Vài suy tư cá nhân về tôn giáo và đức tin thông qua một hồi tưởng về Giáng sinh
Một bài suy tư cá nhân khoảng gần 3000 từ về đức tin và tôn giáo trong một xã hội hiện đại đầy hoài nghi.
“Cái lạnh lẽo của trời đông có thể được san sẻ trong những vòng tay ấm áp hay ta chỉ đang siết cổ nhau đến chết?”
Một mùa Giáng sinh nữa lại đến. Mọi năm ngày này thật đơn giản, cậu nhóc cùng gia đình rảo bước trong đêm đen gió lạnh đến nơi thánh đường ấm cúng. Đặc trưng của dịp này là hang đá, hồi nhỏ tôi mê mẩn với mấy thứ ấy lắm, cứ nài nỉ ba má trang trí cho thật đẹp. "Tượng Chúa hài đồng đặt ở đây ba ơi", "tượng thánh Giu-se (Joseph) đặt nổi lên chút vì đó là tên thánh của con", "Nối thêm đèn nữa đi ạ",... và rất rất nhiều những câu quen thuộc khác. Lên khoảng hơn mười tuổi thì gia đình tôi dần ít bận tâm đến các công việc tinh thần này hơn, cuộc sống quẩn quanh đã đủ bề bộn rồi. Vậy là họ đặt hết thảy các bức tượng ấy vào trong tủ kính, và...
"Chúa nằm trong hang quanh năm."
Dẫu sao nhà thờ cũng đã có rồi nhỉ? Mà mấy cái giáo xứ cũng cạnh tranh nhau ở khoảng này ghê lắm, bên anh to thì bên tôi phải to hơn, bên anh làm một thì bên tôi phải hai, riết rồi ở đâu cũng thấy Chúa nằm trong hang mà cứ như thể khách sạn 5 sao vậy. Tượng ba vua (đúng hơn là ba đạo sĩ) cưỡi lạc đà cũng là một chi tiết thú vị. Hồi nhỏ ba má có đố tôi là ba vua đến từ phương nào? Tôi thì chỉ nghĩ là Herod sai họ, mà Herod ở Jerusalem, còn Bethlehem thì ở phía nam gần đó, vậy là tôi nói họ từ phương bắc và rồi cả nhà phá lên cười. Lớn lên thì dần dần tôi cũng chẳng còn hứng thú nhiều nữa. Cứ đến hẹn lại lên, đến đêm 24 thì mặc định là đi lễ các thứ như một phản xạ có điều kiện mà thôi, tôi chẳng còn để tâm lắm đến trang trí xung quanh nữa.
Hồi mới xuống đại học, thật ra tôi vẫn “ngoan đạo” lắm, chủ nhật nào cũng mặc định là phải đến nhà thờ. Thật lòng ban đầu mọi thứ cũng tạm ổn, dù phải đi mười mấy cây số mới đến nơi thánh đường gần nhất, giữ xe thì chen chúc, chật chội, thời tiết lại nóng và nhu cầu giáo dân lại quá đông so với sức chứa. Cơ mà nhiêu đó không khiến tôi phải từ bỏ ngay, dẫu sao việc này cũng đã được duy trì từ nhỏ đến giờ. Nhưng rồi mỗi tuần, nhìn đám người từ tranh nhau chỗ gửi xe, đến tranh nhau chỗ ngồi, rồi tranh nhau rước lễ, và cuối cùng tranh nhau lấy xe, thánh đường không cho tôi chút bình yên nào. Mỗi chủ nhật tôi như thể lại bước vào một bài toán cân bằng lợi hại với các câu hỏi thường trực là, “đi giờ nào?”, “ngồi đâu?”, “lễ đến đoạn nào thì nên ra về”,... cảm giác xô bồ không khác gì giới trẻ đi “đu idol” ngoài kia, có chăng là biểu hiện nó không nhiệt huyết được như thế.
