Trong bụng con quái vật, luôn luôn là màn đêm.
Đám câm đã lột mất áo choàng, giày và quần chẽn của ông đi mất. Trên người ông giờ chỉ còn râu tóc, xiềng xích và vảy. Nước mặn bủa vây quanh chân ông mỗi khi thủy triều lên, dâng cao tới tận bộ phận sinh dục của ông rồi lại hạ đi khi thủy triều rút. Hai bàn chân ông đã sưng to và phù nề, tạo thành những hình thù kỳ lạ như những miếng dăm bông. Ông biết mình đang ở trong một hầm ngục, nhưng không biết ở nơi nào, và trong bao lâu rồi.
Ông cũng đã từng ở trong một hầm ngục khác trước đó, và ở trên cả con tàu đó, Câm Lặng. Cái đêm ông bị đưa đi, mặt trăng nổi lên trên mặt biển màu đen và nó khiến ông nhớ đến Euron. Lũ chuột bò vào trong bóng đêm, bơi qua làn nước. Nếu ông ngủ, chúng sẽ cắn cho đến khi ông tỉnh dậy và đuổi chúng đi bằng tay chân và cả những tiếng la hét. Râu và da đầu của Aeron đầy bọ chét, rận và cả sâu. Ông thậm chí có thể cảm thấy chúng đang di chuyển trong tóc mình, những vết cắn thì vô cùng ngứa ngáy, khó chịu. Thế nhưng xích của ông quá ngắn nên ông không thể dùng tay mà gãi được. Cái cùm của ông đã cũ và rỉ sét, và dây xích cứa vào cổ tay ông. Mỗi khi thủy triều lên, nước biển chảy vào các vết thương khiến ông đau đớn khôn tả.
Và mỗi khi ngủ, bóng tối lại trỗi dậy, nuốt chửng ông và rồi giấc mơ lại đến… và cả Urri cùng những tiếng cót két của bản lề cửa đã rỉ sét.
Trong cái nơi ẩm thấp tăm tối này, thứ ánh sáng duy nhất đến từ đèn của những kẻ đến thăm, nhưng chúng xuất hiện ít đến mức mắt ông bắt đầu thấy đau khi có ánh sáng. Một gã đàn ông vô danh với gương mặt đầy vẻ chua chát là người đem thức ăn đến cho ông: thịt bò muối cứng như ván gỗ, bánh mì đầy mốc và cá ươn. Aeron ngấu nghiến chúng và muốn thêm nữa, nhưng rồi luôn luôn nôn mửa sau mỗi bữa. Người câm mang thức ăn cho ông là một kẻ u ám, và lưỡi chắc chắn đã bị cắt, Aeron biết rõ điều đó.
Vì gã là thuộc hạ của Euron. Ánh sáng sẽ biến mất khi người câm rời đi, và thế giới của ông lại chìm vào màn đêm tăm tối, ẩm ướt, đầy mùi nấm mốc và mùi phân. Đôi lúc, Euron sẽ tự đến. Aeron sẽ bừng tỉnh và nhìn thấy anh trai ông đứng đó, cầm đèn trong tay. Có một lần trên tàu Câm Lặng, hắn ta treo đèn lên cột buồm và rót ra hai cốc rượu. “Uống với ta nào, em trai,” hắn nói. Đêm đó hắn mắc một bộ giáp sắt và khoác áo choàng màu đỏ thẫm. Tấm che mắt của hắn cũng là vải da màu đỏ, và môi hắn màu xanh. “Sao tôi lại ở đây?” Aeron rên rỉ. Môi ông đã đóng đẩy vảy, và giọng ông trở nên khàn đặc. “Chúng ta đang đi đâu?” “Đến phía nam - để chinh phạt, để cướp bóc, và vì những con rồng.” Điên rồ. “Chỗ của tôi là ở trên đảo.”
“Ta muốn ngươi ở đâu thì ngươi ở đó. Ta là vua của ngươi.”
“Anh muốn gì ở tôi?”
“Ngươi có thể cho ta điều gì mà ta chưa từng có nào?” Euron mỉm cười. “Ta để quần đảo lại cho Erik Thợ Sắt, và đảm bảo có được sự trung thành của hắn bằng Asha ngọt ngào của chúng ta. Ta sẽ không để ngươi rao giảng chống lại hắn, nên ta đem ngươi theo.”
“Thả tôi ra. Các vị thần ra lệnh đấy.”
“Uống với ta nào. Vua của ngươi ra lệnh đấy.”
Euron tóm lấy một nắm tóc đen rối bời của vị thầy tu, kéo ngược đầu ông ra sau và dí cốc vào miệng ông. Nhưng trong đó nào phải rượu. Nó đặc và nhớt, vị thay đổi sau mỗi lần nuốt. Có lúc đắng, lúc chua, lúc lại ngọt. Khi Aeron cố nhổ nó ra, anh trai ông siết chặt tay hơn và đổ thêm thứ nước đó vào miệng ông.
“Đúng rồi, thầy tu ạ. Nuốt nó xuống. Đây là rượu của đám pháp sư đấy, ngọt ngào hơn nước biển, chứa nhiều sự thật hơn tất cả thần thánh trên đời.”
“Ta nguyền rủa ngươi,” Aeron nói, khi cái cốc đã rỗng không. Những giọt chất lỏng rớt từ cằm xuống bộ râu của ông. “Nếu ta có ở đây lưỡi của những kẻ từng nguyền rủa mình, hẳn sẽ đủ để may áo choàng đấy.”
Aeron khạc và nhổ, nước bọt bắn vào má của anh trai ông, nó màu xanh đen và sáng lấp lánh. Euron dùng ngón trỏ hất nó ra khỏi mặt và liếm sạch.
“Thần thánh của ngươi sẽ đến tìm ngươi đêm nay đấy.”
Và khi Damphair ngủ, co quắp trong đống xiềng xích, ông lại nghe thấy tiếng cọt kẹt của bản lề rỉ sét.
“Urri!” ông gào lên. Lẽ ra không hề có cái bản lề, hay cánh cửa, hay Urri nào ở đây hết. Anh trai Urri của ông đã chết lâu rồi, nhưng giờ lại đang đứng đó. Một cánh tay đen sẫm và sưng tấy, bốc đầy mùi giòi bọ, nhưng đó vẫn là Urri, vẫn chỉ là một thằng bé, hệt như ngày anh ta chết.
“Ngươi biết có gì chờ đợi chúng ta dưới biển sâu chứ, em trai?”
“Thần Chết Chìm,” Aeron đáp, “và những đại sảnh của ngài.”
Urri lắc đầu. “Sâu bọ… chỉ có sâu bọ chờ đợi ngươi thôi, Aeron.”
Và hắn cười phá lên, khuôn mặt tối sầm lại, và thầy tu thấy đó không phải Urri mà là Euron, con mắt cười của hắn ẩn đi. Giờ hắn đang cho cả thế giới thấy con mắt máu của mình, tăm tối và kinh khủng. Một lớp vảy đen như mã não phủ kín người hắn từ đầu đến chân, và hắn ngồi trên một chiếc ngai làm bằng vô số đầu lâu đen sẫm, quanh chân hắn là những tên lùn đang nhảy nhót, đằng sau lưng là một khu rừng đang cháy rực.
“Ngôi sao chảy máu đem đến cái kết,” hắn nói với Aeron. “Đây là tận thế, khi thế giới bị hủy diệt và tái sinh. Một vị thần mới sẽ được sinh ra từ dưới mồ.” Và rồi Euron nhấc một chiếc tù và khổng lồ lên môi và thổi, rồng, thủy quái và cả nhân sư đều phủ phục trước hắn. “Quỳ xuống đi, em trai.” Mắt Quạ ra lệnh. “Ta là vua của ngươi. Ta là thần của ngươi. Tôn thờ ta, và ta sẽ biến ngươi trở thành thầy tu của riêng ta.”
“Không bao giờ. Không kẻ vô thần nào được phép ngồi lên Ngai Đá Biển!”
“Sao ta lại muốn cái cục đá đen cứng đó chứ? Em trai, nhìn lại đi, nhìn xem ta đang ngồi ở đâu.”
Aeron Damphair nhìn. Cái ngai bằng đầu lâu đã biến mất. Và giờ Mắt Quạ đang ngồi trên sắt thép: một cái ngai cao lớn, làm bằng sắt thép biến dạng, với ngạnh là những lưỡi kiếm đã gãy, tất cả đều đang nhỏ máu. 
Và trên những mũi nhọn dài nhất, là thân xác của các vị thần bị xiên vào đó. Đó là Trinh Nữ, là Đức Cha và Đức Mẹ, là Thần Chiến Binh và Bà Già và Thần Thợ Rèn… thậm chí cả Kẻ Lạ Mắt. Họ bị treo lơ lửng bên cạnh thân xác của vô số thần thánh khác: Kẻ Chăn Cừu và Dê Đen, Trios ba đầu và Bakkalon, Quang Thần và thần bướm của Naath.
Và ở đó còn có cả Thần Chết Chìm, xanh lét và sưng tấy, thân hình bị cua ăn dở, nước biển chảy từ mái tóc ướt sũng của ngài xuống sàn. Rồi Euron Mắt Quạ lại cười phá lên, và thầy tu bật dậy, la hét trong khoang tàu Câm Lặng, nước tiểu chảy thành dòng xuống chân. Đó chỉ là một giấc mơ, một ảo ảnh sinh ra từ thứ rượu đen khủng khiếp đó.
Lễ bầu vua là thứ cuối cùng Damphair còn nhớ rõ. Khi các thuyền trưởng nâng Euron lên vai và tung hô hắn là vua, thầy tu rời đi để đi tìm người anh em của cả hai, Victarion.
“Sự báng bổ của Euron sẽ khiến Thần Chết Chìm giáng cơn thịnh nộ xuống tất cả chúng ta,” ông cảnh báo.
Nhưng Victarion khăng khăng kiên quyết rằng nếu thần thánh đã chọn anh trai họ lên ngôi thì chính thần thánh phải là người hạ bệ hắn. Anh ấy sẽ không hành động, thầy tu nhận ra. Phải là ta. Lễ bầu vua đã chọn Euron Mắt Quạ, nhưng những kẻ trong Lễ bầu vua chỉ là người phàm, và mọi kẻ phàm trần đều yếu đuối và ngu ngốc, dễ bị lung lạc bởi vàng bạc và những lời dối trá. Ta đã triệu tập họ đến đây, đến Xương Nagga tại Sảnh của Vua Xám. Ta triệu tập tất cả để chọn ra một vị vua chân chính, nhưng trong cơn say xỉn ngu ngốc, họ đã phạm tội. Ta phải là người sửa sai cho những gì họ đã làm. 
“Các thuyền trưởng đã chọn Euron, nhưng dân chúng sẽ lôi hắn xuống,” ông nói với Victarion. “Tôi sẽ đi từ Great Wyk đến Harlow rồi Orkmont và Pyke. Mọi thị trấn và làng mạc sẽ nghe lời rao giảng của tôi. Không kẻ vô thần nào được phép ngồi lên Ngai Đá Biển!”
Sau khi từ biệt anh trai, ông tìm kiếm sự an ủi trên bờ biển. Một vài người thuộc dòng tu Thần Chết Chìm muốn đi theo, nhưng ông đuổi tất cả đi. Ông chỉ cần có thần thánh đồng hành.
Tại nơi các con thuyền dài được neo đậu dọc theo bãi đá, ông thấy những cơn sóng đen sủi bọt trắng xóa đang đập vào một tảng đá lớn, một nửa vùi trong cát. Khi lội xuống, ông thấy nước lạnh như băng, nhưng Aeron không hề run rẩy, nhờ phước lành đến từ vị thần của ông. Những cơn sóng đập liên tiếp vào ngực khiến ông loạng choạng, nhưng Aeron tiếp tục lội xuống, càng lúc càng sâu, đến khi nước biển ngập đầu ông. Vị của muối trên môi ông ngọt ngào hơn bất cứ loại rượu nào.
Những tiết cọt kẹt đến từ các con thuyền dài neo đậu dọc bờ biển hòa cùng tiếng vọng từ những bài ca và những tiếng hú hét ăn mừng. Ông nghe thấy cả tiếng gió và giờ là tiếng rên rỉ. Ông nghe thấy tiếng sóng vỗ rì rầm, như tiếng trống của thần thánh thúc giục ông ra trận. Và rồi, Thần Chết Chìm đến với ông một lần nữa, giọng của ngài vọng lên từ đáy biển thẳm sâu.
“Aeron, đầy tớ trung thành và tốt bụng của ta, ngươi phải nói với các con của sắt rằng Mắt Quạ không phải vị vua đích thực, và Ngai Đá Biển phải thuộc về… về…”
Không phải Victarion. Victarion đã đứng ra trước các thuyền trưởng và lãnh chúa. Nhưng họ đã ruồng bỏ anh ấy.
Không phải Asha. Sâu trong tâm, Aeron luôn yêu mến Asha nhất trong số tất cả những đứa con của anh trai Balon. Thần Chết Chìm đã ban cho con bé một linh hồn chiến binh và sự thông thái của một vị vua - nhưng ngài nguyền rủa nó với cơ thể của một phụ nữ. Không người phụ nữ nào từng cai trị Quần đảo Sắt. Con bé lẽ ra không nên đứng ra giành quyền làm vua. Con bé lẽ ra phải ủng hộ Victarion, hợp lực với anh ấy. Nhưng vẫn chưa quá muộn, Aeron quyết định trong khi ông run rẩy dưới biển. Nếu Victarion lấy Asha làm vợ, họ có thể cai trị cùng nhau, vua và vương hậu. Thời xa xưa, mỗi một hòn đảo đều có Vua Muối và Vua Đá. Hãy để Cổ Tục trở lại.
Aeron loạng choạng trở lại bờ, nhưng lòng tràn đầy quyết tâm. Ông sẽ tự tay hạ bệ Euron, không phải với rìu và kiếm, mà với sức mạnh từ đức tin của mình. Ông nhẹ nhàng bước qua bãi đá, mái tóc dài màu đen xõa xuống ngang trán và má, và Aeron dừng lại một chút để hất nó ra khỏi mắt.
Và đó cũng là nơi ông bị bắt đi, những gã câm đó đã đứng quan sát, chờ đợi và theo sau ông với dây thừng và gậy gộc. Ông chỉ cảm thấy một bàn tay từ đằng sau bịt miệng và thứ gì đó cứng đập vào sau đầu. Và khi mở mắt ra, Damphair thấy mình đang bị xiềng xích trong bóng tối. Rồi cơn sốt đến, và ông nếm được cả vị máu trong miệng khi quằn quại trong đống dây xích, sâu dưới khoang tàu Câm Lặng. Một kẻ yếu đuối hơn hẳn đã bật khóc, nhưng Aeron Damphair thì không, ông cầu nguyện, tỉnh dậy, thiếp ngủ, và trong cả cơn sốt mê màng, ông cầu nguyện. Thần thánh đang thử thách ta. Ta phải mạnh mẽ, ta phải ngay thẳng.
Có một lần, trong căn ngục trước, một phụ nữ đem đồ ăn đến cho ông thay cho gã câm của Euron. Một cô gái trẻ, đầy đặn và xinh đẹp. Cô ta ăn mặc đep như những tiểu thư ở đất liền. Trong ánh sáng leo lét từ ngọn đèn, cô ta là thứ đẹp đẽ nhất mà Aeron từng thấy.
“Cô gái,” ông nói, “Ta là bầy tôi của thần thánh. Ta lệnh cho cô thả ta ra.”
“Cái đó thì tôi không làm được,” cô ta nói. “Tôi đem đồ ăn cho ông. Cháo yến mạch và mật ong.” Cô ta ngồi xuống cạnh ông trên một cái ghế con và đút từng thìa cháo vào miệng ông.
“Đây là đâu?” ông hỏi.
“Lâu đài của lãnh chúa cha tôi ở Oakenshield.” Quần đảo Shields, xa nhà cả ngàn dặm.
“Và cô là ai, cô bé?”
“Falia Flowers, con hoang của Lãnh chúa Hewett. Tôi sẽ trở thành vợ muối của Vua Euron. Ông và tôi sẽ là người thân đấy.” Aeron Damphair ngước lên và nhìn thẳng vào mắt cô gái. Đôi môi đóng vảy của ông đầy cháo yến mạch. “Cô gái.” Dây xích kêu lẻng xẻng khi ông di chuyển. “Chạy đi. Hắn ta sẽ làm hại cô đấy. Hắn ta sẽ giết cô.”
Cô gái phá lên cười. “Ngốc thật, ngài ấy không làm vậy đâu. Tôi là tình yêu của ngài ấy, phu nhân của ngài ấy. Ngài ấy cho tôi bao nhiêu là quà. Vải vóc, lông thú và đồ trang sức. Ngài ấy gọi tất cả những thứ đó là giẻ rách và đá cuội.”
“Mắt Quạ không thích thú gì với những thứ ấy.” Đó là một trong số những điều khiến người ta đi theo hắn. Hầu hết các thuyền trưởng đều giữ lại phần nhiều của cải sau mỗi cuộc cướp phá, nhưng Euron thì gần như chẳng lấy gì cả.
“Ngài ấy cho tôi cơ man là áo choàng,” cô gái tiếp tục nói. “Các chị em gái của tôi thường bắt tôi phục vụ ở bàn ăn, nhưng Euron bắt họ phải trần truồng phục vụ cả sảnh! Sao ngài ấy lại làm thế nếu không yêu tôi chứ?” Cô gái đặt một tay lên bụng và vuốt nhẹ lên lớp vải của chiếc áo choàng.
“Tôi sẽ sinh cho ngài ấy thật nhiều con trai. Nhiều thật nhiều…”
“Hắn có con trai rồi.”
“Đều là dòng dõi thấp kém và lai tạp, Euron bảo rồi. Các con trai tôi sẽ được ưu tiên hơn chúng, ngài ấy đã thề rồi, thề trên chính Thần Chết Chìm của ông.”
Aeron sẽ khóc cho cô ta. Nhưng sẽ là khóc ra máu, ông nghĩ. “Cô phải đưa tin tới cho anh trai ta. Không phải Euron mà là Victarion, Chỉ huy của Hạm Đội Sắt. Cô có biết anh ấy không?”
Falia ngồi xuống cạnh ông. “Có,” cô ta nói. “Nhưng tôi không thể đem tin tới cho ngài ấy được. Ngài ấy đi rồi.”
“Đi rồi?” Tin tức đó mới tàn nhẫn làm sao. “Đi đâu?”
“Phía đông,” cô ta nói, “với tất cả thuyền của ngài ấy. Ngài ấy sẽ đem nữ vương rồng về Westeros. Tôi sẽ là vợ muối của Euron, nhưng ngài ấy cần có một người vợ đá, một vương hậu sẽ trị vì toàn Westeros cạnh ngài. Người ta bảo cô ấy là người phụ nữ đẹp nhất thế gian, và cô ấy có rồng nữa. Hai chúng tôi sẽ thân thiết như chị em ruột!”
Aeron Damphair gần như không nghe thấy cô gái nói gì nữa. Victarion đi rồi, cách xa nơi đây nửa thế giới, hoặc chết rồi. Thần Chết Chìm hẳn đang thử thách ông. Đây là bài học của ông. Đừng đặt lòng tin vào người phàm. Chỉ có đức tin mới giúp được ta bây giờ mà thôi.
Đêm đó, khi thủy triều lên và tràn vào phòng ngục, ông cầu cho nó sẽ dâng lên suốt đêm, để kết thúc nỗi thống khổ này. Con là bầy tôi trung thành và ngay thẳng của người, ông cầu nguyện khi vặn vẹo trong đống dây xích. Xin người hãy giải thoát con khỏi bàn tay của anh trai mình, và hãy đem con xuống sâu những cơn sóng, bên cạnh người.
Nhưng không có gì xảy ra cả. Chỉ có những gã câm đến cởi xích cho ông và lôi ông lên một cầu thang đá dài, đến nơi Câm Lặng đang nổi trên mặt biển màu đen.
Vài ngày sau, khi thân tàu rung lên vì cơn bão, Mắt Quạ lại đến, cầm đèn trong tay. Lần này hắn cầm một con dao ở tay kia. “Vẫn cầu nguyện sao, thầy tu? Thần thánh của ngươi bỏ rơi ngươi mất rồi.”
“Ngươi sai rồi.”
“Ta là người dạy ngươi cầu nguyện, nhớ chứ em trai? Hay ngươi quên rồi? Mỗi khi ta uống quá nhiều, ta sẽ tìm đến phòng ngươi vào buổi đêm. Ngươi ở cùng phòng với Urrigon tít trên tháp. Ta nghe thấy tiếng ngươi cầu nguyện từ ngoài cửa. Ta đã luôn tự hỏi: Ngươi cầu nguyện là ta sẽ chọn ngươi hay bỏ qua ngươi?” Euron dí dao vào cổ Aeron.
“Cầu nguyện với ta đây này. Cầu xin ta hãy chấm dứt sự đày ải này, thì ta sẽ ban cho ngươi.”
“Ngay cả kẻ như ngươi cũng không dám đâu,” Damphair nói. “Ta là em trai ngươi. Những kẻ giết người thân sẽ bị nguyền rủa.”
“Và nhìn lại xem, ta đội vương miện còn ngươi mục ruỗng trong đống xích. Sao Thần Chết Chìm của ngươi lại làm ngơ khi ta đã giết ba người anh em rồi?”
Aeron sững sờ. “Ba?”
“Nếu ngươi tính cả anh em cùng cha khác mẹ. Ngươi còn nhớ Robin bé bỏng chứ? Một sinh vật khốn khổ. Ngươi còn nhớ cái đầu to bự của hắn, và nó mềm ra sao chứ? Nó chỉ có thể khóc la và bậy ra ngoài. Nó là người thứ hai ta giết. Harlon mới là kẻ đầu tiên. Ta chỉ việc bóp chặt mũi nó. Bệnh vảy xám đã biến miệng nó thành đá, nên nó không kêu la được. Ta còn nhớ ánh mắt điên cuồng của nó trước khi chết. Đó là ánh mắt van xin. Và khi sự sống rời bỏ nó, ta ra ngoài và đái xuống biển, đợi xem có thần thánh nào giết ta không. Nhưng chẳng có gì xảy ra cả. Ồ, và Balon là kẻ thứ ba, nhưng ngươi biết chuyện đó rồi. Ta không tự mình làm việc đó, nhưng hắn bị đẩy khỏi cái cầu đó là do ta.”
Mắt Quạ ấn con dao vào mạnh hơn, và Aeron cảm thấy máu chảy xuống cổ ông. “Nếu Thần Chết Chìm không trừng phạt ta vì giết chết ba người anh em, thì tại sao hắn phải quan tâm nếu ta giết kẻ thứ tư? Vì ngươi là thầy tu của hắn sao?”
Hắn lùi lại và tra dao vào bao. “Không, ta sẽ không giết ngươi đêm nay đâu. Một thánh nhân với huyết thánh. Ta sẽ cần máu của ngươi… nhưng là sau này. Còn bây giờ, ngươi phải sống tiếp.”
Một thánh nhân với huyết thánh, Aeron nghĩ về câu nói đó khi anh trai ông bỏ đi.
Hắn chế nhạo ta và chế nhạo thần thánh. Kẻ giết người thân. Tên báng bổ. Quỷ đột lốt người. Đêm đó ông cầu cho anh trai chết đi. Cũng ở hầm ngục này, những thầy tu khác xuất hiện và chịu sự thống khổ với ông. Ba người mặc áo choàng tu sĩ của đất liền, một người mặc y phục màu đỏ của các tín đồ R’hllor. Kẻ cuối nhìn còn chẳng ra hình người. Cả hai bàn tay hắn đã bị thiêu cháy tới tận xương, khuôn mặt đen xì, hai con mắt mù của hắn khó nhìn rõ được vì mủ phủ đầy hai má. Hắn chết độ một tiếng sau khi bị xích vào tường, nhưng mấy gã câm để cái xác thối rữa của hắn ở đó ba ngày liền.
Hai kẻ khác là hai pháp sư của phương đông, với làn da trắng như nấm, và đôi môi màu xanh tím bầm, cả hai đều gầy còm và đoi khát đến nỗi chỉ còn da bọc xương. Một kẻ đã mất một chân, và gã câm treo hắn lên cột. “Pree,” hắn kêu la khi đung đưa qua lại, “Pree, Pree!”
Có thể đó là tên con quỷ hắn thờ phụng. Thần Chết Chìm bảo vệ ta, thầy tu tự nhủ. Ngài mạnh mẽ hơn các loại thần thánh sai trái kia, mạnh mẽ hơn những loại ma thuật hắc ám. Thần Chết Chìm sẽ giải phóng ta.
Vào những lúc tỉnh táo, Aeron tự hỏi vì sao Mắt Quạ lại đi bắt những thầy tu này về, nhưng ông nghĩ câu trả lời sẽ không hay ho chút nào. Victarion đi rồi, và hy vọng cũng tan biến theo anh ấy. Các tín đồ của ông có lẽ nghĩ Damphair đang ẩn náu ở Old Wyk, Great Wyk hay Pyke, và tự hỏi đến lúc nào ông sẽ xuất hiện để rao giảng chống lại tên vua vô thần này.
Trong những cơ mê man vì sốt, Urrigon ám ảnh ông. Anh chết rồi, Urri, Aeron nghĩ. Yên nghỉ đi, đừng ám ảnh tôi nữa. Tôi sẽ sớm gặp lại anh thôi.
Mỗi khi Aeron cầu nguyện, tên pháp sư cụt chân lại phát ra những âm thanh kỳ lạ, và tên còn lại sẽ lảm nhảm liên tục bằng một ngôn ngữ phương đông xa lạ, nhưng ông không biết họ đang van xin hay nguyền rủa. Aeron nghĩ có lẽ lưỡi của họ đã bị cắt mất.
Khi Euron quay lại, mái tóc đã được vuốt thẳng ra sau, và môi hắn ta xanh thẫm, đến mức gần như màu đen. Hắn không còn đội chiếc vương miện gỗ trôi nữa, mà thay vào đó là một vương miện sắt với những gai nhọn làm từ răng cá mập.
“Kẻ đã từng chết sẽ không thể chết lần nữa,” Aeron nói một cách mạnh mẽ. “Vì anh ta đã nếm mùi cái chết và không còn sợ hãi nữa. Anh ta đã chìm, nhưng lại trở lại mạnh mẽ hơn, với thép và lửa.”
“Ngươi có như vậy không, em trai?” Euron nói. “Ta thì nghĩ là không. Ta nghĩ nếu ta dìm ngươi xuống, ngươi sẽ chết. Mọi thần thánh đều dối trá, nhưng thần của ngươi thì thật nực cười. Một thứ màu trắng nhạt mang hình thù con người, tứ chi gãy nát, sưng vù, mái tóc trôi bồng bềnh trên mặt nước và bị cá ăn mất khuôn mặt. Thằng ngu nào lại đi thờ phụng thứ đó?”
“Ngài ấy cũng là thần của ngươi,” Damphair khẳng định. “Và khi ngươi chết, ngài sẽ phán xét ngươi, Mắt Quạ. Ngươi sẽ biến thành một con sên biển, mãi mãi bò trườn và ăn phân. Nếu ngươi không sợ việc giết máu mủ của mình, cắt cổ ta đi cho xong. Ta quá mệt mỏi vì sự điên loạn của ngươi rồi.”
“Tự tay giết em trai bé bỏng của mình ư? Máu mủ của ta, cùng sinh ra bởi Quellon Greyjoy ư? Vậy thì ai sẽ cùng chia sẻ niềm vui với chiến thắng của ta? Chiến thắng luôn ngọt ngào hơn khi ngươi có người mình yêu quý bên cạnh.”
“Chiến thắng của ngươi chẳng nghĩa lý gì. Ngươi không thể giữ quần đảo Shields.”
“Sao ta cần phải giữ nơi đó?” Con mắt cười của anh trai ông tỏa sáng lung linh dưới ánh đèn, con mắt màu xanh đậm và độc ác. “Mục đích của ta ở quần đảo Shields đã xong. Ta lấy nó rồi lại ném bỏ nó đi. Một vị vua phải biết rộng lượng, em trai ạ. Việc trấn giữ nó giờ đây là của những tên lãnh chúa mới. Nhưng vinh quang từ việc chiếm mấy hòn đá ấy sẽ vĩnh viễn thuộc về ta. Khi chúng mất đi, thất bại sẽ là của bốn tên ngốc đã quá mau lẹ chấp nhận món quà của ta.”
Hắn tiến đến gần hơn. “Những con thuyền dài của chúng ta đang cướp phá dọc sông Mander và mọi bờ biển, kể cả Arbor và eo biển Redwyne. Cổ Tục đấy, em trai.”
Điên rồ. “Thả ta ra,” Aeron Damphair dùng giọng nói nghiêm nghị nhất của mình để ra lệnh. “Trông ngươi có vẻ khát,” hắn vừa nói vừa rót ra cốc. “Ngươi cần uống đấy; một chút Ráng Chiều.”
“Không.” Aeron quay mặt đi. “Tôi bảo không.”
“Còn ta thì bảo có.” Euron nắm tóc và kéo ngược đầu ông ra sau, đổ thứ nước khủng khiếp đó vào miệng ông lần nữa. Dù Aeron đã mím chặt môi, cố gắng quay đầu đi, nhưng cuối cùng ông vẫn phải nuốt xuống và ho sù sụ.
Giấc mơ lần này còn kinh khủng hơn. Ông nhìn thấy những con thuyền dải của các con của sắt đang trôi nổi và bốc cháy rừng rực trên mặt biển màu đỏ như máu. Ông lại thấy anh trai mình ngồi trên Ngai Sắt, nhưng giờ đây Euron không còn là người nữa. Hắn nhìn giống mực hơn là người, một con quái vật sinh ra từ thủy quái dưới vực sâu, với khuôn mặt đầy xúc tu uốn éo. Đứng bên cạnh hắn là hình bóng của một phụ nữ, cao, dài và đáng sợ, trên bàn tay ả là một ngọn lửa màu trắng nhạt. Những tên lùn nhảy nhót để mua vui cho họ, cả nam và nữ, trần truồng và dị dạng, bị xích vào nhau bằng những vòng tay bằng xác thịt; và khi chúng cấu xé lẫn nhau, Euron và ả đàn bà của hắn cười và cười và cười và cười…
Aeron còn mơ thấy mình đang chìm dần. Nhưng ông không hề thấy hạnh phúc khi dần chìm xuống các đại sảnh của Thần Chết Chìm, mà chỉ thấy nỗi kinh hoàng khi nước tràn vào mũi, miệng và phổi, khiến ông không thể thở được. Ba lần Damphair tưởng rằng đã tỉnh, nhưng thực chất chỉ là bước vào một giấc mơ khác. Nhưng cuối cùng, một ngày kia khi cánh cửa ngục mở ra, một gã câm bước vào mà không đem theo thức ăn. Một tay hắn cầm chùm chìa khóa và tay kia xách đèn. Ánh đèn quá sáng, và Aeron sợ hãi khi nghĩ về nó. Sáng và khủng khiếp. Có gì đó đã thay đổi. Có chuyện gì đó đã xảy ra. 
“Đem chúng đi,” một giọng nói u ám có vẻ quen thuộc cất lên. “Và nhanh lên đấy, ngươi biết ngài ấy thế nào mà.” Ồ ta biết chứ. Ta biết điều đó từ khi còn là một thằng nhóc.
Một gã tu sĩ rên lên sợ hãi khi gã câm tháo xích cho hắn, một âm thanh nghèn nghẹt nghe giống như đang cố nói gì đó. Gã pháp sư cụt chân nhìn chăm chăm xuống mặt nước đen ngòm và im lặng cầu nguyện. Khi gã câm động đến Aeron, ông cố sức chống cự, nhưng tứ chi đều không còn sức lực, và hắn chỉ cần đập một cú là đủ khiến ông im lặng. Lần lượt từng cổ tay ông được cởi trói. Tự do, ông thầm nghĩ. Ta tự do rồi.
Nhưng khi thử bước đi, đôi chân yếu ớt của ông sụm xuống. Không tù nhân nào đủ khỏe để tự đi. Cuối cùng, gã câm phải nhờ gọi thêm người. Hai kẻ trong số đó nắm lấy tay của Aeron và kéo ông lên trên cầu thang xoắn ốc. Bàn chân ông đập vào các bậc thang khi họ đi lên, và cơn đâu thấu đến khắp cẳng chân. Ông đã phải cắn chặt môi để không kêu thét lên. Vị thầy tu có thể nghe tiếng gã pháp sư ngay đằng sau. Các tu sĩ ở cuối cùng, rên rỉ và kêu khóc. Dần dần, các bậc thang trở nên sáng hơn, và cuối cùng một khung cửa sổ nhỏ xuất hiện ở tường bên trái. Chỉ là một khe hở trên đá, bề ngang chỉ bằng một bàn tay, nhưng vậy là đủ để ánh nắng lọt vào. Thật rực rỡ, Damphair nghĩ, thật là đẹp.
Khi ông được kéo hẳn lên phía trên nơi có ánh sáng, ông cảm nhận được hơi ấm của ánh nắng trên khuôn mặt, và nước mắt ông rơi lã chã trên má. Biển. Ta có thể ngửi được mùi biển. Thần Chết Chìm đã không bỏ rơi ta. Biển sẽ cho ta sức mạnh! Kẻ đã chết sẽ không thể chết, mà sẽ trỗi dậy mạnh mẽ và rắn rỏi hơn…
“Đem ta tới chỗ mặt nước,” ông ra lệnh, hệt như hồi còn ở Quần đảo Sắt với các tín đồ của mình, nhưng đám câm này là thuộc hạ của anh trai ông, và chúng không hề quan tâm. Ông tiếp tục bị kéo lên các bậc thang, rẽ vào một hành lang rồi tới một đại sảnh bằng đá, nơi một tá xác chết đang bị treo và đung đưa liên hồi trên cột. Khoảng một tá các thuyền trưởng của Euron cũng đang ở đó, chè chén bên dưới những xác chết. Lucas Codd Tay Trái ngồi ở vị trí danh dự, khoác một tấm thảm bằng vải lụa làm áo choàng. Bên cạnh hắn là Tay Chèo Đỏ, và tiếp nữa là Jon Myre Mặt Vẹo, Tay Đá, và Rogin Râu Muối.
“Những cái xác này là ai?” Aeron lên tiếng. Lưỡi của ông cứng đến nỗi lời nói phát ra chỉ là những tiếng thì thầm, mỏng như một cơn gió.
“Lãnh chúa của lâu đài này và người thân của hắn.” Giọng nói này là của Torwold Răng Nâu, một trong số những thuyền trưởng của anh trai ông, và cũng độc ác gần như Mắt Quạ. “Lũ lợn,” một kẻ nữa lên tiếng, người được gọi là Tay Chèo Đỏ. “Đây là đảo của chúng. Một hòn đá, ngoài khơi Arbor. Chúng dám éc đe dọa chúng ta. Lũ Redwyne, éc. Lũ Hightower, éc. Cả bọn Tyrell, éc éc éc! Thế nên chúng ta ném chúng xuống địa ngục cho mà kêu. 
Đảo Arbor. Đây là lần đầu tiên Aeron Damphair đi xa Quần đảo Sắt đến vậy kể từ khi Thần Chết Chìm ban cho ông cuộc đời thứ hai. Đây không phải chỗ của ta. Ta không thuộc về nơi này. Ta thuộc về các tín đồ của ta, cùng với họ rao giảng chống lại Mắt Quạ.
“Thần thánh của có đối tốt với các ngươi trong bóng đêm không?” Lucas Codd Tay Trái nói. Một tên pháp sư gầm gừ câu trả lời bằng thứ tiếng phương đông của hắn.
“Ta nguyền rủa tất cả các ngươi,” Aeron nói.
“Ngươi nguyền rủa cũng chẳng làm được gì, thầy tu ạ,” Lucas Codd Tay Trái nói. “Mắt Quạ đã cho Thần Chết Chìm ăn no nê, và hẳn ông ta đã trở nên béo phì với những vật tế rồi. Lời nói thì gió bay, nhưng máu mới là sức mạnh. Bọn ta đã hiến cho biển cả hàng ngàn người, và ông ta ban chiến thắng cho bọn ta!”
“Ngươi nên tự thấy mình may mắn, Damphair,” Tay Đá nói. “Bọn ta sẽ quay lại biển. Hạm đội của lũ chuột Redwyne đang đến. Nhưng gió lại không ủng hộ chúng, từ khi chúng còn ở Dorne. Nhưng giờ cuối cùng chúng cũng đã đến gần để tiếp thêm dũng khí cho đám đàn bà ở Oldtown, cho nên các con của Leyton Hightower đang đến Whispering Sound với hy vọng sẽ đánh được vào phía sau của chúng ta.”
“Ngươi biết cảm giác bị đâm vào từ đằng sau là thế nào, hả?” Tay Chèo Đỏ hỏi và cười khúc khích. 
“Đem chúng xuống thuyền,” Torwold Răng Nâu ra lệnh.
Và thế là Aeron Damphair được quay lại biển. Một tá thuyền dài đang được neo ở bến cảng dưới chân lâu đài, và gấp đôi số đó đang nằm dọc bờ biển. Những lá cờ hiệu quen thuộc bay phấp phới: con thủy quái nhà Greyjoy, mặt trăng máu của nhà Wynch, tù và chiến của nhà Goodbrothers. Nhưng nổi bật hơn cả là một lá cờ mà thầy tu chưa thấy bao giờ: một con mắt đỏ với con ngươi màu đen ở dưới một vương miện sắt có hai con quạ đậu ở trên.
Ở ngoài khơi, là hàng loạt các loại thuyền buôn đang trôi trên mặt biển màu xanh ngọc. Thuyền cog, thuyền carrack, thuyền đánh cá, thậm chí có cả một con thuyền cog cỡ lớn, to như một con thủy quái. Chiến lợi phẩm, Damphair nghĩ. Euron Mắt Quạ đứng trên boong của Câm Lặng, mặc một bộ áo giáp vảy màu đen mà Aeron chưa từng thấy bao giờ. Nó đen như khói, nhưng Euron mặc nó dễ như khoác một tấm lụa mỏng. Những chiếc vảy của nó có cạnh màu vàng đỏ, tỏa sáng lấp lánh khi di chuyển. Các hoa văn có thể nhìn thấy trong các tấm kim loại, khắc lên chúng là những đường nét ngoằn ngoèo, những chữ cái và biểu tượng phức tạp.
Thép Valyria, Damphair nhận ra. Giáp của hắn làm bằng thép Valyria. Khắp Bảy Vương Quốc, chưa ai từng sở hữu một bộ giáp làm bằng thép Valyria. Những thứ như vậy chỉ tồn tại từ hơn 400 năm trước, vào thời kỳ trước Ngày Tàn, nhưng kể cả thế, một bộ giáp như vậy vẫn đáng giá bằng cả vương quốc.
Euron đã không nói dối. Hắn thực sự đã đến Valyria. Chẳng trách mà hắn bị điên.
“Bệ hạ,” Torwold Răng Nâu nói. “Thần đã đem bọn thầy tu đến. Ngài muốn làm gì với chúng?” 
“Trói chúng vào các mũi thuyền,” Euron ra lệnh. “Trói em ta vào tàu Câm Lặng. Ngươi lấy một kẻ đi. Những tên còn lại hãy để các thuyền trưởng gieo xúc xắc xem ai có một tên. Hãy để chúng cảm nhận cái hôn của Thần Chết Chìm, ướt át và đầy muối.”
Lần này, gã câm không lôi ông xuống, mà thay vào đó hắn trói ông vào mũi thuyền, bên cạnh bức tượng gỗ ở đó: một phụ nữ trần truồng mảnh mai có đôi tay rắn rỏi và mái tóc mượt mà… nhưng không hề có miệng.
Họ trói Aeron Damphair bằng những sợi dây da sẽ thít chặt hơn khi bị ướt. Rồi Mắt Quạ ra lệnh, tấm buồm đen được kéo lên, neo được dỡ, và Câm Lặng dần rời xa bờ biển, theo nhịp trống chậm rãi của các tay chèo. Những mái chèo của nó nhô lên rồi lại hạ xuống, khuấy động mặt nước. Phía trên, lâu đài đang bốc cháy, những lưỡi lửa liếm qua các khung cửa sổ đang mở.
Khi đã ra ngoài biển, Euron quay sang ông. “Em trai,” hắn nói, “ngươi có vẻ thất thần. Ta có quà cho ngươi đây.”
Hắn rung chuông, và hai đứa con hoang của hắn kéo một phụ nữ đến và trói cô ta cũng trên mũi thuyền, nhưng ở phía bên kia bức tượng. Cô ta cũng đang trần truồng giống bức tượng, cái bụng trơn nhẵn đang dần to ra khi đứa trẻ trong bụng lớn dần, hai má cô ta ửng đỏ vì khóc, và cô ta không hề chống cự khi bị trói. Mái tóc dài buông thả che kín khuôn mặt, nhưng Aeron biết cô ta là ai.
“Falia Flowers,” ông gọi. “Dũng cảm lên, cô bé! Mọi thứ sẽ sớm kết thúc thôi, và tất cả chúng ta sẽ được tiệc tùng cùng nhau tại đại sảnh của Thần Chết Chìm.”
Cô gái ngẩng đầu lên, nhưng không hề trả lời. Cô ta không còn lưỡi để nói, Damphair nhận ra. Ông liếm môi, và thấy vị của muối.