Underdog vĩ đại nhất - Cách Ajax Amsterdam mê hoặc thế giới năm 1995
Bài viết nói về thời kì vàng son của Ajax với chức vô địch C1 năm 1995.

Không có gì phù du như niềm hạnh phúc trong bóng đá. Khoảnh khắc này, đội bóng đang ăn mừng chiến thắng và giương cao chiếc cúp, nhưng chỉ khoảnh khắc tiếp theo, các cầu thủ đã tản mác khắp bốn phương trời. Leverkusen vừa trải qua một sự sụp đổ như vậy, cũng giống như Bayern Munich sau cú ăn sáu năm 2020 và Leicester City sau chức vô địch quốc nội giật gân năm 2016 của họ. Hiếm có đội bóng nào từng mê hoặc thế giới bóng đá và sau đó sụp đổ như Ajax Amsterdam trong mùa giải 1994/95, đỉnh cao là chiến thắng bất ngờ tại Chung kết Champions League của họ. Những huyền thoại đã chơi trên sân cỏ ấy, từ Danny Blind, Patrick Kluivert đến Edgar Davids, Edwin van der Sar và Clarence Seedorf, dưới sự dẫn dắt của ông thầy lập dị Louis van Gaal. Chiến thắng tại Cúp C1 châu Âu là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất của một kèo dưới trong lịch sử bóng đá và là một câu chuyện, giống như nhiều câu chuyện khác, nói lên vẻ đẹp và sự hấp dẫn của môn thể thao vua.

Tuy đồ uống ngon miễn bàn, bầu không khí tại sân Olympiastadion Amsterdam lại ảm đạm đến kì lạ. Nhưng với đội bóng vừa bảo vệ thành công chức vô địch thì điều đó không quan trọng.
Ajax Amsterdam trong nhiều năm đã gắn liền với triết lý “Totaalvoetbal” của Rinus Michels và Johan Cruyff. Nhưng rồi Louis van Gaal xuất hiện và đưa Ajax trở lại đỉnh cao châu Âu và viết nên những trang mới cho lịch sử bóng đá.
Patrick Kluivert lẽ ra rất muốn tự mình lái xe đi dự tiệc ăn mừng chiến thắng, nhưng sau trận chung kết, cậu phải nhờ một đồng đội chở tới bữa tiệc. Chàng trai 18 tuổi khi đó vẫn chưa có bằng lái. Vài giờ sau cậu đứng ở quầy bar, tay cầm cốc bia và trước sự bao vây của cánh nhà báo. Câu nói duy nhất của Kluivert: “Tôi không biết mình có xứng đáng với điều này không, nhưng tôi biết chắc là tôi sẽ không bao giờ quên.”

Những đứa trẻ vàng: Patrick Kluivert, 18 tuổi (trái) và Clarence Seedorf, người lớn hơn anh một tuổi.
Tối hôm đó ai cũng hơi… kiệm lời. Tất cả những người mặc áo Ajax Amsterdam trên sân Prater ở Vienna vừa tạo nên một trong những hiện tượng lớn nhất của bóng đá cấp câu lạc bộ châu Âu bằng chức vô địch Champions League trước nhà đương kim vô địch AC Milan. Hầu hết người ta đều cho rằng AC Milan có lợi thế lớn, hơn nữa trước trận đấu Johan Cruyff còn tiên tri đầy u ám: “ Trông thì có vẻ người Ý sẽ không bao giờ thắng được bạn, nhưng bạn thì có thể thua họ đấy.” Và Cruyff biết điều đó hơn ai hết, vì suy cho cùng chỉ mới năm trước thôi, ông đã bị Milan của Fabio Capello “xử đẹp” 4:0 trong trận chung kết khi cầm Barcelona. Thế nên chẳng có gì lạ khi Ajax nhập cuộc cực kỳ thận trọng và thiên về phòng ngự, cả hai đội đều triển khai lối đá đầy thăm dò. Bất lợi cho Ajax nữa là chân sút số một Jari Litmanen bị thay ra đầu hiệp hai vì chấn thương cơ do mặt sân cỏ trơn. “Suốt cả tuần tôi không thấy khỏe, tôi hầu như không ngủ và mắt tôi đỏ cả lên.” Nhưng rồi trận đấu đi tới hồi kết và HLV Ajax Louis van Gaal quyết định tung tài năng trẻ Patrick Kluivert - của nhà làm ra từ lò “De Toekomst” vào sân nhằm thổi một luồng gió tươi mới vào hàng công.

