod sống ở thế kỷ 8 TCN cũng đã viết lên hai tác phẩm lớn mang tên Thần Phả - kể về các thế hệ thánh thần và anh hùng Hy Lạp, trong khi tác phẩm Công việc và tháng ngày lại mang thông điệp giản dị hơn nhiều khi liên quan đến lao động và đời sống. Bên cạnh sử thi, một thể thơ khác cũng rất nổi tiếng là thơ trữ tình, với các nhân vật nổi bật như Solon, Archilochus, Theonid, Tirter, Pinda Anacreon. Với văn xuôi, không thể không nhắc đến chuyện ngụ ngôn Aesop. 
Kịch là loại hình phổ biến trong nền văn học Hy Lạp cổ đại, đặc biệt là các vở bi kịch Hy Lạp đã đặt nền tảng chung cho ngành kịch của thế giới. Từ kịch, những người Hy Lạp đã xây dựng những nhà hát lớn hơn 4 vạn chỗ ngồi ở Megapolis, điều này cho ta thấy tầm ảnh hưởng của loại hình nghệ thuật này trong đời sống Hy Lạp cổ đại. Nghệ thuật kịch cũng đạt đến trình độ sâu sắc trong cách diễn bày và thể hiện tâm lý nhân vật. Tuy nhiên, đáng tiếc rằng rất nhiều vở kịch đã bị thất lạc. Ví dụ như nhà viết kịch Sophocles viết đến 123 vở kịch thì trải qua 2000 năm lịch sử, chỉ còn có 7 vở còn sót lại - trong đó nổi tiếng nhất là vở bi kịch về Oedipus có tầm ảnh hưởng khổng lồ lên nhiều loại hình nghệ thuật về sau.
Oedipus, vị vua nổi tiếng của thần thoại và kịch nghệ Hy Lạp
Oedipus, vị vua nổi tiếng của thần thoại và kịch nghệ Hy Lạp
Cùng với Sophocles, còn có một nhà viết kịch nổi tiếng nữa tên là Euripides. Tương tự như Sophocles, Euripides cũng đã viết nhiều vở kịch nhưng phần lớn đã thất truyền. Các tác phẩm của ông đều lấy cảm hứng từ các đề tài trong thần thoại và tâp trung diễn giải hình tượng anh hùng phi thường thành những con người bình thường trong những tình huống phi thường. Những vở kịch của ông cũng thể hiện lập trường nghi ngờ chư thần và diễn giải lại nhiều các sự kiện trong thần thoại. 
Một điểm nổi bật trong văn hóa Hy Lạp cổ đại chính là Thần thoại Hy Lạp - hệ thần thoại lớn và nổi tiếng bậc nhất trên thế giới. Câu chuyện của thần thoại Hy Lạp tập trung vào 12 vị thần đỉnh Olympus và các anh hùng dưới trần gian - có thể là á thần hoặc người phàm. 
Người Hy Lạp cổ đại rất yêu thích thần thoại. Họ tin những câu chuyện này là lịch sử thật của dân tộc mình, đồng thời dùng chúng để giải thích nguồn gốc thế giới và các hiện tượng thiên nhiên.
Những câu chuyện thần thoại thường mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Nhiều truyện cảnh báo con người về hậu quả của thói kiêu ngạo. Các câu chuyện cũng thường xoay quanh mối quan hệ cha con giữa các thế hệ, hay cách con người đối mặt với số phận đã được định đoạt. Rất nhiều trong số ấy đề cập đến con người cùng hình tượng các anh hùng. Từ “anh hùng” trong tiếng Anh hiện đại là Hero, thực chất cũng bắt nguồn từ từ gốc Hy Lạp heros, nghĩa là kẻ bảo vệ hoặc người bảo trợ.

Những thành tựu khoa học kĩ thuật

Trước khi có chữ viết, việc ghi nhớ lịch sử được thực hiện thông qua các thần thoại cùng các câu chuyện sử thi. Từ khi có chữ viết, lịch sử của Hy lạp cũng đã được ghi chép lại, như Herodotus - một nhà sử học lớn thời Hy Lạp đã đi nhiều nước trên thế giới để viết về các tài liệu chiến tranh cũng như các nước trên thế giới thời đấy. Được công nhận là cha đẻ của ngành sử học, Herodotus cũng là một trong những trường hợp viết sử thiếu công bằng đầu tiên trong lịch sử nhân loại khi ông viết mang hướng thiên vị dân Hy Lạp. Một nhà sử gia khác cũng có thể kể đến Thucydides, tác giả của bộ sách “Lịch sử chiến tranh Peloponnese” - một tài liệu ghi chép chi tiết cuộc chiến kéo dài 27 năm giữa Sparta và Athens. Khác với Herodotus, Thucydides là một quân nhân từng tham gia chiến tranh, lại chú trọng đến sự thực tế và viết sử để thế hệ mai sau có quan niệm rõ ràng hơn về quá khứ. Nhờ thế mà Thucydides không chỉ được coi là cha đẻ của tư tưởng khoa học lịch sử mà còn là cha đẻ của tư tưởng hiện thực chính trị. 