Thế rồi, khoảnh khắc nào đưa tôi đến tự hoài nghi? Có lẽ là lúc tôi đặt ra câu hỏi "mình đến đây để làm gì?" Bình yên ư? Không, thấy còn mệt hơn. Nghe giảng ư? Không, trong cái không gian chen chúc nóng nực ấy tâm trí tôi khó lòng mà rộng mở để tiếp thu thứ gì. Vậy thì là gì? Còn gì ngoài một "sức mạnh từ thế lực siêu hình" nào đó cơ chứ, kiểu như điểm danh đầu giờ vậy, học được gì không không quan trọng, lúc điểm danh có mặt là được. Nhưng ở đây không phải giám thị điểm danh mà là "Chúa", đấng không ai thấy trực tiếp nhưng luôn nhất mực kính sợ. Lời hứa về thiên đường ư? Thật lòng tôi cũng đã chẳng nghĩ nhiều về nó đến vậy, nó là trạng thái quả quyết đức tin, rằng tôi đi lễ đủ thì mặc nhiên phải được lên thiên đàng. Người các tôn giáo khác cũng có một quả quyết đức tin tương tự như vậy, rằng đức tin của mình mới đúng đắn nhất, là con đường sự thật để đi đến giải thoát. Thế nhưng càng nghĩ, tôi nhận ra mình đang như con bạc với "phép cược Pascal" bị diễn giải bằng lý trí Descartes, rằng dù sao thì lên thiên đường hoặc không có gì vẫn hơn xuống địa ngục hoặc không có gì. Và rồi càng nghĩ nhiều về nó tôi càng hoài nghi, và đến một lúc tôi cảm thấy rằng mình chẳng thể nào tin vào Chúa được nữa, dù cho đã rất cố gắng. (Ghi chú: Người viết nhận thức được rằng phép cược Pascal thường bị hiểu và diễn giải sai như là một lập luận logic thuần túy. Thực chất, Pascal có ý mời gọi cá nhân đặt cược con tim nơi đức tin, mở lòng đón nhận Chúa cách chân thực chứ không phải là tin hời hợt cách lý trí.)
Trượt khỏi tôn giáo cũng là lúc tôi đi vào con đường báng bổ. Khởi đầu là hành trình giải cấu trúc mà mục tiêu rõ ràng duy nhất là giải thiêng tất cả mọi thứ. Từ đây, tôi đào sâu vào các giả thuyết về Tân ước, về những sự xung đột trong chính các sách Phúc âm. Nào là cả bốn đều được viết mãi tận sau khi La Mã phá Đền thờ thứ hai, nghĩa là hơn 30 năm sau khi Jesus chết. Rồi thì Mark viết trước, Matthew viết cho người Do Thái, Luke viết để “nịnh” La Mã, John viết để khẳng định Jesus là Thiên Chúa đồng thời phê phán “Thomas nghi ngờ”, Thomas viết cùng thời John mà bị loại. Rồi thì chỉ có bảy thư tín thì đúng là của Paul, rồi thì Peter không viết hai thư Peter, và James cũng không viết thư James, và Khải huyền chẳng phải tiên tri gì đao to búa lớn cả mà là ẩn dụ cho hoàn cảnh bắt bớ đạo đương thời. Và đi hết một vòng, Tân ước chẳng còn gì thiêng liêng với tôi nữa cả, nó là sản phẩm của thời đại, là niềm hư vọng mù quáng vào sự trở lại của một con người mà họ tự đi thần thánh hóa. Và đi vào Cựu ước thì tôi càng sốc và càng vui mừng hơn, tôi đã nghĩ “ra là cái gốc nó phi lý đến thế, vậy phải phá cho tới”. Rằng thì là Cựu ước vốn là chỉ kinh sách của Do Thái Giáo, vốn xem Đức Chúa Trời (YHWH) là của Chúa của riêng họ, rằng chẳng có Adam, Noah, Abraham hay Moses nào cả, rằng chẳng có cuộc lưu đày và vượt thoát nào khỏi xứ Ai Cập, rằng chẳng có Joshua hay các quan xét nào cả, và cả cái Vương quốc Thống nhất Israel của David và Solomon cũng chỉ là phóng đại. Và rằng thì là mọi thứ chỉ bắt nguồn từ khi bắc Israel mất nước và tràn vào Judah, và rằng chỉ khi đó hai truyền thống Ba tổ phụ và Moses mới được hợp nhất lại, và Ngũ kinh cũng chỉ là sản phẩm của quá trình đó. Quả thật, lúc ấy tôi đã vượt xa phản tư tôn giáo, lúc ấy nó đã thành chống lại nguồn gốc cả một dân tộc, nhưng tôi chỉ nghĩ rằng “nó là cần thiết, vì sự thật”. Và rồi tôi đi vào cội nguồn sâu xa nhất về nguồn gốc của YHWH, và biết về El Shaddai và Baal, những vị thần gốc trong thời đa thần.
