“20% phụ nữ da trắng ở độ tuổi 20 ở Mỹ có tài khoản OnlyFans. OnlyFans là tín hiệu rõ ràng nhất cho một xã hội suy đồi.” - “Giáo sư” Jiang tuyên bố như vậy trong buổi tranh luận trực tuyến với Sneako vào ngày 09/03.
Jiang là một nhân vật đang nổi lên trên mạng xã hội X và Youtube với những bài giảng cực kỳ sâu sắc và chi tiết về lịch sử phát triển của xã hội loài người, bao quát nhiều khía cạnh của nền kinh tế bao gồm các quy luật cung cầu cơ bản, cho tới chủ nghĩa tư bản chủ nghĩa xã hội, về trật tự thế giới, cho tới các cuộc xung đột chính trị và gần đây nhất là cuộc chiến giữa liên minh Israel - Mỹ và Iran.
Thông điệp của giáo sư Jiang rất rõ ràng: đại đế quốc tư bản Mỹ đang suy tàn cả về mặt quân sự lẫn văn hóa, đồng đô la Mỹ sẽ sớm sụp đổ, và cuộc chiến với Iran sẽ là mồi lửa đầu tiên khơi dậy cho làn sóng nổi dậy chống nước Mỹ ở khắp mọi nơi.
Nhưng có một vấn đề: con số 20% kia hoàn toàn là bịa đặt về mặt thống kê. Không có bất kỳ một dữ liệu nào do OnlyFans, nền tảng khiêu dâm nổi tiếng toàn cầu, công bố hay từ một tổ chức thứ ba cho thấy có nhiều phụ nữ Mỹ da trắng hoạt động trên OnlyFans nhiều như thế.
Đó chỉ là một trong vô vàn những con số Jiang tự bịa ra đi kèm với những tuyên bố sai lệch lịch sử như: cuộc chiến Punic Thứ hai giữa La Mã và Carthage là không có thật, hay người Do Thái đã tạo ra Đạo Hồi. Và tệ hơn nữa, Jiang cũng không phải là một giáo sư. Ông ta sau khi tốt nghiệp cử nhân ngành văn học ở Đại học Yale và đang làm công việc giảng dạy trong ngành giáo dục ở Bắc Kinh sau một thời gian dài sống ở Toronto, Canada.
Sở hữu hàng triệu người theo dõi trên kênh Predictive History, giáo sư tự phong nói tiếng Anh lưu loát tên Jiang này đang được xưng tụng là “Nhà tiên tri Nostradamus của Trung Quốc”. Bằng cách khoác chiếc áo học thuật hào nhoáng của “lý thuyết trò chơi” và các bài giảng lịch sử đầy kịch tính, Jiang đã gieo rắc một cách có hệ thống những kịch bản đẫm mùi thuyết âm mưu vào tâm trí người nghe.
Jiang không cần – và có lẽ cũng không phải – một đặc vụ do Bắc Kinh cài cắm hay nuôi dưỡng. Trong kỷ nguyên thao túng thông tin, những nhân vật như ông ta hiệu quả hơn nhiều khi đứng ngoài hệ thống chính thức. Chính sự mơ hồ giữa học thuật và tiên tri, giữa phân tích và kể chuyện, mới là lớp sương mù lý tưởng cho một mặt trận tin giả (disinformation) phi tập trung mà chính phủ Trung Quốc tiến hành.
Mặt trận này không tồn tại độc lập. Nó song hành với một cấu trúc địa - tài chính đang thành hình hơn một thập kỷ qua: một liên minh kinh tế - chính trị vận hành trong bóng tối do Trung Quốc làm trọng tâm, kết nối Nga, Iran, Venezuela và Cuba – không phải bằng hiệp ước, mà bằng lợi ích chung trong việc làm xói mòn trật tự tài chính và thông tin do Mỹ dẫn dắt.
Suốt gần hai thập kỷ, trục liên kết này sống khá khỏe trong vùng xám của trật tự toàn cầu. Nó quen với một nước Mỹ giàu có, lịch sự, thích họp hành và tin rằng mọi xung đột rồi cũng có thể giải quyết bằng vài vòng đàm phán sau những sang chấn tâm lý ở Afghanistan (2001 - 2021) và Iraq (2003 - 2011).
Nhưng lần này thì khác.
Sự trở lại của Donald Trump vào năm 2025, cùng những tiếng nói cứng rắn như Marco Rubio, đã thay đổi toàn bộ cách hành xử của nước Mỹ. Không còn là xứ cờ hoa giàu có hào hiệp và lấn át bằng các biện pháp mềm, nước Mỹ giờ không chấp nhận những quốc gia chơi hai mặt với họ. Thay vào đó, Washington giờ yêu cầu mọi người phải chọn phe rõ ràng, hành xử như một giang hồ có thể lật bàn bất cứ lúc nào, sẵn sàng phá luật và chấp nhận hỗn loạn nếu cần.
Venezuela hay cuộc chiến ở Iran chỉ là những bước đi đầu tiên trong cuộc chiến của Trump - Rubio để phá vỡ liên minh bóng đêm do Bắc Kinh tạo ra.

Cú sốc Crimea 2014

Có một điều cần nắm rõ ở đây là trục liên kết chống Mỹ này không phải là một cấu trúc được Bắc Kinh thiết kế từ đầu. Nó hình thành dần dần từ chính cách Washington sử dụng các công cụ quyền lực của mình trong hai thập kỷ qua. Có thể coi sự kiện khơi mào cho những ý tưởng thành lập liên minh địa-chính trị ngầm này là việc Nga thực hiện đánh úp chiếm đảo Crimea của Ukraine vào năm 2014.
Crimea là một bán đảo nhô ra Biển Đen, nằm ở điểm giao giữa Đông Âu và không gian biển chiến lược nối Địa Trung Hải với Trung Đông. Nơi đây đặc biệt quan trọng với Nga vì có cảng Sevastopol, dù thuộc chủ quyền của Ukraine trước năm 2014, vẫn là căn cứ thuê dài hạn của Hạm đội Biển Đen Nga. Nhờ cảng này, Nga có thể duy trì hiện diện hải quân thường trực tại Biển Đen, bảo đảm khả năng triển khai lực lượng nhanh chóng ra các khu vực lân cận như Đông Địa Trung Hải và Trung Đông.
Trong lúc chính quyền thân Nga ở Kyiv bị đe dọa trong cuộc khủng hoảng chính trị vào đầu năm 2014, Tổng thống Vladimir Putin của Nga đã yêu cầu quân đội thực hiện chiến dịch quân sự chớp nhoáng dưới hình thức đảo chính để kiểm soát bán đảo này, coi đó là bước đi phòng vệ nhằm bảo toàn lợi ích quân sự cốt lõi của mình.
Cuộc chiếm đóng nhanh gọn hoàn hảo này của Nga thực sự là một cú sốc cho Mỹ và phương Tây vốn hưởng thụ hòa bình với Nga hơn 25 năm qua. Ngay lập tức, một loạt các biện pháp trừng phạt đã được cân nhắc từ vũ lực tới cấm vận, và cuối cùng, chính quyền Obama đã lựa chọn một phương thức tác chiến phi truyền thống là vũ khí hóa nền tài chính do Mỹ dẫn dắt.
Washington cùng các đồng minh châu Âu áp đặt trừng phạt có chọn lọc lên các cá nhân thân cận của Điện Kremlin, khiến họ không thể sử dụng các dịch vụ tài chính quốc tế do Mỹ và Tây Âu kiểm soát, từ việc mở tài khoản ngân hàng bằng đồng USD/EURO, vay vốn, đến niêm yết tài sản ở nước ngoài. Các ngân hàng lớn của Nga bị hạn chế tiếp cận thị trường vốn quốc tế, không thể phát hành trái phiếu hay vay dài hạn bằng USD và EUR. Trong lĩnh vực năng lượng, những tập đoàn như Rosneft hay Gazprom bị cắt khỏi công nghệ khai thác dầu khí nước sâu và Bắc Cực của phương Tây, buộc nhiều dự án chiến lược phải đình trệ hoặc thu hẹp quy mô.
Những biện pháp này không nhằm làm tê liệt nền kinh tế Nga trong ngắn hạn, mà nhắm trực tiếp vào các điểm nghẽn dài hạn: dòng vốn, công nghệ khai thác năng lượng và khả năng hội nhập tài chính. Qua đó, Mỹ cho thấy ưu thế của mình không chỉ nằm ở sức mạnh quân sự mà còn ở khả năng biến mạng lưới kinh tế toàn cầu thành công cụ gây sức ép địa chính trị.
Các biện pháp trừng phạt tài chính được áp đặt sau năm 2014 không khiến nền kinh tế Nga sụp đổ dù bị suy yếu, đồng thời chúng tạo ra một thay đổi quan trọng trong tư duy chiến lược của Điện Kremlin. Lúc này giới hoạch định chính sách tại Moscow thấy rõ ràng rằng sức mạnh quân sự truyền thống không đủ để bảo đảm an ninh quốc gia nếu các dòng thanh toán, dự trữ và tiếp cận tài chính quốc tế nằm ngoài tầm kiểm soát.
Từ nhận thức đó, Tổng thống Putin bắt đầu theo đuổi một chiến lược phòng vệ kinh tế thường được giới phân tích gọi là Pháo đài Nga (Fortress Russia), không phải như một học thuyết chính thức được công bố, mà như một tập hợp các chính sách nhằm giảm thiểu mức độ dễ tổn thương trước các đòn trừng phạt tài chính.
Pháo đài này có hai trụ cột chính.
Trụ cột thứ nhất: củng cố phòng tuyến tài chính trong nước
Ngay sau khi phương Tây nêu khả năng loại Nga khỏi mạng lưới nhắn tin tài chính toàn cầu SWIFT, Ngân hàng Trung ương Nga đã đẩy nhanh việc xây dựng SPFS, một hệ thống truyền thông điệp tài chính nội địa đóng vai trò dự phòng cho các giao dịch trong nước và với đối tác “thân thiện” (ví dụ như Cuba, Iran). Song song với đó, Nga triển khai hệ thống thẻ thanh toán quốc gia Mir từ năm 2015 nhằm giảm phụ thuộc vào Visa và Mastercard, vốn từng tạm ngừng dịch vụ với một số ngân hàng Nga sau các lệnh trừng phạt năm 2014.
Ở cấp độ dự trữ quốc gia, Moscow từng bước giảm nắm giữ tài sản bằng USD, đặc biệt là trái phiếu chính phủ Mỹ, đồng thời tăng mạnh tích trữ vàng, một tài sản không thể bị phong tỏa thông qua các cơ chế tài chính quốc tế. Quá trình “phi đô‑la hóa” này diễn ra dần dần nhưng có tính hệ thống, phản ánh nỗ lực xây dựng một vùng đệm tài chính trước các cú sốc bên ngoài.
Trụ cột thứ hai: xoay trục kinh tế sang phương Đông
Bên cạnh việc tự lo phòng thủ trong nước, Nga cũng buộc phải thay đổi cách làm ăn với thế giới bên ngoài. Trái với hình ảnh bắt tay cười tươi trên các mặt báo, Moscow thực sự luôn khá dè chừng Trung Quốc, họ vừa cần hợp tác, vừa sợ phụ thuộc quá nhiều vào một nền kinh tế đang lớn rất nhanh. Nhưng sau các lệnh trừng phạt của phương Tây, lựa chọn của Nga ngày càng ít đi, nhất là trong lĩnh vực năng lượng, vốn là nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất của họ.
