Cầu Rồng
Cầu Rồng
Sau khi đến Đà Nẵng và nhận phòng khách sạn, tôi quyết định phải đi khám phá xung quanh ngay lập tức. Tôi thuê một chiếc xe máy với sự giúp đỡ của cô gái lễ tân cực kỳ dễ mến, kiên nhẫn và có vốn tiếng Anh nghe không giống như một tập hợp âm thanh ngẫu nhiên. Điểm đến đầu tiên của tôi là Ngũ Hành Sơn – một nơi huyền bí trông như bối cảnh phim, nhưng với ngân sách dành cho cầu thang chắc hẳn sẽ làm ngay cả một vận động viên leo núi cũng phải khiếp sợ. Một nơi rất thú vị với vô số bậc thang và hang động. Tất nhiên, tôi quyết định sẽ leo thang bộ chứ không dùng thang máy, vì tôi được đúc kết từ "chất liệu Bulgaria" chất lượng, nuôi dưỡng bằng sữa chua và sự bướng bỉnh. Dĩ nhiên, sau bao nhiêu lần leo lên lộn xuống hàng ngàn bậc thang, tôi mồ hôi nhễ nhại như một con lừa giữa chợ phiên vào cao điểm tháng Bảy, nhưng biết sao được – vì văn hóa thì phải hy sinh thôi, ngay cả khi sự hy sinh đó là lượng nước trong cơ thể tôi. Tôi thấy lạ là những ngôi chùa lớn và uy nghiêm này lại không có vị sư nào vẩy cho tôi ít nước thánh để giải nhiệt. Sau đó, tôi hướng về chùa Linh Ứng, nơi bức tượng Phật Bà khổng lồ đang nhìn tôi với sự thanh thản mà tôi đã đánh mất từ lâu vì những âm thanh phát ra từ cái bụng đói.
Ngũ Hành Sơn
Ngũ Hành Sơn
Lúc đó tôi thực sự rất đói, mà xung quanh chẳng có gì – không quán ăn, không cửa hàng. Nhưng sau khi đi vào trong dạo quanh, cái mũi cáo tinh tường của tôi – vốn được huấn luyện để đánh hơi thấy thịt nướng từ khoảng cách ba cây số – đã ngửi thấy mùi đồ ăn. Tôi bước nhanh về phía đó và thấy một nơi trông giống như nhà ăn. Bước vào bên trong, tôi bắt gặp một cảnh tượng siêu thực: các nhà sư đang ăn uống bình thản, còn những người dân thường thì nhai trong sự hòa hợp. Thức ăn được lấy từ một cái cửa sổ nhỏ trên tường gỗ – trông giống như quầy bán vé ở một nhà ga cũ, nhưng mang theo hy vọng về một thứ gì đó ngon lành hơn là tờ khai thuế. Tôi đi tới cửa sổ, một người phụ nữ bên trong nói gì đó bằng tiếng Việt, có lẽ nghĩa là: "Ông da trắng kia làm gì ở đây thế?". Tôi bảo: "Tôi có tiền Đồng mà, sao lại không có chứ!", rồi vẫy vẫy xấp tiền như thể tấm vé số trúng giải. Cô ấy lại nói gì đó, tôi đưa ra 200.000 Đồng, nhưng cô ấy đẩy tay tôi ra và đóng sầm cửa sổ ngay trước mũi tôi với một sự dứt khoát như thể tôi vừa đề nghị mua lại cả ngôi chùa vậy.
"Giờ sao đây, chẳng lẽ phải quay lại thành phố chỉ để ăn một bữa? Không đời nào!" – tôi tự nhủ. Đã cất công đến đây rồi, tôi sẽ không quay lại để làm nô lệ cho những ham muốn tầm thường. Ở đây tôi sẽ ăn "thức ăn tinh thần", ngay cả khi cái bụng tôi bắt đầu ngâm thơ tiếng Việt vì đói. Tôi quyết định kiên nhẫn thêm chút nữa, đi dạo rồi tính sau. Và rồi, trên một ban công của một ngôi điện, tôi thấy một cô gái đang đứng thẳng và đọc bài, còn hai cô gái khác đứng đối diện đang quay phim. Tôi lại gần hỏi họ đang làm gì, họ ngượng ngùng trả lời rằng đang ôn thi. Trông họ khá lo lắng. Tôi hỏi tại sao lại lo, họ giải thích bằng tiếng Anh khá tốt rằng đây là kỳ thi tốt nghiệp và nó cực kỳ quan trọng cho sự nghiệp tương lai.
Lúc đó, tôi quyết định giúp họ một tay. Có lẽ vì đói, hoặc vì không khí trong chùa, tôi thấy mình cũng giống như họ – tôi nhớ lại 27 năm trước, khi cô giáo dạy Cơ học công trình kiểm tra tôi và cho tôi điểm 2 chỉ vì tôi quá run mà quên sạch bài học. Tôi nhập vai ngay thành một "guru" về kỹ năng diễn thuyết. Thời sinh viên, tôi đã học qua nhiều môn liên quan đến nói trước công chúng. Đầu tiên là trong ngành Thần học có hai môn: hùng biện và cách thuyết pháp. Sau đó trong ngành Du lịch tôi cũng qua lớp thuyết trình tour. Muộn hơn nữa, tôi đã học các khóa chuyên sâu về phát biểu trước công chúng và truyền thông. Cuối cùng, mười lăm năm kinh nghiệm làm hướng dẫn viên và quản lý bảo tàng, bao gồm việc xuất hiện hàng ngày trước các đoàn khách và nhà báo, đã tôi luyện kỹ năng trình bày của tôi đến mức hoàn hảo. Tôi quyết định dốc hết sức để giúp họ – tôi cảm thấy đó như một sứ mệnh nội tâm.
Chùa Linh Ứng
Chùa Linh Ứng
Tôi đứng thẳng người và bắt đầu chỉ dẫn cho cô gái như thể tôi là Hamlet trên sân khấu. "Đứng thẳng lên! Nhìn về phía trước! Bây giờ hãy nói chậm lại và điều độ, giữ tông giọng bình thản!". Cô gái tội nghiệp run rẩy thốt lên: "Nhưng nếu em quên gì đó thì sao?". Tôi, với tất cả "uy tín" của một kẻ vừa bị đuổi ra khỏi bếp tu viện, ra lệnh: "Ngay cả khi quên cũng không sao cả! Cứ nói những gì em biết. Đừng để lộ là em đang lo, đừng vuốt tóc, đừng vò hay cuộn gấu áo phông!". Cô gái tội nghiệp, vì hồi hộp đã cuộn gấu áo lên tận eo. Cô ấy đứng thẳng dậy, còn tôi nói: "Bây giờ – chậm lại!". Cô ấy bắt đầu: "Uh... ah...". Tôi lại bảo: "Bình tĩnh! Em có bài thuyết trình đúng không? Nhìn vào nó! Mở nó trên điện thoại ra!". Và cô ấy mở ra. Cô ấy bắt đầu nói và sau khi kết thúc, xem lại đoạn video đã quay, cô ấy cười tươi nói với tôi: "Cảm ơn chú đã giúp đỡ!". Những cô gái khác, rõ ràng là bị ấn tượng bởi sự nhiệt huyết sư phạm bất ngờ của tôi, hỏi: "Chú có thể giúp cả chúng cháu được không?". Tất nhiên rồi! Tôi bảo cả hai cùng nói, sửa tư thế đứng và hướng dẫn cách điều khiển giọng nói. Tôi nhập tâm vào vai "giáo sư" đến mức quên mất rằng mình chỉ là một gã du khách đang đói và đầy mồ hôi.
Tuy nhiên, lúc đó trong bụng tôi, dàn nhạc giao hưởng Việt Nam đang trình diễn bản giao hưởng "Đói" với hàng ngàn cây vĩ cầm. Tôi chia sẻ với họ nỗi khổ về cơn đói và thất bại tại nhà ăn. Các cô gái cười tế nhị và giải thích rằng đó là nơi dành cho những người hành hương, không bán đồ ăn – ai cũng tự mang theo. Nhưng sau đó họ nhìn nhau và bảo tôi rằng tôi có thể thử xin gia nhập vào một nhóm nào đó, nếu họ đồng ý, họ có thể cho tôi ăn.
Không còn biết ngại là gì, tôi thấy một nhóm phụ nữ đang đi vào và đứng xếp hàng cùng họ. Tôi bước vào, ngồi đợi, người phụ nữ phía trước nhìn tôi như thể tôi là người ngoài hành tinh vừa rơi vào bát cơm của họ. Tôi nhún vai và chỉ tay vào cái miệng đang mở, điều mà ở bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có nghĩa là "tôi muốn ăn". Bà ấy định đuổi tôi đi, nhưng các "học trò" của tôi rõ ràng đã thấy tình cảnh đó nên can thiệp, giải thích vấn đề của tôi với sự tôn kính mực thước. Người phụ nữ mỉm cười và đẩy tôi lên phía trước bà ấy. Họ đưa cho tôi một bát súp mì (noodle soup), ít rau xanh và củ quả. Tôi ngồi vào bàn và... kinh hoàng! Chỉ có đũa để ăn. Tôi, "nhà diễn thuyết vĩ đại", bỗng trở nên hoàn toàn bất lực trước hai thanh tre. Tôi chưa bao giờ thử ăn bằng đũa, nhưng giờ không còn cách nào khác – tôi tự nhủ chắc cũng dễ thôi. Tôi cầm chúng – một chiếc giữa ngón trỏ và ngón cái, chiếc kia giữa ngón áp út và ngón út. Tôi bắt đầu gắp mì. Nhưng đôi đũa này có cá tính riêng và nhất quyết không chịu chạm đầu vào nhau. Tôi bới tung bát mì cho đến khi những sợi mì quyết định leo lên đôi đũa và quấn chặt vào ngón tay tôi, khiến người ta không thể phân biệt nổi đâu là bộ phận của tay tôi và đâu là bữa trưa. Tôi trông giống như một ảo thuật gia đang thắt nút để cố lấy con thỏ ra khỏi mũ, nhưng thay vào đó lại tự quấn mình vào những sợi mì. Tôi dính đầy mì lên tận cổ tay. Cuối cùng, tôi cố nhét cả nùi mì vào miệng cùng lúc, nhưng định luật vật lý đã chống lại tôi. Trong khoảnh khắc thất bại ẩm thực toàn diện đó, tôi nhớ về bà tôi, người hay ngồi dưới bóng râm đan tất len; nhìn những ngón tay quấn đầy bột và sợi mì, tôi tự nhủ: "Chao ôi bà ơi, bà chỉ với hai cái kim đan mà làm được mọi thứ, còn con với hai cái que này thì chẳng làm nên trò trống gì".
Đúng lúc tôi đang bưng bát bằng hai tay, định húp sạch như một con thú, thì một người phụ nữ lớn tuổi nghiêng người về phía tôi. Bà nói gì đó về đôi đũa, sau đó giơ đôi đũa trong tay bà lên làm mẫu để tôi hiểu rằng tôi đã cầm sai. Với ánh mắt đầy sự cảm thông và nụ cười cực kỳ lịch thiệp, bà đưa cho tôi một chiếc thìa sứ nhỏ. Bà ấy là một quý phu nhân thực sự, còn tôi chỉ là một gã ngoại quốc đói khát vừa thua cuộc trong trận chiến với điệu "macarena mì sợi" Việt Nam.
Tôi trở về khách sạn, và cô gái lễ tân dễ mến đó thông báo rằng tối nay có buổi trình diễn tại Cầu Rồng. Tôi đi tắm rồi khởi hành đến đó. Tôi đến vài phút trước khi bắt đầu, gửi xe và chọn một chỗ ngay trước đầu rồng. Dù sao thì cũng phải xem hội từ hàng ghế đầu chứ. Một lúc sau, con rồng bắt đầu phun lửa ngay trên đầu tôi. Thật ấn tượng, tôi cảm nhận được hơi nóng của ngọn lửa. Sau đó, nó phun một dòng nước mạnh mẽ. Đúng lúc đó, một luồng gió lớn thổi qua, cuốn lấy dòng nước và dội xuống cách tôi 10 mét. Sau đó gió lặng. Con rồng lại phun lửa rồi lại phun nước – gió lại nổi lên và tưới sũng những người đứng cách tôi 20 mét đang cố tìm chỗ trú. Còn tôi – không một giọt nước! Và cuối cùng lần thứ ba: lửa, gió, nước... và tôi vẫn khô nguyên! Tất cả mọi người trong bán kính 50 mét đều ướt lướt thướt như gà mắc mưa trong mùa hành xác, còn tôi, kẻ đứng ngay trước đầu con quái vật bằng kim loại, lại hoàn toàn khô ráo! "Chà," tôi tự nhủ, "đúng là may mắn! Chúa phù hộ mình rồi!". Tôi đi lấy xe và ra về với cảm giác như thể vừa trúng số độc đắc.
Cầu Rồng
Cầu Rồng
Về đến khách sạn, cô gái lễ tân với vẻ ngoài chỉn chu và tiếng Anh hoàn hảo bắt đầu hỏi thăm tôi về trải nghiệm. Tôi nói: "Vâng, tuyệt vời lắm!". Cô ấy nhìn tôi đầy thắc mắc và hỏi: "Nhưng tại sao chú lại khô ráo thế này?". Tôi kể cho cô ấy nghe về cơn gió và vận may khó tin của mình. Cô ấy thốt lên và nói với một nụ cười đầy ái ngại: "Ôi trời ơi chú ơi... ở đây có một niềm tin. Nếu Rồng phun nước trúng người, chú sẽ sớm lấy vợ. Càng nhiều nước, càng sớm lấy!". Đấy, đúng là nghiệp mà! Đi qua dòng nước mà vẫn khô ráo... theo đúng nghĩa đen! Cái số người đã không có duyên cưới hỏi thì đúng là không có duyên – gió thổi ba lần trên đầu chỉ để thổi bay mọi giọt nước, cốt để gã độc thân này mãi là lão độc thân. Cả vũ trụ đã hợp lực lại để cứu tôi khỏi nước, nhưng thực tế là để tôi lại cô đơn. Số phận đã an bài như vậy rồi! Hóa ra tôi lặn lội sang tận Việt Nam để tìm vợ, nhưng đích thân con Rồng đã "phán" cho tôi phải ra về vẫn độc thân y như lúc đến – hoàn toàn khô ráo và cô đơn một cách bi tráng.