Và rồi tôi đắc trí trong mãn nguyện mà viết ra Tân Sáng thế ký:
“Lúc khởi đầu, con người sáng tạo Đức Chúa Trời. Con người phán: ‘Chúng ta hãy dựng lên Đức Chúa Trời theo hình ảnh chúng ta và theo hình dạng chúng ta, để làm cớ cho chúng ta cái quyền cai quản cá biển, chim trời, và muôn thú.’ Vậy con người tạo ra Đức Chúa Trời theo hình ảnh con người, con người tạo ra vô số Đức Chúa Trời, và cũng tạo ra một Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của các Đức Chúa Trời. Con người cũng trao danh quyền ban phước cho Đức Chúa Trời và phán: ‘Hãy khỏa lấp con tim và tâm trí ta, để ta không còn lo lắng và được an yên’. Con người phán: ‘Này ta ban cho ngươi danh nghĩa là đấng tạo ra mọi cây cỏ có hạt trên khắp đất, cùng mọi cây ra trái có hạt. Chúng dùng làm thức ăn cho ta. Ta cũng ban cho ngươi danh nghĩa là đấng tạo ra hết thảy cây cỏ làm thức ăn cho mọi động vật hoang dã trên đất, cho mọi loài vật bay trên trời cùng mọi vật chuyển động trên đất, là vật có sự sống.’”
Tôi mất cả tuổi thơ để dựng nên Chúa trong mình và rồi chỉ trong vài tháng thì tất cả đã hoàn toàn sụp đổ. Và dần dần tôi chẳng còn điểm tựa nào, cộng thêm với cái hoàn cảnh cô độc xã hội sâu thảm bấy giờ, tôi quay sang nghi ngờ hết thảy mọi thứ. Tôi nhìn đâu cũng chỉ thấy kẻ muốn kiểm soát mình, muốn thao túng mình, tôi quay sang hoài nghi luôn cả những thông tin tôi tiếp cận để giải thiêng trên, dần rồi hoài nghi luôn nhận thức của mình. Tôi mưu cầu một logic khách quan nhưng sau cùng chỉ để nhận ra sự bất toàn, rằng vẫn sẽ luôn có một giả định nào đó chẳng thể chứng minh, như trong định lý bất toàn, hay như cách tôi gọi với hàm ý tiêu cực là “giá trị duy tâm chủ quan”. Thật ra giờ nhìn lại, chỉ trong trạng thái tinh thần đó mà một năng lực viết kỳ lạ phát sinh trong tôi, những câu chuyện dài vô định với nhân vật chính bị ném vào hư vô, những bài thơ lặp đi lặp cũng một triết lý duy nhất mà tiêu biểu là:
“Nếu mai tôi không chết
Tôi sẽ sống lâu hơn
Để tiếp tục nghĩ suy
Về ngày mà tôi chết.”
Nó là cái sự sống dở chết dở, sống chả ra sống bởi đầu óc cứ luôn không ngừng tư duy nhưng thứ duy nhất nó thấy chỉ là hư vô. Chết không ra chết bởi rõ ràng ta vẫn đang sống đấy thôi. Nhưng có lẽ đó cũng lúc mong manh nhất ngay bên trong chính sự lý trí nhất:
“Trong lý trí niềm tin đã chết
Thì trong tâm can hy vọng vẫn còn
Và sẽ không bao giờ biến mất.
Vậy nên ta không được chết
Vậy nên ta không thể chết.”
Cái “không thể chết” ấy không hề là hy vọng mà là tuyệt vọng cay đáng, rằng tôi biết cuộc sống là vô nghĩa về mặt nội tại nhưng tôi không thể chết đi cho xong, cứ như có một một lực lượng nào ngăn cản tôi. Và khi tôi viết:
“Những người can đảm nhất,
Đã giết chết đi hy vọng
Và ra đi thanh thản
Nhưng loài người khóc thương họ
Loài người làm sao hiểu được
Sự sống với họ chẳng còn là gì.”
Tôi thực sự đã tin vậy và xem những người tự sát là những người cam đảm nhất, lúc ấy tôi nghĩ họ đã thắng trò chơi tiến hóa bằng tất cả lý trí, những rồi ít lâu sau thì tôi lại nghi ngờ, rằng liệu chính cái chết đó cũng chỉ là chọn lọc tự nhiên? Và hoài nghi vẫn cứ luôn ở đó, nhưng đoạn kết của bài thơ đó thì chẳng nghi vấn gì nữa cả:
“Nhưng rồi sẽ nhanh thôi,
Mọi thứ sẽ trở về hư vô.”
Hay giải thích rõ hơn qua một đoạn trong một bài tập làm podcast thuyết trình môn Triết học Mác-Lênin:
“Và chỉ một lát nữa sau bài thuyết trình này thôi, chẳng còn ai nhớ tới nó nữa. Và chỉ một vài tháng nữa đến hết môn học này thôi, chẳng còn ai nhớ tới ai nữa. Và chỉ một vài năm nữa thôi, chẳng còn ai nhớ tới môn học này nữa. Và chỉ một vài thế hệ nữa thôi, chẳng còn ai biết chúng ta là ai nữa...”
Niềm tin tuyệt đối vào sự vô nghĩa nội tại của mọi giá trị. Đó có lẽ là sự tuyệt vọng sâu thẳm nhất mà tôi chạm đến. Thế ngay từ chính trong những “tuyệt phẩm” hư vô đó, vẫn còn vươn vấn chút mần móng hy vọng, như những ngọn cỏ phiền phức vẫn luôn âm thầm mọc ra đâu đó vậy:
“...Dù sao thì, hãy biết ơn những gì đã và đang được trải qua và tận hưởng bài hát này.
[Ngay sau đó, bài hát Fly me to the moon bản ending của anime Neon Genesis Evangelion được phát ở kết podcast]”
Thật ra, thời điểm ấy có thể xem bài hát và cả anime ấy như biểu tượng hư vô của tôi, lúc ấy tôi đã thực sự tin rằng tôi phát bài hát ấy để củng cố cho hư vô, nhưng giờ nghĩ lại, có vẻ đó là một khát vọng vượt thoát thầm kín nào đó chăng? Thế rồi tôi nghĩ ra thêm mấy dòng sau và cho vào đoạn giữa Tân Sáng thế ký:
“Con người tạo ra các Đức Chúa Trời từ hình ảnh mình, nhưng để thực sự được an yên, họ phải quên đi mình đã làm điều đó.”
Dù sao thì tôi vẫn sống tiếp dưới đáy vực như thế cho đến khoảng cuối tháng mười hai... Giáng Sinh. Cái lạnh lẽo của đất trời lại càng lạnh hơn trong căn phòng cô độc một người. Đã lâu rồi tôi cũng sắm sửa đồ đạc gì mới mẻ, đã lâu rồi tôi cũng chẳng đi đâu khác ngoài đi học đi ăn rồi đi về, cái lạnh đầu đông cũng chẳng lạnh bằng tâm hồn tôi. Nhưng rồi càng đến gần ngày Giáng Sinh, như cách tôi mỉa mai khi ấy, ngày mà “người ta gán cho ông Jesus ra đời, xác suất 1/365”, nhìn dòng người mà tôi cũng chút chạnh lòng. Tôi phóng xe ra đường trong vô định, chạy lòng vòng khắp các quận. Thật ra không khí Giáng Sinh ở Việt Nam nó không sôi động của các nước phương tây đâu, nhưng lòng tôi vẫn cảm được phần nào hơi ấm ấy, những cặp đôi, những gia đình với con trẻ vui chơi trong trung tâm thương mại, họ đâu cần phải biết phúc âm Matthew nói gì về cảnh giáng sinh đâu, và họ vẫn vui vẻ tận hưởng. Chạy đến nữa đêm thì tôi vì nhà khi vừa sang ngày 25, bằng lý trí tôi lại cố tự nhủ rằng mình chẳng cần khao khát thiêng liêng gì cả, rằng mình ra đang quan sát đám con cái loài người tội nghiệp. Nhưng rồi tôi chẳng thể tự lừa mình được, tôi cảm nhận rằng mình đã ra ngoài vì một thứ khao khát gì đó, nhưng là cái gì cơ? Đêm hôm đó là lần đầu tôi thức trọn vẹn một đêm, tôi cứ nằm nghĩ mãi, và đến năm giờ kém sáng tôi liền phóng xe đến nhà thờ. Và không, chẳng có Chúa nào hiện đến với tôi như Moroni hiện đến với Joseph Smith đâu, tôi cũng không quay lại đức tin Thiên Chúa, thứ tôi tìm kiếm có chăng chỉ là chút hơi ấm người người mà tôi từng có năm nào. Tôi không vào trong thánh đường, tôi phớt lờ hết các nghi thức làm dấu, đọc kinh, và tôi cũng chẳng rước lễ. Lý trí tôi loay hoay kiếm một cái cớ, rằng tôi đến để nghe bài “Hang Bê-lem” ở kết lễ. Thật ra thì cũng chẳng sai, nhưng nếu chỉ vậy thì Youtube đã tiện hơn nhiều. Nhưng quả thật ca khúc ấy dù có Chúa hay không thì vẫn thật hay dưới tư cách âm nhạc, từ giai điệu cho đến lời ca:
“Hát khen mừng Chúa giáng sinh ra đời. Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa. Trong hang Bê-lem ánh sáng tỏa lan tưng bừng. Nghe trên không trung tiếng hát Thiên thần vang lừng. Ðàn hát (réo rắt tiếng hát). Xướng ca (dư âm vang xa). Ðây Chúa thiên tòa giáng sinh vì ta. Người hỡi (hãy kíp bước tới). Ðến xem (nơi hang Bê-lem). Ôi Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn.”

Hình ảnh hang đá do tôi chụp lại trong lần đi lễ Giáng sinh 2024
Thôi thì nay nhìn lại, dù vẫn còn nhiều thứ chưa thể hóa giải nhưng tôi giờ đã khá hơn phần nào rồi, và giai điệu ấy vẫn cứ âm thầm vang lên trong đầu tôi. Và tôi cũng vừa nghĩ ra đoạn kết cho Tân Sáng thế ký:
“Thế rồi sau tất cả, con người đã nhớ ra việc chính mình đã tạo ra Đức Chúa Trời, và tâm trí họ chẳng còn được an yên. Nhưng trước khi tan biến, Đức Chúa Trời nói với họ, rằng con người không tạo ra Đức Chúa Trời từ hình ảnh chính mình mà là từ hình ảnh tha nhân.”

Sáng tác
/sang-tac
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất


