U-Boat và vị Tổng thống cuối cùng của Đức Quốc Xã
Ngày 30 tháng 4 năm 1945, Adolf Hitler tự sát cùng vợ trong Boong-ke, kết thúc cuộc đời khác thường, đầy tội lỗi và lừa lọc của một...
Ngày 30 tháng 4 năm 1945, Adolf Hitler tự sát cùng vợ trong Boong-ke, kết thúc cuộc đời khác thường, đầy tội lỗi và lừa lọc của một thiên tài điên loạn. Trước khi qua đời, Hitler để lại tuyên cáo chính trị cuối cùng, trong đó khai trừ hai phụ tá thân cận nhất là Goering và Himmler ra khỏi Đảng và tất cả các chức vụ. Đồng thời bổ nhiệm Thủy sư Đô đốc Karl Doenitz làm Tổng thống Đế chế Đức kiêm Tổng tư lệnh tối cao quân lực. Đây là một điều khá đặc biệt khi xét đến việc vị Đô đốc này thậm chí không phải không phải Đảng viên Đảng Quốc Xã và cũng không gắn bó với Hitler từ những ngày đầu, nhưng cuối cùng ông lại là người được tin tưởng lựa chọn.
Tại sao ông lại được Hitler tin tưởng,cuộc đời và sự nghiệp của Doenitz có điều gì đáng chú ý? Lực lượng của ông đã gây ra những thiệt hại gì trong chiến tranh? Bài viết này sẽ giải đáp thắc mắc đó. Dữ liệu của bài viết được lấy chủ yếu từ bộ phim tài liệu "Convoy: War for the Atlantic" năm 2009, cuốn sách "The Rise and Fall of the Third Reich: A History of Nazi Germany" của tác giả William L. Shirer cùng những tìm hiểu của người viết. Nếu có gì sai sót, rất mong nhận được sự góp ý của các bạn. Hãy bắt đầu thôi nào

Tàu ngầm U-boat của hải quân Đức Quốc Xã
I. Xuất thân và thời trẻ.
Karl Doenitz sinh năm 1891 tại thị trấn Grunau, ngoại ô Berlin. Sinh ra trong một gia đình trung lưu, có bố làm kỹ sư. Thời niên thiếu, Doenitz sống khá đầy đủ và được trang bị nền tảng học tập tốt. Năm 1910, ông theo học tại trường hải quân Kiel, đến năm 1913, Doenitz được thăng lên quyền thiếu úy. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Doenitz phục vụ trên tàu tuần dương Breslau và chiến đấu với quân Nga ở Biển Đen dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Wilhelm Souchon. Lưu ý rằng trong thời gian này tàu Breslau được Đức bàn giao cho Ottoman và Doenitz cùng thủy thủ đoàn đã chiến đấu dưới lá cờ Ottoman. Đến năm 1915, tàu trúng phải mìn của Nga và buộc phải tạm ngừng chiến đấu để sửa chữa. Một năm sau, Doenitz được triệu hồi về Đức và tham gia khóa đào tạo để trở thành sĩ quan tàu ngầm. Lúc này, ông đã mang quân hàm trung úy hải quân. Năm 1917, ông hoàn thành khóa học và bắt đầu phục vụ trên tàu U-39. Không lâu sau đó, ông trở thành thuyền trưởng của các tàu UC-25 và UB-68. Đến tháng 10 năm 1918, tàu UB-68 gặp sự cố buộc Doenitz phải cho tàu nổi lên mặt nước. Ông bị quân Anh bắt giữ và trở thành tù binh quân sự trong suốt hai năm sau đó. Không có nhiều ghi chép chi tiết về các thành tích chiến đấu của Doenitz trong thời kỳ này, song có thể khẳng định, ông cũng đã dành khá nhiều chiến thắng và lập nhiều công cho quân đội Đế chế Đức. Bằng chứng là từ một quyền thiếu úy trước khi chiến tranh bắt đầu, ông đã mang quân hàm trung úy và là thuyền trưởng tàu ngầm lúc cuộc chiến ngã ngũ. Ông cũng đã trao huân chương thập tự sắt hạng I trong khoảng thời gian này. Cơ duyên của vị đô đốc tương lai cùng với U-boat cũng bắt đầu từ đây.

Doenitz thời trẻ
II. Giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến
Doenitz bị bắt giam tại Anh đến năm 1920 mới được trả về Đức. Ông tái ngũ và tiếp tục phục vụ hải quân. Đây là giai đoạn khó khăn nhất của nước Đức do họ phải tuân theo những quy định của Hòa ước Versailles. Thua trận trong thế chiến I buộc Đức phải ký vào Hòa ước mà họ coi là một nỗi nhục nhã với nhiều điều khoản bất lợi, trong đó nhân tố bị ảnh hưởng lớn nhất chính là quân đội. Hòa ước quy định, Đức chỉ được phép duy trì đội quân không quá 100.000 người, bị cấm sở hữu Không quân và không được phép đóng tàu ngầm, lực lượng thiết hạm cũng bị hạn chế rất nhiều. Với một lực lượng đã từng được trọng vọng, tôn thờ từ thời vương quốc Phổ và Đế chế thứ hai, từng được ví von là “Nhà nước bên trong Nhà nước”, đây không khác gì một cú tát đau điếng vào vị thế của quân đội. Rất nhiều tướng lĩnh bất bình, họ mong muốn xé bỏ Hòa ước và xây dựng lại lực lượng hùng mạnh trước thế chiến. Chính điều này cũng là một phần nguyên do dẫn tới sự ủng hộ của Quân đội với Hitler sau này, nhưng chúng ta sẽ bàn nó vào một dịp khác. Quay trở lại với Doenitz, mặc cho những hoàn cảnh ngặt nghèo của lực lượng nói chung, sự nghiệp của ông vẫn tiếp tục thăng tiến trong giai đoạn này. Doenitz được giao chỉ huy tàu ngư lôi, rồi đến tàu tuần dương Emden. Đến cuối năm 1935, ông đã được thăng đến quân hàm Kapitän zur See (thuyền trưởng hải quân). Ông cũng không phải chờ đợi quá lâu để có được cơ hội cho riêng mình
Sau khi Hitler lên nắm quyền, Đức bí mật tái thiết lại quân đội và lén triển khai việc đóng một số tàu mới. Đến tháng 6 năm 1935, nước Anh thậm chí đã đồng ý tham gia vào Hiệp ước hải Quân Anh - Đức. Hiệp ước này cho phép nước Đức được tái thiết lại lực lượng hải quân một cách công khai với số lượng và tải trọng được quy định. Thông qua việc này, Anh đã tiến hành xóa bỏ mọi hạn chế hải quân trong Hòa ước Versailles - điều sẽ khiến họ phải trả giá đắt sau này. Với kinh nghiệm từ thế chiến I, Doenitz được giao chỉ huy đội tàu Weddigen, là đội tàu ngầm đầu tiên dưới thời Đức Quốc Xã. Trong những năm sau đó cho đến trước khi chiến tranh nổ ra, ông dành thời gian giám sát việc đóng tàu ngầm mới, hoàn thiện chiến thuật tác chiến cho đội tàu ngầm. Theo ông, tàu ngầm cỡ lớn với nhược điểm trong sản xuất, vận hành và sự linh hoạt sẽ không hiệu quả trong một cuộc chiến tranh tiếp vận trên biển. Thay vào đó, ông đề xuất xây dựng hạm đội tàu ngầm cỡ nhỏ với tàu loại VII, với tốc độ tốt và tầm hoạt động trên 6.000 dặm, sẽ là nòng cốt. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, phe Hiệp ước đã sử dụng chiến thuật đoàn hộ tống, với các tàu lái buôn đi thành đội hình và được các tàu chiến bảo vệ. Chiến thuật này nhằm chống lại các cuộc tấn công từ tàu ngầm đơn lẻ. Doenitz đã cố gắng hoàn thiện chiến lược tấn công theo nhóm để khắc chế đội hình đoàn hộ tống, chiến thuật này thường được gọi là “đàn sói”, gồm 3 bước:
- Bước 1: Đội tàu ngầm sẽ chia ra tuần tra tìm kiếm đoàn hộ tống, khi phát hiện được đội tiếp vận, tàu sẽ liên lạc với Sở chỉ huy. Sở chỉ huy sẽ căn cứ vào thông tin về số lượng tàu địch và vị trí đã gửi để ra lệnh cho những tàu khác tập hợp lại thành một nhóm tấn công
- Bước 2: Cuộc săn bắt đầu, các tàu sẽ đồng loạt tấn công và nhắm chủ yếu vào các tàu buôn
- Bước 3: Các tàu trở về căn cứ để sửa chữa hoặc tiếp tục chia ra săn lùng.