Trên đường đến trận chung kết, Ajax đả bại Bayern Munich ở bán kết. Jari Litmanen (bên phải) đã ghi bàn trong chiến thắng 5-2 trước đội bóng đến từ Munich.
Kết truyện thế nào thì ai cũng biết. Nhưng nó đã bắt đầu từ đầu những năm 1990 với cuộc va chạm của hai nền văn hóa rất khác nhau, vốn dường như chẳng khớp với nhau chút nào. Có lẽ chính vì thế mà điều gì đó lớn lao đã ra đời từ đó. Một bên là vị thánh của CLB, Johan Cruyff, người đã đưa Ajax lên đỉnh thế giới trong những năm 70, trước hết là với tư cách cầu thủ, sau đó là huấn luyện viên. Dưới thời Rinus Michels, ông là bộ não của đội đã chơi thứ bóng đá tổng lực, coi mỗi vị trí chỉ là chỗ dừng tạm thời chứ không bao giờ là điểm đứng cố định. Cruyff khi thì là trung phong, khi là số 10, khi là cầu thủ chạy cánh, đôi khi còn là libero – và đôi lúc là tất cả những vai trò đó trong cùng một trận. Tự do với ông chưa bao giờ định nghĩa là hỗn loạn, mà là khả năng chơi trong một cấu trúc mà mình thuộc nằm lòng đến mức có thể tùy ý biến hóa. Từ quãng thời gian học việc ở Barcelona đến Feyenoord, với tư cách HLV ông đã mang về Amsterdam một điều gì đó nhiều hơn là chiến thuật: một triết lý bền vững. “Bóng đá rất đơn giản”, ông từng nói, “nhưng để chơi đơn giản mới là khó.” Câu nói này trở thành câu thần chú ở “De Toekomst”, lò đào tạo trẻ mà lát nữa ta sẽ còn nhắc tới. Cruyff nhất quyết rằng mọi đội bóng, từ lứa nhỏ nhất cho tới đội một, đều phải chơi với ý tưởng trung tâm là cầm bóng. Kỹ thuật được đặt lên trước thể lực, sự sáng tạo lên trước sức mạnh cơ bắp, và mỗi cầu thủ phải chơi được ít nhất ba vị trí. Trên sân Cruyff chỉ thực sự gay gắt khi cầu thủ tỏ ra quá thoải mái. Frank de Boer sau một đường chuyền hỏng đã bị ông quở: “Không tệ – nhưng nếu cậu muốn đi dạo thì hãy ra công viên, đừng đến sân bóng.”
Louis van Gaal tiếp quản Ajax năm 1991, khi hào quang của thời Cruyff đã phai đi nhiều. Việc ông được chọn làm người kế nhiệm HLV giàu kinh nghiệm Leo Beenhakker đã được giới chuyên môn đón nhận với sự hoài nghi: HLV mới còn quá ít kinh nghiệm, lại làm màu quá nhiều ngoài sân. Và nhiều định kiến dường như được xác nhận rất nhanh. Có những buổi tập ông ngồi trên một chiếc ghế nhựa như thể đó là ngai vàng vậy. Ông không tiếc lời phê bình, bắt lặp lại bài tập cho tới khi cầu thủ thở hổn hển vì bực dọc. “Mọi thứ đều thay đổi,” Brian Roy – người có mặt trong mùa giải cầm Ajax đầu tiên của Van Gaal – kể lại, “cậu có thể cảm nhận được tham vọng của ông ấy, sự hứng khởi của ông ấy. Buổi tập nào cũng là một sự kiện. Ông ấy quát, ông ấy thúc đẩy. Thú thật tôi có vấn đề với Van Gaal, nhưng ông ấy là một trong số những HLV hay nhất mà tôi từng biết.”
