Cả cộng đồng mạng vừa rồi đã có vẻ ngạc nhiên khi thấy những hình ảnh một ông trông giống sư – và hơi xấu nên bị gọi là “khầy” với một chị gái xinh đẹp thân mật với nhau.
Có già mà ngạc nhiên nhỉ?
Câu chuyện lại xoay quanh việc lừa đảo tâm linh, “khầy” nói mình chứng quả đến tầng trời thứ 9, nhìn thấy tiền kiếp của chị gái là một cô công chúa, và họ là người yêu của nhau từ kiếp trước. Chị gái tin và dâng hết của cải lẫn thân thể cho “khầy”. Lừa đảo tâm linh, mua thần bán thánh là một câu chuyện không mới ở Việt Nam và cả trên thế giới. Ông Thích Nhuận Đạt bị chị Tym tố cáo có lẽ vì ông xấu quá, nên ổng bị hết phép màu nhanh quá và không thể thao túng được đệ tử nữa. Chứ những vụ khác như chùa Ba Vàng hay hay sư thầy mà đeo đồng hồ Rolex Daytona mạ vàng trị giá gần 1 tỷ đồng, thì con nhang đệ tử vẫn rất chung thành và bảo vệ thầy lắm, cho dù họ cúng dường cho nhà chùa không biết bao nhiêu là cơ ngơi, tài sản. Rồi chuyện bao nhiêu kẻ nô nức xách nồi cơm điện chạy theo Thích Minh Tuệ nhìn như đám hề trên đường nữa. Trên thế giới, nhiều vụ án liên quan đến tâm linh còn gây những hậu quả nghiêm trọng hơn. Netflix có chiếu 1 bộ phim có tên: 1. How to Become a Cult Leader ( làm sao để trở thành lãnh tụ tinh thần) Kể về những vụ án rúng động thế giới: Peoples Temple, do Jim Jones thành lập tại United States năm 1955, ban đầu là một phong trào tôn giáo kêu gọi bình đẳng chủng tộc và công bằng xã hội, nhưng dần biến thành một giáo phái kiểm soát tuyệt đối tín đồ. Cuối thập niên 1970, Jones đưa hàng trăm người sang Guyana lập khu định cư Jonestown, và năm 1978 xảy ra thảm kịch Jonestown Massacre, khiến hơn 900 người chết sau khi uống chất độc theo lệnh của ông. Tại Nhật, giáo phái Aum Shinrikyo do Shoko Asahara lập năm 1984 kết hợp Phật giáo, thần bí học và thuyết tận thế; Asahara tuyên bố mình là đấng cứu thế và kiểm soát chặt chẽ tín đồ. Năm 1995, giáo phái này thực hiện vụ khủng bố Tokyo Subway Sarin Attack, làm nhiều người chết và hàng nghìn người bị thương. Trong khi đó, Unification Church do Sun Myung Moon thành lập tại South Korea năm 1954 tuyên bố Moon được Chúa chọn để hoàn thành sứ mệnh của Jesus. Giáo hội này nổi tiếng với các đám cưới tập thể hàng nghìn người, nhưng cũng gây tranh cãi vì gây áp lực tài chính và kiểm soát tín đồ, và bê bối tình dục, có những lúc rủ cả chục cô gái cùng tham gia chuyện chăn gối. Moon từng bị kết án tù tại Mỹ năm 1982 vì trốn thuế. Những trường hợp này thường được nghiên cứu trong Social Psychology như ví dụ điển hình về sự thao túng tôn giáo và quyền lực lãnh tụ
Quyền lực của những lãnh tụ tôn giáo đều xoay quanh 1 hiện tượng tâm lý chung, đó là “trải nghiệm thiêng” (numinous) của của con người
Trải nghiệm thiêng là 1 thuật ngữ trong phân tâm học, nghiên cứu hiện tượng con người có giác quan thứ 6, thần giao cách cảm, có cảm giác kết nối với chúa trời, thần phật... Như các ông thầy bói, thầy cúng, nhà ngoại cảm ở Việt Nam vẫn làm. Trừ trường hợp các vị ấy bốc phét, thì tâm lý học phát hiện ra rằng, có cảm giác thiêng xảy ra trong não , chứ họ không nói dối.
Trong lịch sử nhân loại, con người ở nhiều nền văn hóa khác nhau đều kể lại những khoảnh khắc mà họ gọi là “trải nghiệm thiêng” hay còn gọi là "Cảm giác thiêng". Đó là những giây phút họ cảm thấy mình kết nối với các đấng thần linh, một điều gì đó siêu thực, lớn hơn bản thân mình như vũ trụ, thiên nhiên, thần linh, thường các vị thần mà người đó đang tin, Chúa, Phật, Thánh .... hoặc có thể cảm thấy được một ý nghĩa sâu xa của sự tồn tại. Các vị tự xưng là giáo chủ, hay đứng đầu 1 giáo phái, 1 nhóm tâm linh nào, thường gây dựng 1 câu chuyện về việc mình có khả năng nói chuyện với các vị thần, có thể giao tiếp với các đấng thần linh, các kiểu thầy bói, thầy tướng, người đọc tarot, thần số học, thầy tử vi, cũng thường nói về trải nghiệm này.
Những trải nghiệm này có thể xuất hiện trong các nghi lễ tôn giáo, trong thiền định, trong nghệ thuật, hoặc thậm chí trong những thời điểm khủng hoảng sâu sắc của cuộc đời. Người trải nghiệm thường mô tả cảm giác khá giống nhau, đó là cảm thấy bình an, nhẹ nhõm, hưng phấn, kính sợ, hoặc thấy một hình ảnh thiêng, một âm thanh thiêng và họ có một niềm tin mạnh mẽ rằng họ vừa chạm vào một chân lý đặc biệt, não họ được khai mở và từ đó họ có cảm giác mình có khả năng đặc biệt, mình là ‘người được chọn”
Từ lâu, câu hỏi đặt ra là: những trải nghiệm này phản ánh một thực tại siêu nhiên, hay chỉ là sản phẩm của bộ não con người?
Trong lĩnh vực Psychology of Religion ( tâm lý học về tôn giáo) trải nghiệm thiêng được xem là một dạng trạng thái ý thức đặc biệt. Nhà tâm lý học và triết gia nổi tiếng William James là một trong những người đầu tiên nghiên cứu hiện tượng này một cách hệ thống. Ông nhận thấy rằng các trải nghiệm tôn giáo sâu sắc thường có những đặc điểm chung: chúng khó diễn tả bằng lời ( vô ngôn, om....) người trải nghiệm cảm thấy chúng mang tính chân lý tuyệt đối, chúng thường diễn ra trong thời gian ngắn nhưng để lại ảnh hưởng lâu dài, và người trải nghiệm thường có cảm giác như mình đang bị cuốn vào hoặc được dẫn dắt bởi một sức mạnh lớn hơn bản thân. Điều đáng chú ý là những trải nghiệm như vậy không hề hiếm; chúng xuất hiện trong nhiều truyền thống văn hóa và tôn giáo khác nhau, cho thấy chúng có thể là một phần tự nhiên của tâm trí con người.
Khi khoa học thần kinh hiện đại phát triển, các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm kiếm cơ sở sinh học của những trạng thái này. Trong Neuroscience, nhiều nghiên cứu cho thấy trải nghiệm thiêng liên quan đến hoạt động của một số vùng não quan trọng. Một trong những vùng được nhắc đến nhiều là thùy thái dương, nơi xử lý cảm xúc sâu và ý nghĩa biểu tượng. Ở một số người mắc Temporal Lobe Epilepsy (động kinh thùy thái dương) các cơn kích thích thần kinh ở khu vực này đôi khi tạo ra những cảm giác mạnh mẽ về sự hiện diện của một thực thể siêu nhiên hoặc một ý nghĩa vũ trụ. Từ đó, các nhà khoa học cho rằng: bộ não con người có khả năng tạo ra những cảm giác thiêng liêng khi các mạng lưới cảm xúc và ý nghĩa được kích hoạt mạnh.
Một yếu tố quan trọng khác là các chất dẫn truyền thần kinh. Chẳng hạn, Dopamine đóng vai trò lớn trong hệ thống phần thưởng của não. Khi dopamine tăng cao, con người thường cảm thấy hứng khởi, tràn đầy động lực và tin rằng những ý tưởng vừa xuất hiện trong đầu mình có ý nghĩa đặc biệt. Đồng thời, khi hoạt động của Default Mode Network (vùng não khi con người suy nghĩ về bản thân) giảm xuống, thì ranh giới giữa “cái tôi” và thế giới bên ngoài có thể trở nên mờ nhạt. Đây là lý do tại sao trong thiền sâu hoặc trong những trạng thái cảm xúc mãnh liệt, con người đôi khi cảm thấy mình hòa tan vào vũ trụ.
Một hiện tượng thú vị là những người có trình độ trí tuệ cao hoặc thường xuyên suy nghĩ về triết học và tâm linh, cũng có thể dễ trải nghiệm cảm giác thiêng. Điều này không nhất thiết mâu thuẫn với khoa học. Bộ não của những người này thường có xu hướng tìm kiếm ý nghĩa và mô hình trong thế giới xung quanh. Trong tâm lý học, khuynh hướng này được gọi là Patternicity. Khi kết hợp với cảm xúc mạnh hoặc những trạng thái ý thức đặc biệt, xu hướng tìm kiếm ý nghĩa này có thể dẫn đến cảm giác rằng mình đang khám phá ra một sự thật sâu xa về vũ trụ. Trong một số trường hợp, yếu tố Narcissism ( ái kỷ) ở mức độ tinh vi cũng có thể đóng vai trò. Khi một trải nghiệm mạnh mẽ xảy ra, con người đôi khi diễn giải nó theo hướng rằng bản thân mình có vai trò đặc biệt hoặc được “chọn” cho một sứ mệnh nào đó. Các nhà văn là những người có rất nhiều trải nghiệm thiêng. Hoàng Cầm – nhà thơ Việt Nam kể lại rằng, trong buổi đêm, có 1 giọng nữ xuất hiện đọc thơ cho ông chép. Mảng thơ Thiền của trường phái Trúc lâm Yên Tử ghi lại khá nhiều trạng thái Vô ngôn giống như vậy. Trên thế giới, một số nhà khoa học như Pascal ( nhà toán học) Issaac Newton cũng từng có trải nghiệm thiêng, Newton còn cho rằng, ông tiếp cận được với ý chí sáng tạo, thậm chí cả Einstein thường nói về một dạng cảm xúc mà ông gọi là “cosmic religious feeling” (cảm xúc tôn giáo vũ trụ).
Trong 1 diễn biến khác, thì tôi có ngồi hóng phốt vụ Khầy và cô Tym, thì có nghe được 1 đoạn cô Tym chửi ông Khầy rất ghê, trong đó cô có nhắc đến đoạn ông Khầy đọc Carl Jung gì đó rồi thao túng cô này. Như vậy, ông Thích Nhuận Đạt này cũng đã có đọc Carl Jung, có tìm hiểu về ngành tâm lý, và cộng với các kiến thức Phật giáo mà ông đọc được, thì cũng có thể ông có trải nghiệm này thật. Có điều, đem nó ra để trục lợi, thì nó là sẽ là lạm dụng, là tội ác và lừa đảo rồi.
Ở phía ngược lại của xã hội, những người đang trải qua đau khổ sâu sắc hoặc khủng hoảng cũng thường báo cáo những trải nghiệm thiêng. Điều này có thể liên quan đến cơ chế sinh tồn của não. Khi con người rơi vào tình trạng căng thẳng cực độ, hệ thần kinh có xu hướng tìm kiếm cách tạo ra hy vọng và ý nghĩa để giúp cá nhân tiếp tục tồn tại. Những chất như Serotonin và Endorphin có thể tạo ra cảm giác bình an, được bảo vệ và được nâng đỡ về mặt tinh thần. Trong Existential Psychology, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng khi con người chạm đến giới hạn của đau khổ, họ đôi khi trải nghiệm một “bùng nổ ý nghĩa”, tức là khoảnh khắc mà toàn bộ cuộc sống bỗng nhiên có vẻ mang một ý nghĩa sâu xa. Một trong những nhân vật tiêu biểu nhất cho hiện tượng này là: Adolt Hitler. Theo các nhà sử học, sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ông rơi vào trạng thái khủng hoảng cá nhân và khủng hoảng xã hội sâu sắc. Một số nhà sử học ghi lại rằng trong thời gian điều trị tại bệnh viện năm 1918, ông bắt đầu tin rằng mình có một sứ mệnh lịch sử đối với nước Đức. Niềm tin này sau đó trở thành trung tâm của tư tưởng mà ông trình bày trong cuốn Mein Kampf. Sau những trải nghiệm thiêng ấy, Hitler tin rằng ‘ mình là người được chọn” và dân tộc German là thượng đẳng thuần khiết.
Chính vì những cơ chế tâm lý và thần kinh này mà các phong trào tôn giáo hoặc các lãnh tụ có sức hút mạnh có thể tạo ra những trạng thái gần như thiêng liêng trong các nghi lễ tập thể. Khi nhiều người cùng hát, cầu nguyện hoặc hô khẩu hiệu trong một không gian cảm xúc cao, cơ thể họ có thể tiết ra các chất như oxytocin và dopamine, tạo ra cảm giác gắn kết và hưng phấn. Trong trạng thái đó, tư duy phản biện thường giảm xuống, trong khi cảm xúc tập thể tăng lên. Nếu lãnh tụ hoặc giáo chủ gắn trải nghiệm thiêng đó với bản thân mình, tín đồ có thể bắt đầu tin rằng chính người đó là nguồn gốc của cảm giác thiêng mà họ vừa trải qua.
Từ góc nhìn khoa học, trải nghiệm thiêng không phải là điều hoàn toàn huyền bí. Nó có thể được giải thích bằng hoạt động của các mạng lưới thần kinh, các chất dẫn truyền và các cơ chế tâm lý liên quan đến ý nghĩa và cảm xúc. Tuy nhiên, điều này cũng không có nghĩa là khoa học đã hoàn toàn giải quyết câu hỏi về bản chất cuối cùng của những trải nghiệm đó. Khoa học có thể giải thích cách bộ não tạo ra cảm giác thiêng liêng, nhưng nó không thể khẳng định chắc chắn rằng những trải nghiệm đó hoàn toàn chỉ là ảo giác hay là sự tiếp xúc với một thực tại sâu hơn. Khoa học cũng không dám khẳng định và chắc chắn.
Nhưng tôi thì chắc chắn rằng, nên có thêm 1 khái niệm mới nữa cho ngành tâm lý học đó là “ “FAKE numinous” để chỉ hiện tượng giả trải nghiệm thiêng trục lợi kiếm tiền, kiếm danh. Và trong tương lai, pháp luật nên đưa nó vào thành tội danh, bởi lợi dụng niềm tin của con người để mua thần bán thánh đúng là một tội ác, nếu chúa và các đấng siêu nhiên có thật, mà con người không còn tin vào ngài nữa thì chuyện xấu sớm muộn sẽ xảy ra Bởi niềm tin vào các đấng siêu nhiên, là cánh chốt chặn cuối cùng không cho con người làm điều ác.
Trải nghiệm thiêng vừa là một hiện tượng sinh học của bộ não, vừa là một phần quan trọng của đời sống tinh thần và văn hóa của con người. Chúng có thể truyền cảm hứng cho nghệ thuật, đạo đức và triết học, nhưng cũng có thể bị lợi dụng để thao túng đám đông, làm nhiễu loạn xã hội. Khi không thể phân biệt được Chúa thật và Chúa giả, khi mất lòng tin vào niềm tin, cái ác và cái xấu trong xã hội dễ bị đẩy đến âm vô cùng. Thời đại mất chúa ( lost generation) thời đại mạt pháp là chỉ những hiện tượng như thế này. Vậy nên, truy cầu đến cùng khoa học thân thần kinh con người, cũng chỉ là để chúng ta hiểu rằng; Trải nghiệm thiêng của con người có thể là điều ảo tưởng/ nhưng những điều thiêng liêng đối với con người dó chính bản thân mình xây dựng nên, nó có thể nhỏ bé, tầm thường, ngay trước mắt, nhưng không phù phiếm, xa xôi và đó là điều luôn có thật.