Tiểu sử de Gaulle [P2]: Vực dậy nước Pháp
Một tiểu sử ( phần 2 ) về de Gaulle, tổng thống đầu tiên của Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp

Lưu vong
Charles de Gaulle đến Luân Đôn vào ngày 17 tháng 6 năm 1940, bắt đầu một hành trình đơn độc khi gia đình ông gồm bà Yvonne cùng ba con nhỏ chỉ có thể theo sau vài ngày sau đó. Trong khi đó, mẹ và anh trai ông vẫn kẹt lại quê nhà; bà Jeanne, mẹ ông, đã qua đời vào tháng 7 năm đó tại Brittany trong nỗi buồn vì không thể gặp lại con trai lần cuối. Lúc này, điều cấp bách nhất đối với de Gaulle là một tuyên ngôn chính trị để cứu vãn danh dự nước Pháp, nhưng thực tế việc đọc lời kêu gọi không hề trôi chảy như ông mô tả trong hồi ký. Ông đã phải đối mặt với sự do dự cực lớn từ Nội các Anh, những người lo sợ sẽ chọc giận chính phủ Pétain và đánh mất hạm đội Pháp. Thậm chí, Nội các Anh đã bỏ phiếu cấm de Gaulle phát biểu vào trưa ngày 18 tháng 6, và chỉ nhờ sự vận động ráo riết của Tướng Spears đối với Churchill, de Gaulle mới được phép lên sóng BBC vào phút chót.
Dù lúc đó rất ít người Pháp nghe được trực tiếp, nhưng bài phát biểu ngày 18 tháng 6 đã đặt nền móng cho tính chính danh của phong trào kháng chiến, kêu gọi quân đội Pháp tại Anh không đầu hàng mà hãy tiếp tục chiến đấu. Trong khi đó, tại chính quốc, Quốc hội Pháp đã bỏ phiếu trao toàn quyền cho Pétain, và chế độ Vichy đáp trả bằng cách tuyên án tử hình vắng mặt de Gaulle. Sự cô độc của ông càng tăng thêm khi hầu hết các chính trị gia tên tuổi và thống đốc thuộc địa đều từ chối tham gia cùng một vị tướng cấp thấp. Tuy nhiên, Winston Churchill đã đưa ra quyết định lịch sử là đặt cược vào de Gaulle, công nhận ông là lãnh đạo duy nhất của Pháp quốc tự do.

Sau khi hiệp định đình chiến giữa Pháp và Đức được ký kết vào ngày 22 tháng 6, một cuộc khẩu chiến nảy lửa đã diễn ra trên sóng phát thanh: Pétain kêu gọi "phục hồi đạo đức" dưới sự chiếm đóng, còn de Gaulle lên án đanh thép sự nhục nhã của việc đầu hàng. Việc một chuẩn tướng trẻ tuổi trực tiếp chỉ trích vị Thống chế đáng kính nhất nước Pháp đã tạo ra một cú sốc tâm lý cực lớn trong hàng ngũ quân đội. Dù ban đầu muốn thành lập một ủy ban dân tộc nhưng không thành do thiếu sự ủng hộ của các chính khách lớn, de Gaulle buộc phải xây dựng "Lực lượng Pháp quốc Tự Do". Đến tháng 8 năm 1940, một thỏa thuận tài chính và quân sự quan trọng đã được ký kết với Anh, khẳng định rằng dù được London tài trợ, de Gaulle vẫn nắm quyền chỉ huy tuyệt đối và tuyên bố một lời thề đầy đau đớn nhưng kiên định rằng quân Pháp Tự Do sẽ không bao giờ cầm súng bắn lại đồng bào mình.
Tại London, de Gaulle phải vật lộn để thích nghi khi vốn tiếng Anh hạn chế khiến ông khó tiếp cận trực tiếp với công chúng bản địa, nhưng bù lại, ông tìm thấy sự đồng điệu với nhà văn Denis Saurat và giới trí thức Anh—những người giúp ông mài sắc tư duy chính trị thay vì chỉ là một quân nhân thuần túy. Ông thể hiện sự khôn ngoan khi giao những công việc không trọng yếu cho những cộng sự quá tự phụ nhằm ngăn họ can thiệp vào các quyết định thực quyền, đồng thời dồn toàn lực cho mặt trận Châu Phi. Dù kế hoạch tại Bắc Phi đổ vỡ do sự trung thành của Thống đốc Noguès với Vichy, các đặc phái viên của de Gaulle đã lập kỳ tích tại Châu Phi Xích đạo Pháp khi thu phục được các vùng từ Chad đến Congo chỉ trong ba ngày mà không tốn một viên đạn. Tuy nhiên, thảm kịch tại Dakar khi quân Pháp nổ súng vào nhau trong sương mù dày đặc đã đẩy de Gaulle vào hố sâu tuyệt vọng đến mức nghĩ đến chuyện tự sát. Vượt qua cú sốc đó, ông tiến về Trung Phi và biến Brazzaville trở thành thủ đô mới của nước Pháp Tự Do, cai quản một vùng lãnh thổ rộng lớn với 6 triệu dân. Bước ngoặt lớn về tính chính danh xuất hiện khi Tướng Georges Catroux—một người có quân hàm cao hơn và rất được lòng người Anh—đã tự nguyện phục vụ dưới quyền de Gaulle vì nhận ra vị tướng trẻ này chính là hiện thân cho linh hồn của quốc gia.
Ngày 27 tháng 10 năm 1940, de Gaulle thực hiện nước cờ chính trị táo bạo bằng việc ban bố Tuyên ngôn Brazzaville, khẳng định chính quyền Vichy bất hợp pháp vì đã đầu hàng kẻ thù và thành lập Hội đồng Phòng thủ Đế chế. Đây cũng là lúc ông bắt đầu tách biệt con người thật của mình khỏi "nhân vật de Gaulle" lịch sử, thường xuyên nói về bản thân bằng ngôi thứ ba để tạo dựng một huyền thoại sống trong lòng công chúng. Trong khi quân đội Đức và chính quyền Vichy ra sức vẽ những bức tranh cổ động mô tả ông là con rối của Anh Quốc bị che khuất sau chiếc micro, thì người dân Pháp lại bắt đầu tôn thờ ông theo những cách âm thầm và đầy hóm hỉnh. Họ dùng ký hiệu "deux gaules" (hai chiếc cần câu) để chơi chữ với tên ông, biến lệnh cấm nghe đài BBC của Vichy thành một nghi thức "thiêng liêng" gắn kết sự phản kháng.
Trở về London vào cuối năm 1940, de Gaulle lập tức phải đối mặt với một "chiến trường" khác bên trong nội bộ Pháp Tự Do, nơi các phe phái tình báo và hải quân liên tục kiện cáo lẫn nhau. Ông đã dập tắt sự hỗn loạn này bằng những mệnh lệnh kỷ luật thép, buộc những người như Đô đốc Muselier phải phục tùng hoàn toàn vào cấu trúc quân sự tập quyền mà ông thiết lập, khẳng định rằng trong phong trào này chỉ có một tiếng nói duy nhất có thẩm quyền, và đấy là ông.

de Gaulle và Muselier
Bên phía người Anh cũng không mấy để cho de Gaulle yên ổn. Một mặt, họ bắt đầu kiểm soát hoàn toàn các hành động phá hoại tại Pháp và bắt giữ Muselier vì tình nghi gián điệp. Mặt khác, người Anh vẫn hy vọng các tướng lĩnh như Weygand ở Bắc Phi sẽ đổi phe. De Gaulle cực kỳ cảnh giác với điều này vì nếu tay này tham chiến, vị thế của de Gaulle sẽ bị lung lay - ông tuyên bố “Nước Pháp… chính là tôi” và phản đối lập trường của địch, và sau đấy kêu gọi chính quyền Anh thả và xin lỗi Muselier. Sau khi gia đình ông rời đến miền bắc Anh, de Gaulle vẫn tiếp tục làm việc ở Luân Đôn và học tiếng Anh - dù vậy ông vẫn giữ sự kiêu ngạo khi bàn về văn hóa Pháp. Nếu có một tin vui, thì có lẽ là đến đầu tháng 3 năm 1941, đại tá Leclerc của quân Pháp tự do đã chiếm được ốc đảo Kufra từ tay quân Ý. Tại đây, Leclerc đã thề sẽ không hạ vũ khí cho đến khi giải phóng được Strasbourg. Chiến thắng này có ý nghĩa biểu tượng cực lớn, cho thế giới thấy người Pháp thực sự đang chiến đấu và họ đang chiến đấu dưới quyền của de Gaulle.
Trong thời kỳ nắm quyền, de Gaulle sẵn sàng thu nhận mọi thành phần, từ những người bảo hoàng cực hữu đến những người Do Thái và phe cánh tả. Mặc dù xuất thân từ tầng lớp có định kiến, de Gaulle đã thể hiện một sự miễn nhiễm đáng ngạc nhiên với chủ nghĩa bài Do Thái đang tràn lan lúc bấy giờ. Trong nồi lẩu chính trị đầy xung đột diễn ra trong lòng Luân Đôn, de Gaulle vừa phải quản lý nhóm cánh hữu căm thù chế độ cộng hòa vừa trấn an phe tả lo ngại bản thân sẽ trở thành nhà độc tài. Sự chuyển dịch khẩu hiệu của de Gaulle - từ Tự Do, Bình Đẳng, Bác Ái sang Danh Dự và Tổ Quốc chỉ khiến họ thêm phần lo lắng.
Tháng 6 năm 1941 đã chấm dứt những nỗ lo lắng đó. Đức xâm lược Liên Xô, những người Cộng sản Pháp bắt đầu các hoạt động kháng chiến vũ trang mạnh mẽ. De Gaulle hiểu rằng nếu ông không nhanh chóng tuyên bố ủng hộ các giá trị dân chủ, tầng lớp công nhân Pháp sẽ ngả hoàn toàn về phía Cộng sản. Việc cả Anh lẫn Mỹ đều nghi ngờ về xu hướng phát xít của de Gaulle càng khiến ông phải sử dụng các từ khóa như dân chủ - cộng hòa trong các bài diễn văn tại Sảnh Albert và Oxford cuối năm đấy. Một điều quan trọng hơn cả chính là việc de Gaulle cộng tác được với Jean Moulin - một quan chức cao cấp theo hướng khuynh tả. Nhìn thấy ở de Gaulle biểu tượng duy nhất có thể đoàn kết nước Pháp, Moulin thuyết phục de Gaulle các nhóm kháng chiến trong lòng nước Pháp và bắt đầu thúc đẩy de Gaulle tập trung vào mặt trận nước Pháp.
Tháng 9 năm 1941, Liên Xô công nhận Pháp Tự Do nhờ các nỗ lực ngoại giao của de Gaulle. Cùng thời gian đó, de Gaulle ép gửi quân sang mặt trận phía Đông để ép Anh phải trang bị và sử dụng quân đội Pháp tại Libya. Về phía bên Hoa Kỳ, bất chấp sự công nhận sức mạnh công nghiệp của de Gaulle dành cho họ, tổng thống Hoa Kỳ lúc đó là Roosevelt lại hạ thấp vai trò của de Gaulle và ưu tiên duy trình quan hệ với chính quyền Vichy. Để phản pháo lại, de Gaulle, bất chấp sự phản đối từ Hoa Kỳ lệnh đô đốc Muselier chiếm hai hòn đảo nhỏ Saint-Pierre-et-Miquelon từ tay Vichy. Đây là một cú ném đá xuống áo để phá vỡ chính sách trung lập hóa đế chế Pháp của Hoa Kỳ. Dù khiến nội các Roosevelt giận dữ, hành động này như một đòn đánh đưa tên tuổi de Gaulle lên toàn cầu và khẳng định vị thế chủ quyền của Pháp.
Tuy nhiên, sau một biến cố, Muselier từ chức với mục đích thách thức quyền lực của de Gaulle. Sau các cuộc tranh cãi ngắn, Anh phải nhượng bộ vì nhận thấy đa số binh sĩ Pháp vẫn theo De Gaulle. Mặc dù lạnh lùng, thô lỗ và không bao giờ biết xin lỗi hay khen ngợi, de Gaulle vẫn tạo ra một sức hút kỳ lạ đối với những người trẻ tuổi trong phong trào Pháp Tự do. Những người lính Pháp Tự do cũng cảm thấy bị écorché vif - lột da sống giống như ông; họ chia sẻ nỗi nhục nhã mất nước và sự cô lập. Vai trò tựa như một tôn giáo này đã là chìa khóa để de Gaulle sáng lập ra chủ nghĩa Gaulle dựa trên tên ông - và là nền tảng vững chắc cho hệ thống chính trị của vị lãnh tụ.
Muselier bị loại bỏ và từ đấy nội bộ Pháp Tự Do được củng cố dưới quyền kiểm soát tuyệt đối của de Gaulle, hay như một số người châm biếm, một chính quyền quân phiệt giả dạng dưới cái lốt dân chủ. Áp lực bị coi là phát xít và độc tài một lần nữa đe dọa đến vị thế de Gaulle - nhưng ông vẫn tiếp tục nhắc đến các thuật ngữ dân chủ cộng hòa để giành được lợi thế. Bên Mỹ thì còn đi xa hơn khi định kêu gọi tướng Girard - một vị tướng Pháp trốn khỏi nhà tù Đức để dễ kiểm soát de Gaulle, nhưng may mắn thay, Giraud đã chấp nhận từ bỏ để de Gaulle tiếp tục nắm quyền. Cùng năm 1942 đó, Jean Mollin đưa de Gaulle một hệ thống về các nhóm kháng chiến trong nước.
Giải phóng

Ngày 6 tháng 6 năm 1942, quân đội Pháp Tự Do dưới sự chỉ đạo của tướng Koenig, nằm trong khuôn khổ của quân đội Đế quốc Anh cầm chân được lực lượng áp đảo của Tướng Rommel tại sa mạc Libya trong vòng một tuần. Lần đầu tiên quân Pháp Tự Do chiến đấu trực tiếp với quân Đức trên chiến trường. Chiến tích này gây tiếng vang khắp thế giới, giúp De Gaulle có vị thế cao hơn khi đàm phán với Churchill và làm nức lòng công chúng Anh. Tháng 7 cùng năm, Anh chính thức gọi phong trào de Gaulle là Nước Pháp Chiến Đấu, thừa nhận lực lượng hải ngoại và kháng chiến bên trong lòng nước Pháp. Với sự hỗ trợ từ Jean Moulin, chính quyền de Gaulle đã kéo léo liên kết các nhóm kháng chiến rời rạc ở nam Pháp, thành lập nên quân đội bí mật và thúc đẩy họ ủng hộ de Gaulle. Và bất chấp nghi ngại về một de Gaulle lưu vong, nhưng danh tiếng của ông đã trở thành lá cờ đầu để dân chúng bám vào và chiến đấu.
Với giới chính trị gia cũ, họ cũng bắt đầu tuyên bố ngả bài cho de Gaulle. Người bảo trợ cũ của ông là Reynaud gửi thông điệp ủng hộ trong cảnh tù giam, Leon Bulm, lãnh đạo Đảng Xã Hội cũng tuyên bố ủng hộ cho de Gaulle từ tháng 5 năm 1942. Việc các chính trị gia cánh tả và trung dung ủng hộ một vị tướng quân đội cho thấy "huyền thoại De Gaulle" đã vượt lên trên các ranh giới đảng phái cũ, và là thời cơ thích hợp để de Gaulle cải tổ bộ máy cũ. Ông vừa cho các nhà trí thức như Jacques Soustelle - một nhà nhân học dang tiếng lẫn các nhân vật Đảng Xã Hội vào làm việc. Tờ La Marseillaise ra đời tại Luân Đôn để phục vụ tuyên truyền, tại Anh, de Gaulle gây ấn tượng mạnh với các nghị sĩ Anh bằng bài phát biểu bằng tiếng Anh và tư duy quân sự sắc sảo, cũng như được các nhân vật như Hoa Kỳ như tướng Dwight Eisenhower công nhận.
Dù vậy, ông vẫn cực kỳ cảnh giác việc Anh tự thiết lập các mạng lưới kháng chiến riêng tại Pháp mà không thông báo cho ông.Trong khi De Gaulle đang tận hưởng sự công nhận, phe Đồng minh thì đang bí mật lên kế hoạch tấn công Bắc Phi thuộc Pháp mà hoàn toàn gạt De Gaulle ra ngoài. Bộ sậu đồng minh cho rằng Bắc Phi vẫn theo phái Vichy và họ cần một nhân vật "mềm mỏng" hơn De Gaulle để tiếp quản khu vực này. Tháng 11 năm 1942, quân Đồng minh đổ bộ vào Bắc Phi, hoàn toàn không để cho de Gaulle biết. Bên Roosevelt thậm chí còn đi xa hơn khi chọn tướng Giraud làm gương mặt đại diện để trấn áp quân đội Vichy.

Roosevelt và tướng Giraud
Ban đầu, de Gaulle còn giận dữ lôi đình nhưng sau đó nhanh chóng bình tĩnh lại và chủ động kêu gọi quân Pháp tại Bắc Phi không chống lại Đồng minh để giữ vị thế chính nghĩa. Hoa Kỳ thì tiếp tục gây chấn động khi bắt tay với Đô đốc Darlan - một nhân vật khét tiếng cộng tác với Đức Quốc Xã đang có mặt tại Algiers – để đổi lấy lệnh ngừng bắn. Với de Gaulle, đây là sự phản bội về đạo đức. Sự phản kháng dữ dội từ dư luận Anh - Hoa Kỳ buộc Roosevelt gọi đây là một giải pháp tạm thời, và cái chết của Darlan vì bị ám sát vào đêm giáng sinh năm 1942 đã khiến mọi thứ tạm lắng lại. Về vấn đề Giraud, bên Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đề xướng vị tướng nổi tiếng.
Tháng 1 năm 1943, hội nghị Anfa diễn ra với đề xuất để Giraud và de Gaulle sáp nhập bộ máy với nhau. Trước ống kính của cả ngàn người, de Gaulle và Giraud bắt tay với nhau trước mặt Roosevelt - nhưng trong thâm tâm, vị tổng thống Mỹ lại coi khinh de Gaulle nhiều hơn, ví ông như một cô dâu đỏng đảnh và chế nhạo ngầm de Gaulle. Riêng de Gaulle thì từ chối mọi thỏa thuận khiến ông phải xếp sau Giraud. Thủ tướng Anh Churchill cực kỳ giận dữ và đe dọa sẽ "bỏ rơi" De Gaulle, nhưng vị tướng vẫn không hề lay chuyển. Sử dụng sử ủng hộ từ Đảng Cộng Sản Pháp và ảnh hưởng quần chúng địa phương ở Bắc Phi, de Gaulle dần có được sự ủng hộ từ quần chúng nhân dân. Điều càng may mắn hơn nữa là bản lĩnh thiếu kinh nghiệm chính trị của Giraud - ông ta tiếp tục duy trì các đạo luật bài Do Thái của Vichy và giam giữ những người kháng chiến cũ. Một người từng nhận định rằng, Giraud đến từ nước Pháp 30 năm trước, và không có tầm nhìn cho tương lai của nước Pháp.
Riêng de Gaulle kiên trì yêu cầu việc thiết lập một chính quyền phải dựa trên luật pháp của nền Cộng hòa - một sự kiêu ngạo hẳn khiến các đồng minh phải đau đầu. Churchill từng nói về de Gaulle như thế này:
"Đất nước ông ta đã ngừng chiến, bản thân ông ta là một kẻ tị nạn... Vậy mà hãy nhìn ông ấy xem, hành xử như thể mình là Stalin với 200 sư đoàn bộ binh phía sau."
Sự kiêu hãnh của de Gaulle thường bị chỉ trích nhưng đó lại là vũ khí duy nhất ngăn cản ý định biến Pháp thành một vùng bảo hộ của Hoa Kỳ. Tháng 8 năm 1943, dù Anh, Mỹ và Liên Xô chính thức công nhận Ủy ban Giải phóng Dân tộc Pháp, sự công nhận này vẫn mang đầy tính toan tính khi Mỹ chỉ xem đây là cơ quan quản lý lãnh thổ tạm thời. Việc de Gaulle bị gạt ra khỏi các hội nghị thượng đỉnh như Tehran là một đòn giáng mạnh vào lòng tự trọng quốc gia, nhưng thay vì nhượng bộ, ông đã biến Ủy ban tại Algiers thành một thực thể nhà nước không thể thay thế. Dù phải làm việc thiếu thốn trong một trường nữ sinh, de Gaulle vẫn duy trì nghi lễ quốc gia nghiêm ngặt để buộc Đồng minh thừa nhận ông là Nguyên thủ.

Đằng sau vẻ cứng nhắc, cuộc sống của ông tại Algiers lại mang sắc thái giản dị khi ông dành thời gian chăm sóc cô con gái Anne yêu dấu. Cuối năm 1943, ông thực hiện bước đi chiến lược khi hợp nhất 5 vạn quân Pháp Tự Do với 70 vạn quân chính quy cũ, ưu tiên sức mạnh quân sự thực tế hơn sự thuần khiết tư tưởng qua việc trọng dụng những tướng lĩnh tài năng như Alphonse Juin. Ông cô lập thành công Giraud và chuyển hướng ngôn ngữ từ cách mạng sang nhấn mạnh vào trật tự để sẵn sàng tiếp quản quyền lực ngay khi quân Đức rút đi, biến mình thành lựa chọn khả thi nhất để ngăn chặn một cuộc đảo chính cộng sản.
Vậy với các chính khách bên Hoa Kỳ thì sao? Vào ngày chuẩn bị cho chiến dịch đánh Normandy và giải phóng nước Pháp, quan hệ căng thẳng giữa de Gaulle và Hoa Kỳ đã lên đến đỉnh cao. Khi de Gaulle phản đối việc Mỹ in tiền giả lưu hành tại Pháp, Churchill đã quát thẳng:
"Mỗi khi tôi phải chọn giữa ông và Roosevelt, tôi sẽ luôn chọn Roosevelt!"
Thay vì nổi giận hay tranh cãi tay đôi theo cách thông thường, de Gaulle phản ứng bằng một sự im lặng lạnh lùng. Hiểu rằng Churchill đang bị kẹt giữa lòng ngưỡng mộ dành cho nước Pháp và nghĩa vụ duy trì mối quan hệ với Hoa Kỳ để thắng trận. Sự im lặng của ông khiến Churchill càng thêm ức chế, và hành động từ chối diễn văn của de Gaulle trên đài phát hành vì bản dự thảo của Eisenhower yêu cầu dân Pháp tuân lệnh quân đội Hoa Kỳ ngay lập tức khiến Churchill cáu giận hơn bao giờ hết. Cuối cùng, bằng một mưu kế nhỏ của BBC, De Gaulle đã ghi âm lời kêu gọi lịch sử lúc 6 giờ tối:
"Đây là trận chiến của nước Pháp và trận chiến vì nước Pháp!",
Trong giai đoạn đầy biến động này, tin vui về sự tiến triển của phong trào luôn đi kèm với những mất mát to lớn khi Jean Moulin, cánh tay phải thân cận và là đại diện Hội đồng Kháng chiến Quốc gia, bị Gestapo bắt giữ và tra tấn đến chết vào tháng 6 năm 1943. Nỗi đau này không làm de Gaulle gục ngã mà trái lại, ông càng nỗ lực hơn để gắn kết phe kháng chiến nội bộ với lực lượng hải ngoại bằng một chiến thuật chính trị khôn khéo là mời các thủ lĩnh sừng sỏ và hay chống đối sang Algiers để giao cho họ ghế trong Ủy ban, từ đó buộc họ phải hoạt động trong khuôn khổ kế hoạch mà ông đã vạch sẵn.
Dân chúng Paris và nước Pháp, từ giờ sẽ theo lệnh của chính quyền Pháp từ de Gaulle. Ngày 14 tháng 6 năm 1944, de Gaulle được phép sang Bayeux - Normandy với yêu cầu không được mít tinh. Thay vào đó, với tâm thế lão luyện của một chính trị gia xuất chúng, de Gaulle đi bộ qua các đường phố, thể hiện sự hiện diện giữa tiếng hò reo kinh ngạc của người dân quanh vùng. Ông còn đi xa hơn khi lén để lại Francois Coulet - một thành viên ủng hộ de Gaulle tại Bayeux mà không báo trước cho phe Đồng Minh. “Sự công nhận đã diễn ra” - de Gaulle tuyên bố, và chuyến thăm này đã đưa Pháp Tự Do tiếp quản quyền lực dân sự thực tế thay vì quân quản từ chính quyền Hoa Kỳ. Quan hệ giữa de Gaulle và Hoa Kỳ cũng khá hơn phần nào trong thời gian này - trong chuyến ngoại giao đến Washington, de Gaulle vừa tặng Roosevelt quà từ công nhân Pháp, trong khi Roosevelt trả lại một bức ảnh đề tên tặng người bạn de Gaulle. Và dù quan hệ giữa hai người cũng không khá lên, nhưng de Gaulle đã có được thứ mình muốn - sự công nhận từ người dân thế giới và chính quyền Hoa Kỳ.
Sự mâu thuẫn về tầm nhìn càng trở nên gay gắt khi de Gaulle muốn một cuộc giải phóng trật tự do quân đội chính quy thực hiện, trong khi phe Cộng sản lại khao khát một cuộc Tổng khởi nghĩa để chiếm lĩnh Paris trước và tạo tiền đề chính trị mới. Cực kỳ cảnh giác trước nguy cơ Paris bị san phẳng như Warsaw hoặc rơi hoàn toàn vào tầm kiểm soát của phe cực tả, de Gaulle đã trực tiếp gây áp lực lên Eisenhower để thay đổi kế hoạch của Đồng minh. Thay vì bao vây và bỏ qua Paris để tiến thẳng tới biên giới Đức nhằm tiết kiệm tiếp tế, quân đội Đồng minh đã buộc phải tiến vào giải phóng thành phố vào tháng 8 năm 1944 theo yêu cầu cấp bách của de Gaulle nhằm bảo toàn nguyên vẹn thủ đô và thiết lập quyền lực của chính phủ lâm thời.
Tối ngày 25 tháng 8 năm 1944, de Gaulle tiến đến Paris và phe kháng chiến đề xuất lập nền cộng hòa mới. Thay vào đó, ông thẳng thừng từ chối và tuyên bố “Nền cộng hòa chưa bao giờ chấm dứt tồn tại”. Khẳng định quyền lực của mình là sự kế thừa trực tiếp từ lịch sử, de Gaulle thực hiện một nước cờ mạo hiểm khác khi đi bộ từ Khải Hoàn Môn đến Nhà thờ Đức Bà. Là một nước cờ đầy rủi ro khi quân phát xít vẫn còn ở Paris để bắn tỉa, de Gaulle hiểu rõ đây là lời khẳng định với cả thế giới và người dân Pháp rằng ông là lãnh đạo duy nhất.

