Tóm tắt: Bài viết này dựa trên việc công bố các tài liệu lưu trữ mới, xem xét vai trò của ngoại giao Liên Xô trong việc triệu tập và tổ chức Hội nghị Geneva về Đông Dương từ tháng 4 đến tháng 7 năm 1954. Liên Xô đã khởi xướng hội nghị và đảm bảo lời mời cho các phái đoàn từ CHND Trung Hoa và CHDC Việt Nam (có chỗ viết tắt là Việt Nam - ND). Các nhà ngoại giao Liên Xô đã hỗ trợ các phái đoàn Việt Nam và Trung Quốc trong việc xây dựng lập trường và tiến hành đàm phán. Trưởng phái đoàn Liên Xô, V.M. Molotov đã trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình đàm phán tại Geneva. Hội nghị Geneva kết thúc với việc thông qua các văn kiện đảm bảo sự phát triển hòa bình và độc lập của Việt Nam, Campuchia và Lào rõ ràng là nhờ vào ngoại giao của Liên Xô.
Giới thiệu về vấn đề: Từ ngày 26 tháng 4 đến ngày 21 tháng 7 năm 1954, một cuộc họp của các bộ trưởng ơngoại giao Anh, Trung Quốc, Liên Xô, Mỹ và Pháp đã được tổ chức tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở Geneva, Thụy Sĩ, để thảo luận về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Tham gia cuộc họp còn có các phái đoàn từ CHDC Việt Nam, chính phủ hoàng gia Campuchia và Lào, và một phái đoàn từ Nhà nước thực dân Pháp ở Việt Nam, do cựu Hoàng Bảo Đại đứng đầu.
Các văn kiện được thông qua tại hội nghị đồng nghĩa với vấn đề chấm dứt các hoạt động quân sự ở Đông Dương, vốn đã kéo dài hơn 8 năm, với việc Pháp rút quân, công nhận quốc tế về độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào và Campuchia, cũng như xác định thủ tục và thời điểm tổ chức tổng tuyển cử ở 3 nước, và thiết lập sự kiểm soát quốc tế đối với vấn đề thực thi các quyết định của hội nghị.
Vai trò của Liên Xô trong việc triệu tập và đăng cai Hội nghị Geneva đã nhận được nhiều lời khen ngợi ngay sau khi kết thúc. Chủ tịch nước CHDC Việt Nam Hồ Chí Minh đã ghi nhận vai trò quan trọng của Liên Xô với tư cách là người khởi xướng Hội nghị Geneva. Ông cũng nhấn mạnh rằng: "Các hoạt động ngoại giao của Liên Xô đóng vai trò quyết định trong thỏa thuận ngừng bắn ở Triều Tiên và Việt Nam" [9, tr. 559]. Sáng kiến ngoại giao của Liên Xô trong việc tổ chức Hội nghị Geneva cũng được ghi nhận, như ở nhà sử học người Mỹ hiện đại nổi tiếng như Christopher Gosha [10, tr. 226].
Tuy nhiên, câu hỏi về cách thức và vai trò của Moskva thể hiện trong hội nghị quốc tế có ý nghĩa lịch sử này vẫn chưa rõ ràng. Các tài liệu được công bố gần đây, đặc biệt là bộ sưu tập tài liệu "Liên Xô và Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Hội nghị Geneva. 1954" [7], có thể cung cấp câu trả lời cho câu hỏi này.
Kết quả và thảo luận: Sau cái chết của I.V. Stalin, giới lãnh đạo Liên Xô đã ưu tiên thực hiện chính sách chung sống hòa bình trong các hoạt động quốc tế. Điều này được thể hiện rõ trong bài phát biểu của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô G.M. Malenkov tại lễ tưởng niệm ngày 9 tháng 3. Năm 1953, trong lễ tang của I.V. Stalin, người đứng đầu chính phủ Xô Viết mới tuyên bố từ bục phát biểu: “Trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, mối quan tâm chính của chúng ta là ngăn chặn một cuộc chiến tranh mới, chung sống hòa bình với tất cả các nước… ĐCS, Liên Xô, Chính phủ Liên Xô khẳng định rằng chính sách hòa bình giữa các quốc gia là chính sách duy nhất đúng đắn, đáp ứng lợi ích thiết yếu của tất cả mọi người” [4].
Ngoại giao Liên Xô bắt đầu tích cực theo đuổi chính sách giảm căng thẳng quốc tế. Theo sáng kiến của Liên Xô, một Hội nghị Ngoại trưởng 4 cường quốc (Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp) đã được triệu tập. Các cuộc họp diễn ra tại Berlin từ ngày 25 tháng 1 đến ngày 18 tháng 2 năm 1954. Ngoại giao Liên Xô coi mục tiêu chính của hội nghị là thảo luận các biện pháp giảm căng thẳng quốc tế, chủ yếu là giải quyết các vấn đề với Đức và Áo. Phía Liên Xô đề xuất đảm bảo sự thống nhất nước Đức, ký kết một hiệp ước với Áo và hoàn thành một "Hiệp ước toàn châu Âu về an ninh tập thể". Giới lãnh đạo phương Tây đã từ chối thảo luận về những sáng kiến này của Liên Xô. Kết quả mang tính xây dựng duy nhất của Hội nghị Berlin là một thỏa thuận tổ chức hội nghị Các Ngoại trưởng của Liên Xô, Mỹ, Pháp, Anh và Trung Quốc tại Geneva vào tháng 4 năm 1954 với mục tiêu giải quyết các xung đột quân sự trên bán đảo Triều Tiên và ở Đông Dương. Hơn nữa, như đã được ghi nhận trong một tài liệu nội bộ của BCHTW Đảng Lao động Việt Nam, được chuẩn bị một tuần sau khi kết thúc Hội nghị Berlin – viết rằng: “Chỉ nhờ sự kiên trì và quyết tâm của Bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô cho đến những phút cuối cùng của Hội nghị tại Berlin, chính phủ Mỹ, Anh và Pháp đã đồng ý triệu tập Hội nghị Geneva với sự tham gia của Liên Xô, CHND Trung Quốc, Mỹ, Anh, Pháp và các bên có liên quan trực tiếp khác để thảo luận về các vấn đề khôi phục hòa bình ở Triều Tiên và chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương” [7, tr. 206].