Nền khoa học tự nhiên của Hy Lạp có nền tảng từ triết học, rồi sau đó tách ra và trở thành một nhánh riêng. Thales, một triết gia gốc Hy Lạp đã tiếp nhận các di sản của Ai Cập và thành quốc Babylon để phát triển lý thuyết của bản thân. Ông đã tính toán được hiện thực nhật thực trong khi Pythagore, một triết gia khác tin vào sự hài hòa của những con số đã tìm ra được định lý về những tam giác vuông. 
Đến thời điểm thế kỷ 3 TCN, thành phố Alexandria được lập ra từ thời Alexander Đại Đế đã trở thành trung tâm văn hóa Hy Lạp. Tại đấy, nhà toán học Euclides đã đề ra thuyết vô hạn và tổng kết những kiến thức toán học, trong đó có tiên đề Euclides nổi tiếng. Một người khác cũng đáng đề cập là Archimedes, người đã đặt cơ sở lý luận cho ngành thủy lực học và lực học, cũng như các nguyên lí cơ bản về đòn bẩy, sức bẩy của nước, cũng như phương thức vũ khí để bảo vệ thành trì.
Y học cũng tương đối phát triển với nhân vật nổi danh nhất là Hippocrates, người đã đạt được nhiều thành tựu từ việc quan sát lâm sàng, hệ thống hóa bệnh tật cùng với đó là lý thuyết về dịch thể cũng như đạo đức trong nghề nghiệp. Những nghiên cứu của ông đã trở thành nền tảng để sáng tạo ra các chuyên khoa hiện đại như thần kinh học, phẫn thuật, y học cấp tính cũng như chỉnh hình.

Triết học Hy Lạp cổ đại 

Sẽ thật thiếu sót khi nhắc đến nền văn minh Hy Lạp mà không nhắc đến hệ thống tư tưởng khổng lồ của nó. Các hệ tư tưởng duy tâm, duy vật của Hy Lạp có ảnh hưởng khổng lồ đến lịch sử tư tưởng phương tây nói riêng và thế giới nói chung suốt hàng ngàn năm sau. 
Với nền kinh tế phát triển cùng sự ra đời của thể chế dân chủ, triết học tự nhiên của người Hy Lạp phát triển rực rỡ. Triết học ra đời từ bản chất muốn giải thích về thế giới quan tự nhiên đã manh nha nảy nở trong thời kỳ này, về sau được gọi là thời kỳ triết học tiền Socrates. Trong thời kỳ này, các nhà tư tưởng đầu tiên ở Miletus đã đề ra cách giải thích về một chất nguyên thủy duy nhất là nước đã kiến tạo nên toàn bộ vũ trụ, cũng như lập luận rằng nước là nguồn gốc của mọi vật. Một số lại đề ra nguyên tố Apeiron - một nguyên tố siêu hình vô định có mặt ở khắp mọi nơi trong vũ trụ, và tuyên bố tất cả các chất tồn tại trên thế giới này đều là dạng biến dạng của nguyên chất này. 
Một người khác là Democritus thì lại đề ra lý thuyết vạn vật được cấu thành từ những hạt nhỏ không thể chia tách được nữa - chính là nguyên tử. Heraclitus, một triết gia khác lại có lập luận lí thú hơn nhiều. Bản thân ông nói “không thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” - do vạn vật thế giới này luôn thay đổi, vậy nên toàn bộ vũ trụ cũng là một dòng hiện tượng thay đổi, dòng sông trước đấy ta đang tắm cũng không còn như xưa nữa. Tương tự như những nhà tư tưởng ở Miletus, Heraclitus cũng tin vào một vật chất cấu thành lên mọi thứ. Thế nhưng thay vì nước, Heraclitus chọn lửa bởi theo ông, sự thống nhất của thế giới nằm trong sự biến đổi không ngừng của nó. 
Mặc dù đã có rất nhiều tư tưởng phát sinh trong thời kỳ này, nhưng triết học phương tây chỉ đạt đến một thời kỳ mới với sự xuất hiện của Socrates - cha đẻ của triết học. Là một quân nhân đã từng tham gia trong cuộc chiến Peloponnese, Socrates đã sử dụng khả năng lý luận của bản thân để chỉ ra những lỗ hổng trong quan điểm của từng người và sẵn sàng chất vấn mọi thứ. Ông truyền cảm hứng cho những chàng trai Athens để dạy họ cách nghi ngờ và sáng tạo; đồng thời khuyến khích tranh luận và trau dồi tri thức. Mỉa mai thay, Socrates cuối cùng bị xử tử bởi chính các nhà cầm quyền Athens. 
Sau cái chết của Socrates, học trò của ông là Plato đã đứng lên biện hộ cho Socrates. Giống như thầy mình, Plato đã trở thành một trong những triết gia có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử nhân loại, định hình cả triết học phương tây. Các tác phẩm của ông bao gồm những đoạn hội thoại vấn đáp giữa nhiều người, trong đó nổi tiếng nhất có lẽ là Cộng Hòa, một tác phẩm triết học bàn sâu hơn về bản chất của công bình cũng như thế nào là một nhà nước lý tưởng. 
Aristotle, học trò của Plato là người đã đặt lên nền móng cho vật lý, sinh học, siêu hình, logic, tu từ học, chính trị học cũng như phân tích nghệ thuật. Trường phái của Aristotle vẫn thường được gọi là trường phái tiêu dao vì bản thân ông thường dạy học trò khi đi dạo. Trong mảng nghệ thuật, Aristotle là người đầu tiên đề cập đến sự khác biệt giữa tính logic trong câu chuyện cùng sự gần gũi giữa thực tế của một tác phẩm. Trong mảng chính trị, tác phẩm chính trị luận của Aristotle để lại dấu ấn lớn trong chính trị khi bắt đầu phân ra các loại chính quyền khác nhau. Xét trên phương diện luân lý luận, tác phẩm Luân Lý Nicomachus của trở thành bước đà để thần luận Châu Âu cùng triết học hiện đại phát triển.
Bản thân Aristotle vẫn thường được coi là người đã sáng lập ra logic học cùng phép biện chứng và quan điểm của ông cũng đã trở thành thế giới quan của người dân Châu Âu thời Trung Cổ, đến mức khi đề cập đến cái tên của Aristotle, người ta vẫn thường gọi ông bằng hai chữ “Triết gia”. Qua thời gian, vào thời đại khai sáng, các quan điểm khoa học của Aristoteles dần bị coi là lỗi thời. Tuy vậy, tầm ảnh hưởng của ông với ngành logic, đạo đức, luân lý và siêu hình vẫn không thể chối cãi, và cùng với Plato và Socrates, cả ba thế hệ thầy trò vẫn luôn được coi là những triết gia có ảnh hưởng bậc nhất mọi thời đại.
Aristotle the Philosopher
Aristotle the Philosopher

Lịch sử Hy Lạp cổ đại

Có thể coi lịch sử nền văn minh Hy Lạp bắt đầu từ thiên niên kỷ 3 TCN, với những đợt di cư của các bộ lạc từ phương bắc xuống. Quãng thời gian này kéo dài 1000 năm và đã hình thành các khu vực của từng tộc người. Trong quãng thời gian này, người Eolien, người lonian, người Dorian... là những tộc người chủ yếu chiếm cứ lục địa và các đảo của Hy Lạp.
Từ năm 1750 đến năm 1050 TCN, bán đảo Peloponnese cùng cả Hy Lạp nằm dưới quyền thống trị của nền văn minh Mycenae, với trung tâm là thành Mycenae trên bán đảo cùng hòn đảo lớn Crete. Có vị trí chiến lược và sở hữu nhiều vùng đất đai màu mỡ, Mycenae dần dần phát triển và thu hút đầu tư cùng sự chú ý từ các cộng đồng lân cận. Đây là một nền văn minh có nhiều giai cấp và là một xã hội chiếm hữu nô lệ lớn. Sau khi nền văn minh Crete dần suy thoái, Mycenae chiếm lĩnh vị thế độc tôn trong thời kỳ này. Mặc dù không còn nhiều thông tin về nền văn minh này, có thể đoán rằng họ được cai trị bởi một nhóm liên minh lỏng lẻo giữa các thành bang với nhau, mỗi nơi lại được trị vì bởi một vị vua. Cả hai thành phố lớn nhất đều là Mycenae và Tiryns tại bán đảo Peloponnese. Dù không có nhiều thông tin, nhưng nền văn minh Mycenae vẫn có dấu ấn riêng qua các tác phẩm thần thoại. Trong đó nổi tiếng nhất là những câu chuyện liên quan đến các anh hùng trong thần thoại như Perseus, Hercules hay cuộc chiến thành Troy và chuyến hành trình của Odyssey.
Sau sự sụp đổ của nền văn minh Mycenae vào thế kỷ 12 TCN, suốt hơn ba thế kỷ tiếp theo, người Hy Lạp sống trong giai đoạn suy tàn và có giai đoạn phải chuyển sang di cư sang nhiều địa điểm khác nhau. Các bằng chứng khảo cổ cho thấy người Hy Lạp trong thời gian này đã phải chịu một đơn suy tàn dân số lớn và hứng chịu nhiều chiến tranh, thiên tai. Tuy vậy, các tác phẩm lớn như Iliad và Odyssey vẫn ra đời trong thời kỳ này, cho thấy đây là một thời kỳ có sức phát triển nhất định về văn hóa. Sự phát triển của đồ sắt trong giai đoạn này cũng cho thấy kinh tế cũng phát triển khá mạnh, đi kèm với đó là giao thương buôn bán dần khôi phục.
Khoảng năm 800 TCN, vào thời điểm bắt đầu giai đoạn Hy Lạp Cổ phong, sau nhiều năm chìm trong bóng tối, dân số Hy Lạp đột nhiên tăng mạnh. Điều này dẫn đến sự phát triển của các thành phố và thị trấn, cũng như dẫn đến một loạt các cuộc thuộc địa hóa, từ đó dẫn đến sự hình hành của một loạt các thành bang mới quanh Hy lạp. Ngoài ra, những sự phát triển ấy cũng dẫn đến sự xuất hiện của các cộng đồng, từ đó dẫn đến các liên minh vàcác hiệp ước liên quan đến kinh tế, giao thương hay tôn giáo. Quá trình cộng tác này dần được mở rộng, dẫn đến sự xuất hiện của các hội đồng chung. Và mối quan hệ liên minh này sẽ có dấu ấn sâu đậm với lịch sử Hy Lạp suốt hơn nửa thiên niên kỷ sau. Sự hình thành của các liên minh có thể đến từ bảo vệ lẫn nhau trước các thế lực ngoại bang hoặc để đảm bảo lợi ích thương mại. Các liên minh cũng thường được thành lập giữa các thành bang ở vị trí xa hơn, thay vì các thành quanh vùng để tránh mất tài nguyên san sẻ cho các thành bang đấy. Đôi lúc, để đảm bảo quyền lực giữa các thành bang không bị mất cân bằng, các thành bang trong các liên minh sẽ chuyển vị trí hội đồng từ thành phố này sang thành phố khác, hoặc thậm chí là xây dựng một hội đồng mới. 
Hai thành quốc nổi bật nhất trong giai đoạn này là Sparta và Athens. Sparta sử dụng lực lượng bộ binh mạnh với hai vị vua với quyền lực ngang nhau để giám sát và kiểm soát quyền lực với nhau, bên cạnh đó còn có 28 nguyên lão đóng vai trò quyết định chung. Những công dân từ 30 tuổi được phép tham gia quân đội chung. Ở phía đối lập, Athens nằm ở trung tâm đồng bằng Attica bắt đầu hình thành bởi các hội đồng quý tộc và hội đồng chấp chính. Về sau thì với sự hỗ trợ của nhà cải cách Solon, nhà nước Athens với tư cách một nền dân chủ sơ khai đã ra đời.
chiến tranh Hy Lạp 0 Ba Tư
chiến tranh Hy Lạp 0 Ba Tư
Tuy nhiên, Hy Lạp hoàn toàn thay đổi trước sự xuất hiện của một thế lực phía đông mang tên Ba Tư. Từ thế kỷ thứ 6 TCN, Cyrus Đại Đế đã thành lập nên đế chế Ba Tư và chinh phạt Ai Cập, đi kèm với đó là hàng loạt thuộc địa của người Hy Lạp quanh Tiểu Á. Dưới triều đại của Darius, thành phố Ionia đã nổi loạn chống lại người Ba Tư với viện trợ từ Athens. Sau khi nghiền nát cuộc nổi loạn, Darius đã triệu tập một đạo quân để tấn công Athens. Mặc dù bị áp đảo quân số nghiêm trọng, nhưng Athens đã giành được chiến thắng trong trận Marathon nhờ chiến thuật hợp lý và tận dụng được lợi thế địa hình. Chiến thắng Marathon đã trở thành một sự kiện quan trọng trong lịch sử Hy Lạp cổ đại khi họ nhận ra rằng mình có thể chiến thắng trước đế chế Ba Tư hùng mạnh. Thắng lợi này cũng khiến cuộc xâm lược Hy Lạp lần thứ nhất của Ba Tư thất bại. 
Themistocles
Themistocles
Năm 480 TCN, con trai của Darius là Xerxes sau khi dẹp loạn đã bắt đầu tấn công Hy Lạp lần thứ hai. Một liên minh gồm 11 thành bang đã được hình thành để chống lại quân Ba Tư. Vị tướng người Athens là Themistocles là người đã đề xuất đánh chặn bộ binh và tàu chiến của Ba Tư lần lượt tại Thermopylae và Artemisium. Khoảng 7000 quân Hy Lạp tiến quân lên phía bắc để chặn đánh tại hẻm núi vào mùa hè năm 480 TCN. Có tới ba trận đánh lớn diễn ra trong bảy ngày giữa quân Hy Lạp và Ba Tư trước khi diễn ra trận tử chiến tiêu biểu tại hẻm núi. Trong vòng hai ngày, một đạo quân nhỏ bé dưới sự chỉ huy của vua Leonidas I xứ Sparta đã chặn con đường duy nhất mà quân Ba Tư có thể vượt qua để tiến xuống phía Nam. Sau ngày thứ hai, một người tên là Ephialtes đã phản bội lại quân Hy Lạp bằng cách chỉ một lối khác tiến ra phía sau. Sau khi biết mình bị đánh úp, Leonidas cho toàn bộ liên quân rút lui, chỉ giữ lại 300 quân Sparta, 700 quân Thespiae và 400 quân Thebes bên cạnh để chống lại cuộc tấn công, phần lớn đều bị giết và chỉ có một số ít chạy thoát được.
Khi biết tin thất bại ở Thermopylae, Themistocles cũng rút khỏi Artemisium về Salamis. Đến năm 479 TCN, hải quân Athens phản công và giành được chiến thắng quan trọng tại eo biển Salamis. Nhờ chiến thắng này, Athens dần gây dựng được uy tín quanh các thành bang khác và bắt đầu thành lập nên một đế chế nằm dưới vỏ bọc một liên minh. 
Sau chiến thắng Salamis, hạm đội Ba Tư mất thế chủ động trên chiến trường và liên minh các thành bang Hy Lạp đại thắng một trận nữa trên bộ tại Plataea. Chiến thắng cuối cùng của liên minh tại Mycale đã chính thức chấm dứt cuộc xâm lược của Ba Tư và đảm bảo nền độc lập của các thành quốc trong hơn một trăm năm về sau. 
Sau chiến thắng trước Ba Tư, đế chế Athens dưới vỏ bọc là liên minh Delos bắt đầu gây chiến với liên minh bán đảo Peloponnese do Sparta dẫn đầu. Lo ngại trước sức mạnh của Athens, Sparta bắt đầu đề xuất hỗ trợ cho các thành bang đồng minh trong các cuộc giao tranh với Athen. Nhưng cuộc chiến chỉ thực sự bắt đầu khi Thebes gây chiến với Plataea, vùng đất nằm dưới sự bảo trợ của Athens. Sparta bắt đầu can thiệp để hỗ trợ Thebes, dẫn đến những trận đánh dữ dội. Sự kiện này đã khiến cả thế giới Hy Lạp chấn động và với việc không có một thế lực thứ ba đủ mạnh để lên tiếng áp chế hai thành bang quyền lực nhất Hy Lạp bắt đầu gây chiến với nhau. 
chiến tranh bán đảo peloponnese
chiến tranh bán đảo peloponnese
Các nhà sử học thường chia nó thành ba giai đoạn. Trong giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến, Sparta nhiều lần cho quân tấn công Attica, trong khi Athens cũng lợi dụng sức mạnh hải quân để tấn công bờ biển Peloponnese nhằm kiềm chế bộ binh của Sparta. Giai đoạn này kết thúc với việc Sparta thắng trận Amphipholis năm 422 TCN, nhưng thiệt hại nặng; và sau đó khi cả hai thành viên có tiếng nói cao nhất của Sparta và Athens đều qua đời, hai bên ký kết Hiệp ước hòa bình Nicias năm 421 TCN. Tuy nhiên hiệp ước đó không có tác dụng được bao lâu khi một cuộc chiến mới lại xảy ra ở Peloponnese. Sự đối đầu giữa Sparta và thành bang Argos liên minh với Athens năm 418 TCN lại khiến cuộc chiến nổ ra lần nữa. Tại Mantinea, Sparta đã đánh bại liên quân Athens và các đồng minh. Sau đó, khi chính trị gia Alcibiades lên nắm quyền ở Athens, ông đã thuyết phục chính quyền Athens gửi một lực lượng viễn chinh lớn để tấn công Syracuse ở Sicily. Thế nhưng cuộc xâm lược thất bại khi toàn bộ lực lượng trên bị tiêu diệt vào năm 413 TCN. Điều này mở ra giai đoạn cuối của cuộc chiến. Trong giai đoạn này, Sparta được sự hỗ trợ từ Ba Tư đã hỗ trợ các cuộc nổi loạn ở các thành bang chịu sự ảnh hưởng của Athens ở vùng biển Aegea và Ionia. Sau khi Sparta đánh tan hạm đội hải quân của Athens trong trận chiến quyết định ở Aegospotami, Athens buộc phải đầu hàng năm 404 TCN, kết thúc cuộc chiến Peloponnese. Athens bị tàn phá nghiêm trọng và không bao giờ lấy lại được ánh hào quang xưa nữa, đặc biệt là sau giai đoạn cầm quyền của “30 bạo chúa” từ năm 404 TCN đến năm 403 TCN.
Vào năm 371 TCN, Thebes, thành bang từng một thời dưới trướng Sparta lại quay ra phản bội và đánh bại Sparta trong trận Leuctra, giết chết vua Sparta và xâm chiếm vùng Laconia. Những chiến thắng của Thebes dần khiến cho Sparta suy yếu, và đến năm 362 TCN, không còn thành bang nào của Hy Lạp nào có thể lấn át các thành bang còn lại nữa. Nhiều thành bang rơi vào khủng hoảng dẫn đến Hy Lạp dần rơi vào tình trạng suy yếu.Đến năm 338 TCN, Hy Lạp đã bị vua Philip I của Macedonia, một đất nước được Hy Lạp hóa đánh bại. Con trai và người thừa kế của ông, Alexander Đại Đế đã củng cố lại các thành bang Hy Lạp, hủy diệt đế chế Ba Tư, tạo nên một đế chế rộng lớn, góp phần truyền bá văn hóa Hy Lạp ở các vùng phía đông. 
Alexander Đại Đế
Alexander Đại Đế
Tuy nhiên, cái chết của Alexander Đại đế năm 323 TCN khi mới 32 tuổi đã đẩy đế quốc non trẻ của ông rơi vào cảnh nội chiến giữa các tướng lĩnh dưới quyền. Trong thời kỳ này, các thành bang Hy Lạp được mở rộng đáng kể tầm ảnh hưởng, dẫn đến việc về sau đây được gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa.Triết học tiếp tục phát triển, trong khi khoa học kỹ thuật dần mở rộng, quân sự được đa dạng hóa. Người Hy Lạp bắt đầu di dân đến các thành phố ở phía đông như Alexandria và Antioch, các liên minh mới được thành lập như liên minh Achae và liên minh Aetolia. Tương tự như những người tiền nhiệm, các liên minh này tiếp tục chiến tranh tranh giành tầm ảnh hưởng với nhau. Và cái gì đến cũng phải đến, Hy Lạp cuối cùng bị chinh phạt và trở thành một tỉnh của đế chế La Mã. Mặc dù vậy, Hy Lạp vẫn có ảnh hưởng nhất định đối với La Mã trên phương tiện kinh tế - tôn giáo, đặc biệt là miền đông La Mã, dẫn đến vào giai đoạn Trung Cổ, đế chế Đông La Mã thường được gọi là đế chế của người Hy Lạp, và nhiều nhà cai trị của Đông La Mã cũng có gốc Hy Lạp. Sau sự sụp đổ của đế chế Đông La Mã, Hy Lạp bị xâm chiếm bởi đế chế Ottoman và trải qua giai đoạn chiến tranh dài để có lại được độc lập, bước vào thời kỳ hiện đại.
Đế chế La Mã
Đế chế La Mã

Phần kết.

Và vừa rồi là toàn bộ nội dung của bài viết. Cảm ơn các bạn đã đọc bài viết siêu dài này.