Tướng John C.Meyer và nghiệp lực
Trường hợp hiếm mà trong đó nhân quả đến rất nhanh
Hôm tôi viết bài này là 23/12/25 cũng gần Giáng sinh, cách đây mấy ngày không hiểu vì một lý do gì mà tôi tự nhiên có cảm giác mình cần đọc về chiến dịch Điện Biên Phủ trên không 12 ngày đêm của quân dân Hà Nội. Tôi không nhớ là chiến dịch này diễn ra vào Giáng sinh, chỉ là một sự trùng hợp thú vị về mặt thời điểm. Bài viết này của tôi vừa để mạn đàm về lịch sử, vừa để mạn đàm về góc nhìn tâm linh liên quan đến nghiệp lực của chỉ huy chiến dịch Tướng John C.Meyer.
1. Tổng quan chiến dịch
Chiến dịch ném bom Hà Nội này được không quân Mỹ gọi là Linebecker II, diễn ra trong 11 ngày đêm từ 18/12/1972 đến 29/12/1972 ( nghỉ 36 giờ vào ngày Giáng sinh 25/12, quay trở lại ném bom vào 26/12 ). Không quân Mỹ phân chia hai cấp điều hành chiến dịch tương ứng với chủng loại máy bay như sau:
- Máy bay ném bom chiến lược B52: Vũ khí hàng không thuộc một trong ba mũi nhọn răn đe hạt nhân chiến lược với Liên Xô, được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược - Strategic Air Command ( SAC ), lãnh đạo bởi Đại tướng John C.Meyer. Ngoài ra, còn có Trung tướng Gerald W.Johnson đóng quân ở căn cứ Đảo Guam, người chỉ huy gần với thực địa Hà Nội hơn Tướng Meyer.
- Máy bay ném bom chiến thuật hộ tống F-4, F-105, F-111, A7, v...v: Đội bay chiến thuật đóng vai trò hộ tống B52, tiêu diệt Mig 21 và hệ thống phòng không của Việt Nam - đặt dưới dự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến thuật - Tactical Air Command ( TAC ). Trong chiến dịch Linebecker II, hai tướng thuộc TAC đã dẫn dắt tác chiến trực tiếp là Đại tướng John W.Vogt - Tư lệnh Tập đoàn Không quân số 7 và Chuẩn tướng Glenn. R. Sullivan - Tư lệnh Sư đoàn Không quân 17, căn cứ Không quân U-Tapao Thái Lan.
Về mặt phân cấp quyền lực, SAC có quyền cao hơn TAC. SAC cũng báo cáo trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Richard Nixon cùng Lầu Năm góc. Do vậy, mọi mệnh lệnh của SAC thì TAC đều phải nghe theo.
2. Lên kế hoạch cho chiến dịch
Tướng Meyer và bộ chỉ huy SAC ngồi trong hầm chống bom hạt nhân ở căn cứ Omaha tại Mỹ để lên kế hoạch đường bay cho B52 tấn công Hà Nội như sau: Ngày đầu tiên 18/12 sẽ cử 129 máy bay B52 kèm khoảng 200 máy bay tiêm kích hộ tống để thả bom các mục tiêu tại Hà Nội. Để tránh việc hơn 300 máy bay này va đụng nhau trên bầu trời, SAC yêu cầu đội hình B52 và hộ tống bay theo đường thẳng tắp, hàng một như đoàn tàu hỏa - ảnh minh họa phía dưới.
Tiếp theo, ngay khi cắt bom xong thì B52 phải thực hiện cú ngoặt 120 đến 180 độ ( post-target turn ) để thoát ly khỏi Hà Nội, cũng như để chụp ảnh mục tiêu sau khi bị trúng bom - phục vụ báo cáo Nhà trắng.

Đội hình bay của B52 từ 18/12 đến hết 24/12/1972
Hệ thống tác chiến điện tử của B52 - nguồn gốc cho sự ngạo mạn của SAC
Không quân Mỹ đã chi hàng tỷ USD để trang bị cho B52 hệ thống tác chiến điện tử tân tiến nhất thời bấy giờ. Về lý thuyết, hệ thống này sẽ gây nhiễu màn hình radar của Hà Nội đến mức trắng xóa như một chiếc TV hỏng. Ngoài ra, hệ thống này cũng vận hành cộng hưởng với nhau nên học thuyết tác chiến của SAC yêu cầu B52 phải bay theo tốp 3 chiếc, để 3 hệ thống từ 3 máy bay cộng hưởng với nhau tạo thành một lớp nhiễu nặng trên màn hình radar, ngăn việc B52 bị tên lửa dẫn đường bởi radar khóa mục tiêu. SAC cũng cho rằng nếu bất cứ chiếc B52 nào bẻ lái phá đội hình để tránh hỏa lực địch ( evasive maneuver ) thì sẽ dẫn đến việc nhiễu cộng hưởng bị đứt đoạn, làm lộ những chiếc B52 còn lại trở thành mục tiêu cho tên lửa - thế nên họ cấm tuyệt đối việc phi công B52 được né hỏa lực linh hoạt, yêu cầu phải bay đúng đội hình trong mọi tình huống.
Đây là sự ngạo mạn sẽ dẫn đến nhiều cái chết thương tâm và bi kịch ở phần tiếp theo.
Thời gian lập trình đường bay 48h - tử huyệt
Việc lên kế hoạch bay cho hơn 300 máy bay mang tới khối lượng dữ liệu khổng lồ. Những dự liệu này cần được nhập vào máy tính ( máy IBM sơ khai thời bấy giờ, tồi tệ hơn chiếc máy tính Wins 98 cùi rách mà tôi và bạn từng dùng ), bản đồ bay gồm tọa độ - cao độ bay - tốc độ gió - vị trí cắt bom cần được in ra cho tổ lái, sĩ quan chỉ huy cần thuyết trình về kế hoạch và các mệnh lệnh cho kíp lái, ...v..v Bộ máy đồ sộ của Không quân Hoa Kỳ cần tối thiểu 48h để lập trình đường bay cho hạm đội B52 tấn công Hà Nội. Như vậy nếu kế hoạch tác chiến ngày 18/12 mà đổ bể khi vào thực tế, thì kế hoạch cho ngày 19 và 20/12 đã chốt cứng rồi không thể thay đổi ngay lập tức - và hai ngày chiến đấu tiếp theo sẽ hứng chịu sự kém hiệu quả của một kế hoạch đổ bể từ ngày 1.
Và cuối cùng, sự kiêu ngạo sắt đá của Tướng John C.Meyer
Dẫn dắt SAC - một trong ba mũi nhọn hạt nhân chiến lược của nước Mỹ không phải chuyện đơn giản, và Không quân đã trao quyền lực gần như tối thượng đó cho Tướng Meyer. Bản chất Meyer cũng là một phi công lái máy bay chiến đấu có tài, với thành tích bắn hạ 24 máy bay địch trong thế chiến II kèm 2 máy bay Mig trong chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên, chiến công đó lại che mờ mắt ông khi ông không hiểu được sự cồng kềnh và nặng nề, dễ tổn thương của những chiếc B52 ông chỉ huy.
Hơn nữa, Meyer và SAC đã quen với việc lên chiến lược xuyên thủng hệ thống phòng không Liên Xô để rải bom hạt nhân vào Moscow trong trường hợp chiến tranh xảy ra, nên ông cùng đội ngũ sĩ quan phò tá đã khinh thường hệ thống phòng không của Hà Nội với tên lửa SA-2 lạc hậu so với thời bấy giờ.
3. Diễn biến tóm tắt của chiến dịch
Tôi nghĩ rằng các bạn nên đọc về biên niên sử hào hùng của chiến dịch này, chi tiết diễn ra trong từng ngày, đặc biệt là những cuộc điện đàm giữa hầm chỉ huy của Meyer và Nhà Trắng: sự tức giận tột độ từ Nixon khi thấy xác B52 rơi ở Hà Nội - ông ta lo rằng vũ khí tối tân này của Không quân Hoa Kỳ sẽ trở thành trò cười cho Liên Xô; sự kinh hoàng và choáng váng cũng tột độ của Tướng Meyer và SAC khi thấy con át chủ bài B52 của họ bị trắc thủ Hà Nội bắn rụng như sung. Một biên niên sử hào hùng có thể viết thành cả quyển sách, còn ở đây tôi chỉ tóm tắt những diễn biến chính để dẫn tới phần mạn đàm về nghiệp lực của Tướng John C.Meyer.
Ngày 18/12: Ba chiếc B52 bị bắn rụng. Trắc thủ Hà Nội đã sáng tạo ra cách vạch nhiễu tìm thù nhằm đánh bại hệ thống tác chiến điện tử của B52. Hơn nữa, việc ngoặt 120 - 180 độ sau khi cắt bom cũng làm lộ phần bụng của máy bay và tạm thời giảm độ hiệu quả của hệ thống gây nhiễu, khiến B52 lộ rõ trên màn hình radar của lực lượng phòng không Hà Nội. Đây là những tín hiệu đáng báo động được phi công Mỹ ghi nhận, song SAC vẫn gạt đi cho rằng tổn thất ba chiếc B52 là trong giới hạn "chấp nhận được". Họ vẫn tự tin vào sức mạnh tối tân của B52 và coi thường đối thủ.
Ngày 20/12: Sau hai hôm 18 và 19, trắc thủ Hà Nội đã nắm được quy luật bay hàng một, giờ bay, độ cao và cú ngoặt lái sau cắt bom lặp lại của hạm đội B52. Lực lượng phòng không đã bố trí tên lửa SAM phục kích, đón lõng và tiêu diệt thành công sáu chiếc B52, khiến cả Không quân Mỹ, Nhà Trắng và Lầu Năm góc choáng váng.
Bi kịch những phi công chết vì... quá kỉ luật
Nhiều phi công biết những mệnh lệnh của SAC là vô lý, có thể khiến họ lộ liễu trên màn hình radar của Hà Nội rồi dẫn đến chuyện bị bắn hạ. Tuy nhiên với tư cách người lính chuyên nghiệp, họ vẫn phải tuân theo kỉ luật mệnh lệnh, và cuối cùng đi vào cái chết một cách lầm lũi.
Bi kịch của Trung tá Donald L. Rissi - Cơ trưởng "Charcoal 01" (Đêm 18/12)
Đây là chiếc B-52G đầu tiên bị bắn rơi tại chỗ trong chiến dịch, và cái chết của Rissi là minh chứng đau đớn nhất cho sự tuân thủ mệnh lệnh.
- Tình huống: Chiếc Charcoal 01 dẫn đầu tốp 3 chiếc đánh vào kho Yên Viên. Khi tiếp cận mục tiêu, các thiết bị cảnh báo rú lên liên hồi. Tên lửa SAM đỏ lừ lao lên từ phía trước.
- Hành động của Rissi: Rissi là một sĩ quan mẫu mực, nổi tiếng nghiêm khắc. Mặc dù tổ bay la hét cảnh báo, ông vẫn giữ chặt cần lái, duy trì đường bay thẳng tắp để sĩ quan ném bom ngắm mục tiêu. Quy định của SAC là phải bay ổn định (stabilized) trong 4 phút cuối cùng trước khi cắt bom (Bomb Run) để đảm bảo độ chính xác.
- Kết cục: Một quả SAM nổ ngay sát buồng lái bên trái. Mảnh đạn xé toạc máy bay.
- Bi kịch: Rissi tử trận ngay trên ghế lái vì mảnh đạn (ông là người duy nhất tử trận trong khoang lái, những người khác nhảy dù được). Ông chết vì cố giữ yên máy bay cho đến giây cuối cùng.
Tổ bay "Rose 01" - Cái chết trong cú ngoặt định mệnh (Đêm 18/12)
Nếu Charcoal 01 chết vì bay thẳng, thì Rose 01 chết vì ngoặt đúng quy trình.
- Tình huống: Sau khi cắt bom xong, lệnh của SAC bắt buộc B-52 phải thực hiện cú ngoặt gấp (Post-Target Turn).
- Sự bất lực: Phi công biết rằng khi nghiêng cánh, bụng máy bay sẽ phơi ra và ăng-ten gây nhiễu sẽ chệch hướng. Nhưng họ vẫn làm. Ngay khi chiếc Rose 01 vừa nghiêng cánh tuân theo lệnh, tín hiệu nhiễu bị mất, radar Việt Nam bắt chết mục tiêu.
- Kết cục: Tên lửa lao thẳng vào khoang giữa. Máy bay nổ tung. Đại úy Hal K. Wilson (cơ trưởng) may mắn sống sót, nhưng Xạ thủ đuôi và một số thành viên khác tử nạn. Họ đã thực hiện đúng động tác để... đón lấy cái chết.
Tổ bay "Orange 03" - Sự im lặng trước cái chết (Đêm 20/12)
Đây là câu chuyện ám ảnh nhất về sự "lầm lũi".
- Tình huống: Orange 03 bay vào khu vực Cổ Loa. Tên lửa SAM bắn lên dày đặc như mưa.
- Sự kỷ luật: Mặc dù nhìn thấy tên lửa đang bay tới, tổ bay không hề thông báo trên vô tuyến để xin phép lảng tránh (vì sợ lộ vị trí cho đồng đội). Họ cứ thế bay thẳng vào vùng hỏa lực.
- Bi kịch: Hai quả tên lửa của Tiểu đoàn 77 bắn trúng trực diện. Máy bay nổ tung thành một quả cầu lửa khổng lồ ngay trên bầu trời.
Sự nổ quá nhanh khiến 4 thành viên không kịp làm gì và tan biến cùng xác máy bay. Chỉ có 2 người văng ra được. Sự im lặng tuân thủ kỷ luật của họ đã được trả giá bằng sự hủy diệt hoàn toàn.
Điều diễn ra trong sở chỉ huy Omaha của Tướng Meyer, và nghiệp lực của ông
Đêm 20/12, chứng kiến 6 chiếc B52 nổ tung trên bầu trời Hà Nội qua màn hình điện tử, Tướng Meyer và toàn bộ SAC choáng váng. Ông ta liên tục hút xì gà, cũng như uống cà phê thay nước lọc, đi đi lại lại trong căn phòng khói nghi ngút. Tuy nhiên, ông ta không thay đổi chiến thuật bay hàng một đang đưa B52 vào lưới lửa của Hà Nội như đưa đàn gia súc vào lò mổ. Thay vào đó ông ta đưa ra mệnh lệnh "tiếp tục" ( press on ) với đường bay cũ, có thay đổi một chút là đánh dạt ra ngoại thành Hà Nội để tránh hệ thống phòng không dày đặc.
Từ 21 đến 24/12, hạm đội B52 tiếp tục bay theo lộ trình và cách đánh "ngu ngốc" mà ông và SAC vạch ra.
Ngày 21/12, tâm lý hoảng loạn bao trùm trong phi công Mỹ sau đêm họ mất 6 chiếc B52. Khi nghe sĩ quan phổ biến lộ trình bay vẫn giữ nguyên như các ngày trước, phi công Mỹ đã nhìn nhau và tự hỏi: Liệu có đáng để chết vì điều ngu xuẩn này ? Số lượng cáo ốm, báo máy bay bị sự cố kỹ thuật, thậm chí cố tình phá hoại máy bay để trốn bay tăng đột biến. Không ai muốn tự sát bằng việc tuân theo mệnh lệnh ngu ngốc để đi vào lưới lửa phòng không của Hà Nội.
Nghiệp lực của John C.Meyer lên đến đỉnh điểm: Những mệnh lệnh bảo thủ và cứng nhắc của ông và SAC đã đẩy hàng chục phi hành đoàn của 9 chiếc B52 lầm lũi đi vào cái chết từ 18 đến 20/12. Sau đêm 20/12 ông có cơ hội thay đổi chiến thuật để cứu mạng lính của mình, song ông không làm và vẫn giữ nguyên chiến thuật cũ để đến nỗi B52 tiếp tục bị bắn rơi hoặc hỏng nặng. Có lẽ sự ngạo mạn đã không cho phép ông thừa nhận thất bại, cũng như lỗ hổng của hệ thống tác chiến điện tử hàng tỷ USD, và cái giá phải trả là sinh mạng của hàng chục con người kèm sự đau thương không đáng phải có cho gia đình họ.
Sự chống trả của tướng Johnson, kết thúc và hiệp định Paris
Không thể chịu nổi thêm đường bay vô lý đưa lính của mình vào bẫy phòng không của Hà Nội, Trung tướng SAC Johnson tận dụng dịp nghỉ lễ Giáng sinh 25/12/1972 để thay đổi lại toàn bộ đường bay, cho phép bay tấn công từ 360 độ và lẩn tránh khi gặp hỏa lực địch nhằm gây quá tải cho hệ thống phòng không Hà Nội - ảnh minh họa.

Sự thay đổi chiến thuật của Tướng Johnson
Nhờ vào những thay đổi này, hạm đội B52 đã chịu ít thiệt hại hơn so với giai đoạn trước, tâm lý phi công cũng bớt đi sự hoảng loạn.
Không quân Mỹ đánh thêm vài ngày nữa đến 29/12 thì kiệt quệ về bom đạn và tinh thần. Nhiều phi công Mỹ có lương tri như Đại úy Micheal Heck đã từ chối bay khi mục tiêu chỉ huy của anh yêu cầu ném bom là bệnh viện và trường học. Rất nhiều phi công khác cũng phản kháng trực tiếp hoặc âm thầm giả ốm để không phải ném bom vào khu dân cư theo điều lệnh. Sau khi những bức ảnh về xác dân thường ở phố Khâm Thiên, thi thể các bác sĩ ở bệnh viện Bạch Mai chết do bom B52, được cả thế giới biết đến thì cộng đồng quốc tế quay lưng hoàn toàn với nước Mỹ. Quốc hội lên dự thảo cắt sạch ngân sách chiến tranh của Tổng thống Richard Nixon. Báo chí Mỹ mô tả về Nixon như một tên điên cuồng cầm nút phóng bom bừa bãi.
Thảm bại, Richard Nixon phải ra lệnh cho Henry Kissinger nối lại đàm phán với Hà Nội, và chấp nhận những yêu cầu Hà Nội đưa ra từ tháng 10/1972 mà Mỹ đã gạt đi. Mệnh lệnh Nixon dành cho Kissinger là: Ký hiệp ước hòa bình với Hà Nội bằng mọi giá.
4. Nghiệp lực và nhân quả cuối cùng của Tướng John C.Meyer
Sự thảm bại của chiến dịch Linebecker II không làm tướng Meyer mất chức ngay lập tức, vì như thế nghĩa là thừa nhận thất bại trước quân dân Việt Nam. Ông được tiếp tục làm việc cho đến hơn một năm sau chiến dịch và nghỉ hưu vào 1/8/1974. Sau khi nghỉ hưu thì ông qua đời vào ngày 2/12/1975 ở tuổi 56 - một tuổi đời còn trẻ và sung sức cho một vị tướng quyền lực như ông.
Có lẽ, đó là nghiệp lực mà ông phải chịu sau khi ông đã đưa ra những mệnh lệnh kiêu ngạo và ngu xuẩn, đưa lính phi công của mình lầm lũi đi vào cái chết không đáng có, và gây ra đau thương cho hàng chục, hàng trăm gia đình của các quân nhân này, chưa tính đến hàng trăm - hàng ngàn cái chết cho thường dân vô tội ở Hà Nội và các khu vực lân cận vì B52 cố tình ném bom vào các mục tiêu dân sự.
Nhân quả thường đến chậm, song đôi khi với những trường hợp nghiệp lực quá lớn như Tướng John C.Meyer, nhân quả lại đến rất nhanh vậy.

Thinking Out Loud
/thinking-out-loud
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất