Viết bài: Trần Phan - Nats Blackfyre
Hiệu đính: Hải Stark
Khi nhắc đến giai đoạn lịch sử cổ đại, một trong những sự kiện nổi tiếng và bí ẩn bậc nhất chính là sự kiện Sụp đổ Đồ Đồng. Cụm từ này ám chỉ giai đoạn chỉ trong vòng trên dưới 50 năm mà một loạt các nền văn minh lớn nhất thế giới trong thời đại Đồ Đồng suy yếu trầm trọng hoặc thậm chí biến mất hoàn toàn. Ai Cập, Hy Lạp, Hittite; hầu như tất cả đều bị ảnh hưởng.
Sự suy tàn này đã dẫn đến một thời kỳ đen tối với thế giới thời ấy, kinh tế giao thương bị tàn phá, các đế chế một thời hùng mạnh suy sụp và chấm dứt cảnh phồn vinh thời cổ đại. Tuy nhiên, đã có một quốc gia đã có thể sống sót qua giai đoạn đen tối này và từ vị trí nhỏ bé, họ đã vươn lên trở thành đế chế hùng mạnh và tàn bạo nhất thời kỳ ấy. Đó chính là Đế chế Assyria.

Vài nét cơ bản về Assyria

Về tên gọi, thì vốn ban đầu người Assyria tự gọi vương quốc của mình bằng cái tên Assur - có nghĩa là Vương quốc của Ashur. Đó là một cái tên dựa trên vị thần tối cao trong tín ngưỡng của người Assyria. Khi quyền lực của thành bang Assyria dần vươn rộng ra, thì cái tên Assur trở thành “Vùng đất của thần Ashur”. Người Hy Lạp gọi họ là Assuria, và đó chính là tiền thân cho cái tên Assyria chúng ta sử dụng ngày nay.
Người Assyria sống ở phía bắc khu vực Lưỡng Hà; tương ứng với các vùng lãnh thổ ngày nay thuộc về Iraq, bắc Syria và nam Thổ Nhĩ Kỳ. Kinh đô Assur của họ nằm ở trung tâm vương quốc và tọa lạc bên bờ tây của con sông Tigris. Lãnh thổ Assyria trải dài từ thung lũng sông Tigris đến cao nguyên Tiểu Á ở phía nam, có những dãy núi Zagros ở phía đông và phía tây là những vùng đồng bằng màu mỡ. 
Khí hậu ở khu vực Lưỡng Hà rất khó lường với những đợt mưa gió thất thường, do vậy mà điều kiện trồng trọt của dân Assyria không lý tưởng chút nào. Khu vực quanh sông Tigris gồm một loạt các vùng lưu vực phù hợp cho việc vận chuyển và đi lại, trong khi khu vực đồng bằng cùng đồi núi đủ màu mỡ để trồng ngũ cốc và đủ lớn để phục vụ cho mục đích phòng thủ. Ngoài ra, Assyria còn có rất nhiều tài nguyên quan trọng như sắt và đồng - những thứ cần thiết để một vương quốc cổ đại có thể trở nên hùng mạnh.
Địa thế của Assyria cũng biến họ trở thành cửa ngõ giao thương giữa hai lục địa Á - Âu tương tự Đế chế Hittite. Người Assyria cũng chủ yếu giao thương buôn bán với các vương quốc và nền văn minh ở Tiểu Á và vùng Levant.

Văn hóa, xã hội và tôn giáo

Phần lớn người dân trong xã hội Assyria được phân thành 2 tầng lớp chính - nô lệ được gọi là subrum và những cư dân tự do được gọi là các awilum hoặc assur, nghĩa là các con của thần Ashur. Phần lớn người dân tự do của Assyria làm nông dân và có quyền sở hữu đất đai; trong khi tầng lớp nô lệ thường là tù nhân bị bắt từ các vùng khác về. Ngoài ra còn có một tầng lớp khác nằm ở giữa người dân tự do với nô lệ bình thường - đó là các sihulu, những người vốn là người Assyria tự do nhưng vì các vấn đề tài chính mà phải trở thành nô lệ. Tuy vậy, các sihulu nhìn chung vẫn có khả năng lấy lại được tự do, và vẫn được coi là người Assyria, khác với các nô lệ hạ đẳng thường bị xem thường.
Càng về sau này, khi Assyria bước vào thời kỳ Tân Đế chế, số lượng giai cấp và tầng lớp trong xã hội ngày càng tăng. Một gia đình đủ giàu có và đủ thực lực có thể tham gia vào việc quản lý chính quyền, trong khi các gia tộc lâu đời cũng có những chức vụ và tước vị của họ. Một thay đổi lớn nữa ở thời kỳ Tân Đế chế là việc các quyền dành cho phụ nữ bị hạn chế. Vốn ở thời kỳ Cổ Assyria, phụ nữ đã có thể thừa kế và sở hữu tài sản, thậm chí là ly hôn. Thế nhưng đến thời Trung kỳ Assyria, phụ nữ bị gò bò vào những luật lệ ép buộc hơn; và đến giai đoạn Tân Đế chế, quyền lợi của phụ nữ ngày một hạn chế, có lẽ chỉ trừ những trường hợp phụ nữ quý tộc. Một trong số ít những ví dụ ngoại lệ là vương hậu Shammuramat được quyền nhiếp chính và tham gia các chiến dịch quân sự.
Giai đoạn Tân Đế chế cũng đem đến những sự thay đổi to lớn về mặt kinh tế. Ở giai đoạn Cổ Assyria, vương quốc này chỉ đơn giản là một phần trong rất nhiều nền kinh tế tham gia vào chuỗi giao thương giữa hai khu vực Lưỡng Hà và Tiểu Á và không được kiểm soát quá chặt chẽ. Nhưng đến giai đoạn Tân Đế chế, vương triều Assyria đã kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, độc quyền nhiều ngành nghề, khiến đa phần tài sản và lợi nhuận chảy vào quốc khố, hạn chế thất thoát.
Văn hóa của người Assyria chịu nhiều ảnh hưởng từ các nền văn minh và đế chế ở cả Lưỡng Hà và Tiểu Á. Ảnh hưởng nổi bật nhất trong số đó chính là nền văn hóa của đế chế Akkad - đế chế đầu tiên trên thế giới và bắt nguồn từ văn minh Sumer. Đến khi vươn lên trở thành một đế chế, người Assyria tiếp tục du nhập thêm nhiều nét văn hóa từ các vùng đất bị họ chinh phục.
Ngôn ngữ của người Assyria cổ đại thuộc nhóm ngôn ngữ Semitic, có quan hệ khá gần với tiếng Hebrew và tiếng Ả Rập hiện đại. Ngôn ngữ của họ chịu ảnh hưởng từ đế chế Akkad, và dần phức tạp lên theo thời gian. Trong giai đoạn Trung kỳ và Tân Đế chế, ngôn ngữ của người Assyria có du nhập thêm cả tiếng Babylon; được sử dụng trong thơ ca, học thuật cùng các văn bản hành chính, nhất là tại miền nam nơi gần với Babylon. Tuy vậy, người Assyria không hề có các chính sách kiểm soát ngôn ngữ mà thay vào đó chỉ chấp nhận tự do ngôn ngữ với dân tộc của từng vùng tự trị. Chính điều này dẫn đến việc tiếng Aramaic của người Aramea dần lấn át ngôn ngữ Akkad truyền thống trong cả đời sống bình thường lẫn trong các văn bản hành chính từ thế kỷ 9 TCN. Và khoảng 300 năm sau, ngôn ngữ Akkad đã dần biến mất hoàn toàn ở đế chế.
Người Assyria thường xây nhà từ gạch bùn là chủ yếu, nhưng với các công trình cần sự vững chắc hơn như đê điều và thành trì thì họ dùng đá vôi - mặc dù gạch bùn vẫn được dùng để xây móng. Kỹ năng xây dựng của người Assyria tiến bộ dần theo thời gian, và đặc trưng có thể thấy trong các công trình của họ là những mái vòm, những chỏm tường răng cưa hình bậc thang được gọi là merlon, những cung điện lớn với nhiều phòng ốc rộng rãi. Ngoài ra, họ còn vẽ nhiều bức tranh lớn trên các bức tường - một phần của nền nghệ thuật Assyria. Ngoài các bức tranh tường đó ra, nghệ thuật của người Assyria còn bao gồm các bức tượng đủ kích cỡ và cả điêu khắc nữa.
Nền nghệ thuật của Assyria trong thời kỳ đầu cũng chịu ảnh hưởng từ văn hóa Sumer, sau đó dần có những nét khác biệt ở giai đoạn Trung kỳ. Đến giai đoạn Tân Đế chế, nền nghệ thuật của Assyria có thể nói là đã đạt đến đỉnh cao với vô số phù điêu đá được chạm trổ tinh xảo trên tường của các ngôi đền, cung điện. Chúng miêu tả lại các nghi lễ trong hoàng tộc cùng các cuộc chiến cùng các sinh vật bước từ thần thoại.
Một khía cạnh đáng nói nữa về nghệ thuật của người Assyria chính là nền văn học của họ. Thực ra đến ngày nay hầu hết các tác phẩm của người Assyria đã thất truyền. Tác phẩm có niên đại cổ xưa nhất còn lưu truyền lại được đến ngày nay là một câu chuyện kể về Sargon thành Akkad - người sáng lập nên đế chế Akkad, được viết từ thời Cổ Assyria. Đến giai đoạn Trung kỳ, người Assyria đã có nhiều thành tựu hơn với tác phẩm sử thi. Tuy vậy, văn học Assyria chỉ thực sự được nâng tầm vào giai đoạn Tân Đế chế. Ở giai đoạn ấy, đế chế Tân Assyria được mở rộng dến ngưỡng tối đa, các đời vua đều coi trọng bảo toàn tri thức, do đó các thư viện được xây dựng, văn hóa đọc và ghi chép cũng được khuyến khích. Thư viện Ashurbarnipal cũng được xây dựng với hơn 3 vạn tài liệu đủ thể loại. Ngoài ra giai đoạn này người Assyria cũng bắt đầu viết sử bằng cách ghi chép lại các sự kiện qua từng triều vua. Một điều đáng chú ý nữa là người Assyria cũng bỏ nhiều công sức sao lưu lại các tác phẩm nổi tiếng đời trước. Nhờ vậy mà nhiều tác phẩm mới được lưu truyền lại đến ngày nay, mà Sử thi Gilgamesh là một trường hợp điển hình.
Về tư tưởng và tôn giáo của Assyria, thì có nhiều nét tương đồng với các nền văn minh khu vực Lưỡng Hà, vì có chung cội nguồn gốc rễ và đã bám sâu trong cả nghìn năm. Nhìn chung, Assyria và các thành bang xung quanh có chung hầu hết các vị thần, trừ trường hợp thần Ashur - vị thần đại diện riêng cho người Assyria thì là sáng tạo của riêng họ. Đa phần các tài liệu hiện tại đều đưa ra suy đoán rằng Ashur có xuất phát điểm là thành bang cùng tên với ông, cho thấy ông là một thành phố đã được nhân cách hóa và thần hóa.
Hình tượng về Ashur thay đổi theo từng thời kỳ của Assyria. Trong giai đoạn Cổ Assyria, Ashur được miêu tả là vị thần của thành phố, của cái chết lẫn sự tái sinh và còn là một vị thần nông nghiệp. Đến giai đoạn Trung kỳ, Ashur trở thành vua của các vị thần, thần chiến tranh và thậm chí là hóa thân của mọi vị thần Assyria khác. Biểu tượng của ông là một cây cột với hình đĩa có cánh, cùng với một chiến binh bắn cung - đại diện cho tinh thần hiếu chiến của người Assyria. Để giải thích lí do vì sao các cuộc chiến của họ là chính nghĩa, người Assyria đã lý giải rằng Ashur đã ra lệnh cho các đời vua Assyria gây chiến để mở rộng tầm ảnh hưởng của ông. Làm như vậy cũng là để bảo toàn danh dự của Ashur, vị vua thực sự của toàn Assyria, trong khi những vị vua khác chỉ được coi là người đại diện của thần trên thế giới.
Những khu đền thờ của Assyria cũng trở thành trung tâm tôn giáo của họ, và theo thời gian trở thành các cộng đồng độc lập - với từng khu đền đều có đất đai, tài nguyên cùng các cơ chế làm việc riêng biệt. Sau thời gian, các cộng đồng độc lập này dần suy tàn khi nhà nước dần mở rộng quyền lực, với việc áp thuế lên cũng như đặt ra các điều luật đặc thù với các đền thờ. Dù vậy, nhà nước Assyria cũng tương đối thoải mái với các nền tôn giáo khác. Đế chế Assyria hiếm khi áp đặt văn hóa - tôn giáo của họ lên các vùng đã được chinh phục, thậm chí ngoại trừ miền bắc Lưỡng Hà, ta không thể tìm thấy một điện thờ Ashur đáng chú ý. Từ giai đoạn thế kỷ 4 đến thế kỷ 2 TCN, văn hóa từ miền tây cũng bắt đầu ảnh hưởng ngược lại đến văn hóa của vùng Lưỡng Hà, qua đó khiến cho rất nhiều vị thần Lưỡng Hà hòa trộn với các vị thần từ những nền văn minh khác.

Chính trị và quân sự

Đi từ khởi đầu là một thành bang nhỏ bé mang tên Ashur, người Assyria phát triển thông qua mạng lưới thương mại dày đặc, hệ thống hành chính tiên tiến cùng hệ thống tôn giáo phổ biến. Cả hai đều là nền tảng cho thế mạnh của họ là khả năng quân sự. Mặc dù nền ngoại giao của Assyria không hề yếu kém, nhưng phương tiện giúp đế chế của họ lên ngưỡng siêu cường cổ đại vẫn luôn là chiến tranh.
Assyria luôn duy trì một đạo quân thường trực được huấn luyện chuyên nghiệp, với kỹ thuật vây thành cùng vũ khí được làm từ sắt - thứ kim loại xuất hiện sau sự sụp đổ của Thời đại đồ đồng. Nhưng điều khiến quân đội Assyria khét tiếng chính là sự tàn nhẫn của họ - sẵn sàng tàn phá, thiêu rụi và tàn sát những vùng dân cư dám chống lại nền cai trị của Assyria. Với họ, chính sách khủng bố ấy là nền tảng để đem đến sự ổn định - quân đội không tốn thêm thời gian để tìm cách xử lý các cuộc nổi loạn nếu có. Tuy nhiên, chính việc hợp pháp hóa chính sách khủng bố này trở thành điểm yếu lớn nhất của Assyria - những người bị họ cai trị chỉ sợ hãi chứ không thực sự chấp nhận nền cai trị của quân đội Assyria, và đế chế hầu như luôn trong tình trạng trực chờ nổi loạn.
Nhìn chung, bản chất của nhà nước Assyria là một nhà nước cai trị bằng sự hung bạo và một nắm đấm sắt. Điều này dẫn đến việc các thành bang bên trong luôn cố tìm cách tách khỏi đế chế, khiến quân đội luôn được duy trì để ổn định chính trị lẫn kìm hãm các thế lực bên ngoài.
Tất nhiên, lực lượng nào cũng cần có thời gian để phát triển. Ban đầu, quân đội Assyria là một lực lượng không được duy trì - họ xuất phát từ nông dân, và chỉ được huy động khi cần thiết. Nhà nước Assyria vẫn duy trì một số ít binh lính chuyên nghiệp được gọi là ṣābū kaṣrūtu. Không có quá nhiều thông tin về nhóm lính này, nhưng có vẻ họ là những cung thủ và lính cưỡi chiến xa thiện chiến tinh nhuệ. Đại đa số lực lượng còn lại đều là bộ binh thông thường được trang bị giáo và khiên. Các nhóm lính cưỡi chiến xa được phân bổ thành một lực lượng riêng; và đến thời vua Tiglath-Pileser I, họ được coi là lực lượng chiến đấu chủ lực đồng thời giữ vai trò lính liên lạc của riêng nhà vua. Thậm chí khi cần, quân đội Assyria có thể huy động công binh để phá hoại thành trì đối thủ. Assyria cũng có kỵ binh, nhưng không được phân thành một lực lượng riêng như quân cưỡi chiến xa.
Mỗi khi giành được chiến thắng và sau khi đã thực hiện các cuộc thảm sát và cướp bóc man rợ bên thua trận; chiến lược của Assyria thường dùng là trục xuất và di tản dân cư, rồi cho người dân của mình đến định cư tại những vùng đất của kẻ bại trận. Những người bị trục xuất, đặc biệt là những người có khả năng lao động, sẽ được tận dụng để có thể phát huy tối da năng lực. Những ai dám chống lại đa phần sẽ bị giết hoặc bị bán làm nô lệ.
Sự mạnh mẽ của quân đội Assyria giai đoạn Trung kỳ đến từ vua Tiglath Pileser I, vị vua đã không chỉ hồi sinh quân đội mà còn mở rộng lãnh thổ nhà nước. Tuy nhiên, thành tựu quan trọng nhất phải đến từ Tiglath Pileser III, một vị vua của giai đoạn Tân Đế chế. Như đã nói ở trên, quân đội Assyria về sau là một lực lượng thường trực, có thể nói là đội quân chuyên nghiệp đầu tiên trên thế giới. Quân đội của Assyria thường bao gồm các lực lượng như bộ binh, kỵ binh, quân chiến xa, lính ném đá và cung thủ. Ngoài ra, lợi thế của họ còn nằm ở vũ khí vượt trội và cả nghệ thuật công thành được nâng tầm bằng các chiến thuật như xây cầu, đào hầm. Bên cạnh đó, hệ thống liên lạc và hậu cần của Assyria cũng là một điểm nhấn giúp họ có lợi thế so với các đối thủ.
Thương mại phát triển cho phép người Assyria sử dụng vũ khí bằng sắt nhiều hơn cũng như mua thêm được ngựa từ các vùng lân cận. Trang bị cũng được đầu tư với mũ và áo giáp cũng được làm bằng sắt - thậm chí là gắn thêm vào cả các chiến xa. Với Assyria, sắt như một món quà của thần Ashur - cứng hơn, rẻ hơn, ít giòn hơn và bén hơn nhiều so với các vũ khí bằng đồng của AI Cập hay Hittite. Bên cạnh sắt, người Assyria còn sử dụng một món đồ đơn giản mà thuận tiện - đó là các đôi bốt. Thay vì đi dép như trước, các đôi bốt của họ cao đến tận đầu gối đế dày, có đinh cùng các tấm sắt được lắp vào có thể hỗ trợ binh lính nhiều hơn trong việc hành quân. Điều này giúp quân đội Assyria ít bị hạn chế bởi phương thức chiến tranh theo mùa giống Ai Cập hay Hittite. Họ có thể thoải mái tác chiến quanh năm và ở nhiều địa hình khác nhau.
Bên cạnh là những người chiến đấu tài giỏi, người Assyria còn rất tài năng trong việc xây dựng đường sá - những tuyến đường được các thợ xây và kỹ sư Assyria xây dựng không chỉ giúp vận chuyển quân mà còn tăng cường giao thương trong lòng đế chế. Sau này, kể cả khi đã suy tàn trong lịch sử, các bài học từ công nghệ quân sự của đế chế Assyria vẫn sẽ được học hỏi và tham khảo trong mô hình quân sự của nhiều đế chế khác nhau.

Sơ lược về lịch sử Assyria

Sự hình thành nhà nước Assyria bắt nguồn từ các cộng đồng nhỏ quanh thành bang Assur. Các làng mạc quanh khu vực đã tồn tại từ giai đoạn văn hóa Hassuna tồn tại từ tận những năm 6000 TCN. Đến thời đại đồ đồng, người Assyria cũng như nhiều dân tộc khác, đều thuộc về Đế chế Akkad do vua Sargon lập nên. Thành Assur tiếp tục phát triển khi nó là một trung tâm thương mại và tôn giáo lớn. Thành nằm trên ngọn đồi bao quát toàn sông Tigris, và có đường thủy thuận lợi. Dù bị Đế chế Akkad cai trị, nhưng quãng thời gian này lại được người Assyria coi là một thời kỳ hoàng kim về văn hóa - ngôn ngữ. Rất nhiều vị vua Assyria về sau cũng đã học hỏi và lấy cảm hứng từ các vị vua của Đế chế Akkad.
Đến giai đoạn Đế chế Akkad suy yếu, thành Assur đã từng bị thế lực khác cướp phá. Tuy nhiên họ đã nhanh chóng hồi phục, và tiếp tục là chư hầu của Đế chế Tân Sumer sau khi Đế chế Akkad sụp đổ. Phải đến thời kỳ của vua Ibbi-Sin khi đế chế suy yếu, Assyria mới dần có cơ hội trở thành một thế lực độc lập và tiến lên làm chủ miền bắc khu vực Lưỡng Hà.

Giai đoạn Cổ Assyria

Assyria bắt đầu trở nên độc lập dưới giai đoạn của các vị vua Puzur-Ashur - dù vậy bản thân họ không tự xưng vương mà là thống đốc, các Issi’ak. Vì với người Assyria, vị vua thực sự là thần Ashur, còn những người cai trị chỉ là đại diện của thần trên thế giới. Thời điểm đó, Assyria chỉ là một thành bang nhỏ bé với hơn 10,000 dân; nhưng các vị vua như Erishium đã biết tận dụng thương mại tự do để phát triển thành phố, với chuỗi mạng lưới kéo dài từ Lưỡng Hà đến Tiểu Á. Dưới sự cai trị của Erishium, Assyria trở thành một thế lực giao thương có tiếng tại Lưỡng Hà.
Thế nhưng đến khoảng thế kỷ 19 TCN, Assyria dần phải chịu nhiều áp lực từ các thế lực xung quanh, dẫn đến thương mại suy tàn và thành phố bị chinh phạt bởi Shamshi-Adad I, vị vua danh tiếng của Ekallatum và là người sáng lập ra một vương quốc lớn và thống nhất tại Thượng Lưỡng Hà. Mặc dù cuối cùng bị lật đổ, Shamshi-Adad cũng có một di sản nhất định với Assyria, cụ thể nhất chính là việc để con trai thứ là Ishme-Dagan quản lý Assyria và nâng tầm thần Ashur trở nên sánh ngang với thần sấm Enlil. Đây là tiền đề cho việc biến Ashur trở thành vua của các thần trong giai đoạn về sau.
Sau cái chết của Shamshi-Adad, Ishme-Dagan vẫn tiếp tục nắm giữ thành Assur - tuy vậy quãng thời gian trị vì của ông cho đến giai đoạn Trung kỳ Assyria vẫn được coi là một thời kỳ đen tối. Assyria trong giai đoạn này gặp nhiều bất ổn về chính trị và thành Assur lần lượt bị nhiều thế lực khác nhau kiểm soát. Ngoài ra, nội chiến cũng bùng nổ giữa người Assyria bản địa với các hậu duệ của Ishme-Dagan. Những cuộc xung đột này chấm dứt dưới thời vua Puzur-Sin, một người Assyria bản địa. Thế nhưng tình hình chính trị không được cải thiện nhiều.
Đến thời vua Bel-Bani, triều đại Adaside được thành lập, nhưng giai đoạn này đánh dấu việc Đế chế Hittite cướp phá Babylon, tạo ra một khoảng trống quyền lực trong khu vực. Thế lực từng nắm quyền uy bậc nhất trong khu vực là Babylon đã suy yếu, trong khi trung tâm của Đế chế Hittite lại ở quá xa. Vậy là từ đó trở đi, Assyria bắt đầu có ảnh hưởng trong khu vực. Và dù phải trải qua thêm hơn 70 năm nữa nằm dưới tầm ảnh hưởng của Đế chế Mittani, Assyria cuối cùng giành được độc lập và bắt đầu tiến lên một giai đoạn mới dưới triều đại của vị vua có lẽ quan trọng nhất trong lịch sử của họ: Vua Ashur-uballit I.

Giai đoạn Trung kỳ Assyria

Ashur-uballit I là người đầu tiên trong lịch sử Assyria sử dụng danh hiệu sar - nghĩa là vua. Đồng thời ông cũng coi bản thân ngang hàng với Pharaoh Ai Cập hay các vị vua Hittite, vốn là 2 siêu cường thời đó. Không lâu sau khi giành được độc lập, ông tiếp tục khẳng định vị thế của mình bằng cách mở rộng lãnh thổ, khai hóa các dân tộc man rợ và xây dựng các công trình vĩ đại. Đối với người Assyria, triều đại của Ashur-uballit được coi là triều đại đã định hình lại toàn bộ Assyria. Họ gây chiến với các thành bang nhỏ xung quanh, giao thiệp với các vương quốc lớn khác như Babylon hay Ai Cập.
Những người thừa kế của ông mặc dù đều không thành công bằng nhưng cũng đã góp phần mở rộng đế chế. Tuy nhiên các vùng lãnh thổ mới được thu phục đều thiếu ổn định, chưa kể họ còn kết oán với vua của Babylon, dẫn đến những xung đột và tranh giành kéo dài hàng trăm năm giữa Assyria và Babylon sau này.
Trong những đời vua sau, có lẽ người thành công nhất là Tukulti-Ninurta I. Ông đã làm suy yếu được tầm ảnh hưởng của Đế chế Hittite, thậm chí còn chiếm được thành Babylon một thời gian, đồng thời cho xây dựng một thành phố mới làm thủ đô thay thế cho Assur. Nhưng cuối cùng khi ông bị ám sát, giai đoạn hoàng kim của Assyria cũng kết thúc và tiếp tục suy yếu cũng như khủng hoảng khi sự kiện Sụp đổ Đồ Đồng xảy ra. Hầu hết các cường quốc trong thế giới cổ đại hoặc bị đánh quỵ hoàn toàn hoặc bị suy yếu trầm trọng, nhưng có lẽ nhờ nằm sâu trong nội địa nên Assyria không bị ảnh hưởng nặng đến mức khó lòng hồi phục.
Các đời vua sau đó vẫn tiếp tục kìm chân và tranh giành tầm ảnh hưởng với Babylon. Nổi bật nhất có lẽ là vua Ashur-resh-Ishi I, người đã nhiều lần đánh bại vua Babylon Nebuchadnezzar I trong suốt những năm cai trị của mình. Thừa hưởng nền móng đó, vị vua kế tiếp là Tiglath-Pileser I tiếp tục gây chiến, tiến hành cải cách quân đội và mở nhiều chiến dịch chinh phạt. Tuy vậy, ông lại gặp vấn đề trong việc kiểm soát các vùng lãnh thổ mình chiếm được và thường xuyên bị các bộ tộc người Aram ở phía tây quấy phá. Thế là đến triều đại của Eriba-Adad II, những nỗ lực từ các đời vua trước đều đã tan biến và Assyria rơi vào tình trạng suy thoái, mất nhiều lãnh thổ - trừ khu vực trung tâm khi nơi này họ vẫn duy trì được quyền lực và sức mạnh quân sự.

Tân Đế chế Assyria

Đến giai đoạn những năm 1000 TCN, Assyria một thời hùng mạnh giờ đã trở thành vùng đất cô lập, bị tàn phá bởi chiến tranh. Dân cư dần trở nên thưa thớt và bị thiên tai hoành hành. Nhưng dù vậy, họ vẫn còn duy trì được sức mạnh quân sự.
Sau triều đại rối loạn và ngắn ngủi của vua Ashur-resh-ishi II, người kế vị ông là Tiglath-Pileser II đã giành được nhiều chiến thắng lớn về quân sự trước Babylon, người Aram và Đế chế Hittite. Con trai của ông, vị vua cuối cùng của Assyria giai đoạn Trung kỳ đã khôi phục lãnh thổ của Assyria đến giai đoạn ban đầu, đồng thời xây dựng được các chính sách kinh tế - quân sự thành công, tiêu biểu nhất trong số đó là các hệ thống đồn trú với ngựa và lương thực để dễ bề quản lý những vùng chiếm được.
Adad-nirari II đến nay vẫn được coi là vị vua đầu tiên của Đế Chế Tân Assyria. Tên của ông nghĩa là “thần bão trợ giúp ta” - và quả đúng như vậy, giai đoạn trị vì của ông đánh dấu một loạt các cuộc viễn chinh thành công, với các chiến thắng quân sự quyết định với người Aram và Hurria. Ngoài ra, ông cũng thành công sáp nhập được vào lãnh thổ của mình một vùng đất lớn kéo dài từ phía bắc sông Diyala đến miền trung đất Lưỡng Hà. Còn với kẻ địch truyền kiếp là Babylon, Adad-nirari cũng liên tiếp giáng những đòn tấn công dữ dội vào thế lực này. Đồng thời, ông cũng cho mở rộng các tuyến đường thương mại, thậm chí vươn được đến cả Carthage ở Bắc Phi.
Cột mốc chói lọi tiếp theo của Đế chế Tân Assyria là triều đại của Ashurnasirpal II, cai trị từ năm 883 đến năm 859 TCN. Dưới triều đại của ông, Assyria trở thành siêu cường vĩ đại nhất trong khu vực. Họ chiếm được nhiều vùng đất rộng lớn của Tiểu Á, chấm dứt được sự quấy phá của người Aram và thế lực của tân đế chế Hittite. Thủ đô của đế chế cũng được chuyển về Kalhu nhằm kiểm soát các vùng lãnh thổ mới. Tuy vậy, Ashurnasirpal II cũng là một vị vua rất tai tiếng bởi sự tàn bạo của mình. Ông bắt ép nô lệ xây dựng thủ đô mới Kalhu trong suốt 15 năm ròng, đối xử tàn nhẫn với tù binh - thường xuyên chặt tay chân những kẻ bị bắt và bêu thủ cấp của những kẻ bị giết làm chiến lợi phẩm. Với những nơi nổi loạn, ông áp dụng triệt để cách xử lý là tàn sát và thiêu rụi tất cả. 
Sau triều đại của Ashurnasirpal II, Assyria không có nhiều thành tựu trong hơn 30 năm cai trị của vua Shalmaneser III. Đồng thời quyền lực cũng dần rơi vào tay các quý tộc và tướng lĩnh. Dù vậy, công cuộc mở rộng của đế chế tiếp tục được triển khai dưới triều đại của Tiglath-Pileser III, cai trị từ năm 745 đến năm 729 TCN. Ông cũng được đánh giá là vị vua quan trọng nhất của Assyria kể từ sau Ashurnasirpal II. Sau vài chiến thắng nhỏ trong vài năm đầu lên ngôi, ông tạo dựng được danh tiếng khi đánh bại người Urartia trong trận Arpad. Sau đó, nhờ vào quân đội mạnh mẽ, Tiglath-Pileser thành công trong việc chinh phục được phần lớn vùng Levant và cả Babylon. Nhờ vậy mà ông trở thành vị vua đầu tiên trên lịch sử vùng Tiểu Á có thể cai trị cùng lúc cả hai thành bang Assyria - Babylon.
Bên cạnh các chiến dịch quân sự mở rộng lãnh thổ đế chế lên gấp gần 2 lần, điều khiến triều đại của Tiglath-Pileser III đáng nhớ đến thế đến từ việc ông tổ chức nền cai trị trực tiếp thay vì xây dựng hệ thống chư hầu như các đế chế cùng thời trước đó. Việc này giúp đế chế bớt phụ thuộc vào các khoản cống nạp của chư hầu mà chủ động được nhờ các khoản thuế thường trực của các tỉnh. Nguy cơ nổi loạn giảm xuống, ngân sách duy trì quân đội thường trực được đảm bảo. Nhiều nhà sử học cũng đồng ý rằng vào triều đại của Tiglath-Pileser III, Đế chế Tân Assyria mới thực sự trở thành siêu cường trong khu vực. Cơ chế chính trị kinh tế hoàn toàn được đổi mới, gần như không địch thủ nào sánh bằng. Trên phương diện văn hóa, triều đại của ông cũng góp phần thống nhất chung ngôn ngữ của khu vực và đảm bảo quá trình giao lưu văn hóa diễn ra thuận lợi trong vài thế kỷ.

Hồi kết của Đế chế Assyria

Sau triều đại của Shalmaneser V, con trai Tiglath-Pileser III; một vị tướng đã được quân đội hậu thuẫn giành lấy ngôi vị và trở thành vua của đế chế. Ông là Sargon II, và tên của ông được đặt dựa trên vị vua huyền thoại Sargon của Đế chế Akkad. Và cũng như Sargon của Akkad, triều đại của Sargon II cũng để lại một di sản to lớn thông qua việc xây dựng các thành phố mới như Dur-Sharrukin và Nineveh. Thế nhưng sau khi dẹp yên cuộc nổi loạn lần thứ 2 của Babylon, vua Sargon II chết trận tại Tiểu Á khi chiến đấu với người Tabal năm 705 TCN.
Con trai ông là Sennacherib dành phần lớn cuộc đời để chinh phạt và giữ lại những vùng lãnh thổ mà các vị vua trước chiếm được. Ông thậm chí còn phá hủy hoàn toàn Babylon và áp đặt quyền thống trị của Assyria lên vùng đất Levant. Tuy nhiên, một lần nữa vua của đế chế hùng mạnh lại gặp cái kết bi thảm, khi Sennacherib bị ám sát năm 681 TCN tại một điện thờ ở Nineveh.
Quyền lực của Assyria tiếp tục được duy trì ở đỉnh cao dưới triều đại của người kế vị Esarhaddon. Với mong muốn củng cố lại lãnh thổ của đế chế và cân bằng quyền lực, Esarhaddon xây dựng lại Babylon ở phía nam cũng như trao nhiều quyền lực đến cho mẹ và các thành viên nữ trong gia đình hơn. Điều này dẫn đến việc triều đại của ông là triều đại có nhiều phụ nữ quyền lực nhất của đế chế Assyria. Thế nhưng Esarhaddon lại thường xuyên ốm đau bệnh tật, và sức khỏe càng suy giảm sau cái chết của vợ và những đứa con. Những cuộc nổi loạn liên tiếp bắt đầu nổ ra, nhưng bất chấp tất cả, Esarhaddon vẫn triển khai nhiều chiến dịch quân sự thành công. Ông đã tiêu diệt các kẻ thù ở Tiểu Á, chinh phục thành phố Sidon của người Phoenicia, đô thành mà về sau ông đã đổi tên thành Kar-Assur-adu-iddina, nghĩa là pháo đài của Esarhaddon. Nhưng thành tích quân sự vĩ đại nhất của Esarhaddon đến từ cuộc chinh phục Ai Cập của ông vào năm 671 TCN. Nhờ vào sự trợ giúp của các bộ lạc người Ả Rập trong việc quản lý tuyến hậu cần và lương thực, quân đội Assyria vượt qua vùng Sinai và đánh đột kích quân đội Ai Cập, chiếm lấy Memphis, thủ đô của họ.
Thế nhưng Esarhaddon mất không lâu sau đó vào năm 669 TCN khi mới 44 tuổi. Nhờ ào mạng lưới tình báo mà ông đã xây dựng suốt triều đại của mình, các cuộc nổi loạn vẫn bị dẹp tan và người thừa kế của ông, Ashurbanipal vẫn có thể lên ngôi trong ổn định. 
Ashurbanipal đến nay vẫn được nhớ đến là vị vua vĩ đại cuối cùng của đế chế Assyria. Bên cạnh việc dành phần lớn thời gian để dẹp loạn ở cả Elam lẫn Ai Cập, ông còn đánh bại cuộc nổi loạn của anh trai Shamash-shum-ukin. Ông cũng được nhớ đến vì sự tàn bạo của mình khi giết chết anh trai, tàn sát dân nổi loạn. Thậm chí cuộc chiến của ông với người Elam đến nay vẫn được coi là một cuộc diệt chủng và tiếng tăm của ông khét tiếng đến mức người Hy Lạp còn gắn liền hình tượng của ông với Sardanapalus, vị vua ác độc mà đã dẫn đến ngày tàn của đế chế Assyria. Trên phương diện tích cực hơn, Ashurbanipal là người đầu tiên xây dựng Thư viện Ashurbanipal, bảo toàn đến hơn 10 vạn tài liệu, một nguồn quý giá cho nghiên cứu ngôn ngữ, tôn giáo và khoa học của vùng Lưỡng Hà cổ đại.
Cái chết của Ashurbanipal vào năm 631 TCN đã chấm dứt kỷ nguyên thịnh vượng một thời của Assyria. Sau cái chết của ông, những người thừa kế dần gây chiến với nhau, và đế chế bắt đầu bị người Medes tấn công. Nhưng cú đòn chí mạng tiêu diệt cả đế chế chính là cuộc nổi loạn của thành bang Babylon dưới thời Nabopolassar, người đã xây dựng Đế chế Tân Babylon. Lợi dụng việc Assyria hỗn loạn, vị vua Babylon chiếm đóng nhiều thành phố quan trọng. Dù Assyria có chiếm lại được một trong số đó, nhưng vẫn không ngăn được việc Babylon giành được độc lập. Suốt nhiều năm sau đó, cả vùng Lưỡng Hà rơi vào hỗn loạn vì những trận chiến ác liệt giữa Assyria và Babylon, và sau khi chiếm đóng cả vùng vào năm 620 TCN, Babylon bắt đầu quay ngược lại xâm lược Assyria.
Lần đầu tiên sau hơn 500 năm kể từ giai đoạn Trung kỳ Assyria, vùng đồng bằng trung tâm của đế chế bị xâm phạm. Và đến năm 615 TCN, Babylon đã chiếm được Assur, cố đô của đế chế. Tuy nhiên, cú đánh chốt hạ lại không đến từ Babylon mà đến từ người Medes ở phía đông. Mùa hè năm 614 TCN, người Medes tấn công cả Nimrud lẫn Nineveh, chiếm đóng và tàn sát người Assyria. Babylon thấy vậy bèn lập tức đồng ý liên minh với Medes để chấm dứt đế chế Assyria một lần và mãi mãi. Đến năm 612 TCN, quân Medes cùng Babylon chiếm đóng Nineveh và giết chết vua của Assyria. Sau sự sụp đổ của Nineveh, người Assyria vẫn cố gắng duy trì đế chế của họ dưới triều vua Ashur-uballit II, tìm cách liên minh với Ai Cập để chặn đứng ảnh hưởng của Babylon ở vùng Tiểu Á. Dù vậy, cái chết của Ashur-uballit vào năm 609 TCN và thất bại giữa liên minh Ai Cập cùng tàn dư của Đế chế Tân Assyria tại Carchemish năm 605 TCN đã đặt dấu chấm hết hoàn toàn cho hoàng tộc Assyria và nhà nước khét tiếng này.
Sau khi đế chế Assyria bị sụp đổ, vùng đất Assyria cũ và các thành phố của nó bị bỏ rơi hoàn toàn bởi Đế chế Tân Babylon. Sự thay đổi về nhân khẩu học từ trước đó - với việc lũ lụt hạn hán diễn ra tại vùng đồng bằng Assyria dẫn đến vùng này trở thành khu vực thưa dân và ít quan trọng. Dù vậy, văn hóa Assyria vẫn được duy trì. Sau khi Babylon bị tiêu diệt và Đế chế Ba Tư trỗi dậy, Assyria trở thành tỉnh Athura và dân số bắt đầu tăng trở lại dưới thời Đế chế Parthia. Giai đoạn hồi phục này cuối cùng kết thúc khi Assur bị Đế chế Sassasnid thiêu rụi lần nữa vào năm 240 Công nguyên. Vùng đất này vì thế không gượng dậy được nữa suốt thời trung đại. Dòng chảy lịch sử đã cuốn trôi hầu như mọi thứ về Assyria, và thay thế nó bằng những Ba Tư và La Mã.