Cuộc xung đột ở Đông Dương, cùng với Chiến tranh ở Triều Tiên, là một trong những cuộc xung đột khốc liệt và đẫm máu nhất vào đầu những năm 1950. Về cơ bản, đó là nỗ lực của Pháp nhằm khôi phục trật tự thuộc địa ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam, nơi đã tuyên bố thành lập nước CHDC Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Mặc dù đối thủ chính của thực dân Pháp là Quân đội Nhân dân Việt Nam, nhưng cuộc chiến đã lan rộng ra 3 quốc gia thuộc bán đảo Đông Dương: Việt Nam, Lào và Campuchia. Tại 2 nước sau, các du kích địa phương, được sự hỗ trợ của những người Việt Nam, đã chiến đấu chống lại thực dân và chính quyền hoàng gia của họ.
Đến năm 1954, cán cân quyền lực nhất định đã được thiết lập trên các mặt trận của Chiến tranh Đông Dương. Lực lượng vũ trang của Hồ Chí Minh đã tăng cường các hoạt động tấn công từ năm 1950, và đến năm 1954, họ kiểm soát 80% lãnh thổ cả nước, chủ yếu là các vùng nông thôn. Lực lượng viễn chinh Pháp, dù không giành được bất kỳ thắng lợi đáng kể nào, vẫn duy trì quyền kiểm soát tại các trung tâm chính trị và kinh tế của Việt Nam, như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn và Huế. Chế độ thuộc địa cũng khá ổn định ở khu vực đông dân nhất của đất nước - miền Nam Việt Nam.
Tuy nhiên, ngay tại Pháp, dư luận phản đối mạnh mẽ cuộc chiến ở Đông Dương (báo chí gọi nó là "cuộc chiến bẩn thỉu"), và chính phủ Pháp cũng không cảm thấy mình có thể tiếp tục cuộc chiến về mặt kinh tế và quân sự. Năm 1953, các đại diện của Pháp đã nhiều lần nêu vấn đề về khả năng giải quyết xung đột Đông Dương bằng con đường ngoại giao trong các cuộc tiếp xúc với các nhà ngoại giao Liên Xô [7, tr. 197-198]. Ngoại trưởng Liên Xô V.M. Molotov đã ghi nhận trong báo cáo về kết quả Hội nghị Berlin rằng Ngoại trưởng Pháp J.-O. Bidault "Đã nỗ lực hết sức để triệu tập một hội nghị thảo luận về vấn đề Đông Dương" [7, tr. 210]. Sau đó, tại chính hội nghị, rõ ràng là phái đoàn Pháp do J.-O. Bidault đứng đầu đã chỉ có ý định tuyên bố ngừng bắn ở Đông Dương và giải quyết các vấn đề quân sự.
Phía Việt Nam cũng thiếu sức mạnh để nhanh chóng giành thắng lợi kết thúc chiến tranh, mặc dù họ có ý định dùng vũ lực để đánh đuổi thực dân khỏi toàn bộ Đông Dương. Tuy nhiên, về vấn đề này, họ trông cậy vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, quốc gia mà theo họ, có thể gửi "tình nguyện viên" đến Đông Dương, giống như đã từng làm trong Chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên, Bắc Kinh không cho rằng bước đi đó khả thi. Đây là cách người đứng đầu phái đoàn Trung Quốc, Chu Ân Lai, giải thích lập trường của giới lãnh đạo Trung Quốc với các nhà lãnh đạo Liên Xô: "Đồng chí Hồ Chí Minh nói với tôi rằng tình hình ở Việt Nam là vô vọng và nếu chúng ta không đạt được thỏa thuận ngừng bắn nhanh chóng, người Việt Nam sẽ không thể chống lại Pháp... Họ muốn Trung Quốc sẵn sàng gửi quân vào Việt Nam, như chúng tôi đã làm ở Triều Tiên. Nói cách khác, người Việt Nam muốn chúng tôi giúp họ đánh đuổi Pháp. Nhưng chúng tôi đơn giản là không thể đáp ứng yêu cầu của đồng chí Hồ Chí Minh. Chúng tôi đã chịu quá nhiều tổn thất ở Triều Tiên – cuộc chiến đó đã khiến chúng tôi phải trả giá đắt. Chúng tôi không có khả năng tham gia vào một cuộc chiến tranh khác vào lúc này" [3, tr. 60-61].
Tuy nhiên, Trung Quốc đã đóng một vai trò rất quan trọng trong các sự kiện trên bán đảo Đông Dương, cung cấp cho chính phủ Hồ Chí Minh sự hỗ trợ đáng kể dưới hình thức vũ khí, thuốc men và cố vấn quân sự. K. Gosha viết rằng Trung Quốc đã giúp Việt Nam huấn luyện 6 sư đoàn mới [10, tr. 255]. Cũng cần lưu ý rằng CHND Trung Hoa là quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với CHDC Việt Nam (ngày 18 tháng 1 năm 1950). Do đó, việc Trung Quốc tham gia Hội nghị Geneva theo lời mời của Liên Xô là một hành động ngoại giao quan trọng của Liên Xô.
Một thành tựu rõ ràng khác của nền ngoại giao Liên Xô là việc mời phái đoàn CHDC Việt Nam tham gia vào công việc của cuộc họp, khi mà ban đầu Pháp và Mỹ không muốn công nhận là một chủ thể chính thức trên chính trường thế giới.
Trong những năm đó, giới ngoại giao Anh cũng chủ trương tổ chức một hội nghị quốc tế để giải quyết xung đột Đông Dương. Lập trường của London bị ảnh hưởng bởi các thuộc địa cũ của Anh, chủ yếu là Ấn Độ. Vào tháng 7 năm 1953, Thủ tướng Ấn Độ Jawaharlal Nehru đã đưa ra một chương trình giải quyết vấn đề Đông Dương, trong đó bao gồm, ngoài những điều khác, một lệnh ngừng bắn ở Đông Dương và việc Pháp trao độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, Lào và Campuchia [1, tr. 118-119]. Vào ngày 22 tháng 2 năm 1954, ngay sau khi kết thúc Hội nghị Berlin, Jawaharlal Nehru đã phát biểu trước tất cả các bên quan tâm đến việc giải quyết vấn đề Đông Dương với đề xuất đồng thời ngừng các hành động thù địch cho đến khi bắt đầu Hội nghị Geneva [7, tr. 619]. Lo sợ rằng xung đột ở Đông Dương sẽ có tác động mang tính cách mạng đối với các thuộc địa do Anh kiểm soát ở Đông Nam Á và Nam Á, London đã tích cực ủng hộ ý tưởng tổ chức một hội nghị để chấm dứt chiến tranh bằng con đường ngoại giao, và Ngoại trưởng Anh E. Eden cùng với V.M. Molotov trở thành đồng chủ tịch của cuộc họp.
Thái độ của Washington đối với hội nghị Đông Dương khá mâu thuẫn. Từ năm 1950, người Mỹ đã cung cấp viện trợ quân sự và kinh tế cho Pháp trong cuộc chiến. Nhà Trắng thậm chí còn cân nhắc việc Mỹ trực tiếp can thiệp quân sự vào cuộc xung đột. Cách tiếp cận này xuất phát từ nỗi sợ hãi của các nhà ngoại giao và quân sự Mỹ về một "cuộc bành trướng của CNCS" đối với Đông Dương và toàn bộ Đông Nam Á. Ý tưởng này đặc biệt được Ngoại trưởng Mỹ J.F. Dulles kiên trì thúc đẩy. Trong khi TT Mỹ D. Eisenhower mặc dù cũng là người chống cộng, nhưng đã có lập trường ôn hòa hơn. Với một bài phát biểu ngay trước Hội nghị Geneva, Eisenhower bày tỏ hy vọng rằng ngay sau khi một "thỏa thuận ngừng bắn trung thực" được ký kết ở Triều Tiên, "hòa bình thực sự và toàn cầu" sẽ đến khắp châu Á và thế giới [8, tr. 314]. Nhà Trắng cũng không từ bỏ ý tưởng của F.D. Roosevelt về việc trao độc lập cho các nước thuộc địa, bao gồm cả Việt Nam. Như nhà báo nổi tiếng người Mỹ Barbara Tuchman đã làm chứng, "người Mỹ chỉ coi cuộc chiến này là một cuộc chiến chống lại CNCS, điều này không loại trừ việc trao độc lập" [7, tr. 320]. Do đó, có sự mâu thuẫn rõ ràng trong hành vi của người Mỹ tại hội nghị. B. Tuchman viết: "Đề xuất tổ chức một hội nghị 5 phái khiến Dulles kinh hãi, bởi ông ta coi bất kỳ sự dàn xếp xung đột nào với những người CS đều là không thể chấp nhận được, và việc ông ta ngồi vào bàn đàm phán với Trung Quốc là hoàn toàn không thể tưởng tượng được, vì điều này có thể được hiểu là công nhận CHND Trung Hoa” [8, tr. 324].
Tuy nhiên, dư luận ở Mỹ và nước ngoài nói chung ủng hộ việc triệu tập Hội nghị Geneva về Đông Dương, và Ngoại trưởng Mỹ không thể phản đối điều đó quá lâu. Nhưng, như B. Tuchman tiếp tục: "... Dulles đã dồn toàn bộ năng lượng để đảm bảo rằng sẽ không có sự thỏa hiệp nào với Hà Nội tại Hội nghị Geneva" [8, tr. 325]. Bản thân ông ta đã cố tránh đến Geneva và giao quyền lãnh đạo phái đoàn Mỹ tại hội nghị cho cấp phó của mình, Tướng B. Smith. Ông này cũng giữ lập trường chống cộng. B. Smith định nghĩa nhiệm vụ của phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Geneva trong tuyên bố với báo chí ngày 9 tháng 5 năm 1954 như sau: "... Chúng tôi ở đây để ngăn chặn sự lan rộng của CNCS ở Đông Nam Á" [7, tr. 269-270]. Như V.M. Molotov đã lưu ý, "việc chính phủ Mỹ đồng ý tham gia Hội nghị Geneva chỉ là một sự nhượng bộ bắt buộc liên quan đến lập trường của Pháp và Anh về vấn đề này" [7, tr. 441].
Bên ngoài Toà nhà LHQ ở Geneva, Mỹ đang tích cực xây dựng hai liên minh quân sự-chính trị : “Cộng đồng Quốc phòng Châu Âu (NATO)” và “Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO)” – điều này cũng tác động tiêu cực đến các hoạt động của hội nghị, tạo ra ấn tượng về những đường ranh giới chia rẽ và xung đột mới nổi lên. "Chỉ có sự phản đối quyết liệt đối với những kế hoạch này mới đáp ứng được các mục tiêu của Hội nghị Geneva, mục tiêu của hội nghị này đã và vẫn là khôi phục hòa bình ở Đông Dương", V.M. Molotov nhấn mạnh trong bài phát biểu của mình tại hội nghị vào ngày 14 tháng 5 [7, tr. 304].
Đối với Liên Xô, quốc gia không trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trên bán đảo Đông Dương, Hội nghị Geneva có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện chính sách quốc tế nhằm chấm dứt mọi cuộc chiến tranh và đảm bảo sự chung sống hòa bình giữa các quốc gia. Tại phiên họp toàn thể của BCHTW ĐCS Liên Xô ngày 2 tháng 3 năm 1954, V.M. Molotov tuyên bố: "Hội nghị Geneva sẽ phải đối mặt với nhiệm vụ khó khăn là đảm bảo khôi phục hòa bình và quyền của các dân tộc Đông Dương. Điều quan trọng nhất sẽ phụ thuộc vào lập trường của chính phủ Pháp và sự thừa nhận của tất cả các bên tham gia Hội nghị về sự cần thiết phải giải quyết vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương không phải bằng cách tiếp tục một cuộc chiến vô vọng, mà bằng một thỏa thuận dựa trên các nguyên tắc độc lập dân tộc và tự do của các dân tộc Đông Dương" [7, tr. 210].
Để chuẩn bị cho cuộc họp, tại Bộ Ngoại giao Liên Xô vào đầu tháng 4 năm 1954, một tháng trước cuộc tranh luận về vấn đề Đông Dương, các chỉ thị của phái đoàn đã được soạn thảo, bao gồm danh sách các vấn đề cần thảo luận tại Hội nghị Geneva. Trọng tâm của các chỉ thị này là các đề xuất mà theo các tác giả của tài liệu này, sẽ được trình bày tại hội nghị thay mặt cho phái đoàn CHDC Việt Nam. Các đề xuất này được đưa ra như sau:
1. Pháp công nhận chủ quyền và độc lập của CHDC Việt Nam, cũng như Lào và Campuchia.
2. Đạt được thỏa thuận về việc rút toàn bộ quân đội nước ngoài khỏi lãnh thổ Việt Nam, Lào và Campuchia trong một khung thời gian được các bên tham chiến thỏa thuận.
3. Tổ chức bầu cử tự do toàn lãnh thổ tại Việt Nam, Lào và Campuchia.
4. CHDC Việt Nam, cũng như Lào và Campuchia công nhận lợi ích của Pháp về kinh tế và văn hóa, có nghĩa vụ tương hỗ với các bên trong việc ngăn chặn truy tố những người cộng tác với địch.
5. Tương tự như vậy, trong một cuộc chiến chống lại phe đối lập.
6. Trao đổi tù binh chiến tranh lẫn nhau [7, tr. 241].
Các phiên thảo luận về vấn đề Đông Dương bắt đầu tại Geneva vào ngày 8 tháng 5 năm 1954. Và vào ngày 10 tháng 5, người đứng đầu phái đoàn CHDC Việt Nam, ông Phạm Văn Đồng, đã đưa ra các đề xuất tại hội nghị về các điều kiện để khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương, về cơ bản lặp lại luận điểm của các nhà ngoại giao Liên Xô. Những điều chỉnh chủ yếu liên quan đến việc làm rõ các điểm, có tính đến đặc thù khu vực [7, tr. 272-273].
Trưởng đoàn đại biểu Pháp, J.-O. Bidault, đã bác bỏ hầu hết các đề xuất của ông Phạm Văn Đồng trong bài phát biểu của mình tại cuộc họp ngày 14 tháng 5 [7, tr. 307-313]. Đoàn đại biểu Pháp đã thể hiện lập trường không mang tính xây dựng và không sẵn lòng thỏa hiệp trong một thời gian khá dài sau đó. Paris đã cố gắng giới hạn công việc của hội nghị vào việc đạt được một thỏa thuận ngừng bắn, mà không đề cập đến các vấn đề chính trị. Nhưng họ cũng không sẵn sàng cho một cuộc thảo luận cụ thể về các vấn đề quân sự trong một thời gian dài. Hai đồng chủ tọa cuộc họp đã mất rất nhiều thời gian và công sức để buộc Pháp ngồi vào bàn đàm phán với quân đội Việt Nam để thảo luận về các chi tiết cụ thể của một thỏa thuận ngừng bắn. Các cuộc họp như vậy ở Geneva và Việt Nam bắt đầu vào đầu tháng 6 năm 1954. Song song với đó, theo đề nghị của V.M. Molotov, các cuộc họp của các chuyên gia từ Việt Nam, Pháp, Trung Quốc và Liên Xô đã được tổ chức để phát triển một cách tiếp cận mang tính xây dựng nhằm giải quyết các vấn đề về một giải pháp quân sự (tổng cộng, không ít hơn 28 cuộc họp như vậy đã được tổ chức từ đầu tháng 6 đến ngày 16 tháng 7 năm 1954) [7, tr. 620].
Sự thay đổi cơ bản trong lập trường của Pháp chỉ xảy ra sau khi thay đổi chính phủ, khi Pierre Mendes-France trở thành Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Pháp. Nhậm chức vào ngày 19 tháng 6 năm 1954, ông này tuyên bố sẽ từ chức nếu không thể kết thúc thành công các cuộc đàm phán hòa bình ở Đông Dương trong vòng một tháng (tức là vào ngày 20-21 tháng 7). Sau đó, các đại diện của Pháp tại hội nghị trở nên cởi mở hơn với các cuộc đàm phán. Các cuộc đàm phán trực tiếp giữa phái đoàn CHDC Việt Nam và Pháp bắt đầu vào ngày 25 tháng 6 đã thúc đẩy đáng kể việc thảo luận về các vấn đề Đông Dương. Một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình đàm phán là việc, từ cuối tháng 6, các cuộc thảo luận không chính thức bắt đầu được tổ chức thường xuyên hơn, thay vì các phiên họp toàn thể chính thức. Bắt đầu từ ngày 16 tháng 7, việc tổ chức các cuộc họp không chính thức gồm V.M. Molotov, E. Eden và P. Mendes-France đã đảm bảo sự thành công của các cuộc họp.
Là một thành viên của phái đoàn Liên Xô, nhà ngoại giao nổi tiếng M.S. Kapitsa nhớ lại rằng P. Mendes-France đã thiết lập mối quan hệ tốt với V.M. Molotov [2, tr. 264], và đây là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình đàm phán. Cũng đáng lưu ý là sự chuyển đổi sang các cuộc họp kín song phương hiệu quả, được người đứng đầu phái đoàn Liên Xô ủng hộ. Các nhân chứng của các sự kiện tại cuộc họp Geneva lưu ý rằng V.M. Molotov liên tục nỗ lực để đưa lập trường của các bên xích lại gần nhau hơn [2, tr. 266].
M.S. Kapitsa nhớ lại [2, tr. 265]: “Những câu hỏi khó nhất là về thành phần của ủy ban các quốc gia trung lập, về đường phân giới, cũng như về thời điểm tổ chức bầu cử ở Việt Nam”. Ủy ban các quốc gia trung lập sẽ trở thành tổ chức giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội nghị Geneva, chủ yếu là những quyết định liên quan đến việc chấm dứt chiến sự ở Đông Dương. Mỹ và Anh đề xuất rằng LHQ sẽ đóng vai trò này [7, tr. 297, 323]. Các phái đoàn của CHDC Việt Nam và CHDC Trung Quốc kiên quyết phản đối điều này, viện dẫn thực tế rằng Trung Quốc, với 500 triệu dân, và CHDC Việt Nam không được kết nạp vào LHQ. Phái đoàn Liên Xô cũng phản đối việc LHQ làm cơ quan giám sát. Về phần mình, người đứng đầu phái đoàn Liên Xô, V.M. Molotov, đã đề xuất vào ngày 31 tháng 5 thành lập một ủy ban các quốc gia trung lập gồm Ấn Độ, Ba Lan, Tiệp Khắc và Pakistan. Đề xuất này được các phái đoàn của CHDC Việt Nam [7, tr. 331] và CHDC Trung Quốc [7, tr. 374] ủng hộ, nhưng vấp phải sự phản đối từ đại diện các nước phương Tây, họ cho rằng Ba Lan và Tiệp Khắc không thể trung lập do hệ tư tưởng cộng sản chiếm ưu thế ở các nước này. Người Mỹ đặc biệt ngoan cố phản đối tư cách ứng cử của Ba Lan [7, tr. 387]. Đáp lại, các đại diện của Liên Xô, CHND Trung Hoa và CHDC Việt Nam giải thích rằng thuật ngữ "quốc gia trung lập" trong trường hợp này đề cập đến một quốc gia có lực lượng vũ trang không tham gia vào cuộc chiến ở Đông Dương [7, tr. 407]. Để tìm ra một sự thỏa hiệp và thúc đẩy vấn đề, phái đoàn Liên Xô đã đề xuất các lựa chọn khác cho thành phần của ủy ban, ví dụ, vào ngày 16 tháng 6, V.M. Molotov đã đưa ra phương án thay thế gồm Ấn Độ, Ba Lan, Indonesia [7, tr. 411]. Theo như những cuộc tiếp xúc với các nhà ngoại giao Ấn Độ, họ không muốn tham gia cùng một ủy ban với người Pakistan [7, tr. 400].
Vấn đề về thành phần của Ủy ban đã được quyết định vào phút cuối của cuộc họp, ngay trước khi Tuyên bố Cuối cùng được thông qua. Vào ngày 20 tháng 7, các bên tham gia cuộc họp đã nhất trí về thành phần gồm Ấn Độ (chủ tịch), Ba Lan và Canada [7, tr. 483].
Vấn đề đường phân giới đã được giải quyết trong một thời gian dài và với nhiều khó khăn. Sự cần thiết của đường phân giới này xuất phát từ nhu cầu phân tách các lực lượng đang đối đầu ở Việt Nam và tách lực lượng viễn chinh Pháp cùng các lực lượng đồng minh khỏi những người ủng hộ vũ trang của chính phủ Hồ Chí Minh. Đồng thời, như đã được đề cập trong một bài phát biểu của người đứng đầu phái đoàn CHDC Việt Nam rằng, mỗi bên nên có lãnh thổ liên tục, tương đương, “với các điều kiện riêng của mỗi khu vực cho hoạt động kinh tế, để thiết lập chính quyền ở mỗi khu vực" [7, tr. 325]. Có một sự hiểu biết chung rằng các chiến binh của Hồ Chí Minh nên được điều động về phía bắc, và quân đội Pháp về phía nam. Điều này được quyết định bởi các lập trường mà các bên đưa ra khi bắt đầu Hội nghị Geneva.
Điểm mấu chốt là tọa độ của đường phân giới. Vào cuối Thế chiến II, các thành viên của liên minh chống phát xít đã chọn vĩ tuyến 16 làm đường phân chia trách nhiệm giữa các nước tiếp nhận sự đầu hàng của quân đội Nhật Bản ở Đông Dương. Tại Geneva, phái đoàn CHDC Việt Nam khăng khăng rằng đường phân giới nên chạy xa hơn về phía nam-dọc theo vĩ tuyến 13, vì đoạn từ đó trở lên phía bắc có những khu vực mà người dân kiên định ủng hộ cộng sản. Phái đoàn Pháp lại khăng khăng rằng đường phân giới nên chạy dọc theo vĩ tuyến 18. P. Mendes-France, trong cuộc trò chuyện với V.M. Molotov vào ngày 15 tháng 7, đã giải thích điều này vì một số lý do. Đây là điểm hẹp nhất trên bản đồ Việt Nam, cho phép giám sát việc tái triển khai quân đội chính xác hơn; trước đây, đường này đánh dấu biên giới giữa Bắc Kỳ và An Nam, các đơn vị hành chính thời thuộc địa, và quân đội Pháp luôn chiếm đóng khu vực giữa vĩ tuyến 16 và 18. Tuy nhiên, lý do quan trọng nhất khiến chính phủ Pháp không đồng ý với đường phân chia phía nam vĩ tuyến 18 là vì nó sẽ tách kinh thành Huế và Quốc lộ 9, tuyến đường nối Lào với bờ biển Việt Nam khỏi sự kiểm soát của Pháp. Tại cuộc gặp riêng với Thủ tướng Pháp, người đứng đầu phái đoàn Việt Nam, Phạm Văn Đồng, đã đồng ý vạch đường phân giới dọc theo vĩ tuyến 16 [7, tr. 474-475]. Phía Trung Quốc coi đây là một đề xuất không thực tế do sự phản kháng ngoan cố của Pháp và các nước phương Tây khác, trong khi phái đoàn Liên Xô coi vĩ tuyến 17 là "giới hạn mơ ước” [3, tr. 66].
Một thỏa hiệp đã đạt được tại cuộc họp cuối cùng, có sự tham dự của V.M. Molotov, Chu Ân Lai, E. Eden, P. Mendes-France và Phạm Văn Đồng. Nhân việc đạt được thỏa thuận về các vấn đề chính trị lớn, phái đoàn Việt Nam đã đồng ý với thỏa hiệp. Như nhà ngoại giao nổi tiếng của Việt Nam Lưu Văn Lợi đã viết, "... mong muốn kết thúc hội nghị và xem xét quan điểm của các bên tham gia khác, chúng tôi đã chấp nhận vĩ tuyến 17" [3, tr. 67].
Cả hai bên đều có những nhượng bộ: Pháp giao cho đối thủ hai thành phố lớn nhất của Việt Nam là Hà Nội và Hải Phòng, cùng khu vực vốn rất quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia – Đồng bằng sông Hồng. Mặc dù họ bị buộc phải rời khỏi vùng đồng bằng sông Mekong.
Thỏa thuận vạch ra đường phân giới dọc theo vĩ tuyến 17 không thể được coi là quyết định của Hội nghị Geneva nhằm thiết lập hai nhà nước Việt Nam - Cộng hòa Việt Nam ở phía nam và CHDC Việt Nam ở phía bắc. Tất cả các bên tham gia cuộc họp, bao gồm cả phái đoàn của Pháp và Nhà nước của Bảo Đại [7, tr. 294], đều nhất trí ủng hộ sự thống nhất của Việt Nam thời hậu chiến. Đường phân giới chỉ được coi là một ranh giới tạm thời, ở hai bên ranh giới đó các lực lượng tham chiến sẽ bị chia tách và tránh đụng độ. Nó sẽ không còn tồn tại sau cuộc tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
Vấn đề tổng tuyển cử, về cơ bản là tương lai chính trị của Việt Nam, cũng đòi hỏi phải thảo luận lâu dài. Ngay từ đầu, phái đoàn Liên Xô đã phản đối những nỗ lực ban đầu của phái đoàn Pháp chỉ nhằm giải quyết vấn đề ngừng bắn tại hội nghị. Phát biểu tại cuộc họp ngày 14 tháng 5 năm 1954, V.M. Molotov nói: “Ở đây đôi khi họ đưa ra những đề xuất không đề cập đến lịch sử của vấn đề, gạt bỏ các vấn đề chính trị, giới hạn bản thân vào khía cạnh quân sự của vấn đề Đông Dương, v.v. Nếu chúng ta đi theo con đường này, chúng ta sẽ không đạt được gì trong việc giải quyết nhiệm vụ được đặt ra trước Hội nghị Geneva” [7, tr. 297].
Dưới áp lực từ các phái đoàn của Liên Xô, CHND Trung Hoa, CHDC Việt Nam và các bên tham gia khác, trong cuộc họp đã nhất trí về sự cần thiết phải giải quyết các vấn đề chính trị, quan trọng nhất là việc Pháp trao độc lập thực sự cho 3 quốc gia từng là thuộc địa của mình và sự công nhận nền độc lập này của cộng đồng quốc tế, cũng như tương lai chính trị của người dân Việt Nam. Các bên tham gia kết luận rằng vấn đề này có thể được giải quyết thông qua các cuộc tổng tuyển cử tự do được tổ chức trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Những cuộc bầu cử này sẽ quyết định việc lựa chọn một chính phủ thống nhất cho đất nước. Các nước phương Tây không ngay lập tức đồng ý với ý tưởng này. Ban đầu, họ ủng hộ việc thành lập một chính phủ liên minh bao gồm đại diện của các đảng phái chính trị khác nhau của Việt Nam. Trên hết, các đại diện của CHDC Việt Nam không đồng ý với điều này. Phái đoàn Việt Nam đề xuất tổ chức bầu cử tự do, điều này ngay lập tức được các nhà ngoại giao Liên Xô ủng hộ. Phía Mỹ kiên quyết phản đối ý tưởng tổng tuyển cử, tuyên bố Việt Nam "chưa trưởng thành" trong việc tổ chức bầu cử [7, tr. 359]. Phái đoàn Pháp đồng ý tổ chức bầu cử, nhưng tin rằng việc chuẩn bị cho chúng "sẽ cần một khoảng thời gian đáng kể" [7, tr. 335].
Cuộc thảo luận chính cũng xoay quanh thời điểm tổ chức bầu cử. Phái đoàn Việt Nam nhấn mạnh rằng cuộc bỏ phiếu phải diễn ra trong vòng 6 tháng kể từ khi kết thúc Hội nghị Geneva, nhằm tận dụng những thành công của họ trong lĩnh vực quân sự và chính trị. P. Mendes-France tin rằng cần một khoảng thời gian dài hơn để chuẩn bị cho cuộc bầu cử. "Trước khi tiến hành bầu cử, cần phải thực hiện một loạt các hoạt động phức tạp," ông ta nói trong cuộc trò chuyện với V.M. Molotov, "chúng tôi phải tạo cơ hội để tổ chức các đảng phái, củng cố chúng, phát triển công tác tuyên truyền của chúng" [7, tr. 473]. Do đó, vị Ttg Pháp cho rằng việc không đặt ra thời hạn cho cuộc bầu cử tại hội nghị là hợp lý. Người đứng đầu phái đoàn Liên Xô không đồng ý với điều này, nói với đồng nghiệp Pháp của mình rằng "giải pháp tốt nhất và rõ ràng nhất cho vấn đề này là đặt ra thời hạn tổ chức bầu cử tại Hội nghị Geneva" [7, tr. 473].
Cuối cùng, cuộc họp đã ấn định ngày tổ chức tổng tuyển cử tại Việt Nam.
Tháng 7 năm 1956, như đã ghi nhận trong báo cáo của phái đoàn Việt Nam gửi lãnh đạo đất nước, “việc ấn định ngày bầu cử chung là thành công to lớn của chúng ta”, mặc dù “kẻ thù không đồng ý với điều này cho đến phút cuối cùng” [7, tr. 508].
Các sự kiện sau đó ở Việt Nam cho thấy rằng người Mỹ và các thế lực ủy nhiệm của họ ở Nam Việt Nam chỉ có một năm để phá hoại cuộc tổng tuyển cử ở Việt Nam – vào tháng 10 năm 1955, Cộng hòa Việt Nam được tuyên bố thành lập dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông ta công khai từ chối thực hiện các quyết định của Hội nghị Geneva.
Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô đã thể hiện kỹ năng ngoại giao của mình vào ngày cuối cùng của hội nghị. Chiều ngày 21 tháng 7, Tuyên bố Cuối cùng dự kiến được ký kết, nhưng đại diện Mỹ, B. Smith, đã từ chối ký văn bản, ông ta cho rằng nó chấp thuận việc chuyển giao một phần Việt Nam cho chính phủ cộng sản kiểm soát (thực tế, không có từ ngữ nào như vậy trong văn bản). Để cứu vãn tình hình, các đồng chủ tịch hội nghị, V.M. Molotov và E. Eden đã nhất trí tuyên bố không cần toàn bộ các bên ký kết. Tiêu đề văn bản liệt kê tất cả các bên tham gia hội nghị, những người, ngoại trừ đại diện Mỹ, không đưa ra bất kỳ bình luận nào về văn bản. Nói cách khác, văn bản đã được thông qua với sự đồng thuận ngầm của tất cả các bên tham gia. Đoàn đại diện Mỹ tuyên bố rằng chính phủ của họ ghi nhận thỏa thuận đã đạt được, ngoại trừ điểm 13, quy định về khả năng tham vấn thêm giữa các bên tham gia cuộc họp về việc thực hiện các quyết định của cuộc họp [2, tr. 265].
Đồng chủ tịch người Anh của Hội nghị Geneva có quan điểm khác. E. Eden tuyên bố tại cuộc họp cuối cùng: "Đây là thỏa thuận tốt nhất mà chúng tôi đã đạt được bằng chính tay mình" [3, tr. 69].
Đoàn đại biểu Việt Nam, trong một báo cáo gửi lãnh đạo đất nước, đã đánh giá kết quả của Hội nghị Geneva như sau: “… ba thỏa thuận về việc ngừng các hành động quân sự ở Việt Nam, Campuchia và Lào cùng Tuyên bố chung của Hội nghị Geneva đã giải quyết vấn đề Đông Dương chính xác theo các yêu cầu cơ bản của lập trường chúng ta” [7, tr. 509].
Chính phủ Liên Xô, trong Tuyên bố ngày 23 tháng 7 năm 1954, nhấn mạnh rằng các thỏa thuận "đánh dấu một chiến thắng quan trọng cho các lực lượng hòa bình và một thất bại nghiêm trọng cho các lực lượng gây chiến." Xét về tầm quan trọng của hội nghị Geneva trên phạm vi toàn cầu, lãnh đạo Liên Xô lưu ý rằng điều đó có nghĩa là "hiện nay, không có vấn đề gây tranh cãi nào trong quan hệ quốc tế mà không thể giải quyết được thông qua đàm phán và các thỏa thuận nhằm tăng cường an ninh quốc tế, giảm căng thẳng quốc tế và đảm bảo sự chung sống hòa bình của các quốc gia, bất kể hệ thống xã hội của họ" [7, tr. 515].
Kết quả và kết luận: Diễn biến sau đó cho thấy không phải tất cả các bên tham gia Hội nghị Geneva đều giữ thái độ tôn trọng đối với các quyết định của Hội nghị. Như đã nêu ở trên, chính quyền Sài Gòn với sự hỗ trợ của Mỹ, đã tiến hành thành lập một nhà nước riêng biệt ở miền Nam Việt Nam và bắt đầu đàn áp các đối thủ chính trị, một hành động bị cấm trong các văn kiện Geneva. Tại Hà Nội, sau khi đánh giá đúng mức các hành động lật đổ của Mỹ và các uỷ nhiệm của họ tại Sài Gòn, vào tháng 1 năm 1959, đi đến quyết định rằng con đường duy nhất để thống nhất là tiến hành đấu tranh vũ trang ở miền Nam Việt Nam.
Một chút chỉ trích đối với Hiệp định Geneva 1954 đã xuất hiện vào những năm 1970 ở sau khi Việt Nam thống nhất. Theo đó, nhà ngoại giao kỳ cựu Mai Văn Bộ tin rằng mục đích của các thỏa thuận Geneva chỉ là chấm dứt hành động quân sự trên bán đảo Đông Dương [11, tr. 88]. Một đánh giá tiêu cực không chính đáng khác có thể được tìm thấy trong cuốn sách nhỏ “Sự thật về quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong 30 năm qua”, do Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam biên soạn vào thời điểm căng thẳng Việt Nam - Trung Quốc lên đỉnh điểm (thời Lê Duẩn). Cụ thể, cuốn sách này viết rõ: Quyết định Geneva đã ngăn cản nhân dân Việt Nam, Lào và Campuchia giành được chiến thắng hoàn toàn, điều mà vào thời điểm đó, xét theo cán cân lực lượng hiện có trên chiến trường, là hoàn toàn khả thi [5, tr. 30].
Moskva đã trung thành với tinh thần và nội dung của Geneva lâu hơn bất kỳ ai khác. Trên thực tế, điều này tiếp tục cho đến khi ký kết Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam năm 1973, tức là cho đến khi chấm dứt sự xâm lược của Mỹ ở Đông Dương. Trong vài năm đầu sau khi Hội nghị Geneva kết thúc, chính phủ Liên Xô kiên trì ủng hộ việc thực hiện các quyết định của hội nghị. Do đó, một trong những văn kiện tháng 7 năm 1955 nêu rõ rằng "các quốc gia đã ký Hiệp định Geneva, cũng như tất cả các quốc gia tham gia thực hiện các hiệp định này, phải thực hiện các biện pháp cần thiết để thực hiện chúng" [11, tr. 15]. Khi Mỹ phát động cuộc chiến tranh xâm lược chống lại nhân dân Việt Nam, các tuyên bố của Liên Xô cho thấy Mỹ đã vi phạm nghiêm trọng Hiệp định Geneva năm 1954 [6, tr. 100].
Ngày nay, lịch sử của Hội nghị Geneva phần nào bị lu mờ giữa các sự kiện toàn cầu và khu vực khác dù đã ghi dấu ấn trong hơn bảy thập kỷ qua. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận rằng công việc của phái đoàn Liên Xô do V.M. Molotov dẫn đầu đã đóng góp đáng kể và lâu dài vào lý thuyết và thực tiễn ngoại giao Nga.
Liên Xô đã khởi xướng Hội nghị Geneva về Đông Dương, đảm bảo sự tham gia của các phái đoàn từ CHDC Việt Nam và CHDCND Trung Hoa và đảm bảo rằng hội nghị không chỉ dừng lại ở vấn đề chấm dứt xung đột quân sự mà còn giải quyết tương lai chính trị của các nước Đông Dương. Ngoại giao Liên Xô đã ngăn chặn các kế hoạch của Mỹ nhằm phá vỡ hội nghị. Moskva đề xuất việc xây dựng các điều khoản chính cho một giải pháp chính trị, sau đó được phái đoàn CHDC Việt Nam nêu ra và đưa vào các văn kiện cuối cùng. Tại Geneva, các thành viên của phái đoàn Liên Xô liên tục đưa ra lời khuyên cho các đồng nghiệp từ Việt Nam và Trung Quốc. Sự hợp tác giữa ba phái đoàn—Liên Xô, Việt Nam và Trung Quốc rất chặt chẽ và mang tính xây dựng, mang lại kết quả tích cực cho toàn bộ hội nghị. Quyết tâm đạt được kết quả và sự sẵn lòng thỏa hiệp hợp lý của phái đoàn Liên Xô đã đảm bảo rằng hội nghị kết thúc với những kết quả vì lợi ích hòa bình và an ninh trong khu vực và trên toàn cầu. Một nguồn gốc chính của xung đột quân sự đã được loại bỏ. Đường lối cùng tồn tại hòa bình đã chứng minh được giá trị của nó.
Các tác giả:
T.A. Zakaurtseva, T.V. Kashirina, P.Yu. Tsvetov - Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga.
T.A. Zakaurtseva - Phó Hiệu trưởng phụ trách Học thuật của Học viện Ngoại giao thuộc Bộ Ngoại giao Nga, Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Lịch sử.
T.V. Kashirina - Trưởng khoa Quan hệ Quốc tế của Trường Cao đẳng Ngoại giao. Học viện Lomatic thuộc Bộ Ngoại giao Nga.
P. Yu. Tsvetov - Phó Giáo sư Khoa Quan hệ Quốc tế, Học viện Ngoại giao, Bộ Ngoại giao Nga, Tiến sĩ Kho học Lịch sử.
Tài liệu tham khảo:
1. Kadymov G.G. The road to independence. Moscow 1966, 240 p.
2. Kapitsa M.S. On different parallels. Diplomat's Notes. Moscow 1996. 479 p.
3. Ognetov I.A. On the Vietnamese direction. Moscow 2007. 324 p.
4. The funeral of Stalin. Comrade Malenkov's speech. URL: http://Stalin.narod.ru/malenkov.htm (accessed: 19.08.2020).
5. The truth about Vietnamese-Chinese relations over the past 30 years. Ministry of Foreign Affairs, 1979, 112 p.
6. Soviet Union - Vietnam. 30 years of relationship. 1950-1980. Documents and materials. Moscow 1982, 655 p.
7. Soviet Union and Vietnam during the first Indochina war. Geneva Conference. 1954: Collection of documents and materials. Moscow, 2017. 678 p.
8. Takman B. An ode to political stupidity. From Troy to Vietnam. Moscow, AST, 2015, 544 p.
9. Ho Chi Minh: Selected articles and speeches. Moscow 1959. 815 p.
10. Goscha Ch. Vietnam. New history. New York, Basic books 2016, 553p.
11. Mai Van Bo. Chung toi hoc lam ngoai giao voi Bac Ho. T.p. Ho Chi Minh 2015, 107tr.