Dù sao thì HLV mới cũng nhanh chóng chứng minh ai là người có tiếng nói ở đây. Ở Amsterdam, cái sự lãng mạn lúc nào cũng vây quanh “nhà tư tưởng vĩ đại” Johan Cruyff khiến ông khó chịu, và cũng hơi chạm vào cái tôi của ông. Van Gaal nhìn bóng đá như một cỗ máy phức tạp và các cầu thủ như những bánh răng phải ăn khớp hoàn hảo với nhau. Muốn vậy thì chỉ có kỷ luật, ông nghĩ thế. Ở chỗ Cruyff đôi khi vẫn cho phép cầu thủ vượt ra ngoài khuôn khổ, thì Van Gaal kẻ ra những đường ranh giới rất rõ: ai cũng phải biết lúc nào chạy, lúc nào chuyền và lúc nào phải pressing. Thế nhưng: những cầu thủ trẻ trong hệ thống của ông lại là những đứa con của “kiến trúc sư” Cruyff. Clarence Seedorf, Edgar Davids, cặp song sinh nhà De Boer, Patrick Kluivert – họ đều đã học từ nhỏ rằng phải yêu quả bóng, dám mạo hiểm, và tự tìm lời giải. Van Gaal bây giờ cho họ cái cấu trúc để làm điều đó. Những căng thẳng giữa hai người đàn ông này thì nổi tiếng rồi. Cruyff đôi khi thấy sự tỉ mỉ của Van Gaal là một kiểu bóp nghẹt sáng tạo. Van Gaal lại cho rằng cách tiếp cận của Cruyff quá lỏng lẻo, quá bản năng. Nhưng trong những năm Ajax chinh phục châu Âu thì hai thứ ấy cùng tồn tại song song – di sản của tự do và sức mạnh của trật tự. Đội bóng năm 1995 theo nghĩa đó là một thứ lai hoàn hảo: nó chơi chính xác như một cái đồng hồ, mà lại nhẹ nhàng như một ban nhạc hòa tấu.
Thành tích của CLB mùa 1994/95 vì thế mà trông cũng hoàn hảo y như vậy. Ở Eredivisie, Ajax bất bại, thắng 27 trận, hòa 7, ghi 106 bàn và chỉ để lọt lưới 28 bàn. Ajax nghiền nát đối thủ như một chiếc xe ủi: 8:0 trước Sparta Rotterdam, 7:0 trước Willem II Tilburg, 5:0 ngay tại Rotterdam trước Feyenoord. Những trận ở Champions League – giải đấu mới chỉ mới được thành lập ba năm trước đó – cũng hóa thành một cuộc thị uy sức mạnh. Các trận ở cúp châu Âu đồng thời cho thấy rất rõ việc Ajax thời ấy là giao thoa giữa truyền thống và hiện đại. SVĐ Amsterdam Arena như một hình mẫu cho các sân bóng hiện đại đang được xây ngày nay, chẳng bao lâu nữa 55.000 khán giả sẽ có thể đến xem mỗi tối. Nhưng mùa 1994/95, CLB vẫn còn đá một phần số trận ở sân Olympic – được xây cho Thế vận hội năm 1928 và vì thế cần tu sửa – và một phần ở sân nhà cũ “De Meer”, so với nó thì sân Olympic trông hiện đại hơn hẳn.

Vào các trận đấu lớn, Ajax đá trên Sân vận động Olympic cổ kính năm 1928. Việc chuyển đến Johan-Cruyff-Arena mãi đến năm 1996 mới diễn ra.
“De Meer”, đặt tên theo quận Watergraafsmeer, chính là Ajax nguyên bản: nằm giữa một khu dân cư ở phía đông Amsterdam. Mỗi khi Ajax đá, tiếng ồn vọng cả ra những con phố xung quanh, và một số cư dân thì xem chùa từ trên mái nhà của họ. Sân chỉ chứa được chừng 19.000 người và hàng ghế đầu tiên sát mặt cỏ đến mức các cầu thủ khi đá phạt góc gần như dẫm lên giày khán giả. Edgar Davids kể: “Cậu nhìn được mặt các CĐV ngay khi cậu có bóng. Đôi khi áp lực từ họ còn căng hơn từ đối thủ nữa.” Sau khung thành lúc nào cũng tụ tập một đám thanh niên, nhiều lần chỉ chịu ném trả bóng sau khi bị hò hét thúc giục. Trong sân là một mùi pha trộn bền bỉ: mùi đồ chiên từ các quầy hàng ăn và làn khói xanh từ những điếu xì gà mà các CĐV lớn tuổi cứ thế phì phèo. Gặp gió ngược là cầu thủ như chạy xuyên qua bức tường khói. Mọi thứ trong sân đều cũ và có lịch sử của nó. Bảng tỷ số cơ thường được vận hành khá cẩu thả. Có trận ở thập niên 80, kết quả cứ để 1:0 suốt mấy phút liền, mặc dù Ajax đã dẫn 3:0. CĐV ở khán đài đối diện la ó người giữ bảng đến mức ông ta phải ló đầu ra khỏi cái hộp nhỏ, nhún vai xin lỗi.
Ở sân Olympic thì nề nếp hơn, nhưng những trận kín chỗ ở Champions League vẫn rất nóng. Nhất là khi ngay từ vòng bảng mà nhà đương kim vô địch đã ghé thăm, và ở Amsterdam chẳng ai ngờ rằng sẽ còn gặp lại họ ở trận chung kết. Ajax chơi bóng đầy trẻ trung, gan lì và bướng bỉnh, và họ đã viết nên cái huyền thoại ấy: Ronald de Boer sút sệt từ cự ly mười mét vào góc, Jari Litmanen đệm thêm, chiến thắng 2:0 trước Milan trở thành những dòng tít trên báo – và sau trận, những tài năng trẻ của Ajax đứng rụt rè ở đường hầm vì muốn đổi áo với các ngôi sao Ý. Từ đó trở đi là một chuyến hành trình mà ở mỗi chặng dừng, mỗi điểm đến đều làm hình ảnh của đội bóng sắc nét hơn: một chiến thắng ở Athens, một Ajax già dơ hạ gục Salzburg – và thêm một lần vinh quang nữa trước Milan ngay trên đất Ý. Cuối cùng Ajax cũng bất bại ở châu Âu và thậm chí chào sân khán giả với tư cách nhất bảng. Con số thì khô khốc – bốn thắng, hai hòa, 9:2 hệ số bàn thắng bại – nhưng trên sân cỏ đó là thứ “bóng đá tổng lực” nhưng trong hình hài mới: Rijkaard là sự điểm tĩnh, Blind là người điều phối, Reiziger và Frank de Boer xây dựng từ dưới lên, phía trước họ là Davids, Seedorf, Litmanen – và rồi hai bên cánh mở toang như cửa sổ: Finidi George và Overmars.
Qua trận gặp Split thì Ajax cuối cùng đã đến Munich và giành được trận hòa 0:0 đầy may rủi – họ nhai kẹo cao su, chơi bóng với Kanu ở vị trí trung vệ. Hai tuần sau, ngày 19.4.1995, Ajax gặp lại nhà vô địch nước Đức, lần này thì cả sự gắn kết lẫn tính triệt để đều có mặt. Đội hình khi đó: van der Sar – Reiziger, Blind, Frank de Boer, Bogarde; Davids, Seedorf; Finidi George, Ronald de Boer, Overmars – Kluivert. 5:2. “Bayern bị nghiền nát”, người ta viết vậy, còn thủ môn tội nghiệp Sven Scheuer chỉ còn biết lắc đầu chứ chẳng nói được gì nữa, và chủ tịch Bayern Franz Beckenbauer thì thở dài, ví rằng nếu đây là một cuộc đua xe thì Ajax đã chơi như một chiếc “Porsche”, còn Bayern thì như một chiếc “xe làm làm từ tôn”. Việc Patrick Kluivert với bộ dạng đẫm máu trên sân Prater sau này hay cú đánh đầu của Marc Overmars ấn định tỷ số 5:2 chỉ là một chi tiết bên lề của việc cuộc tranh tài này gần như đã được quyết định từ trước bởi chính tuổi trẻ. Thế nên buổi chiều khải hoàn ấy cũng là một lời chúc mừng cho lò đào tạo Ajax – “De Toekomst”, tiếng Hà Lan nghĩa là “Tương lai”.

“Anh cả” Patrick Kluivert cùng các cầu thủ trẻ Ajax trên bãi biển Egmont an Zee.
Công việc của hệ thống đào tạo đi theo một châm ngôn: tài năng không phải là chuyện ngẫu nhiên, mà là sản phẩm hợp lý của quá trình đào tạo, của tính kỷ luật và của một triết lý riêng. Và như rất nhiều thứ ở Amsterdam, điều này cũng xuất phát từ Johan Cruyff với hình hài của lòng nhiệt thành và sức hút cá nhân. Cậu bé đến từ khu Betondorp của Amsterdam không chỉ là sản phẩm đầu tiên, mà rồi còn trở thành biểu tượng cho việc Ajax có thể tạo ra những ngôi sao của riêng mình – một thế giới mới được nhào nặn từ chính làn da của họ. Vào những năm 70, khi Rinus Michels và người kế nhiệm Stefan Kovács bồi đắp thứ bóng đá tổng lực, thì họ cũng đồng thời đem một mô hình hoàn toàn mới vào CLB. Hệ thống này trước hết phải tạo được niềm tin rằng những tài năng kia sẽ được tin tưởng. Thế nên người ta dựng lên một hệ thống đào tạo thống nhất từ những lứa nhỏ nhất cho tới đội một. Sau này hệ thống đó cũng được đội trẻ lừng danh của Barcelona sao chép lại: mọi đội của Ajax, dù là U8 hay đội dự bị, đều chơi cùng một sơ đồ, cùng nhấn mạnh kỹ thuật, chia nhỏ không gian và đề cao sáng tạo. Những năm 80, học viện này có một địa chỉ cố định: đóng tại khu tập luyện ở Duivendrecht, chỉ cách vài phút là tới khu Arena sau này. Ở đây sau này giới nổi tiếng kéo tới, HLV như Sonny Silooy, Jan Olde Riekerink hoặc Co Adriaanse làm việc với lứa trẻ mỗi ngày về kiểm soát bóng, về cách pressing và về nhận thức vị trí. Tài năng trẻ phải học cách đọc trận đấu, đúng hơn là phải hiểu toàn bộ trò chơi này – một hậu vệ cánh cũng có thể được dùng làm tiền đạo chỉ để mài giũa khả năng tư duy của cậu ta. Việc đào tạo hướng đến việc bẻ gãy những dáng điệu có sẵn trong đầu cầu thủ. Người ta tin rằng cầu thủ chỉ học được từ chính lỗi của mình, để chơi tốt hơn – và phải giữ được can đảm để tiếp tục mắc lỗi. Trong phòng thay đồ hay có những câu nói như “Voetbal is om te genieten” – “Bóng đá là để tận hưởng” – và: “Các huyền thoại Ajax vẫn quay lại để làm người cố vấn: Cruyff, Van Basten, Bergkamp, họ đã truyền lại tri thức của mình cho thế hệ sau. Johan Cruyff thường nói: ‘Ở học viện của chúng ta, trẻ con học trước hết là hiểu trận đấu – và cái đó quan trọng hơn là bóng đá.’”
Mỗi cầu thủ, người đã thắng Champions League ở Vienna ngày năm 1995, đều đã hiểu rằng bóng đá là một trò chơi tập thể và giúp đỡ lẫn nhau. Một kinh nghiệm khó nuốt trôi là đội hình quá nhỏ, vậy nên cuộc cạnh tranh nội bộ quá lớn và áp lực từ HLV quá nặng. Thế nên trong đội hình nhỏ đó đã hình thành nhiều nhóm nhỏ, mà ngày nay người ta hay kể tới nhất là nhóm của Edgar Davids, Clarence Seedorf, Patrick Kluivert và Winston Bogarde, được gọi đùa là “De Kabel” (Sợi cáp). Người khác lại gia nhập nhóm của thủ môn Edwin van der Sar chẳng hạn, người mà trong những câu chuyện anh hùng của năm 1995 không được nhắc tới nhiều, dù chính thủ môn này đã phát minh ra vai trò Thủ môn tham gia xây dựng lối chơi. Anh đã gây ấn tượng từ trước đó với những pha bay người ngoạn mục, nhưng thực ra anh lúc nào cũng ở sẵn đó. “Tôi thích một buổi tối yên ả hơn là được lên báo với bức hình diễu hành cùng cúp,” anh nói. Trong trận chung kết anh chơi sau Blind và Rijkaard như một libero thứ hai.
Frank Rijkaard, nhân vật trầm lặng trong tập thể trẻ này, không chỉ mang đến kinh nghiệm từ Milan và từ những danh hiệu thế giới, mà còn đem tới một thứ hào quang, khiến trên sân tập đôi khi ông không cần nói lấy một lời. Sau này ông kể lại rằng, sau bàn thắng của Kluivert ở trận chung kết, ông đã chạy tới chàng tiền đạo trẻ và gần như siết nghẹt cậu – không phải vì giận, mà vì ôm chặt quá, đến mức Kluivert gần như không thở được.

Clarence Seedorf và Edwin van der Sar ăn mừng chiến thắng ở trận chung kết cúp C1.
Tối hôm ông chia tay sự nghiệp cầu thủ; nhiều người xem đó là một cái kết hoàn hảo: ra đi với tư cách người chiến thắng và làm người cố vấn cho thế hệ mới. Ở bên cạnh ông là Edgar Davids, khi ấy vẫn còn đeo kính bảo hộ, cậu ta chạy hùng hục, cắn người, pressing, chơi như một người sẵn sàng cày nát cả mặt sân. Trong một trận đấu ở PSV Eindhoven cậu ấy còn húc vai vào đối thủ, “Tôi sẽ lấy bóng của anh ngay tối nay, và lấy luôn cả giấc ngủ của anh.” Tính hiếu chiến ấy của Davids được Van Gaal hướng đúng cách, trong trận chung kết gặp Milan cậu là một trong những người đầu tiên lập tức xông vào đường bóng do thủ môn phát lên. Thêm vào đó là “nỗi bi kịch ngọt ngào” của Jari Litmanen, người đã đưa Ajax vào chung kết bằng những bàn thắng của mình. Van Gaal rất trân trọng Litmanen, chẳng phải ngẫu nhiên mà ông đã dành cho cậu chiếc áo số 10 huyền thoại của Bergkamp. Cậu chơi với một sự điềm tĩnh không hề ăn khớp với tốc độ xung quanh – và dưới lớp điềm đạm ấy là vô số ý tưởng và trò nghịch ngợm khác thường. Hai năm trước đó cậu còn đứng nướng giày bóng đá của mình trong phòng xông hơi Phần Lan để cho da mềm hơn. Chất liệu giày khi đó hơi cong và lệch, thế mà Litmanen vẫn ghi bàn liên tiếp vào cuối tuần sau – và chẳng ai còn để ý tới phương pháp của cậu nữa. Marc Overmars thì bẻ gãy thời-không bằng tốc độ xé toang hệ thống phòng ngự của đối phương. Clarence Seedorf cuối cùng là người trẻ nhất trong đội hình xuất phát ở trận chung kết, mới 19 tuổi. Dù đã kinh nghiệm dạn dày, cậu đã có hơn 200 trận chuyên nghiệp. Và khi Seedorf được hỏi rằng điều gì cậu còn nhớ nhất, thì đó luôn là câu nói của Van Gaal trong phòng thay đồ trước trận: “Các cậu giỏi hơn họ – giờ thì chứng minh đi.”
Họ đã chứng minh được: Seedorf, Overmars và cuối cùng là Patrick Kluivert, người đoán được pha chọc khe của Rijkaard, đỡ bóng sang trái và đẩy bóng qua thủ môn Sebastiano Rossi. Sau đó Kluivert chạy về phía đường biên và trong lúc chạy quay mặt lại để cho thấy chiếc áo có in tên mình. Một pha ăn mừng kiêu hãnh, rất hợp với thời đại bóng đá lúc ấy. Vì bóng đá trong năm đó không chỉ được chơi hiện đại hơn mà còn được trình diễn hiện đại hơn. Trận chung kết 1995 là trận đầu tiên không do đài công EBU phát sóng nữa, mà do các đài tư nhân. Và cũng lần đầu tiên áo đấu của các đội vào chung kết Champions League được in kèm logo nhà tài trợ. Nhưng Ajax vẫn nhanh nhẹn hơn cả ở khâu tiếp thị. Họ nhanh chóng trở thành hình mẫu cho vô số CLB, trong đó có cả FC Barcelona. “Chỉ khi nào các đội có thể chơi giống như họ, thì người ta mới mê mẩn mình như Ajax của Van Gaal như thế.” Sự nhẹ nhàng, thứ đến từ tốc độ của các cầu thủ và cách họ di chuyển, sau này cũng khiến Pep Guardiola phải khâm phục. “Họ thể hiện một sự cầu toàn đáng kinh ngạc trong kiểm soát bóng, kỷ luật di chuyển và hỗ trợ nhau liên tục. Họ giải quyết được cả những tình huống một chọi một, cả khi tấn công lẫn khi phòng ngự – ở tầm đỉnh cao nhất.”

Các cuộc diễu hành chiến thắng ở Amsterdam không diễn ra trên xe buýt, mà là trên thuyền dọc theo sông Keizersgracht.
Tuy nhiên kỷ nguyên trên đỉnh ấy chỉ kéo dài ngắn ngủi. Năm 1996, Ajax Amsterdam lại vào chung kết Champions League, nhưng thất bại trước Juventus đã đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn phi thường đó. Đội hình bắt đầu tan rã. Edwin van der Sar còn trụ lại thêm một thời gian nữa trước khi sang Juventus, sau đó đến Fulham và cuối cùng là Manchester United, và lại vô địch Champions League năm 2008. Edgar Davids rồi cũng sang Juventus, Clarence Seedorf chuyển tới Real Madrid và sau đó đoạt thêm Champions League, rồi lại vô địch với Milan – có lẽ không có cầu thủ nào khác thành công được như thế ở những CLB khác nhau đâu. Patrick Kluivert, Marc Overmars, Nwankwo Kanu và Jari Litmanen chỉ ở lại Amsterdam một thời gian ngắn, rồi sang những CLB hàng đầu châu Âu: Barcelona, Arsenal, Inter và Liverpool. Đội bóng ấy bị xé ra trong vòng vài năm, nhưng những cầu thủ Ajax vẫn ở lại trong nhóm tinh hoa của châu Âu.
Có lẽ đó chính là bài học đẹp nhất của những năm tháng vàng son này của Ajax: rằng trong bóng đá, cũng như trong cuộc sống, những thành công lớn nhất nảy sinh không phải khi tầm nhìn và cấu trúc, tự do và kỷ luật, ý tưởng và thực thi bài trừ lẫn nhau – mà là khi chúng ôm lấy nhau. Cruyff và Van Gaal chưa bao giờ là bạn theo nghĩa đen, nhưng dù họ muốn hay không, họ là hai mặt của cùng một đồng xu và là những người bảo chứng cho một trong những đội bóng hay nhất mà lịch sử bóng đá từng chứng kiến.

Lại một chiếc cúp nữa cho đội bay cao. Trước Grêmio, Ajax còn giành cả Cúp Liên lục địa, chiếc cúp mà Louis van Gaal cầm lên với vẻ mặt đầy kiêu ngạo.
Bài viết và ảnh: 11 Freunde - Magazin für Fußballkultur.
Dịch thuật: Nam Tran

Thể thao
/the-thao
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