Do đó việc xích lại gần Trung Quốc không xuất phát từ tình cảm hay chung hệ tư tưởng mà đơn giản là vì lợi ích. Tháng 5 năm 2014, Nga và Trung Quốc ký thỏa thuận xây dựng đường ống khí đốt Power of Siberia, trị giá ước tính khoảng 400 tỷ USD trong nhiều thập kỷ. Với Nga, đây là cách tìm đầu ra mới cho dầu khí khi thị trường châu Âu trở nên khó tiếp cận. Với Trung Quốc, đó là nguồn năng lượng ổn định, ít bị ảnh hưởng bởi các lệnh trừng phạt của Mỹ và châu Âu.
Không dừng lại ở năng lượng, hai nước cũng bắt đầu thanh toán với nhau nhiều hơn bằng đồng ruble và nhân dân tệ, thay vì dùng đô la Mỹ như trước. Quy mô của các giao dịch này tuy còn nhỏ nhưng nó cho thấy một xu hướng rõ ràng là cả Nga lẫn Trung Quốc đều muốn giảm bớt sự phụ thuộc vào hệ thống tài chính do Mỹ dẫn dắt.
Như vậy, có thể thấy, bằng việc vũ khí hóa nền tài chính, Washington đã đạt được mục tiêu chiến thuật là trừng phạt sự hung hăng của Nga ở Crimea, nhưng đã vô tình đẩy một cường quốc tài nguyên (Nga) vào vòng tay của một siêu cường công xưởng đang khát năng lượng (Trung Quốc), tạo ra bộ khung vững chắc đầu tiên cho một nền kinh tế ngầm chống Mỹ.

Trump 1.0 và chiến lược “Áp lực tối đa” (2017-2020)

Cỗ máy dự phòng của trục Nga - Trung có lẽ sẽ chỉ dừng lại ở một liên minh Á - Âu mang tính phòng vệ, nếu như Washington không tự tay đẩy nhanh một chuỗi phản ứng dây chuyền khác ở hai đầu thế giới. Giai đoạn 2018 - 2019, dưới nhiệm kỳ đầu tiên của Donald Trump, các chính sách ngoại giao diều hâu của Mỹ đã tái định hình lại toàn bộ cấu trúc của thế giới ngầm, với bước ngoặt đầu tiên đến từ Iran.
Thời Tổng thống Obama, chính sách của Mỹ với Iran xoay quanh một mục tiêu trung tâm là ngăn Tehran phát triển vũ khí hạt nhân mà không phải dùng đến chiến tranh. Cần biết rằng lãnh đạo Iran trong nhiều năm không hề giấu diếm ý định phát triển vũ khí hạt nhân để xóa sổ toàn bộ nhà nước Do Thái Israel.
Kết quả của cách tiếp cận đó là Thỏa thuận Hạt nhân Iran (JCPOA), được ký năm 2015 giữa Iran, Mỹ và các cường quốc khác. Theo thỏa thuận này, Iran chấp nhận hạn chế chương trình làm giàu uranium và cho phép thanh sát quốc tế, đổi lại là việc dỡ bỏ phần lớn các lệnh trừng phạt liên quan đến hạt nhân. Dù gây tranh cãi trong nội bộ Mỹ, JCPOA đã giúp Iran quay trở lại thị trường dầu mỏ và hệ thống tài chính toàn cầu trong một thời gian ngắn.
Cách tiếp cận này thay đổi hoàn toàn dưới nhiệm kỳ đầu tiên của Donald Trump. Chính quyền Trump cho rằng JCPOA chỉ trì hoãn, chứ không loại bỏ tham vọng hạt nhân của Iran, đồng thời bỏ qua các vấn đề khác như chương trình tên lửa đạn đạo và vai trò của Tehran tại Trung Đông. Tháng 5 năm 2018, chính quyền Trump đơn phương rút khỏi thỏa thuận và khởi động chiến lược “Áp lực tối đa”, tái áp đặt các lệnh trừng phạt toàn diện, bao gồm cả trừng phạt thứ cấp nhằm vào các công ty và quốc gia tiếp tục làm ăn với Iran. Mục tiêu được tuyên bố là đưa xuất khẩu dầu của Iran về gần mức bằng không và buộc Tehran phải chấp nhận đàm phán lại trên các điều khoản cứng rắn hơn.
Chiến lược “Áp lực tối đa” trong nhiệm kỳ đầu của Donald Trump không phải là một chính sách đơn lẻ nhắm vào Iran, mà là một khuôn mẫu trừng phạt kinh tế – tài chính được áp dụng có chọn lọc lên một nhóm quốc gia bị Washington coi là thách thức trực tiếp trật tự do Mỹ dẫn dắt. Trọng tâm của chiến lược này là cô lập khỏi hệ thống đô la giống như con người cách ly mầm bệnh, bóp nghẹt nguồn thu ngoại tệ và buộc đối phương phải lựa chọn giữa nhượng bộ và suy kiệt.
Và một quốc gia khác mà chính quyền Trump coi như một khối u cần chia tách khỏi hệ thống của họ là Venezuela. Dưới góc độ phân tích của nội các Trump khi đó, Venezuela và Iran không phải hai hồ sơ tách biệt nằm ở hai bán cầu, mà là hai mắt xích của cùng một vấn đề: các chế độ bị coi là thách thức trật tự do Mỹ dẫn dắt và sống dựa vào nguồn thu từ dầu mỏ. Tại Mỹ Latinh, Venezuela dưới thời Nicolás Maduro được xem là đồng minh then chốt của Iran, Cuba và Nga, đồng thời là biểu tượng của mô hình “xã hội chủ nghĩa chống Mỹ” ngay trong khu vực ảnh hưởng truyền thống của Washington.
Vào đầu năm 2019, sau khi cuộc bầu cử tổng thống năm 2018 bị phe đối lập và nhiều nước phương Tây coi là không hợp pháp, Chủ tịch Quốc hội Venezuela là Juan Guaidó tuyên bố giữ vai trò tổng thống lâm thời theo Hiến pháp. Chính quyền Nicolás Maduro lập tức bác bỏ tuyên bố này, duy trì quyền kiểm soát quân đội, tòa án và bộ máy nhà nước, đồng thời trấn áp các cuộc biểu tình của phe đối lập và cắt đứt đối thoại chính trị trong nước.
Trong bối cảnh chính phủ Mỹ công khai ủng hộ Guaidó nhưng không thể tạo ra thay đổi chính trị từ bên trong Venezuela, họ chuyển sang sử dụng đòn đánh kinh tế. Đầu năm 2019, Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt trực tiếp lên PDVSA, tập đoàn dầu khí quốc gia của Venezuela, nhằm cắt Caracas khỏi hệ thống thanh toán bằng đô la và làm tê liệt nguồn thu ngoại tệ chủ yếu của chính quyền Maduro.
Nhưng đòn đánh này có thể coi là thất bại vì tuy nó khiến chính quyền của Nicolás Maduro suy yếu, nó không đủ để khiến chế độ này sụp đổ. Tồi tệ hơn, nó đã đẩy Venezuela vào vòng tay của Iran. Hai quốc gia này, dù xa cách về địa lý và khác biệt sâu sắc về hệ tư tưởng, đã tìm đến nhau như những đối tác sinh tồn, cùng chia sẻ mạng lưới vận chuyển, thanh toán và né tránh trừng phạt.
Và thế là một mạng lưới cung ứng năng lượng phi tập trung nhanh chóng được thiết lập. Từ năm 2020, Iran đã tổ chức hàng chục chuyến bay vận tải sang Caracas, chở theo hóa chất xúc tác (diluents) và đội ngũ kỹ sư để khôi phục các nhà máy lọc dầu của Venezuela - những cơ sở từng có công suất hơn 1,3 triệu thùng/ngày, nhưng đã rơi xuống dưới 10% vì thiếu vật tư và bảo trì. Đổi lại, Venezuela thanh toán cho Tehran bằng vàng thỏi rút trực tiếp từ kho dự trữ của ngân hàng trung ương. Chỉ riêng trong tháng 4/2020, khoảng 9 tấn vàng, trị giá xấp xỉ 500 triệu USD, đã được vận chuyển bí mật trên các chuyến bay không số hiệu từ Caracas sang Tehran, hoàn toàn nằm ngoài hệ thống tài chính quốc tế.
Trên các vùng biển quốc tế, một “Hạm đội bóng tối” (Dark Fleet) cũng được gây dựng và bùng nổ về quy mô. Theo các công ty theo dõi hàng hải, đến năm 2023 đã có hơn 1,000 tàu chở dầu tham gia vào các hoạt động né tránh trừng phạt, chiếm gần 10% đội tàu dầu toàn cầu. Những con tàu cũ kỹ này hoạt động ngoài tầm kiểm soát của các công ty bảo hiểm phương Tây, thường xuyên tắt hệ thống định vị AIS, đổi cờ, đổi tên và thực hiện các cuộc chuyển dầu trực tiếp giữa biển (ship‑to‑ship transfers) để xóa dấu vết nguồn gốc. Trên mặt nước, chúng chỉ là những con tàu rách nát; nhưng dưới bề mặt, chúng hợp thành một hệ thống vận chuyển song song, đủ lớn để duy trì dòng chảy năng lượng cho cả một nền kinh tế bị phong tỏa.
Tuy nhiên, một mạng lưới buôn lậu khổng lồ như vậy sẽ sụp đổ nếu không có dòng tiền thanh khoản. Đây là khoảng trống mà Bắc Kinh bước vào và trở thành mảnh ghép trung tâm của “Nền kinh tế bóng tối”.
Trung Quốc không ra mặt bằng các tập đoàn nhà nước lớn để tránh đòn trừng phạt thứ cấp của Bộ Tài chính Mỹ. Thay vào đó, họ chọn con đường kín đáo hơn. Các nhà máy lọc dầu tư nhân quy mô nhỏ (thường được gọi là teapot refineries) tại tỉnh Sơn Đông được biến thành những trạm trung chuyển tài chính và năng lượng nằm ngoài tầm radar của phương Tây. Theo dữ liệu theo dõi tàu biển và ước tính của các hãng phân tích năng lượng, trong giai đoạn 2021–2023, các nhà máy này đã tiếp nhận từ 1 đến 1,5 triệu thùng dầu/ngày có nguồn gốc từ Iran, chiếm tới gần 90% tổng lượng dầu xuất khẩu của Tehran. Dầu bị trừng phạt được bán với mức chiết khấu sâu, thường thấp hơn giá dầu Trung Đông tương đương từ 5-10 USD mỗi thùng, đổi lại là biên lợi nhuận đủ lớn để bù đắp rủi ro pháp lý.
Việc thanh toán được thực hiện hoàn toàn bằng đồng nhân dân tệ, thông qua mạng lưới ngân hàng vệ tinh và các công ty bình phong đặt tại UAE hoặc Hong Kong, những điểm trung gian đủ xa ngoài tầm kiểm soát của Washington nhưng đủ gần hệ thống tài chính Trung Quốc. Theo ước tính của các cơ quan nghiên cứu phương Tây, riêng doanh thu từ dầu Iran bán sang Trung Quốc đã mang lại cho Tehran hàng chục tỷ đô la mỗi năm, dù trên giấy tờ các dòng chảy này gần như “không tồn tại”.
Theo cách đó, Bắc Kinh không chỉ cung cấp đầu ra cho dòng dầu bị phong tỏa, mà còn bơm máu cho toàn bộ hệ tuần hoàn ngầm: dầu chảy về phía Đông, tiền quay ngược trở lại, và một nền kinh tế song song tiếp tục vận hành bên dưới bề mặt của trật tự toàn cầu chính thống.
Dòng tiền ngầm này không chỉ dừng ở việc cứu sống nền kinh tế của Tehran và Caracas, chúng còn được dùng để tài trợ cho một cấu trúc an ninh nguy hiểm hơn nhắm thẳng vào sườn nước Mỹ. Tại Mỹ Latinh, dòng vốn từ Bắc Kinh và dầu mỏ từ Venezuela bắt đầu chảy vào một điểm nghẽn chiến lược (chokepoint) về tình báo và địa chính trị, nằm cách bang Florida chưa đầy 90 dặm: Cuba.

Hòn đảo quan sát nước Mỹ

Trong nhiều năm, nền kinh tế kiệt quệ của Cuba tồn tại nhờ nguồn dầu trợ giá từ Venezuela, có thời điểm lên tới 90,000–100,000 thùng mỗi ngày, chiếm phần lớn nhu cầu năng lượng của Cuba. Khi ngành dầu khí Venezuela sụp đổ vì trừng phạt, dòng dầu này không biến mất vì nó được duy trì nhờ mạng lưới vận chuyển và rửa tiền ngoài luồng, trong đó Trung Quốc đóng vai trò then chốt.
Đổi lại dòng máu năng lượng đó, Cuba xuất khẩu thứ tài sản giá trị nhất của mình là bộ máy phản gián và an ninh nội bộ. Từ thời Hugo Chávez, và đặc biệt dưới thời Nicolás Maduro, Caracas ngày càng dựa vào các cố vấn tình báo G2 và vệ sĩ Cuba để bảo vệ tầng chóp bu quyền lực. Theo ước tính của các cơ quan tình báo phương Tây, đã có từ 20.000 đến 25.000 nhân sự Cuba, bao gồm sĩ quan phản gián, cố vấn an ninh và lực lượng bảo vệ, luân phiên hoạt động tại Venezuela.
Việc “ủy quyền an ninh” này phản ánh sự thật trần trụi rằng giới lãnh đạo Venezuela hoàn toàn không tin tưởng vào chính bộ máy quân đội và an ninh trong nước, vì họ biết chính những người trong bộ máy này cũng không ưa họ vì những đói khổ mà họ gây ra, và hoàn toàn dựa vào ngoại bang để tồn tại. Cuba, ngược lại, không có gốc rễ xã hội hay tham vọng quyền lực tại Caracas, nhưng sở hữu kinh nghiệm sinh tồn dưới cấm vận kéo dài hơn nửa thế kỷ. Chính mạng lưới tình báo Cuba đã bao bọc, giám sát và vô hiệu hóa các mối đe dọa từ bên trong, giúp chế độ Maduro đứng vững trước những nỗ lực lật đổ.
Do đó, khi Washington tung ra các đòn trừng phạt kinh tế, họ có thể bóp nghẹt kinh tế Venezuela, nhưng không thể bẻ gãy Caracas, bởi hệ miễn dịch chính trị của chế độ này đang được vận hành từ Havana.
Còn về phía Bắc Kinh, họ không bơm tiền vì nghĩa vụ quốc tế cao đẹp hay vì chung lý tưởng cộng sản. Thông qua việc giữ nhịp đập cho cả Venezuela lẫn Cuba, Trung Quốc đã mua được một tấm vé vô giá tiến thẳng vào vùng lõi an ninh của Washington. Bị dồn ép bởi các lệnh cấm vận và cơn khát ngoại tệ mãn tính, chính quyền Havana đã mở cửa chào đón sự viện trợ từ Trung Quốc. Từ năm 2000 đến 2025, Trung Quốc đã cung cấp cho Cuba khoảng 8 tỷ USD tài chính và tín dụng, trải rộng từ viễn thông, cảng biển đến hạ tầng số, nhiều dự án do Huawei và ZTE triển khai.
Đổi lại, Havana cho phép Bắc Kinh thâu tóm và nâng cấp các cơ sở tình báo tín hiệu (SIGINT) từ thời Chiến tranh Lạnh - tiêu biểu là tổ hợp Bejucal, nằm gần thủ đô Havana. Ảnh vệ tinh và các báo cáo tình báo phương Tây cho thấy cơ sở này đã được hiện đại hóa đáng kể trong thập kỷ qua, với các hệ thống anten và hạ tầng cho phép thu thập tín hiệu điện từ tầm xa.
Với vị trí cách bờ biển bang Florida chưa tới 90 dặm, các trạm thu phát điện tử trị giá hàng tỷ USD do Trung Quốc tài trợ này không phải là những cột ăng-ten vô hại. Chúng là các cỗ máy tác chiến điện tử (electronic warfare) được thiết kế đặc biệt để có thể nghe lén các kênh liên lạc nội bộ của Bộ Tư lệnh Phía Nam (SOUTHCOM), căn cứ của Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) tại Tampa. Chúng đồng thời cung cấp khả năng giám sát chưa từng có đối với hoạt động quân sự, hàng hải và không gian của Mỹ dọc vùng Caribe và bờ Đông.
Dù không có bằng chứng công khai về việc Trung Quốc trực tiếp vận hành các cơ sở này, giới hoạch định chính sách Mỹ coi đây là một trong những bước tiến nghiêm trọng nhất của Bắc Kinh vào bán cầu Tây kể từ sau Chiến tranh Lạnh.
Tham vọng mở rộng ảnh hưởng quyền lực của Bắc Kinh tại Tây Bán Cầu không chỉ dừng lại ở các trạm gác điện tử tại Cuba hay những hợp đồng thu mua dầu lậu. Để đảm bảo mắt xích Venezuela không bị bẻ gãy bởi sức mạnh quân sự áp đảo của Washington, Trung Quốc đã lẳng lặng chuyển hóa các khoản nợ tài chính thành viện trợ vũ khí, biến Caracas thành một pháo đài tiền tiêu ngay sát sườn nước Mỹ.
Khác với những viện trợ quân sự thông thường, hệ thống vũ khí Bắc Kinh tuồn vào Venezuela được tính toán với hai mục tiêu cực kỳ rõ ràng là đảm bảo sinh tồn nội bộ và răn đe phi đối xứng. Ở mặt trận đối nội, hàng trăm xe bọc thép chống bạo động VN-4 do Tập đoàn Công nghiệp Phương Bắc (NORINCO) của Trung Quốc cung cấp đã trở thành công cụ cốt lõi để lực lượng an ninh Venezuela nghiền nát mọi cuộc nổi dậy của người dân và phe đối lập, đảm bảo sự sống còn của chế độ dưới các tầng lớp cấm vận.
Nhưng mối đe dọa thực sự đối với Lầu Năm Góc nằm ở mạng lưới phòng không và hệ thống cảnh giới mà Bắc Kinh giúp thiết lập dọc bờ biển Caribe. Thông qua việc cung cấp các hệ thống radar tầm xa như JYL-1 và JY-27A, được tuyên bố là có thể theo dõi cả tiêm kích tàng hình đời mới nhất, cùng với tên lửa chống hạm C-802A và máy bay tấn công hạng nhẹ K-8, Trung Quốc đang giúp Venezuela giăng ra một bong bóng Chống tiếp cận/Chống xâm nhập (A2/AD) đầy uy lực.
Mục đích của cấu trúc quân sự này không phải là để khiêu khích một cuộc chiến tranh quy mô lớn với Mỹ, điều mà Venezuela chắc chắn sẽ thua. Bản chất của nó là để nâng cao chi phí rủi ro: làm cho bất kỳ một nỗ lực can thiệp quân sự nào của Bộ Tư lệnh Phía Nam (SOUTHCOM) cũng sẽ phải trả một cái giá đắt đỏ, và như thế khiến họ phải nản lòng.
Bằng cách trang bị tận răng cho con nợ lớn nhất của mình tại Mỹ Latinh, Bắc Kinh đang thiết lập một vành đai thép để bảo vệ cả mỏ dầu ngầm lẫn các trạm tình báo của họ trong khu vực.
Tuy nhiên Trung Quốc không chỉ là người điều khiển rối duy nhất ở vùng này.
Từ đầu những năm 2000 và kéo dài xuyên suốt kỷ nguyên cấm vận, Venezuela đã trở thành khách hàng mua vũ khí lớn nhất của Nga ở Châu Mỹ Latinh. Moscow đã cấu trúc lại các khoản nợ của Caracas để đổi lấy việc chuyển giao hàng tỷ đô la trang thiết bị quân sự, từ phi đội tiêm kích đa nhiệm Su-30MK2, trực thăng tấn công Mi-35M, cho đến hệ thống phòng không tầm xa tối tân S-300VM.
Nhưng thứ quý giá hơn cả viện trợ khí tài là sự can dự trực tiếp của con người. Vào tháng 3 năm 2019, trong thời khắc chế độ Maduro lâm nguy nhất, Nga không ngần ngại triển khai các nhà thầu quân sự tư nhân (từng thuộc nhóm Wagner hoặc các tổ chức tương tự) bay thẳng đến Caracas. Nhiệm vụ của họ không phải là huấn luyện thông thường, mà là trực tiếp thiết lập vành đai bảo vệ giới chóp bu chính trị và các mỏ dầu chiến lược. Đối với Điện Kremlin, việc vũ trang cho Venezuela là một canh bạc bất đối xứng hoàn hảo: sử dụng một chi phí tương đối thấp để buộc Lầu Năm Góc phải liên tục phân tán nguồn lực về phía nam.
Sự can dự của Nga không chỉ dừng lại ở lục địa Nam Mỹ mà còn vươn vòi trở lại mắt xích tình báo Cuba. Dù quy mô nền kinh tế hiện tại không cho phép Moscow bao nuôi Havana như cách Liên Xô từng làm, chiến lược của Putin tại hòn đảo này lại mang tính biểu tượng và khiêu khích cao độ.
Bằng các thỏa thuận xóa các khoản nợ từ thời Liên Xô, Nga đã đổi lấy quyền tiếp cận các cảng biển và cơ sở hậu cần chiến lược. Những chuyến cập cảng Havana thường xuyên của các biên đội tàu chiến Nga, bao gồm cả tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Yasen-M mang tên lửa hành trình và tàu khu trục mang tên lửa siêu thanh, không phải là những chuyến thăm ngoại giao đơn thuần. Đó là sự hiện thực hóa của học thuyết "Răn đe đáp trả": Tổng thống Putin gửi đi một thông điệp rất mạnh mẽ rằng nếu Mỹ và NATO có thể duy trì áp lực quân sự sát biên giới phía Tây của Nga ở Đông Âu, thì Moscow cũng hoàn toàn có khả năng đặt các nền tảng vũ khí chiến lược ngay tại vùng nước nông của biển Caribe, cách bờ biển Mỹ chưa đầy một giờ khai hỏa.

Kiến trúc của bóng tối

Đến giai đoạn năm 2020, chúng ta đã có thể thấy rõ được cơ chế vận hành của liên minh này. Khác với NATO hay các khối đồng minh phương Tây được ràng buộc bởi hiệp ước phòng thủ chung và sự tương đồng về giá trị cốt lõi, “liên minh bóng đêm” không hề có một bản hiến chương chính thức. Nó là một hệ sinh thái giao dịch cực kỳ thực dụng, được gắn kết bởi hai động lực duy nhất: sự sinh tồn trước lưỡi gươm tài chính và cấm vận của nước Mỹ và tham vọng xây lên một trật tự thế giới mới theo ý của họ.
Trong hệ sinh thái phi tập trung này, không có chỗ cho sự dư thừa hay lòng trắc ẩn; mỗi quốc gia đảm nhận một chức năng sinh tử để bơm máu cho cơ thể chung:
Trung Quốc (Bên bảo lãnh & Trạm phân phối thanh khoản): Bắc Kinh đóng vai trò là “ngân hàng trung ương” của toàn khối. Chức năng của họ không phải là trực tiếp can dự quân sự, mà là hấp thụ các cú sốc tài chính. Bằng cách đóng vai trò là người mua cuối cùng (buyer of last resort) cho mọi loại tài nguyên bị cấm vận và cung cấp cơ sở hạ tầng công nghệ lõi thay thế phương Tây, Trung Quốc tạo ra một vùng đệm an toàn, đảm bảo các thành viên khác không bao giờ cạn kiệt nguồn dưỡng khí ngoại tệ.
Nga (Cột thu lôi & Kẻ phá bĩnh động học): Nếu Bắc Kinh là thủ quỹ tĩnh lặng, Điện Kremlin là lực lượng tiên phong bạo lực. Nga đảm nhận vai trò phá vỡ các cấu trúc an ninh truyền thống, sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự trực diện để thách thức các lằn ranh đỏ. Chức năng hệ thống của Moscow là hoạt động như một thỏi nam châm khổng lồ, hút cạn sự chú ý, tài nguyên và kho vũ khí của phương Tây vào lục địa Á - Âu, từ đó nới lỏng áp lực cho các đồng minh ở những khu vực khác.
Iran (Kiến trúc sư vùng xám): Tehran là trung tâm R&D (Nghiên cứu & Phát triển) của nghệ thuật tác chiến phi đối xứng. Vai trò của họ là tối ưu hóa kỹ nghệ sinh tồn dưới lòng đất và xuất khẩu bạo lực với chi phí thấp. Thay vì đối đầu quân sự thông thường, Iran chuyên môn hóa việc xây dựng và duy trì các mạng lưới ủy nhiệm phi quốc gia. Họ biến toàn bộ khu vực Trung Đông thành một bãi mìn răn đe, liên tục làm chảy máu các đồng minh cốt lõi của Mỹ mà không cần phải chính thức tuyên chiến.
Venezuela & Cuba (Mỏ neo địa lý & Kho dự trữ chiến lược): Đây là hai mảnh ghép đảm bảo cuộc chiến không bao giờ bị giới hạn ở phía bên kia đại dương. Chức năng của Caracas và Havana là thiết lập một vùng cấm địa sát sườn Mỹ. Bằng cách kết hợp nguồn dự trữ năng lượng khổng lồ với vị trí địa lý hoàn hảo cho các hoạt động giám sát điện tử, họ tạo ra một áp lực nội nhĩ, buộc Lầu Năm Góc phải luôn phân tán nguồn lực để đối phó với những mối đe dọa tiềm tàng ngay tại Tây Bán Cầu.
Chính vì đi với nhau theo kiểu giao dịch tiền trao cháo múc chứ không phải vì lý tưởng chung nên sợi dây kết dính 5 cực này không phải là sự đồng điệu về tôn giáo hay tư tưởng chính trị, mà là sự đồng lõa. Nó là một mạng lưới chằng chịt của những con tàu rách nát tắt định vị giữa biển khơi, những đường ống hóa chất pha loãng, và những dòng mã rửa tiền tẩu tán qua các ngân hàng biên giới.
Bề ngoài, nó tồn tại như quái vật rắn Hydra trong thần thoại Hy Lạp: chặt một đầu này thì nhiều đầu khác sẽ mọc lên và phát triển mạnh mẽ hơn. Nhưng sâu trong bản chất hệ thống này rất mong manh vì nó vắng bóng hoàn toàn niềm tin tưởng lẫn nhau của các bên tham gia. Nga luôn sợ việc trở thành chư hầu kinh tế của Bắc Kinh; Trung Quốc sẵn sàng ép giá dầu của Iran và Venezuela xuống mức rẻ mạt; trong khi các quốc gia cấm vận luôn nghi ngờ nhau về việc ai sẽ bị bán đứng trước nếu Washington đưa ra một thỏa thuận béo bở. Hệ sinh thái này mạnh mẽ trong bóng tối, nhưng lại chứa đựng những đứt gãy cấu trúc chờ ngày phát nổ.
Hết phần 1.
Nguồn tham khảo:
1. Về sự thay đổi chính sách ngoại giao cứng rắn của Mỹ sau sự trở lại của Donald Trump vào năm 2025 cùng với Ngoại trưởng Marco Rubio. Nguồn: Ali Harb, "Marco Rubio: A traditionalist hawk in the age of Trump", Al Jazeera, 2025. Bài viết này phân tích quan điểm ngoại giao cứng rắn của Marco Rubio và cách ông đang định hình lại chiến lược đối ngoại của Mỹ dưới nhiệm kỳ thứ hai của Tổng thống Donald Trump.
2. Về sự kiện Nga thực hiện chiến dịch quân sự sáp nhập Crimea. Nguồn: John Mearsheimer, “Why the Ukraine Crisis Is the West’s Fault”, Foreign Affairs, 2014. Bài viết phân tích động lực địa chính trị đằng sau quyết định của Moscow nhằm bảo vệ căn cứ Hạm đội Biển Đen tại cảng Sevastopol.
3. Về các đòn trừng phạt tài chính của Washington và châu Âu lên Nga từ năm 2014. Nguồn: Daniel Fried & Brian O’Toole, The New Financial Statecraft, Atlantic Council, 2018. Tài liệu phân tích cách Mỹ vũ khí hóa đồng USD để cô lập các cá nhân và tập đoàn năng lượng Nga khỏi thị trường vốn.
4. Về chiến lược “Pháo đài Nga” (Fortress Russia) nhằm phòng vệ kinh tế. Nguồn: Richard Connolly, The Russian Economy: A Very Short Introduction, Oxford University Press, 2020. Nghiên cứu giải thích chi tiết quá trình phi đô-la hóa và tích trữ vàng của Ngân hàng Trung ương Nga để đối phó với lệnh cấm vận.
5. Về việc Nga phát triển mạng lưới nhắn tin tài chính SPFS và thẻ thanh toán quốc gia Mir. Nguồn: Ngân hàng Trung ương Liên bang Nga (CBR), Annual Report on the National Payment System, 2019. Báo cáo chính thức ghi nhận các bước thiết lập hệ thống thanh toán nội địa để dự phòng trường hợp bị ngắt khỏi hệ thống SWIFT, Visa và Mastercard.
6. Về thỏa thuận đường ống khí đốt Power of Siberia trị giá khoảng 400 tỷ USD. Nguồn: Erica Downs, “The China-Russia Energy Relationship”, Columbia SIPA Center on Global Energy Policy, 2020. Tài liệu phân tích sự dịch chuyển chiến lược của dòng chảy năng lượng Nga sang thị trường Trung Quốc nhằm tìm kiếm đầu ra ổn định.
7. Về Thỏa thuận Hạt nhân Iran (JCPOA) được ký kết năm 2015. Nguồn: International Crisis Group, Saving the Iran Nuclear Deal, 2018. Báo cáo tóm tắt các điều khoản cho phép Iran trở lại hệ thống tài chính toàn cầu trước khi bị Mỹ đơn phương hủy bỏ.
8. Về chiến lược “Áp lực tối đa” và trừng phạt thứ cấp của Mỹ lên Iran. Nguồn: Congressional Research Service (CRS), Iran Sanctions, 2021. Báo cáo của Quốc hội Mỹ trình bày cách chính quyền Trump nỗ lực cắt đứt nguồn thu từ dầu mỏ và cô lập Tehran hoàn toàn khỏi hệ thống USD.
9. Về đòn trừng phạt trực tiếp lên tập đoàn dầu khí PDVSA của Venezuela. Nguồn: Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), Venezuela Energy Profile, 2020. Dữ liệu thực tế cho thấy đòn đánh kinh tế của Washington đã làm tê liệt khả năng xuất khẩu dầu của Caracas và thâm hụt nguồn thu ngoại tệ.
10. Về các chuyến bay bí mật vận chuyển vàng thỏi đổi lấy hóa chất và kỹ sư lọc dầu. Nguồn: Reuters Investigative Report, Iran’s Secret Flights to Venezuela, 2020. Điều tra độc quyền vạch trần mạng lưới giao dịch ngoài luồng trị giá hàng trăm triệu USD nhằm cứu vãn ngành công nghiệp năng lượng giữa Tehran và Caracas.
11. Về quy mô và hoạt động của “Hạm đội bóng tối” (Dark Fleet) trên các vùng biển quốc tế. Nguồn: Lloyd’s List Intelligence, The Rise of the Dark Fleet, 2023. Phân tích dữ liệu hàng hải về hàng ngàn tàu chở dầu tắt định vị AIS và thực hiện chuyển dầu trên biển để xóa dấu vết nguồn gốc.
12. Về vai trò trung chuyển năng lượng của các nhà máy lọc dầu tư nhân Trung Quốc. Nguồn: S&P Global Commodity Insights, China’s Independent Refiners and Sanctioned Oil, 2022. Cung cấp dữ liệu ước tính về lượng dầu Iran được các nhà máy quy mô nhỏ (teapot refineries) tại tỉnh Sơn Đông hấp thụ với mức chiết khấu sâu.
13. Về cơ chế rửa tiền và thanh toán dầu lậu hoàn toàn bằng nhân dân tệ. Nguồn: Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), Sanctions Evasion and Financial Networks, 2023. Ghi nhận dòng chảy tài chính ngầm qua các công ty bình phong và ngân hàng vệ tinh tại UAE và Hong Kong.
14. Về sự can dự của bộ máy tình báo Cuba (G2) nhằm bảo vệ giới chóp bu tại Venezuela. Nguồn: Brian Latell, Cuba’s Secret Side: The G2 Intelligence Directorate, 2018. Chi tiết cách lực lượng cố vấn an ninh và phản gián Cuba giúp vô hiệu hóa các mối đe dọa từ bên trong quân đội Venezuela.
15. Về việc Trung Quốc tài trợ và nâng cấp cơ sở tình báo tín hiệu (SIGINT) ở tổ hợp Bejucal, Cuba. Nguồn: The Wall Street Journal, Beijing Plans a New Training Facility in Cuba, 2023. Báo cáo dựa trên tình báo Mỹ về các cỗ máy tác chiến điện tử nhắm vào Bộ Tư lệnh Phía Nam (SOUTHCOM).
16. Về hệ thống vũ khí chống bạo động và radar cảnh giới của Trung Quốc tại Venezuela. Nguồn: Stockholm International Peace Research Institute (SIPRI), Arms Transfers Database, 2021. Thống kê các đợt chuyển giao xe bọc thép VN-4 và radar JYL-1 giúp Venezuela thiết lập bong bóng Chống tiếp cận/Chống xâm nhập (A2/AD).
17. Về sự hỗ trợ khí tài chiến lược và nhà thầu quân sự tư nhân từ Nga. Nguồn: Center for Strategic and International Studies (CSIS), Russia’s Engagement in Latin America, 2020. Đánh giá nỗ lực răn đe bất đối xứng của Điện Kremlin khi triển khai tiêm kích Su-30MK2 và lực lượng vũ trang trực tiếp tại Caracas.
18. Về sự xuất hiện của biên đội tàu chiến và tàu ngầm hạt nhân Nga tại Havana, Cuba. Nguồn: United States Naval Institute (USNI) News, Russian Navy Flotilla Arrives in Havana, 2024. Phân tích thực địa về việc Moscow hiện thực hóa học thuyết “Răn đe đáp trả”, đặt vũ khí chiến lược sát vùng nước nông của Mỹ.