Đàn sói đặc biệt nguy hiểm khi tấn công vào ban đêm, bởi khi đó tầm nhìn giảm xuống, kéo theo khả năng phòng vệ của đoàn hộ tống. Các chỉ huy tàu ngầm sẽ cho tàu nổi lên mặt nước để tấn công, nơi chúng có tốc độ cao hơn, dễ tấn công hơn và không bị sóng Sonnar phát hiện. Tháp chỉ huy, nơi cao nhất của tàu U, khi nổi lên thường cao tầm 3 – 4m, quá khó để quan sát bằng mắt thường trong bóng tối. Ở phía đối địch, những con tàu chở hàng sẽ đủ cao và đủ lớn để dễ dàng lọt vào kính tiềm vọng tàu ngầm, đặc biệt là khi chúng bị soi sáng vào những đêm trăng tròn (đàn sói và trăng tròn, nghe rất hợp lý đó chứ). Đi kèm với đó, đàn sói yêu cầu một mạng lưới liên lạc rộng khắp và được bảo mật tuyệt đối. May mắn cho họ, người Đức lúc này sở hữu Enigma, một loại thiết bị mã hóa được cho là không thể bị phá giải. Doenitz sẽ tận dụng điều này để khiến người Anh ân hận vì những gì đã ký năm 1935
III. Chiến tranh thế giới thứ II
Trong suốt thế chiến II, Doenitz và hạm đội U-Boat đã gây ra rất nhiều khó khăn cho quân Đông Minh, đặc biệt là người Anh. Các chiến dịch nhắm vào tàu thương mại đã đưa nước Anh vào một giai đoạn thiếu thốn cả về lương thực, đạn dược và khí tài chiến tranh. Tuy không thể tạo ra những bước ngoặt lớn làm thay đổi cục diện và cũng ít khi được nhắc đến hơn so với những chiến dịch trên bộ, cuộc tấn công nhắm vào đường tiếp vận trên Đại Tây Dương của Đức Quốc Xã vẫn là minh chứng cho sự ác liệt và tàn khốc của Thế chiến II. Đồng thời cũng cho chúng ta thấy nghệ thuật sử dụng tàu ngầm của người Đức. Dưới đây là một số sự kiện và cuộc chiến tiêu biểu:
1. Sai lầm của U-30
Ngày 1/9/1939, Đức xâm lược Ba Lan, 2 ngày sau đó, 11h ngày 3/9, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức, thế chiến II chính thức bùng nổ. Các tàu ngầm của Đức nhận được lệnh chiến đấu nếu gặp phải tàu địch. Vào khoảng 16h30 cùng ngày, tàu U-30 phát hiện một con tàu của Anh đang đi theo một hướng rất lạ, khác xa với tuyến đường của tàu vận chuyển thông thường. Nghi ngờ đó là một tàu chở quân hoặc tàu tuần dương mang vũ khí, thuyền trưởng Lemp ra lệnh tấn công. Chiếc U-30 bắn 2 quả ngư lôi về phía con tàu lạ, một quả trúng ngay phòng động cơ, khiến nó dần mất ổn định. Một lúc sau, U-30 bắt được tín hiệu cầu cứu từ con tàu Anh và họ đã biết mình vừa gây ra một sai lầm: Con tàu lạ kia hóa ra là tàu chở khách, trong đó có rất nhiều trẻ em đang từ Anh hướng đến Hoa Kỳ và Canada. Hậu quả cho sự nhầm lẫn của Lemp là 98 hành khách và 19 thủy thủ tử nạn trong số 1.418 người trên tàu. Chiếc U-30 sau đó đánh chìm thêm 2 tàu chở hàng và tiêu diệt 2 máy bay chiến đấu của Anh, giải cứu 2 phi công Anh, đưa họ đến Ireland trước khi thoát khỏi mìn nổ sâu và trở về căn cứ ngày 27/9.
Doenitz, khi ấy đã là tư lệnh tàu ngầm, đã chờ sẵn ở cầu cảng và yêu cầu được nói chuyện với Lemp. Vị thuyền trưởng tỏ ra buồn bã và thú nhận anh ta chịu trách nhiệm cho vụ đánh chìm tàu Athenia. Lemp lập tức được đưa đến Berlin để giải trình với tư lệnh hải quân Raeder. Sau đó, vụ việc được bưng bít theo lệnh của Hitler. Họ không thể để lộ việc sĩ quan của mình vừa mới phạm một sai lầm tai hại như vậy ngay khi vừa chiến đấu. Đồng thời, họ cũng không muốn thu hút Hoa Kỳ vào cuộc chiến này ( trong số nạn nhân thiệt mạng có cả người quốc tịch Mỹ). Bộ trưởng Thông tin và tuyên truyền Joseph Goebbels sau đó tuyên bố người Anh cố tình đánh đắm Athenia để lôi kéo người Mỹ tham chiến (Chúng ta có thể trông chờ gì hơn ở một câu chuyện được kể bởi Goebbels chứ). Doenitz cũng tham gia vào việc giữ kín thông tin: Ông yêu cầu xóa bỏ nhật ký hải trình của tàu U-30 liên quan đến vụ đắm tàu Athenia, làm điều tương tự với nhật ký của mình và bắt thủy thủ đoàn phải tuyên thệ giữ bí mật. Có thông tin cho rằng Doenitz xét đến công trạng của Lemp trong chuyến ra khơi lần này, nên đã quyết định bỏ qua cho anh ta. Dù sao thì sau này, ông ta sẽ khai nhận toàn bộ vụ việc ở tòa án Nuremberg. Lemp, đen đủi hơn, không thể sống sót qua chiến tranh để thú nhận về sai lầm của mình với thế giới.
2. Vụ bắn chìm tàu HMS Courageous
Trong chiến tranh thế giới thứ nhất, máy bay đã tỏ ra là một vũ khí hiệu quả trong việc chống tàu ngầm. Bởi lẽ tàu ngầm chỉ có thể lặn một khoảng thời gian nhất định trước khi phải nổi lên để sạc Acquy (với tàu U-Boat thì thời gian lặn tối đa là khoảng 24 giờ). Khi ở trên mặt nước, các máy bay này sẽ dễ dàng phát hiện và có thể trực tiếp tấn công hoặc kêu gọi tàu chiến gần đó tiêu diệt tàu ngầm. Vì vậy, khi phát động cuộc chiến, người Anh đã đưa tàu HMS Courageous, một tàu sân bay ra khơi để thực hiện nhiệm vụ tìm diệt tàu U. Không may cho con tàu này, kích cỡ đồ sộ cũng biến nó thành ngon mồi ngon cho tàu ngầm. Cụ thể, vào ngày 17/9/1939, chỉ 14 ngày sau khi tuyên chiến, khi đang thực hiện nhiệm vụ tuần tra ngoài khơi Ireland, HMS Courageous gặp nạn. Tàu U-29, do thuyền trưởng Otto Schuhart chỉ huy, sau hơn hai tiếng theo dõi, đã tìm được cơ hội khi tàu sân bay quay đầu ngược hướng gió để máy bay hạ cánh, vô tình ở vị trí ngay trước mũi U-29. Schuhart lập tức cho phòng ba quả ngư lôi, hai quả trúng đích. Courageous lật úp và chìm xuống trong vòng 20 phút. 519 thủy thủ, kể cả thuyền trưởng tử nạn. Hai tàu khu trục hộ tống sau đó tiến hành cuộc săn đuổi U-29 trong nhiều giờ, song Schuhart đã thoát được Vụ đánh đắm tàu HMS Courageous, một trong những niềm tự hào của hải quân Anh, giúp cho Schuhart nhận được huân chương Thập tự sắt hạng nhất, các thủy thủ của tàu U-29 cũng nhận được huân chương Thập tự sắt hạng nhì. Còn đối với người Anh, vụ chìm tàu sân bay là một thất bại to lớn. Điều này thúc đẩy họ rút các tàu sân bay ra khỏi chiến dịch tìm - diệt tàu ngầm. Từ đó các hàng không mẫu hạm gần như vắng bóng trên chiến trường, vì lo sợ một vụ tấn công tương tự sẽ xảy ra.

Courageous lật úp sau khi trúng ngư lôi
3. Vụ đột kích Scapa Flow
Sau khi đánh chìm tàu HMS Courageous, Doenitz cảm thấy được khuyến khích để thực hiện những phi vụ táo bạo nhằm gây chú ý với Quốc trưởng và tăng số lượng tàu ngầm. Vị tư lệnh quyết định chọn Scapa Flow là điểm đến của chiến dịch lần này. Đây là một bến cảng tự nhiên nằm ở trung tâm quần đảo Orkney, ngoài khơi phía bắc Scotland. Hải quân Anh đã sử dụng nơi này như một bến neo đậu các tàu chiến, bởi nó vừa đủ rộng để neo đậu một hạm đội, vừa được bao quanh bởi các vành đai đảo, dễ dàng bố trí hệ thống phòng ngự. Rủi ro là rất lớn, đổi lại là chiến thắng vang dội của U-boat nếu thành công. Doenitz quyết định cử Gunther Prien, tướng lĩnh được ông yêu thích nhất và theo ông là người “có đủ phẩm chất cá nhân và khả năng chuyên môn cần thiết” , thực hiện nhiệm vụ này. Prien đã không khiến Doenitz thất vọng. Sau nhiều ngày len lỏi ngay giữa căn cứ đối phương, đêm ngày 14 rạng sáng ngày 15/10, Prien tìm được mục tiêu của mình trong vịnh Scapa Flow, tàu thiết giáp hạm Royal Oak. Anh cho bắn tổng cộng bảy quả ngư lôi về phía con tàu, một số quả trượt mục tiêu hoặc không phát nổ, nhưng số khác đã đánh trúng Oak, khiến thiết hạm này chìm trong 13 phút. Cuộc tấn công giết chết tổng cộng khoảng hơn 800 người. bao gồm cả chỉ huy của nó. Prien sau đó nhanh chóng tẩu thoát. Khi trở về Đức ngày 17 tháng 10, anh trở thành anh hùng chiến tranh và được trao tặng huân chương Hiệp sĩ thập tự sắt (Knight’s cross).

Cuộc đột kích Scapa Flow của Prien
Đối với Doenitz, đây là một chiến thắng lớn, nó không chỉ giúp lôi kéo sự chú ý của Hitler mà còn tái khẳng định tiềm năng chiến đấu mạnh mẽ của U-Boat. Ở phía bên kia, người Anh chìm trong khủng hoảng. Chỉ trong vòng 1 tháng rưỡi sau khi tuyên chiến, họ mất một hàng không mẫu hạm và một thiết giáp hạm lớn bởi tàu ngầm, thậm chí tàu Oak còn bị đánh chìm tại điểm neo đậu ngay trên vùng biển họ kiểm soát. Với một đơn vị đã luôn được coi là lực lượng hải quân mạnh nhất nhì thế giới, đó không khác gì một gáo nước lạnh tạt thẳng vào giới chỉ huy quân sự Anh quốc. Scapa Flow bị đóng cửa cho đến tháng 3/1940 để đóng lại lỗ hổng phòng ngự và cải thiện phòng không. Có thông tin cho rằng khi đang di dời từ Scapa Flow đến bến cảng mới tại Loch Ewe, thiết giáp hạm Nelson đã bị trúng mìn do chiếc U-31 đặt và hư hỏng nặng nề. Quả là một thất bại khó nuốt trôi.
4. Giai đoạn vui vẻ lần thứ nhất
Tuy rằng dành được nhiều chiến công trong tháng 9 và tháng 10 năm 1939, giai đoạn đầu với Doenitz và U-boat vẫn rất khó khăn. Ước tính từ tháng 9/1939 đến tháng 6/1940, hơn 20 tàu U-boat đã bị đánh đắm, trong khi số lượng tàu địch bắn hạ thì thua xa Không quân. Một trong những nguyên nhân được đưa là Đức không có lối đi thông ra Đại Tây Dương, do đó các tàu phải đi qua eo biển Manche hoặc biển Bắc, nơi có hệ thống phòng ngự được bố trí dày đặc. Vì vậy, rất nhiều tàu đã bị đánh đắm hoặc hư hỏng nặng nề trước khi được tham chiến. Kể cả khi thoát qua được và tiến ra Đại Tây Dương, tầm hoạt động của U-boat cũng giảm đi đáng kể do đã sắp cạn kiệt nhiên liệu sau chuyến đi dài. Tuy vậy, cơ hội nhanh chóng mở ra với Doenitz và lực lượng của ông ta vào cuối tháng 6/1940. Người Pháp thua trận chỉ sau 6 tuần quân Đức tiến công. Điều này đồng nghĩa với việc, giờ đây Hải quân có thể sử dụng các bến cảng của Pháp để rút ngắn quãng đường ra biển, và họ đã làm vậy. Từ tháng 7 năm 1940 trở đi, các tàu U chủ yếu xuất phát từ các bến cảng Lorient và Saint-Nazaire hướng thẳng ra biển, nhắm đến các đoàn hộ tống. Đàn sói cũng được áp dụng và tỏ ra rất hiệu quả trong các cuộc đi săn, trong khi vũ khí chống lại chúng là sóng Sonnar thì tỏ ra vô dụng khi các tàu ngầm nổi trên mặt nước. Từ đó, tạo thêm điều kiện để các thuyền trưởng Đức tha hồ bắn phá. Những người táo bạo thậm chí sẽ bí mật tiếp cận rồi trồi lên ở giữa đoàn hộ tống và thực hiện cuộc tấn công chết chóc ở tầm gần. Trong cuộc tấn công đầu tiên của đàn sói vào đoạn vận chuyển SC 7 và HX79, đàn sói gồm 8 tàu đã bắn chím tổng cộng 32 tàu mà không chịu thiệt hại nào. Ước tính, hàng trăm tàu buôn và hàng triệu tấn hàng hóa đã bị chôn vùi dưới đáy đại dương trong giai đoạn này. Thời gian này được gọi là giai đoạn vui vẻ lần thứ nhất với Kriegsmarine (Hải quân Đức Quốc Xã) với tổn thất không bao nhiêu mà thành công là rất lớn. Doenitz cũng được phong quân hàm Phó Đô đốc vào tháng 9/1940. Bên kia chiến tuyến, nước Anh rơi vào kiệt quệ khi vừa phải chống đỡ Luftwaffe (Không quân Đức) vừa phải chịu cảnh thiếu hàng tiếp tế do U-boat ngăn cản. Tuy vậy, giai đoạn này sẽ không kéo dài quá lâu, và sự kiện đặt dấu chấm hết cho quãng thời gian vui vẻ này sẽ là một cú sốc đau đớn với Doenitz.
5. Bước ngoặt lớn trên chiến trường
Tháng 3 năm 1941, một cuộc đi săn nhắm vào Đoàn hộ tống OB 293 được tiến hành. Đây là một đoàn tiếp vận với 37 tàu buôn và chỉ có 4 tàu hộ tống, con mồi quá hoàn hảo của đàn sói. 4 con sói được gửi đến và bắt đầu tấn công đoàn thuyền vào đêm ngày 6, 7 tháng 3. Đến sáng ngày 8, tổng cộng đã 2 tàu buôn bị đánh đắm và 3 tàu hư hại. Tuy nhiên, cái giá phải trả là 2 tàu U bị tiêu diệt. Sau nhiều tháng ít thiệt hại, việc mất 2 tàu ngầm trong một chuyến săn nhỏ là điều rất bất ngờ với hải quân Đức. Cay đắng hơn nữa, một chiếc trong đó là U-47 của Gunther Prien, chỉ huy yêu thích nhất của Doenitz và là người đã phá hủy Oak 2 năm trước. Một thất bại nặng nề và mất mát to lớn với vị tư lệnh tàu ngầm. Chưa dừng lại ở đó, chỉ hơn 1 tuần sau, đến lượt 2 thuyền trưởng nổi tiếng khác là Joachim Schepke và Otto Kretschmer cũng gặp nạn. Kretschmer bị bắt làm tù binh sau khi buộc phải nổi lên mặt nước do trúng bom chìm. Schepke, không may mắn được như vậy, tử nạn cùng với chiếc U-100 của mình. Nguyên nhân gây ra một bước ngoặt lớn như vậy là do quân Anh đã cải tiến hệ thống radar và mang nó lên các tàu hộ tống. Vốn trước đó chỉ được sử dụng trong không quân, radar sau khi được mang lên tàu tỏ ra cực kì lợi hại trong việc phát hiện tàu ngầm trong đêm tối, nhất là khi chúng nổi lên để tấn công. Đến tháng 5, đến lượt Lemp, thủ phạm gây ra vụ Athenia, giờ là thuyển trường của U-110, hy sinh. Tệ hơn nữa, khi cho tàu nổi lên và ra lệnh bỏ chạy, Lemp và thuộc cấp của mình không thể tin rằng chiếc U-110 lại không chìm xuống. Vị chỉ huy đen đủi cố gắng quay lại để tiêu hủy tài liệu thì bị bắn chết. Người Anh sau đó lên tàu và thu được nhiều tài liệu quan trọng, trong đó có nhật ký hải trình của Lemp và cả một máy Enigma. Chiếc máy này sau đó được giải mã và giúp Hải quân Anh bí mật theo dõi được những liên lạc của hạm đội U-Boat, cộng với việc phát triển hệ thống Radar trên tàu hộ tống, người Anh dần dành được thế chủ động trên chiến trường. Dù vẫn có rất nhiều tàu buôn bị đánh đắm, song số lượng tàu thoát được và cập cảng đã tăng lên đáng kể, số tàu ngầm bị tiêu diệt cũng tăng nhanh, đảm bảo cho người Anh có đủ tiếp tế để chiến đấu lâu dài với người Đức.
Đối với người Đức, thiệt hại ập đến quá nhanh chóng và nặng nề, đặc biệt là nó đến với những vị thuyền trưởng có kĩ năng và dày dặn kinh nghiệm nhất mà đế chế thứ ba sở hữu. Tình thế này khiến Doenitz bối rối xen lẫn đau buồn: Trong vòng chưa đầy 3 tháng, ông mất 4 vị thuyền trưởng giỏi, đặc biệt là Prien. Sau này, trong hồi kí của mình, Doenitz vẫn dành những lời tốt đẹp nhất khi nói về vị chỉ huy tài năng nhưng đoản mệnh “ Prien là con người đúng nghĩa, cá tình tuyệt vời, nhiệt huyết, tràn đầy năng lượng và vui vẻ. Gunther cống hiến hết mình và là tấm gương sáng cho cấp dưới noi theo”

Gunther Prien
6. Cơ hội mới từ thất bại của chiến hạm Bismarck
Ngay trước chiến tranh, Doenitz yêu cầu 300 tàu ngầm để có thể đảo bảo chiến thắng cuộc chiến, vì ông cho rằng hạm đội tàu chiến của Đức sẽ không thể đối đầu trực tiếp với quân Anh. Bởi vậy, ông chủ trương phát triển đội tàu ngầm cỡ nhỏ với mục tiêu là cắt đứt tuyến viện trợ từ Canada, khiến nước Anh rơi vào cảnh thiếu thốn lương thực, đạn dược, khí tài và buộc phải đầu hàng. Trái ngược với Doenitz, cấp trên của ông là tư lệnh Raeder muốn xây dựng một hạm đội tàu nổi mạnh, đủ sức Knock out đối thủ của mình ngay trên mặt biển. Là một kẻ không hiểu biết gì về hải quân và ưa thích sự khoa trương, Hitler tất nhiên ủng hộ Raeder. Do đó, hạm đội tàu ngầm của Doenitz không nhận được nhiều sự ưu ái từ vị Quốc trưởng, với số lượng sản xuất và khí tài hạn chế. Ngay cả những quả ngư lôi, vũ khí chính của tàu ngầm, cũng không được phát triển cẩn thận. Kết quả là trong những năm đầu chiến tranh, những phi vụ thất bại do lỗi không phát nổ hoặc trục trặc của ngư lôi vẫn thường diễn ra. Một bằng chứng khá thú vị cho điều này là vào năm 2002, một trong những quả ngư lôi thất bại mà Prien phóng về phía tàu Oak nổi lên với phần đầu đạn bị tách rời và vẫn chưa phát nổ. Tất cả những điều này chứng minh rằng vào thời gian đầu của chiến tranh, dẫu là một lực lượng tiềm năng, U-boat vẫn chịu sự ghẻ lãnh vì sự tự tin thái quá và khả năng quân sự kém cỏi của thượng tầng đảng Quốc xã. Tuy nhiên, cũng vào những ngày tháng 5/1941, thiết giáp hạm Bismarch, chiến thuyền lớn nhất và là niềm tự hào của Quốc trưởng cũng như Raeder bị đánh đắm chỉ sau 1 tháng ra khơi trong chiến dịch đầu tiên. Sau thất bại của Bismarck, Hitler ngả hẳn về phía của Doenitz, ông ta bắt đầu cho tăng sản lượng U-boat theo yêu cầu của tư lệnh tàu ngầm và dần xa cách Raeder. Chẳng bao lâu sau, Raeder sẽ bị hất cẳng ra khỏi vị trí của mình.

Thiết giáp hạm Bismarck
7. Giai đoạn vui vẻ lần thứ hai
Cuối năm 1941, Nhật tập kích Trân Châu Cảng, vài ngày sau, Đức buộc phải tuyên chiến với Mỹ. Việc Hoa Kỳ nhảy vào cuộc chiến không phải là tin vui với Doenitz, bởi sức mạnh của Đồng minh ở Đại Tây Dương sẽ được củng cố mạnh mẽ. Tuy vậy, thời gian đầu tiên, tư lệnh Ernest J.King từ chối thực hiện chiến thuật tàu hộ tống vốn vẫn đang khá hiệu quả để chống lại U-boat. Điều này tạo điều kiện cho Doenitz thực hiện kế hoạch đánh phủ đầu của mình, dẫn tới thời gian vui vẻ lần thứ hai của hải quân Đức. Cụ thể, Doenitz gửi các tàu U đón đánh các tàu buôn dọc bờ biển phía Đông của nước Mỹ và khu vực Caribe. Thực hiện chiến dịch này là các tàu ngầm lớp IX có tầm hoạt động xa hơn, dẫn đầu bởi tàu U-123 của chỉ huy Reinhard Hardegen. Được biết dưới cái tên Drumbeat, chiến dịch này gây nhiều tổn thất cho các tàu chở dầu và tàu buôn ngay tại ngoài khơi bờ biển nước Mỹ, đổi lại là rất ít thiệt hại cho U-boat. Những vụ tấn công này đôi khi còn được diễn ra ngay gần bờ biển và quần chúng nước Mỹ được dịp theo dõi trực tiếp. Có lần, Hardegen đã đánh đắm một tàu chở dầu cách bờ biển Florida chỉ khoảng hai dặm trước sự chứng kiến từ đám đông trên bờ biển.
Phải nói thêm rằng ánh sáng từ đèn điện trên bờ biển càng khuyến khích các chỉ huy Đức tấn công, bởi lẽ nó chiếu sáng mục tiêu của họ rõ ràng hơn trong đêm tối. Thậm chí, U-123 không ít lần suýt mắc cạn do hoạt động ở vùng biển nông hòng tìm kiếm mục tiêu. Ước tính, chỉ trong 8 tháng, U-boat đã nhấn chìm hơn 600 tàu các loại với trọng tải khoảng 3 triệu tấn, bằng khoảng ¼ tổng số tàu đã bị U-boat bắn hạ trong thế chiến II. Thảm họa này buộc King phải chấp nhận thực hiện chiến thuật đoàn hộ tống, với tàu khu trục và máy bay yểm trợ, từ đó đẩy lùi tàu ngầm ra khỏi bờ biển nước Mỹ. Người Đức buộc phải quay lại Đại Tây Dương khi số lượng tàu U-boat bị chìm tăng nhanh từ tháng 7.

Một tàu chở dầu trúng ngư lôi
8. Doenitz trở thành tư lệnh hải quân.
Tư lệnh hải quân Raeder vốn đã thất thế từ sau thất bại của Bismarck năm 1941, nay càng thêm thảm hại do việc không thể ngăn chặn người Anh tiếp tế cho người Nga thông qua Bắc Băng Dương. Đến ngày 30/1/1943, ông ta buộc phải từ chức và được Hitler chấp thuận. Quốc trưởng sau đó đã chọn Karl Doenitz làm đô đốc hải quân Đức. Vốn là tư lệnh tàu ngầm, sau này Doenitz đã dồn tất cả sự chú ý cho các lực lượng U-boat. Tuy nhiên, quân Đồng minh đã có kinh nghiêm chống lại tàu ngầm, đi kèm theo sự trợ giúp từ máy bay tuần tra khiến các tàu U càng khó hoạt động hơn trước. Thực tế đã chứng minh, càng về cuối chiến tranh lực lượng U-boat càng kém hiệu quả và số lượng tàu ngầm bị đánh đắm ngày càng tăng. Trong 4 tháng cuối năm 1943, Đức mất 64 tàu ngầm chỉ để đổi lấy 67 tàu buôn – tỉ lệ cho thấy sự cáo chung của chiến tranh tàu ngầm. Từ lúc này đến cuối cuộc chiến, U-boat gần như không thể tìm kiếm thêm một chiến thắng áp đảo nào nữa, hầu hết các cuộc tấn công đều phải trả giá bằng vài tàu ngầm. Sau này, Doenitz cố gắng cải thiện tình hình bằng cách phát triển tàu ngầm mới, với thời gian lặn lâu hơn và tầm hoạt động xa hơn, đồng thời đưa vào sử dụng ngư lôi tự tìm mục tiêu T5, song đã quá muộn. Thất bại trong việc ngăn cản quân đồng minh đổ bộ lên Normandy, cộng kèm với việc Hồng quân đang tiến quân như vũ bão tại mặt trận phía đông, hồi kết của đệ tam đế chế đang tới rất gần.
9. Tổng thống cuối cùng của Đức Quốc Xã
Như đã nói, trong thông cáo chính trị cuối cùng trước khi chết, Hitler đã cử Doenitz làm Tổng thống Đế chế Đức kiêm Tổng tư lệnh tối cao quân lực, trong khi trục xuất Goering và Himmler ra khỏi Đảng cùng tất cả những chức vụ liên quan. Sau cái chết của Hitler, ông trở thành vị nguyên thủ cuối cùng của Đế chế thứ ba. Đối với việc này, có nhiều quan điểm khác nhau cho việc này. Có người cho rằng ông đã thể hiện lòng trung thành với chế độ và vị Quốc trưởng một cách tuyệt đối. Mối quan hệ giữa hai người càng được củng cố khi các sĩ quan hải quân đã không tham gia vào âm mưu ám sát Hitler ngày 20/7/1944 và nhờ sự trung thành của Doenitz mà Hitler chưa bao giờ cảm thấy mình bị hải quân bỏ rơi. Còn đối với nhà sử học William L. Shirer, trùm phát xít cho rằng các tướng lĩnh Lục quân và Không quân đã cướp đi chiến thắng của ông ta. Do vậy chuyện chọn tư lệnh hải quân, lực lượng mà theo Shirer là quá thiếu năng lực, lên làm lãnh đạo chỉ là sự châm chọc cuối cùng của ông ta với quân đội Đức. Chúng ta sẽ không có câu trả lời chính xác cho câu hỏi này, việc tìm hiểu xem đầu óc điên loạn của Hitler đã nghĩ gì không phải là một ý tưởng hay. Chỉ biết rằng, vào những ngày hấp hối của Đế chế thứ ba, Doenitz đã là người được tin tưởng nhất.

Doenitz bị bắt giữ ngày 23/5/1945
Trong những nỗ lực cuối cùng, ông cố gắng để quân lính mình đầu hàng quân Đồng minh chứ không phải Liên Xô. Ông lo lắng sự trả thù của người Liên Xô và do vậy đã giúp 2,2 triệu người lính không bị Liên Xô bắt giữ. Đến 1 giờ 30 phút rạng sáng ngày 7/5, ông ra lệnh ủy quyền cho Jodl ký các văn bản đầu hàng vô điều kiện, chiến tranh đối với nước Đức chấm dứt và đế chế thứ ba chính thức sụp đổ.
10. Phiên tòa Nuremberg và cuộc sống sau này.
Doenitz bị bắt ngày 23/5/1945 và bị điệu ra vành móng ngựa tại tòa án Nuremberg năm 1946. Ông hầu tòa với thái độ tự tin rằng mình chẳng làm gì sai và chỉ thực hiện công việc của một quân nhân. Ông bị kết tội có liên quan đến vụ đắm tàu Athenia và ra lệnh tiến hành chiến tranh tàu ngầm không giới hạn ( chủ yếu là việc tấn công các tàu buôn mà không cảnh báo trước). Bản án gây ra nhiều tranh cãi do các tàu buôn vẫn thường được trang bị vũ khí và trên thực tế là các tàu ngầm của phe Đồng minh đã thực hiện các tội ác tương tự. Sau cùng, Doenitz lãnh án 10 năm tù và được phóng thích năm 1956. Ông về hưu, sống bình lặng tại một làng quê phía Bắc Tây Đức cho đến khi qua đời sau một cơn đau tim vào đêm Giáng sinh năm 1980, hưởng thọ 89 tuổi.
Sinh thời, sự nghiệp của Karl Doenitz có thể coi là rất thành công. Vốn xuất thân từ gia đình trung lưu không có truyền thống quân đội, ông đã leo lên đến chức tư lệnh hải quân, mang quân hàm Đại đô đốc và nhận huân chương Hiệp sĩ Thập tự sắt có lá sồi. Sau khi Hitler chết, ông trở thành nhân vật số 1 của nước Đức, dù chỉ trong thời gian rất ngắn. Ông cũng nhận được sự tôn trọng nhất định từ đối thủ khi nhiều tướng lĩnh phe Đồng minh tỏ ra bất bình trước bản án của ông. Cuối đời, ông được hưởng một cuộc sống an nhàn trước khi qua đời vì tuổi già. Đối với một vị tướng quân đội, đó có thể coi là một cuộc đời rất trọn vẹn. Tuy vậy, vẫn có nét buồn trong đó khi chính chiến tranh Đại Tây Dương đã cướp đi của ông 2 người con trai
Kết:
Đức Quốc Xã tuy là một chế độ sai trái và đầy tội lỗi nhưng cũng sở hữu cho mình rất nhiều thiên tài về mặt quân sự. Từ Erwin Rommel, Erich von Manstein hay Heinz Guderian đều là những tướng lĩnh kiệt xuất. Bằng chứng là dù sở hữu quân lực ít hơn nhiều và vừa mới được tái phát triển chỉ khoảng 6 năm trước chiến tranh, Đức vẫn nhiều lần đẩy phe Đồng minh và Liên Xô vào thế chân tường. Đối với Karl Doenitz, tuy rằng cuộc chiến của ông thường ít nhắc tới song không thể đánh giá thấp những chiến công của vị đô đốc này. U-boat dưới sự chỉ huy của Doenitz đã luôn là hiểm họa đe dọa đẩy kẻ tử thù Anh quốc đến con đường diệt vong, như những gì mà Thủ tướng Anh đã tuyên bố sau chiến tranh "The only thing that ever really frightened me during the war was the U-boat peril." ( Tạm dịch: "Điều duy nhất thực sự làm tôi sợ hãi trong suốt chiến tranh là mối nguy hiểm từ tàu ngầm U-boat.")

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất