Từ “Ba Tàu” đến người Hoa: một lịch sử di dân trên đất Việt
Đi vào hội quán Tuệ Thành trên đường Nguyễn Trãi, người ta thường thấy một bộ lư ngũ sự đúc năm Quang Tự thứ 12, vài tấm bia đá ghi...
Đi vào hội quán Tuệ Thành trên đường Nguyễn Trãi, người ta thường thấy một bộ lư ngũ sự đúc năm Quang Tự thứ 12, vài tấm bia đá ghi chuyện trùng tu, và những cuộn nhang lớn treo lủng lẳng từ trần. Ngoài cửa, người Sài Gòn gọi chỗ này là “chùa Bà Chợ Lớn”. Người Quảng Đông gọi là “A Phò Miếu”. Trong sổ sách hành chính, nó là một di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia. Ba cái tên gọi, ba lớp ký ức, cùng một tòa nhà.
Tên gọi của một cộng đồng cũng vận hành theo cách tương tự. Người Việt gọi người Hoa là “người Tàu”, “Ba Tàu”, “chú Ba”, “các chú”, “khách trú”, “chệt”. Mỗi từ là một thời điểm tiếp xúc, một lớp định kiến hoặc thân thiện được đắp lên. Trong đó, “Ba Tàu” là cái tên thú vị nhất. Không ai chắc nó từ đâu ra, nhưng nhiều người vẫn dùng. Truy ngược nó, ta không tìm thấy một đáp án tuyệt đối, mà gặp phải toàn bộ lịch sử người Hoa ở Việt Nam, từ những cánh buồm chạy nạn Phản Thanh phục Minh đến những hội quán im lặng giữa lòng Chợ Lớn hôm nay.

Một danh xưng, nhiều lớp truyền miệng
Cách giải thích sớm nhất và có lẽ cũ nhất nằm trên trang báo Gia Định, số 5 năm thứ 6, phát hành ngày 16/2/1870. Tờ báo viết, đại ý: khách thường đi tàu qua đây, lại dùng tàu chở hàng hóa qua đây buôn bán, nên kêu là Tàu, hàng Tàu, đồ Tàu. Lý giải này thuần về phương tiện đi lại. Người Hoa đi tàu thuyền, đem theo cả hàng hóa và con người, thế là dân Việt gọi luôn họ bằng tên cái phương tiện ấy. Cách giải thích này đơn giản, gần với khẩu ngữ, và có lẽ là cách hiểu phổ biến nhất.
Tuy nhiên, học giả An Chi đẩy vấn đề sâu hơn. Ông cho rằng “tàu” là âm cổ Hán Việt của chữ tào 艚, nghĩa là “thuyền”, và chữ này thông với chữ tào 漕, từng có nghĩa là “xe”. Ở Bắc gọi là “tàu hỏa”, ở Nam vẫn nói “xe lửa”. Điều đó cho thấy cái nghĩa “xe” của từ tàu vẫn còn vảng vất trong tiếng Việt. Một giả thuyết khác của An Chi cho rằng tàu có thể là âm cổ của chữ tào 曹, nghĩa là “quan”, vì thời Bắc thuộc, quan cai trị phần lớn là người Trung Hoa. Dân chúng quen lệ gọi người Trung Hoa là “tàu”, tức là “quan”.
Cái “Ba” lại càng có nhiều dị bản. Theo một số cách giải thích phổ biến, Ba có nghĩa là ba vùng đất mà chúa Nguyễn cho phép người Hoa làm ăn và sinh sống: Cù lao Phố ở Đồng Nai, Chợ Lớn ở Sài Gòn, và Hà Tiên. Một dị bản khác gần với chuyện sử hơn: ba nhóm tướng lĩnh nhà Minh thua nhà Thanh gồm Trần Thượng Xuyên ở Cù lao Phố, Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, và Mạc Cửu ở Hà Tiên đã vượt biển bằng ba đoàn tàu lớn để xin chúa Nguyễn cho làm dân Việt.
Cũng có một cách kể khác, đậm chất ngôn ngữ dân gian. Người Tàu thường lễ phép gọi thân mật người Việt đang làm ở các cơ quan Pháp thời đó là anh Hai hoặc cậu Hai, và xem mình là em, tức anh Ba. Trong thứ bậc xưng hô Nam Bộ gồm Hai, Ba, Tư, Năm, người Hoa tự đặt mình ở hàng dưới một bậc so với người Việt bản địa. Đó là một sự nhún mình có tính toán, gần như một nghi thức giao tế của thiểu số sống trên đất khách.
Truy đến đây, ta nhận ra điều quan trọng hơn cả đáp án: ngôn ngữ dân gian không hoạt động bằng cách chọn một nghĩa và bỏ những nghĩa còn lại. Nó tích tụ. “Ba Tàu” gói trong nó hình ảnh ba con tàu vượt biển, ba vùng đất chúa Nguyễn ban, vị thế “anh Ba” lễ phép, và cả cái nhìn xa hơn nữa từ thời Bắc thuộc khi người Hoa là “quan”. Tất cả cùng tồn tại, đè lên nhau, mơ hồ và nhiều lớp như một bức tường vôi đã quét nhiều lần.
Thầy Hai, chú Ba, anh Tư: bản đồ xã hội của Sài Gòn xưa
Cái thứ bậc xưng hô ấy không chỉ là chuyện gia đình. Trong Sài Gòn, Chợ Lớn thời Pháp thuộc, nó là cả một bản đồ xã hội thu nhỏ. Theo một cách ghi nhận về đời sống xã hội Sài Gòn xưa, các tầng lớp dân gian từng được xếp theo số thứ tự. Trên hết là các “quan lớn” Pháp hoặc quan Nguyễn, không xếp vì dân thường không có dịp tiếp xúc. Kế đến là công chức và người có học, được gọi là thầy Hai; người Hoa buôn bán là chú Ba; đại ca giang hồ là anh Tư; lưu manh là anh Năm; người lao động nghèo xếp thứ Tám.
Hạng “chú Ba”, tức người Hoa thương gia, không phải là hạng thấp. Các “chú Ba Tàu” nghiễm nhiên là một thế lực đáng vị nể trong mắt xã hội bình dân Sài Gòn, Chợ Lớn thời đó, ngang hàng với công chức và đứng trên cả giới giang hồ dao búa. Họ có tiền, có bang hội, có quan hệ. Cách xưng hô “chú”, chứ không phải “ông” hay “anh”, giữ một khoảng cách vừa đủ: thân nhưng không sát, kính nhưng không quá xa. Đó là khoảng cách của những người sống cạnh nhau qua mấy đời mà vẫn không hòa hẳn vào nhau.
Cách xưng hô này còn lưu lại nhiều dấu vết trong tiếng Việt miền Tây. Một số ghi nhận ngôn ngữ cho thấy các đại từ “hia” nghĩa là anh, “chế” nghĩa là chị, “chệt” nghĩa là chú, “mùi” hoặc “muội” nghĩa là em gái, đều có gốc từ tiếng Triều Châu. Những từ này đã len vào lời nói hằng ngày của người Việt vùng Sóc Trăng, Bạc Liêu, tạo nên một lớp xưng hô lai. Người Việt và người Hoa đã ở chung lâu đến mức tiếng gọi nhau cũng pha trộn, không còn nguyên bản.
Hội An: mô hình nguyên thủy của thương cảng và hội quán
Để hiểu tại sao “chú Ba” có vị thế ấy, phải lùi lại ba thế kỷ trước, về một thị trấn nhỏ bên bờ sông Hoài. Trong các thế kỷ 17 và 18, Hội An là một trong những thương cảng nhộn nhịp nhất Đông Nam Á. Thuyền Bồ Đào Nha, Hà Lan, Nhật Bản, Trung Hoa cập bến, chở hồ tiêu, lụa, đường, gốm sứ. Trong dòng thuyền ấy, người Hoa từ các tỉnh ven biển đông nam Trung Quốc giữ một vai trò đặc biệt: vừa buôn vừa định cư.
Khi đã đông đủ, họ tổ chức nhau theo gốc gác quê hương. Các ghi chép về Hội An cho biết, khi đến định cư và sinh sống tại đây, người Hoa lập ra năm bang: Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Hải Nam Gia Ứng. Họ cũng xây dựng các công trình kiến trúc như nhà ở, cửa hàng, chợ, trường học, bệnh viện, ngân hàng, chùa miếu, nghĩa trang và hội quán. Mỗi bang là một quốc gia thu nhỏ. Hội quán Phúc Kiến khởi dựng năm 1690, Hội quán Triều Châu năm 1845, Hội quán Quỳnh Phủ tức Hải Nam năm 1875, Hội quán Quảng Triệu, và Hội quán Trung Hoa hay Ngũ Bang năm 1741. Năm tòa nhà nằm dọc đường Trần Phú và Nguyễn Duy Hiệu, mỗi tòa thờ một vị thần riêng nhưng đều có chung một logic: gắn người tha hương lại với nhau.
Vị thần được thờ phổ biến nhất là Thiên Hậu Thánh Mẫu, một nữ thần biển của Phúc Kiến. Theo truyền thuyết, bà tên Lâm Mặc Nương, người đảo Mi Châu, sinh thời có khả năng cứu người trên biển. Đối với những đoàn thuyền vượt Nam Hải đầy gió bão, một vị thần biển không phải là ý niệm trừu tượng. Đó là chỗ dựa tinh thần thiết thân. Khi hội quán Phúc Kiến hay Tuệ Thành ở Chợ Lớn thờ Thiên Hậu, họ đang ghi tạc lại đúng nỗi sợ đã chở họ tới được bờ này.
Một câu chuyện đáng chú ý nằm ở Hội quán Hải Nam. Năm 1851, dưới triều Tự Đức, 108 thương nhân Hải Nam bị quan quân ta giết oan vì bị nghi là cướp biển. Khi sự thật được làm rõ, triều đình cho phép cộng đồng lập miếu thờ. Đáng chú ý, ngôi miếu này dần được người Việt Hội An tìm đến và gọi là “chùa Giải Oan”, nơi cầu xin gỡ bỏ oan khuất cho bản thân. Đó là một sự dung hợp tín ngưỡng mà ban đầu không ai chủ ý. Đến cả Hội quán Triều Châu thờ Mã Viện, một nhân vật đối lập trong ký ức lịch sử Việt Nam, vẫn được ngư dân địa phương lui tới cầu sóng yên biển lặng. Trên đất Hội An, ranh giới “của tôi” và “của anh” mềm dần theo nhang khói.
Chợ Lớn: từ Minh Hương Gia Thạnh đến một mạng lưới đô thị
Hội An là mô hình thương cảng. Sài Gòn, Chợ Lớn là mô hình đô thị. Năm 1679, hai cựu tướng nhà Minh là Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch không thần phục nhà Thanh, đem quân xin chúa Nguyễn nhận làm dân Việt. Họ được phép định cư ở Mỹ Tho và Đồng Nai. Năm 1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam lập phủ Gia Định, người Hoa ở Phiên Trấn lập làng Minh Hương, người Hoa ở Trấn Biên lập làng Thanh Hà.
Cái tên Minh Hương ghép từ triều Minh và chữ “hương”, nghĩa là làng. Đó là làng của những người ôm theo nỗi nhớ một triều đại đã sụp. Năm 1789, người dân làng này dựng nên đình Minh Hương Gia Thạnh. Đến năm 1808, vua Gia Long ban cho tên “Gia Thạnh đường”. Đây không hẳn là một hội quán theo lối Quảng Đông hay Phúc Kiến. Nó là một ngôi đình theo lối Việt, có thành hoàng, có lễ Kỳ Yên rằm tháng Giêng, có câu đối của Trịnh Hoài Đức. Vì người Minh Hương đã đi xa hơn một bước so với người Hoa thuần túy: họ lấy vợ Việt, hòa nhập ngôn ngữ, nhập tịch và trở thành người Việt gốc Hoa. Dân gian Nam Bộ có câu: “Gỏi chi ngon bằng gỏi tôm càng / Đố ai lịch sự cho bằng làng Minh Hương.”
Bên cạnh người Minh Hương đã Việt hóa là những lớp người Hoa đến sau, vẫn giữ quốc tịch và phương ngữ riêng. Họ kế thừa mô hình hội quán Hội An và mở rộng thành cả một hệ thống. Hội quán Tuệ Thành, tức Chùa Bà Thiên Hậu, được khởi dựng khoảng năm 1760 bởi nhóm người Hoa gốc huyện Tuệ Thành, tỉnh Quảng Đông. Nơi này vừa làm nơi thờ Thiên Hậu, vừa làm trụ sở quản lý di dân. Hội quán Nghĩa An, còn gọi là Chùa Ông, của người Triều Châu thờ Quan Đế. Hội quán Nhị Phủ, còn gọi là Chùa Ông Bổn, của người Phúc Kiến thờ Ông Bổn, vị thần bảo hộ đất đai. Hội quán Ôn Lăng, Hà Chương, Quảng Triệu, Quỳnh Phủ và nhiều hội quán khác tạo thành các mảnh ghép của một mạng lưới cộng đồng.
Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí, soạn khoảng năm 1820, đã vẽ lại bản đồ ấy. Đầu phía bắc đường lớn của phố có miếu Quan Đế và ba hội quán Phúc Châu, Quảng Đông, Triều Châu. Phía tây có miếu Thiên Hậu, gần đó là hội quán Ôn Lăng. Đó là một thành phố trong thành phố. Quan trọng là dân địa phương không gọi đây là “hội quán” mà gọi là “chùa”. Người Hoa cũng dần chấp nhận cách gọi đó. “Chùa Bà”, “Chùa Ông”, “Chùa Ông Bổn” là những danh xưng cho thấy người Việt nhìn các thiết chế ấy bằng con mắt tín ngưỡng của riêng mình, và người Hoa không phản đối cách gọi đó.
Trí khôn sinh tồn: không phải là gene, mà là chiến lược
Người ta hay nói “người Hoa khôn ngoan trong làm ăn”, như thể đó là một đặc tính dân tộc. Cách nói ấy có điểm hạn chế: nó biến một chiến lược cộng đồng thành thuộc tính cá nhân, biến một lịch sử khắc nghiệt thành chuyện sinh ra đã giỏi. Cái “khôn” của người Hoa ở Việt Nam, nếu nhìn kỹ, là cái khôn của bất kỳ cộng đồng di dân thiểu số nào trên thế giới đã học cách sống còn.
Cộng đồng ấy không có nhà nước bảo trợ, không có ngân hàng quê hương, không có tòa án để khiếu nại khi bị quỵt nợ. Cái duy nhất họ có là nhau. Vì vậy, bang hội và hội quán không chỉ là nơi thờ tự. Chúng là cơ sở hạ tầng tài chính, pháp lý và xã hội của một thiểu số. Trước khi có tín dụng ngân hàng cho vay dự án kinh doanh, các bang hội người Hoa đã biết triển khai tín dụng qua hình thức “hụi thảo”, một dạng góp vốn xoay vòng. Người mới sang được bang bảo lãnh chỗ ở, việc làm; người mất được bang lo hậu sự; người mở quán được đồng hương kéo đến ăn để gây dựng tiếng tăm.
Bộ máy ấy vận hành được nhờ một yếu tố cốt lõi: chữ tín. Trong văn hóa kinh doanh người Hoa, nền tảng gia đình và chữ tín thường được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng. Không phải vì người Hoa “đạo đức hơn”, mà vì trong một cộng đồng nhỏ và khép kín, thông tin lan rất nhanh. Một lần thất tín là vạn lần bất tin. Trừng phạt không cần đến tòa án. Chỉ cần bị bang tẩy chay, mọi đường làm ăn đều đóng lại. Đây là chữ tín đã được thiết chế hóa, không phải chữ tín như một đức hạnh riêng lẻ. Chính vì vậy mà ở Chợ Lớn từng có chuyện một chủ ngân hàng cho vay hàng chục tỷ đồng chỉ bằng tín chấp ghi trong sổ tay, không hợp đồng, không thế chấp.
Mạng lưới ấy cộng dồn qua nhiều đời tạo ra một thực tế đáng chú ý: tại TP.HCM, cộng đồng người Hoa chỉ chiếm 7% dân số, khoảng 500.000 người, nhưng tỉ trọng doanh nghiệp người Hoa lại chiếm 30% trên tổng số doanh nghiệp. Trước 1975, người Hoa ở Chợ Lớn từng nắm gần như độc quyền hoạt động thương mại Nam phần. Đó không phải tài năng bẩm sinh. Đó là kết quả của một cộng đồng thiểu số đã biết biến lòng tin thành thiết chế, và biến thiết chế thành đòn bẩy kinh tế.
Một cách gọi đang già đi
Hôm nay, ở các đô thị Việt Nam, “Ba Tàu” không còn là một cách gọi trung tính. Nó đã bị nhuộm bởi nhiều thập niên căng thẳng địa chính trị, bởi những đợt người Hoa di tản cuối thập niên 1970, và bởi tâm lý đề phòng phương Bắc. Nhiều cộng đồng người Việt gốc Hoa hôm nay không thích bị gọi như vậy nữa. Tốt hơn cả là dùng “người Hoa”, danh xưng họ tự nhận, hoặc “người Việt gốc Hoa” với những thế hệ đã hòa nhập.
Tuy nhiên, giữ lại “Ba Tàu” như một điểm xuất phát để đào sâu vẫn có giá trị. Đào vào danh xưng ấy, ta gặp ba chiếc tàu chở Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu. Ta gặp Cù lao Phố, Chợ Lớn, Hà Tiên. Ta gặp những “anh Ba” lễ phép tự xếp mình dưới “anh Hai” trên đất khách. Ta gặp Thiên Hậu Thánh Mẫu, 108 thương nhân Hải Nam bị giết oan, Minh Hương Gia Thạnh, các “chú Ba” Chợ Lớn xếp thứ ba trong bản đồ xã hội Sài Gòn xưa, và những cuốn sổ tín chấp ghi chi chít chữ Hán.
Cuối cùng, đây không phải câu chuyện về một dân tộc thông minh hơn dân tộc khác. Đây là câu chuyện về việc khi một cộng đồng buộc phải bỏ quê hương, vượt biển, dừng lại trên một vùng đất không phải của mình, họ đã làm gì để vừa sống được, vừa giữ được mình. Họ nhún mình gọi mình là em. Họ dựng hội quán để thờ chung một vị thần biển. Họ làm tín dụng bằng lòng tin và xử kiện bằng tẩy chay. Họ lấy vợ bản xứ, để con học chữ quốc ngữ, rồi dần dần tự gọi mình là người Việt. “Ba Tàu” chỉ là cái vỏ ngôn ngữ bên ngoài. Bên trong nó là một lịch sử dài đến mức không một danh xưng nào có thể gánh nổi cho trọn.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