giải phóng Paris
Khi những tiếng súng vang lên bên trong Nhà thờ Đức Bà gây ra sự hỗn loạn, de Gaulle vẫn đứng thẳng, bình thản tiến vào vị trí của mình. Sự dũng cảm này đã biến ông thành một vị thánh sống trong mắt dân chúng. Cuộc giải phóng Paris là nhát dao đâm thẳng vào chính quyền quân sự Hoa Kỳ - de Gaulle đã thiết lập bộ máy hành chính ngay trong khói lửa, giải tán các đơn vị vũ trang tự phát bước đầu sáp nhập vào quân đội chính quy. Với ông, giờ đây đã không còn Kháng chiến nữa. "Đã từng có kháng chiến, nhưng trong bối cảnh hiện tại, chỉ có Cộng hòa và Tổ Quốc". Và Tổ Quốc đã được giải phóng.
Thiết lập trật tự
Ngày 9 tháng 9 năm 1944, de Gaulle thành lập chính phủ lâm thời mới tại Paris với nòng cốt là nhóm Pháp Tự Do, các phong trào kháng chiến và giới công chức chuyên môn. Ngay khi bước vào phòng họp, ông thẳng thừng tuyên bố chính quyền Cộng hòa vẫn luôn tiếp diễn và coi chế độ Vichy chỉ là một sự gián đoạn nhục nhã, một phế tích của lịch sử. Để củng cố quyền lực trung tâm, de Gaulle thực hiện một nước cờ ngoại giao cao tay khi mời Georges Bidault, Chủ tịch Hội đồng Kháng chiến toàn quốc, giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao nhằm giải tỏa tầm ảnh hưởng của tổ chức này và gắn kết các phe phái đối lập. Tại các thành phố như Marseille hay Toulouse, nơi các nhóm dân quân đang nắm quyền kiểm soát thực tế, ông đã quyết liệt xóa bỏ ảnh hưởng từ các đặc vụ nước ngoài lẫn du kích tự phát. Đến tháng 10 năm 1944, de Gaulle ra lệnh giải tán các nhóm dân quân vũ trang kháng chiến, đồng thời khôn khéo buộc hai bộ trưởng phe Cộng sản là Tillon và Billoux phải ký vào quyết định này để tự triệt hạ vây cánh của chính mình.
Trong nỗ lực tái thiết nhà nước, ông thực hiện cuộc thanh trừng có chọn lọc khi giữ lại những người có năng lực nhưng vẫn để Robert Brasillach, một tay viết ủng hộ phát xít, bị hành quyết bất chấp những bức thư thỉnh nguyện từ các đại văn hào như Camus. Đối với người thầy cũ Pétain, dù coi việc ký hiệp ước đình chiến năm 1940 là tội phản quốc, de Gaulle vẫn quyết định giảm án tử hình xuống chung thân vì lòng trắc ẩn đối với một ông già gần 90 tuổi và mong muốn hàn gắn sự rạn nứt dân tộc. Trên bình diện quốc tế, vào tháng 12 năm 1944, ông đến Moscow để tìm kiếm liên minh Pháp - Xô nhằm đối trọng với quyền lực của Anh và Mỹ. Trước sự thử thách đầy ngạo mạn của Stalin, de Gaulle đáp trả bằng sự lạnh lùng kiên định và cuối cùng đã đạt được một hiệp ước tương trợ vào rạng sáng, giúp Pháp chính thức trở lại bàn cờ ngoại giao.
Đầu năm 1945, ông kiên quyết giữ vững Strasbourg trước sức ép rút quân của Đồng minh, buộc Eisenhower phải nhượng bộ và củng cố niềm tin của dân chúng vào chính phủ lâm thời. Dù bị gạt khỏi hội nghị Yalta, de Gaulle vẫn không từ bỏ tầm nhìn về một Châu Âu lấy Pháp làm trung tâm và chia cắt nước Đức để đảm bảo an ninh lâu dài. Trước sự đối lập của phe kháng chiến vốn khao khát một cuộc cách mạng xã hội, de Gaulle chọn con đường tiếp diễn nền Cộng hòa và cùng Michel Debré thành lập Trường Hành chính Quốc gia nhằm đào tạo tầng lớp tinh hoa mới. Dù giành chiến thắng trong cuộc trưng cầu dân ý tháng 10 năm 1945 để giới hạn quyền lực quốc hội, ông nhanh chóng cảm thấy bị gò bó bởi các cuộc mặc cả ghế bộ trưởng và ngân sách. Sự rạn nứt bùng nổ khi phe Cộng sản yêu cầu cắt giảm 20% ngân sách quân sự, dẫn đến việc de Gaulle đột ngột từ chức vào ngày 20 tháng 1 năm 1946. Ông ra đi với hy vọng người dân sẽ sớm triệu hồi mình như một vị cứu tinh, nhưng thực tế nước Pháp khi chiến tranh kết thúc đã chọn bước tiếp vào thời bình mà không còn cần đến sự độc đoán của ông.
Rời xa hỗn loạn
Sau khi rời bỏ quyền lực vào đầu năm 1946, de Gaulle trải qua một năm trầm mặc tại quê nhà Colombey để viết hồi ký và chiêm nghiệm về vận mệnh quốc gia. Tự ví mình như một Joan d'Arc của thời đại mới, ông sớm quay trở lại chính trường vào năm 1947 bằng việc thành lập Tập hợp Quần chúng Pháp (RPF) nhằm phản biện lại quan điểm đề cao quyền lực nghị viện từ Hiến pháp Đệ Tứ Cộng hòa.
Chỉ trong sáu tháng, đảng của ông đã giành chiến thắng vang dội tại các cuộc bầu cử địa phương với 40% số phiếu, đưa ra giải pháp "Hiệp hội" để hòa giải xung đột giai cấp và chống lại sự tha hóa của con người trong guồng quay máy móc. Dù bị phe đối lập cáo buộc là độc tài hay mang màu sắc phát xít, tư tưởng này lại chính là hạt nhân của chủ nghĩa "Gaulle tả khuynh" sau này. Tuy nhiên, sự cô lập từ liên minh các đảng phái trung dung và nỗi sợ cộng sản trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh đã khiến de Gaulle thất bại trong việc chiếm giữ chính quyền trung ương.
Giữa những biến động chính trị, bi kịch cá nhân ập đến khi con gái yêu dấu Anne qua đời vào năm 1948, để lại trong ông một nỗi đau sâu sắc mà chỉ có sự tĩnh lặng tại Colombey mới có thể xoa dịu. Năm 1951, người thầy cũ Pétain cũng qua đời, khép lại một chương lịch sử mà de Gaulle gọi là "bi kịch lịch sử" - dù vậy de Gaulle vẫn làm rõ ông sẽ không bao giờ tha thứ cho Petain và từ chối bị so sánh với người thầy cũ. Dù nỗ lực vận động tranh cử đến năm 1953, phong cách lãnh đạo độc đoán của ông đã khiến ngay cả những cộng sự thân cận nhất cảm thấy bất an, dẫn đến sự tan rã dần của RPF. De Gaulle quyết định rút lui hoàn toàn về Colombey, xây dựng hình ảnh một Cincinnatus ẩn dật chờ đợi thời cơ cứu nước. Trong những năm tháng này, ông dùng ngòi bút làm vũ khí khi xuất bản bộ hồi ký gây tiếng vang lớn vào năm 1954, đồng thời thực hiện các chuyến thăm đến các thuộc địa tại Phi châu và Thái Bình Dương để quan sát sự rạn nứt của đế chế thực dân.
Sự sụp đổ của thực dân Pháp tại Đông Dương sau thất bại Điện Biên Phủ và cuộc khủng hoảng đẫm máu tại Algeria đã đẩy nền Đệ Tứ Cộng hòa vào bờ vực sụp đổ. Tháng 5 năm 1958, quân đội và những người Pháp tại Algeria nổi dậy, thành lập Ủy ban Cứu quốc và hô vang tên tuổi de Gaulle như một vị cứu tinh. Tận dụng thời cơ, de Gaulle thực hiện một màn trình diễn chính trị bậc thầy tại Paris khi tuyên bố sẵn sàng nắm quyền nhưng phải theo một "quy trình đặc biệt" để sửa đổi Hiến pháp. Áp lực từ các kế hoạch đảo chính của lính dù đã buộc các chính trị gia phải lựa chọn de Gaulle để tránh một cuộc nội chiến thảm khốc. Tháng 6 năm 1958, ông được bổ nhiệm làm Thủ tướng cuối cùng của Đệ Tứ Cộng hòa với quyền lực tối cao để soạn thảo một bản Hiến pháp mới.
Tại Algiers, trước đám đông đang sục sôi, ông thốt ra câu nói mập mờ kinh điển "Tôi hiểu các bạn" để lôi kéo mọi phe phái về phía mình trước khi đưa ra quyết định cuối cùng về số phận thuộc địa. Trong khi bình định các phe phái, ông cấp tốc thực hiện 300 sắc lệnh cải cách sâu rộng và thiết lập nền Đệ Ngũ Cộng hòa với một hệ thống hành pháp mạnh mẽ. Điểm nhấn quan trọng nhất là Điều 16 của Hiến pháp mới, cho phép Tổng thống nắm toàn quyền trong tình trạng khẩn cấp nhằm ngăn chặn một thảm họa như năm 1940 tái diễn. Tháng 9 năm 1958, bản Hiến pháp được thông qua với tỷ lệ áp đảo và đến ngày 21 tháng 9, de Gaulle chính thức được bầu làm Tổng thống, đánh dấu sự trở lại đầy ngọt ngào và vĩ đại của con người định mệnh trên đỉnh cao quyền lực nước Pháp.
Ông đã giành được một chiến thắng không thể ngọt ngào hơn.

Algeria
Khi trở thành Tổng thống đầu tiên của Đệ Ngũ Cộng Hòa, de Gaulle buộc phải giải quyết bài toán đã đưa ông trở lại quyền lực: cuộc xung đột giữa Pháp và Algeria. Khác với sự mù quáng của giới quân sự, de Gaulle nhìn nhận vấn đề bằng nhãn quan địa chính trị thực dụng, sớm nhận ra chủ nghĩa thực dân đã lỗi thời và việc tiêu tốn nguồn lực vào Algeria chỉ ngăn cản Pháp hội nhập để trở thành cường quốc kinh tế hiện đại. Ông chưa bao giờ tin vào việc đồng hóa người Algeria, ví mối quan hệ này như chai dầu và giấm có thể trộn lẫn nhất thời rồi sẽ lại tách ra. Nỗi lo ngại về việc bản sắc Pháp bị nhấn chìm bởi làn sóng di cư và các nhà thờ Hồi giáo đã khiến ông âm thầm chuẩn bị cho một lộ trình độc lập, dù bên ngoài vẫn dùng sự nhập nhằng để câu kéo thời gian giữa các phe phái cấp tiến và cứng rắn.
Năm 1958, de Gaulle tung ra Kế hoạch Constantine nhằm tạo ra một tầng lớp trung lưu Hồi giáo ôn hòa để chuẩn bị cho việc rút lui yên ổn. Tuy nhiên, khi ông chính thức đưa ra khái niệm "Quyền tự quyết" vào cuối năm 1959, sự phản kháng từ quân đội đã bùng nổ. Việc cách chức Tướng Massu đã châm ngòi cho "Tuần lễ Phong tỏa" tại Algiers, nhưng de Gaulle vẫn không nao núng, xuất hiện trên truyền hình trong bộ quân phục cũ để khẳng định lòng trung thành và tính chính danh của nền Cộng hòa. Tiếp đó, ông đập tan cuộc đảo chính của nhóm tướng lĩnh vào tháng 4 năm 1961 bằng cách sử dụng Điều 16 Hiến pháp, kêu gọi binh lính khước từ lệnh phản loạn. Với 75% cử tri Pháp ủng hộ qua trưng cầu dân ý, de Gaulle chính thức bước vào bàn đàm phán để kết thúc vũng lầy này.
Tháng 3 năm 1962, Hiệp định Evian được ký kết, đánh dấu nền độc lập của Algeria. Đối với de Gaulle, đây thực chất là một tấm vé thoát nợ khi ông sẵn sàng vứt bỏ mọi quân bài mặc cả, từ quyền kiểm soát dầu mỏ tại Sahara đến các căn cứ quân sự. Khi hàng trăm ngàn người Pháp định cư tháo chạy về chính quốc trong cảnh bần cùng, ông phản ứng bằng sự lạnh lùng tàn nhẫn, coi họ là tàn dư của một thời đại đã chết. Vết nhơ lớn nhất trong sự nghiệp của ông là việc bỏ mặc nhóm lính Hồi giáo Harkis trung thành bị thảm sát tại Algeria để tránh làm "loãng dòng máu Pháp". Ngay cả khi đối mặt với các vụ ám sát đẫm máu từ Tổ chức Quân đội Bí mật (OAS), điển hình là vụ nổ súng tại Petit-Clamart, de Gaulle vẫn bình thản lạ kỳ, coi khinh những kẻ tấn công là những tay súng tồi.
Để khẳng định uy quyền tuyệt đối của nhà nước, de Gaulle không ngần ngại đàn áp cả các cuộc biểu tình của phe cánh tả tại ga metro Charonne, bất chấp mục tiêu hòa bình của họ trùng khớp với ý định của ông. Dù huyền thoại về một vị tướng "trao trả" độc lập để cứu nước Pháp khỏi nội chiến vẫn được lưu truyền, thực tế lịch sử cho thấy chính quyền của ông đã chủ động buông bỏ và che giấu những thất bại ngoại giao để rảnh tay tập trung vào sức mạnh hạt nhân và kinh tế. Giải phóng được nước Pháp khỏi gánh nặng thuộc địa, de Gaulle chính thức đưa quốc gia bước vào kỷ nguyên của các đại lục tổ chức, nơi sức mạnh không còn nằm ở lãnh thổ chiếm đóng mà ở tầm ảnh hưởng địa chính trị toàn cầu.

Quân chủ của nền Cộng Hòa
Sau khi giải quyết xong vấn đề Algeria, de Gaulle không lùi bước như đối thủ mong đợi. Ngược lại, ông tiến hành một cuộc cách mạng hiến pháp để củng cố quyền lực tối thượng của Tổng thống. Michel Debré từ chức sau bốn năm cật lực phò tá, nhường ghế Thủ tướng cho Georges Pompidou – một người thực dụng và trung thành. De Gaulle sửa đổi hiến pháp để Tổng thống được bầu trực tiếp bởi toàn dân, tạo tính chính danh vững chắc cho các thế hệ sau, đồng thời khẳng định Chính phủ không thể tồn tại độc lập với Tổng thống.
Cuối năm 1962, quyết định trưng cầu dân ý về việc thay đổi cách bầu Tổng thống đã gây bão trong Quốc hội, dẫn đến sự hình thành liên minh chống đối Cartel des Non. Đây là lần đầu tiên và duy nhất trong lịch sử Đệ Ngũ Cộng hòa, Chính phủ bị lật đổ bởi phiếu bất tín nhiệm. Lúc này, de Gaulle thể hiện bản lĩnh chính trị bậc thầy. Theo Điều 89, sửa đổi hiến pháp phải qua Quốc hội. Biết Quốc hội sẽ bác bỏ, ông lách luật dùng Điều 11 – vốn chỉ dành cho dự luật thông thường – để trực tiếp hỏi ý kiến nhân dân. Tháng 10 năm 1962, ông giành chiến thắng vang dội, loại bỏ các đảng phái cũ khỏi vũ đài quyền lực.
Từ đây, Đệ Ngũ Cộng hòa chính thức lấy Tổng thống làm trung tâm. Quyền lực chuyển từ những cuộc mặc cả đảng phái tại Quốc hội sang mối liên kết trực tiếp giữa Tổng thống và nhân dân. Điều này hoàn tất quá trình "chỉnh huấn" nước Pháp khởi xướng từ năm 1958, biến Tổng thống Pháp thành nguyên thủ quyền lực nhất trong các nền dân chủ phương Tây – một vị quân chủ của nền cộng hòa. Nắm chắc quyền lực, de Gaulle bắt tay thực hiện chính sách vĩ đại.
Triết lý của ông dựa trên tiên đề: quốc gia dân tộc là thực thể vĩnh cửu, vượt lên trên mọi hệ tư tưởng. Dựa vào đó, ông dự đoán sự rạn nứt giữa Nga và Trung Quốc dù cùng theo Chủ nghĩa Cộng sản, bởi lợi ích quốc gia sẽ lấn át ý thức hệ. Tổng thống de Gaulle khao khát một nền ngoại giao độc lập, vị thế quốc tế vững vàng và kinh tế vững mạnh. Ông xung đột với các tổ chức siêu quốc gia như NATO, cho rằng chúng thiếu linh hồn lịch sử; chỉ có quốc gia mới có tư cách tiến hành chiến tranh và đòi hỏi sự hy sinh. Bằng mục tiêu cao cả, ông muốn đoàn kết dân tộc và đưa nước Pháp đến vinh quang.

Đệ Nhất Đế chế Pháp
Tuy nhiên, tham vọng này không hề dễ dàng. Nước Pháp từng là siêu cường hàng đầu thế giới, nhưng từ sau thất bại Waterloo và nỗi nhục bị Đức Quốc xã chiếm đóng, vị thế đó đã suy tàn. Dù vậy, de Gaulle vẫn mạnh dạn đề xuất thiết lập ban lãnh đạo ba bên Anh - Mỹ - Pháp để điều phối an ninh toàn cầu, khẳng định vị thế ngang hàng. Tại châu Âu, ông áp dụng chiến lược thống nhất và chinh phục, nỗ lực biến trục Pháp - Đức - Ý thành cực quyền lực thứ ba bên cạnh Mỹ và Xô Viết. Sự đối đầu với Mỹ không xuất phát từ kinh tế hay văn hóa, mà từ sự e ngại trước sức mạnh bá quyền và sự thiếu am hiểu lịch sử, văn hóa thế giới của Washington – điều đang được chứng minh rõ tại Việt Nam. Để thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Mỹ, vũ khí hạt nhân là chìa khóa. Khi Mỹ chia sẻ công nghệ hạt nhân cho Anh nhưng từ chối Pháp, de Gaulle quyết tâm tự lực phát triển, đưa Pháp trở thành cường quốc hạt nhân thứ tư thế giới.
De Gaulle cũng là bậc thầy về trình diễn chính trị. Ông biến các nghi lễ tại điện Versailles và Rambouillet thành phô diễn sự trường tồn và cao quý của nước Pháp. Ông tự viết và học thuộc những bài diễn văn dài bằng ngôn ngữ của quốc gia sở tại, tạo sức hút mãnh liệt với công chúng quốc tế. Sự thực dụng của de Gaulle thể hiện rõ qua việc công nhận ngoại giao Trung Quốc, đi ngược lại lệnh cấm vận của phương Tây. Ông lách qua Bộ Ngoại giao, dùng đặc phái viên bí mật, khiến Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson vô cùng tức giận. Trong vấn đề Việt Nam, ông dội thêm gáo nước lạnh khi cảnh báo Mỹ sẽ sa lầy dù đổ bao nhiêu tiền của và quân đội. Với de Gaulle, Hồ Chí Minh trước hết là một nhà lãnh đạo dân tộc chủ nghĩa, người đã đánh đuổi Pháp và sẽ làm điều tương tự với Mỹ. Ông đề xuất một giải pháp trung lập cho Việt Nam – điều Washington kiên quyết bác bỏ. Ông còn gây sốc cho đồng minh khi từ chối dự lễ kỷ niệm D-Day, cho rằng Pháp bị gạt ra rìa trong mặt trận thứ hai của Thế chiến II.

Năm 1964, ở tuổi 74 và mới hồi phục sau phẫu thuật, de Gaulle thực hiện chuyến công du lịch sử qua 10 nước Nam Mỹ. Ông kêu gọi khu vực này thoát khỏi bá quyền Mỹ - Xô, dựa trên mối liên kết văn hóa Latinh với Pháp. Dù thành công rực rỡ về ngoại giao và cảm xúc, thực tế Pháp không đủ tiềm lực kinh tế để thay thế Mỹ, chuyến đi chủ yếu mang tính biểu tượng về định hướng tương lai.
Năm 1965, ông dời cơ sở không gian từ Algeria về Guiana thuộc Pháp – nơi từng trung thành trong Thế chiến II, giúp Pháp dẫn đầu chương trình vũ trụ châu Âu. Ngoại giao độc lập của de Gaulle, từ việc phủ quyết Anh vào Cộng đồng Kinh tế châu Âu đến đỉnh điểm là rút khỏi bộ chỉ huy quân sự NATO năm 1966, đưa Pháp lên vị thế chưa từng có nhưng cũng khiến nước này bị cô lập giữa các đồng minh.
Trong nước, de Gaulle nỗ lực củng cố lòng dân, thúc đẩy xuất khẩu và ổn định đồng franc – biến nó thành đồng tiền mạnh lần đầu tiên sau nửa thế kỷ. Ông biến các chuyến thị sát thành những cuộc hành hương chính trị. Ông thực hiện 31 chuyến đi, thăm mọi tỉnh thành, trung bình dừng 40 điểm mỗi chuyến so với 7 điểm của người tiền nhiệm. Ông hòa vào đám đông, bắt tay người dân. Phe ủng hộ coi đó là sự kết nối tâm linh, phe đối lập gọi là sự mị dân. Ông ngầm khẳng định từ 1940 đến 1958 không có chính quyền nào hợp pháp ngoài chính ông – hiện thân của nước Pháp.
Để củng cố tư tưởng, ông trọng dụng Bộ trưởng Văn hóa André Malraux. Bằng việc đưa tro cốt anh hùng Jean Moulin vào điện Panthéon, ông khéo léo hòa quyện phong trào Kháng chiến với chủ nghĩa de Gaulle. Nắm bắt sức mạnh công nghệ, ông tận dụng triệt để truyền hình. Từ khởi đầu lóng ngóng, ông học cách trang điểm, học thuộc lòng và nhìn thẳng vào ống kính, tạo cảm giác trò chuyện trực tiếp với từng người dân, dùng truyền hình làm lá chắn trước sự công kích của báo chí.
Phong cách lãnh đạo này khiến cánh tả phẫn nộ. Họ ví ông như bức tượng nhân sư bí ẩn, biến công dân thành khán giả thụ động trước màn trình diễn của một diễn viên vĩ đại. Nhà báo kiêm chính trị gia Jean-Jacques Servan-Schreiber mỉa mai rằng chính trị Pháp giờ chỉ quẩn quanh câu hỏi:
"De Gaulle đang nghĩ gì?".
Sự tập trung quyền lực cá nhân kết hợp truyền thông giúp ông vượt qua nhiều khủng hoảng, nhưng để lại khoảng trống lớn về tương lai chế độ. Năm 1965, sau 7 năm cầm quyền, hình ảnh của ông bị phân cực quyền mạnh: phe cộng sản tố ông là phát xít, giới học giả coi ông là một Napoleon mới, trí thức chỉ trích sự độc đoán, trong khi một số tôn sùng ông như một ân điển thiêng liêng đến từ đức chúa trời.
Tổng thống Pháp còn tấn công trực diện hệ thống tài chính Bretton Woods, nơi đồng USD được neo vào vàng. Lo ngại Mỹ in tiền vô tội vạ để thâu tóm công ty Pháp, ông kêu gọi quay lại chế độ bản vị vàng. Để dằn mặt, ông cử máy bay sang New York chở vàng vật chất từ hầm của FED về Pháp. Hành động này châm ngòi cho sự hoài nghi toàn cầu. Các nước khác, đặc biệt là Tây Đức, lo sợ Mỹ in tiền để gánh chi phí chiến tranh Việt Nam và phúc lợi xã hội, cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods năm 1971. Công việc thoát khỏi quỹ đạo Mỹ vẫn được đẩy mạnh. Thất vọng vì Tây Đức quá thân Washington, ông xướng lên tầm nhìn "Châu Âu từ Đại Tây Dương đến dãy Ural" – một lục địa tự chủ, nơi Pháp và Nga gắn kết lịch sử mà không cần Mỹ can thiệp.

Công khai chống Mỹ, ông vẫn âm thầm để thuộc cấp Jacques Foccart dàn xếp vấn đề châu Phi. Họ ủng hộ phe ly khai Moïse Tshombe tại Congo để tranh giành ảnh hưởng khoáng sản với Bỉ và Hoa Kỳ. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền ông thường rao giảng, nhưng lại phục vụ hoàn hảo lợi ích kinh tế, đặt nền móng cho ảnh hưởng lâu dài của Pháp tại châu Phi. Tuy nhiên, sự rạn nứt xuất hiện khi một chính trị gia Maroc bị bắt cóc giữa Paris năm 1965. Vụ việc phanh phui hoạt động của các mạng lưới mật vụ hoạt động ngoài vòng pháp luật mà ngay cả de Gaulle cũng không nắm rõ. Cú sốc này làm suy giảm uy tín đạo đức của ông, buộc ông phải sa thải mạng lưới mật vụ và tổ chức lại toàn bộ hệ thống an ninh.

Những năm cuối đời
Năm 1966, de Gaulle đã nắm quyền Pháp được gần 10 năm. Ám ảnh bởi thời gian và di sản, ông liên tục thực hiện những lời thách thức đến trật tự hiện đại. Đầu tiên, vào tháng 3 năm 1966, de Gaulle tuyên bố Pháp rút khỏi bộ chỉ huy tích hợp của NATO và yêu cầu quân đội nước ngoài rời khỏi đất Pháp. Thứ hai, ông thực hiện chuyến thăm Liên Xô kéo dài đến 11 ngày để tìm cách phá vỡ thế lưỡng cực, với mục tiêu sử dụng Liên Xô làm đối trọng để kiềm chế nước Đức và giảm lệ thuộc vào Hoa Kỳ. Dù nhận được sự đón tiếp long trọng, kết quả thực chất rất ít. Liên Xô vẫn nhìn thế giới qua lăng kính Chiến tranh Lạnh và không sẵn lòng thỏa hiệp về vấn đề nước Đức. Thứ ba, trong chính sách đối ngoại, Pháp chuyển từ vai trò đồng minh với Israel sang vị thế trung lập trước chiến tranh Sáu Ngày năm 1967. Ông cho rằng Israel là bên có tư tưởng bành trướng, cấm vận vũ khí cho Israel và mô tả dân Do Thái là người “ưu tú, tự tin và có nhu cầu thống trị”. Câu nói này đã gây ra một làn sóng phẫn nộ và cáo buộc bài Do Thái tại Pháp.
Cùng năm đó, sự hỗn loạn đến từ chiến tranh tại Việt Nam đang lên cao hơn bao giờ hết. Đứng tại sân vận động Campuchia trước 100.000 người, de Gaulle đã kịch liệt lên án sự can thiệp của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Ông khuyên Mỹ nên làm như Pháp đã làm ở Algeria - rút lui một cách có cần thiết và đặt vị thế Pháp như một nhà hòa giải của thế giới và được các nước Thế giới thứ ba ủng hộ.

de Gaulle tại Campuchia
Trong thời gian này, quan hệ giữa de Gaulle và Thủ tướng Georges Pompidou đã thay đổi từ "ân sư - đệ tử" sang sự dè chừng lẫn nhau. Pompidou bắt đầu xây dựng đội ngũ riêng, không còn liên quan đến quá khứ kháng chiến hay chủ nghĩa Gaulle cùng các nan đề lịch sử mà de Gaulle là câu trả lời. Với nhiều người, de Gaulle giờ đã có trữ quân là Pompidou, nhưng với de Gaulle, ông chỉ cảm thấy nghi kị trước người thuộc cấp, nhất là khi ông loại bỏ Bộ trưởng Tài chính Giscard để giảm bớt đối thủ cạnh tranh quyền lực. Các chính sách hòa giải công nhân - chủ doanh nghiệp và đề xuất để công nhân tham gia vào quản lý doanh nghiệp từ de Gaulle dẫn đến sự phản đối quyết liệt từ Pompidou, và được đưa vào các ủy ban nghiên cứu thay vì được hiện thực hóa.
Bầu không khí chính trị Pháp lúc này giống như một nồi áp suất. Lúc này, de Gaulle vẫn say sưa với các chuyến công du thế giới, nhưng ở trong nước, sự bất mãn của giới trẻ và công nhân đang âm ỉ cháy, chuẩn bị dẫn tới vụ nổ kinh thiên động địa vào năm sau. Với nhân dân Pháp lúc này, de Gaulle vẫn là biểu tượng lớn, nhưng cỗ máy chính trị của ông đã bắt đầu rệu rã. Năm 1967, trong cuộc bầu cử quốc hội, phe của de Gaulle mất đến 43 ghế cùng vị thế đa số trong Quốc Hội, thay vào đó là các liên minh cánh tả cùng nhóm người Pháp từ Algeria. Điều này cộng thêm với các cáo buộc bài Do Thái dẫn đến sự chỉ trích dữ dội từ các trí thức lẫn quần chúng Pháp - và de Gaulle sau đó đã giải thích ông chỉ đang cáu kỉnh vì sự ủng hộ của giới tài phiệt Pháp như nhà Rothschild đối với Israel trong Chiến tranh Sáu ngày, điều mà ông coi là thiếu lòng trung thành với chính sách của nước Pháp. Nhưng lúc này, quyền lực của de Gaulle đã bắt đầu suy yếu. Pompidou và ông đã bắt đầu bước vào tình trạng bằng mặt nhưng không bằng lòng.

Đầu năm 1968, nước Pháp dần tăng trưởng chậm lại về kinh tế, thế hệ trẻ cảm thấy nhàm chán với sự cứng nhắc của thế hệ cũ. Tổng thống de Gaulle thì cũng cảm thấy như vậy - mệt mỏi, bị cô lập trong ngai vàng của chính mình, ông dần rơi vào những đợt trầm cảm và u uất sâu sắc. Với người trẻ, thế hệ đòi hỏi quyền tự do cá nhân và phản đối các cấu trúc phân tầng cũ kĩ, sự hiện diện của de Gaulle, một người với đạo đức công giáo bảo thủ cùng người vợ nghiêm cẩn không khác gì bức tường cản trở.
Bắt đầu từ cơ sở Đại học Nanterre, các cuộc biểu tình nổ ra chống lại quy định khắt khe về ký túc xá. Khi cảnh sát đóng cửa Đại học Nanterre, các sinh viên kéo về Sorbonne ở trung tâm Paris, tổ chức biểu tình phản đối chính quyền. Sự can thiệp bạo lực của cảnh sát đã biến những sinh viên vô tư thành những chiến binh đường phố. Mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát vào đêm mùng 10 tháng 5. Sinh viên dựng khoảng 50 chiến lũy bằng xe hơi lật úp và đá lát đường và thách thức chính quyền. Nhóm cảnh sát tấn công để dẹp bỏ chiến luy, lúc này cả toàn dư luận Paris chấn động trước cuộc bạo động này. Lúc bạo loạn, de Gaulle ban đầu coi thường, cho rằng chỉ cần "phát cho lũ trẻ vài cái tát" là xong. Nhưng thủ tướng Pompidou lại có ý tưởng khác - Trái với ý muốn cứng rắn ban đầu của De Gaulle, Pompidou quyết định mở cửa lại Đại học Sorbonne và thả các sinh viên bị bắt. Ông ta thậm chí còn tuyên bố:
"Tướng de Gaulle không còn tồn tại nữa. Giờ đây, tôi là người phải được tuân theo."
Trước hành động của Pompidou, de Gaulle nói thẳng đấy là một sai lầm khủng khiếp. Quả đúng như vậy, sự nhượng bộ của chính phủ không làm dịu tình hình mà trái lại, nó tạo ra hàng loạt các biến động xã hội. Ngày 13 tháng 5, các nghiệp đoàn kêu gọi tổng đình công để ủng hộ sinh viên. Các nhà máy bị chiếm đóng, đưa cả đất nước vào tình thế tê liệt - trong lúc đấy, de Gaulle lại đang thực hiện chuyến thăm chính thức tới Rumania.
Trở về từ Rumania, de Gaulle thấy một quốc gia đang ngừng hoạt động và một thủ tướng đang dần thay thế vai trò của ông. Tính chính danh của de Gaulle đang bị thách thức - và vị tổng thống già đang sợ quốc gia có thể sẽ lâm vào cảnh nội chiến như một trăm năm về trước. Tháng 5 năm 1968, de Gaulle đến Baden, Đức để gặp Tướng Massu, người mà ông đã từng đối đầu hàng chục năm về trước. de Gaulle lúc đó đã suy sụp, thậm chí mang theo vali tài liệu và định từ chức. Thế nhưng Massu, người từng bị de Gaulle ruồng bỏ 8 năm trước – lại là người duy nhất đủ dũng cảm để mắng nhiếc và thúc giục de Gaulle quay lại Paris chiến đấu
"Thưa Đại tướng, ngài không có quyền bỏ cuộc".
Và de Gaulle trở về Paris. Lúc rời đi, ông còn không quên cho ân xá những người từng định đảo chính mình cùng các thành viên của Tổ Chức Quân Đội Bí Mật. Ở Paris, ông chấp nhận một số các cải cách từ nhóm người biểu tình. Về phía thủ tướng Pompidou, ban đầu de Gaulle bí mật triệu tập Couve de Murville để thay thế Pompidou làm Thủ tướng. Khi Pompidou đổi ý và muốn ở lại, de Gaulle mới nhận ra mình đã bị gạt sang một bên. Ông đã không còn có thể kiểm soát được đất nước lẫn đảng phái của mình nữa, và dù thắng lớn trong cuộc bầu cử tháng 6 năm 1968, lúc này quyền lực thực sự đã về tay Pompidou.
Mối quan hệ giữa de Gaulle và Pompidou chính thức rạn nứt khi vị Tổng thống viết một lá thư bóng gió về việc Pompidou sẽ kế nhiệm mình trong tương lai nhưng lại không có động thái bảo vệ thỏa đáng - khi bê bối đời tư Marcovic, một sự kiện hòng nhắm vào vợ của thủ tướng nổ ra.
Sự kiện này đẩy Pompidou đến quyết định công khai sẵn sàng tranh cử Tổng thống tại Rome và Geneva, mang đến cho phe cánh hữu một lựa chọn thay thế đầy thực dụng. Cùng lúc đó, chính sách ngoại giao của de Gaulle liên tiếp vấp phải những bức tường lớn khi xe tăng Liên Xô nghiền nát mùa xuân Praha tại Tiệp Khắc làm phá sản hy vọng hòa hoãn Đông Tây, còn nỗ lực hàn gắn với Anh quốc lại biến thành thảm họa ngoại giao sau khi phía London cố tình rò rỉ nội dung đàm phán bí mật.

de Gaulle và cuộc trưng cầu dân Ý năm 1969
Trong nỗ lực cuối cùng để cứu vãn uy tín đang suy giảm, de Gaulle đã thực hiện một canh bạc chính trị đầy rủi ro khi đặt cược toàn bộ quyền lực vào cuộc trưng cầu dân ý về cải cách vùng và Thượng viện vào tháng 4 năm 1969. Bất chấp sự hoang mang của cả những người ủng hộ trung thành nhất, kết quả công bố vào ngày 27 tháng 4 đã cho thấy phe phản đối chiếm ưu thế, buộc vị tướng già phải giữ đúng lời thề danh dự của mình. Đúng nửa đêm, de Gaulle đưa ra một tuyên bố ngắn gọn- từ giờ, ông sẽ không còn là tổng thống nữa.
Trở về Colombey, de Gaulle tiếp tục hoàn thiện tác phẩm Hồi ký của Hy vọng và tận hưởng những ngày nghỉ hưu bình yên bên người vợ Yvonne. Chỉ một năm sau, vào ngày 9 tháng 11 năm 1970, ông đột ngột qua đời vì chứng phình động mạch. Trên truyền hình, chính quyền thông báo rằng:
“Tướng de Gaulle đã mất. Nước Pháp giờ đã trở thành góa phụ”.
Đám tang của tướng de Gaulle, được lên kế hoạch bởi chính vị tướng từ năm 1952 diễn ra trong sự yên lặng. Ông không chấp nhận quốc tang, diễn văn hay các vòng hoa gia đình. Chỉ gia đình, các đồng đội từ thời Thế Chiến và hội đồng thị trấn Colombey được tham dự. Và trên bia mộ, chỉ ghi đơn giản một dòng ngắn ngủi: Charles de Gaulle, từ năm 1890 đến năm 1970. Ông được chôn cất bên cạnh người con gái yêu dấu Anne.

Bất chấp những nỗ lực của Tổng thống Pompidou nhằm kiểm soát di sản chính trị, gia đình ông vẫn kiên quyết bảo vệ di nguyện này đến cùng. Vào ngày 12 tháng 11, trong khi giới cầm quyền và hơn 80 nguyên thủ quốc gia cử hành lễ tưởng niệm trang trọng tại nhà thờ Notre-Dame ở Paris, hàng ngàn người dân đã đến Khải Hoàn Môn để dâng hoa đến de Gaulle.

Nhận định về De Gaulle
de Gaulle từng bi quan dự đoán rằng đám tang của mình sẽ hiu quạnh và tên tuổi ông rồi sẽ chìm vào quên lãng. Nhưng lịch sử đã phản bội lời tiên tri ấy. Ông trở thành tượng đài rực rỡ nhất của nước Pháp thế kỷ 20. Từ vị thế 'kẻ thù truyền kiếp', phe cánh tả bắt đầu 'nhập tịch' hình ảnh ông vào hệ tư tưởng của họ từ cuối những năm 1970, biến lời kêu gọi ngày 18 tháng 6 thành một thứ thánh kinh về sự gắn kết dân tộc. Đến năm 1990, trong một sự thăng hoa của ký ức quốc gia, nước Pháp chính thức tôn vinh de Gaulle là một huyền thoại bất khả xâm phạm, đứng trên cả Napoleon và chỉ xếp sau Charlemagne, hai nhân vật kiệt xuất bậc nhất trong lịch sử dân tộc Pháp.
Tuy nhiên, khi huyền thoại ấy càng được bồi đắp, thì quá trình 'giải thiêng' cũng diễn ra quyết liệt không kém. Những câu chuyện về một nước Pháp Kháng chiến hào hùng dần bị lung lay bởi thực tế về những kẻ cộng tác với phát xít. Một nước Pháp công bằng – như cách de Gaulle từng kể – buộc phải đối diện với bóng tối trách nhiệm trong việc trục xuất người Do Thái. Thậm chí, hào quang phi thực dân hóa cũng bị hoen ố bởi máu của những người Algeria bị thảm sát ngay tại Paris. Tổng thống và tướng quân de Gaulle giờ đây không chỉ là một di sản, mà còn là một chiến trường. Cánh tả tôn thờ ông để tìm kiếm sự chính danh, thì cánh hữu cực đoan lại bẻ cong hình ảnh ông để phục vụ cho các chương trình nghị sự chống nhập cư và đa văn hóa.
Tất nhiên, de Gaulle không phải là một thánh nhân hoàn hảo. Ông vẫn luôn là tâm điểm của những chỉ trích vì sự lạnh lùng khi rời bỏ cộng đồng người Pháp tại Algeria, và bóng ma về một 'nhà độc tài tiềm ẩn' vẫn ám ảnh những người chỉ trích ông cho đến tận ngày nay. Vị Tổng thống ấy từng tuyên bố đầy kiêu hãnh rằng:
mọi người Pháp đều đã, đang hoặc sẽ trở thành một người theo chủ nghĩa Gaulle.
Thật khó để không đặt Tổng thống Pháp Charles de Gaulle lên bàn cân với Hoàng đế Pháp Napoleon Bonaparte – hai huyền thoại chính trị bước lên từ khói lửa binh đao, những người vừa được sùng bái vừa bị căm ghét, cùng chia sẻ đức tin vào trật tự, vào quyền lực tập trung cá nhân và sự vĩ đại của dân tộc Pháp. Dù cả hai chủ nghĩa ấy đều phảng phất bầu không khí của sự kiêu ngạo và cô lập, nhưng khi bóc tách lớp vỏ bề ngoài, ta thấy một vực thẳm về giá trị đạo đức giữa hai con người. Napoleon khao khát một bá quyền Pháp bao trùm lên toàn bộ Châu Âu dưới vương miện của một vị Hoàng đế; trong khi đó, de Gaulle lại chiến đấu để giải cứu đất nước khỏi các tham vọng bá quyền, nhằm thiết lập một Châu Âu của những quốc gia tự trị với trái tim là một nước Pháp tự do.
Thực tế, kể từ sau sự sụp đổ của Napoleon vào năm 1815, nước Pháp đã vĩnh viễn đánh mất vị thế siêu cường độc tôn. Suốt hơn một thế kỷ, Paris không còn đủ quốc lực hay quyền lực để thách thức các cường quốc Âu châu nếu thiếu đi những liên minh bảo trợ. Dù những cuộc viễn chinh tại Đông Dương hay Phi châu từng nỗ lực phục dựng hào quang đế chế, nhưng thất bại cay đắng trong cuộc chiến Pháp-Phổ năm 1870 đã giáng một đòn chí tử vào niềm kiêu hãnh đó. Khi bóng ma người Đức trở lại trong hai cuộc thế chiến, nước Pháp lần lượt kiệt quệ sau những trận đại chiến, rồi lại nhục nhã chịu đựng sự chiếm đóng suốt năm năm ròng. Cái danh xưng 'cờ trắng đầu hàng' bỗng chốc trở thành một vết nhơ cay nghiệt ám ảnh tâm thức dân tộc.
Chính vào thời khắc lụn bại ấy, de Gaulle đã xuất hiện như một kẻ canh giữ và cứu vạt danh dự cuối cùng. Trong dòng chảy hỗn loạn của thế kỷ 20, ông sở hữu một sự minh triết đến kỳ lạ. Từ việc tiên liệu sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods, thất bại của Mỹ tại Việt Nam, sự tan rã của Nam Tư, cho đến dự cảm chính xác về thảm bại của Pháp trước phát xít Đức hay mâu thuẫn Trung - Xô. Như sử gia Francois Furet từng nhận định, sự vĩ đại của de Gaulle không nằm ở năng lực tiên tri thuần túy, mà ở khả năng 'bị lịch sử đánh lừa nhưng vẫn thích nghi được'. Ông có thể bắt đầu bằng một mục tiêu lỗi thời, nhưng khi nhận ra hướng gió của thời đại đã thay đổi, ông sẵn sàng lật ngược ván bài với một sự tàn nhẫn và quyết đoán đơn độc, buộc lịch sử phải chảy theo lộ trình mà ông đã chọn.
Khi Charles de Gaulle tái xuất chính trường vào năm 1958, nước Pháp – tạo vật mà ông hằng tôn thờ – một lần nữa buộc ông phải trở thành vị cứu tinh như 18 năm trước, giải phóng nó khỏi xiềng xích của chủ nghĩa thực dân rệu rã. Nhưng tham vọng của de Gaulle không dừng lại ở sự hồi phục. Ông tuyên bố sẽ tái sinh vinh quang cho nước Pháp – một 'Grandeur' được dựng xây trên những huyễn tưởng về sự vĩ đại và huyền thoại về một Tổ quốc vĩnh hằng, điều mà ngay cả những người đồng hương cũng khó lòng thấu thị.
De Gaulle đã biến sự vĩ đại ấy thành hiện thực, ông từng nói rằng 'Kháng chiến là một trò lừa thành công' - và từ câu chuyện nước Pháp chưa bao giờ chấp nhận đầu hàng, de Gaulle vực dậy cả một dân tộc. Trong sử luận về Đệ nhị Thế chiến, ta thường coi Churchill và de Gaulle là các đại diện tiêu biểu nhất của cường quốc Anh - Pháp. Nhưng nếu Churchill chỉ là một nhà lãnh đạo đầy cảm hứng dẫn dắt đế chế vượt qua cơn bão lửa rồi phai tàn trong hòa bình, thì dấu ấn của de Gaulle lại đậm sâu hơn rất nhiều. Mười ba năm sau Thế chiến, ông đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật chính trị. Kết thúc êm thấm cuộc chiến thuộc địa đẫm máu, kiến tạo nền Đệ ngũ Cộng hòa, hòa giải một cách hoàn hảo giữa di sản quân phiệt Bonaparte và tinh thần dân chủ hiện đại.
Dưới bàn tay ông, nước Pháp không chỉ hiện đại hóa vượt bậc về kinh tế mà còn đứng sừng sững như một cực độc lập giữa vòng xoáy Chiến tranh Lạnh, một quốc gia không có dấu hiệu của sự suy thoái. Giữa bối cảnh những rạn nứt chính trị và làn sóng cực hữu đang lung lay nước Pháp ngày nay, hình bóng de Gaulle hiện lên như một huyền thoại xa xôi nhưng đầy tiếng vọng.


Sách
/sach
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất





