“Ngày 15 tháng 5 năm 1796, Tướng quân Bonaparte đã bước vào Milan với tư cách là chỉ huy của một Tập đoàn quân đầy sức sống, vừa băng qua cầu Lodi và cho cả thế giới thấy rằng sau hằng thế kỷ, Caesar và Alexander đã có người thừa kế.” 

Mở Đầu

Tháng 4 năm 1796, Napoleon đến Tập đoàn quân Ý. Trong cuộc họp đầu tiên với các tướng lĩnh, ông bàn với tướng về con đường Savona-Carcare cùng ba thung lũng quan trọng, và bất kỳ thung lũng nào trong số đó có thể đưa họ đến miền đồng bằng trù phú của Lombardy - lẫn Piedmont, một vương quốc đã gây chiến với Pháp từ năm 1793. 
Vương quốc Piedmont
Vương quốc Piedmont
Napoleon tin rằng nếu quân đội của ông có thể đẩy người Áo về phía đông và chiếm lấy pháo đàn kiên cố tại Ceva, ông có thể loại người Piedmont ra khỏi cuộc chiến bằng cách đe dọa thủ đô của họ, Turin. Điều này đồng nghĩa với việc đưa 40.000 quân Pháp đối đầu với 60.000 quân Áo và Piedmont, nhưng Napoleon nói với các chỉ huy rằng ông sẽ sử dụng tốc độ và sự lừa lọc để giữ vững quyền chủ động.
Ông sẽ sử dụng vị trí tập trung.
Kế hoạch của ông dựa trên cả cuốn Principes de la guerre des montagnes (1775) của Pierre de Bourcet và một chiến lược trước đó dự định sử dụng trong chiến dịch chống lại Piedmont năm 1745 vốn đã bị Louis XV hủy bỏ, nhưng cũng tập trung vào việc đánh chiếm Ceva. Bourcet đã viết về tầm quan trọng của việc lập kế hoạch rõ ràng, tập trung nỗ lực và giữ cho kẻ thù luôn ở trạng thái mất thăng bằng hay ở đây là trung tâm chiến lực - center of gravity. Chiến dịch của Napoleon ở Ý được coi là một chiến dịch kinh điển theo cả hai nghĩa của thuật ngữ này.
Đối với Hội đồng Đốc chính, Ý là một chiến trường phần nào đó phụ. Nguồn lực của Pháp được tập trung vào chiến trường Đức, nơi Tập đoàn quân Rhine và Moselle dưới quyền Tướng Moreau và Tập đoàn quân Sambre và Meuse dưới quyền tướng Jourdan đã bắt đầu tấn công từ tháng 6 năm 1796 và giành được một số thành công ban đầu. Đại vương công Charles von Habsburg, chiến đấu đến cùng, đã đánh bại Jourdan tại Amberg chỉ trong 2 tháng sau đó và tiếp thêm tại Wurzberg vào tháng 9. Sau đó, Tập đoàn quân Moreau đã phải hứng chịu đòn đánh từ vị Đại vương công vào tháng 10, đưa cả hai Tập đoàn quân này trở lại sông Rhine. 
Tập đoàn quân Ý của Napoleon chỉ được cấp 4 vạn france - ít hơn cả mức lương hằng năm của chính Napoleon để trả cho toàn bộ chiến dịch. Theo một câu chuyện đã đi về huyền thoại, Napoleon còn phải bán đồ của mình vào sòng bạc đặt cược, để có tiền nuôi binh sĩ.  Do đó, khi Napoleon đến Nice, ông thấy quân đội của mình chẳng ở trong trạng thái có thể di chuyển đi đâu được. Trời lạnh cóng mà binh lính không có áo khoác ngoài. 
Đã ba tháng họ không được phát thịt và bánh mì chỉ được đưa đến một cách thất thường. Những con la phải kéo pháo vì toàn bộ ngựa thồ đã chết do suy dinh dưỡng, và toàn bộ các tiểu đoàn đều không có giày hoặc phải đi guốc mộc, mặc quân phục tạm bợ do bị lột từ xác chết.
Một số người chỉ có thể được nhận diện là binh lính vì họ mang theo túi đựng đạn của quân đội, và nhiều khẩu súng hỏa mai của họ thiếu lưỡi lê. Họ đã không được trả lương trong nhiều tháng, dẫn đến những lời đồn về việc nổi loạn. Dịch bệnh tràn lan, giết chết không dưới sáu trăm người của Bán lữ đoàn 21 trong vòng hai mươi ngày. Mariana Starke, một nhà văn người Anh ở Florence, đã mô tả chính xác "tình trạng khốn khổ" của quân đội Pháp trước khi Napoleon đến: 
"thiếu thốn hoàn toàn những nhu yếu phẩm, và một cơn sốt dịch bệnh, hậu quả tự nhiên của nạn đói... chán nản và kiệt quệ vì bệnh tật, không có ngựa, pháo và gần như mọi nguồn lực chiến tranh khác".
Napoleon giải quyết tình trạng khốn khổ này bằng cách phế chức Meynier và cho quản binh Chauvet của mình thời gian để tái tổ chức hậu cần, bao gồm cả những nhà thầu - những người mà theo Napoleon, đã ăn cướp tiền quân lẫn dân. Ông cũng ra lệnh bộ trưởng Pháp tại Genoa giành được 3 triệu đồng franc từ người Do Thái quanh đó và triệu tập kỵ binh từ các vùng trú đông tại thung lũng Rhone. Đến ba ngày sau, Napoleon cho giải tán tiểu đoàn 3 của Bán Lữ Đoàn 209 vì tội chính biến, phế bỏ các sĩ quan của lữ đoàn đấy cùng các sĩ quan không tham chiến khác và xây dựng lại hệ thống sĩ quan - lữ đoàn. Ông tin rằng tất cả mọi người đều phải cống hiến như nhau và đều phải được đối xử như nhau - đến ngày 8 tháng 4, ông báo cáo lại với Đốc Chính vì kẻ thù đã hát các bài ca phản cách mạng. 
Các chỉ huy của Napoleon ban đầu đều rất ấn tượng trước khả năng làm việc của Napoleon, và dàn sĩ quan thì cảm thấy được thúc đẩy bởi năng lực không ngừng nghỉ của Napoleon. Chỉ trong 9 tháng kể từ đến Nice đến hết năm 1796, Napoleon đã gửi đến tám trăm lá thư và công văn để quan sát tất cả mọi thứ. Augereau là vị tướng đầu tiên bị Napoleon mê hoặc, theo sau đó là Massena -
“thằng lỏi con khốn khiếp đó thực sự làm tôi sợ”
- Augereau về sau đã kể Massena như thế. 
Massena
Massena
Napoleon quyết tâm tận dụng danh tiếng người lính chính trị của mình. Ông tiếp tục giành được sự ủng hộ từ binh sĩ và tận dụng quan hệ để thu về được năm ngàn đôi giày cho những người lính. Mặc dù ông không bao giờ nói quân đội hành quân dựa vào dạ dày, nhưng ông chắc chắn hiểu rõ quân đội hành quân dựa vào những đôi giày. Cùng ngày hôm đó, Napoleon cũng nhận được sự giúp đỡ và tham mưu từ Alexandre Berthier, 43 tuổi và là cựu binh Chiến Tranh giành độc lập của Hoa Kỳ. Đây là một vị trí mà Berthier sẽ phục vụ trung thành đến năm 1814 - và như cả Massena hay Augereau, nó cũng sẽ kết thúc trong cay đắng. 
Augereau
Augereau
Napoleon là chỉ huy đầu tiên trong lịch sử thế giới có một tổng tham mưu theo nghĩa hiện đại. Berthier là một tổng tham mưu không thể hiệu quả nữa - với ký ức xuất sắc, Berthier có thể làm việc liên tục xuyên suốt 12h đồng hồ, thực tế vào năm 1809, không dưới 17 lần ông được triệu tập để gửi lệnh của Hoàng đế Pháp. Những thư viện quốc gia của Pháp hay Đại Quân đều ghi chép lại những bức thư của Berthier bằng giọng văn rất lịch thiệp, tinh tế và chắc chắn - trong số đấy, giá trị khác của Berthier còn nằm ở việc bản thân ông rất giỏi giao tiếp và đối ngoại, bằng một cách nào đó vị thống chế này còn có thể khiến vợ mình, Maria xứ Bavaria sống chung với vợ bé Visconti.
Berthier cũng không hay phản bác lại Napoleon trừ việc nó quá bất khả thi về mặt hậu cần, và xây dựng một nhóm tham mưu mà đảm bảo Tổng chỉ huy có thể thực hiện điều lệnh ở khắp mọi nơi. Năng lực của ông ấy - có thể nói là gần đến mức thiên tài, là biến những lệnh phức tạp nhất thành những lệnh chính xác và đơn giản nhất cho từng bán lữ đoàn trong quân. Napoleon từng nói rằng ông đọc lệnh của Berthier như đang đọc tiểu thuyết - và vào tháng 2 năm 1796, trụ sở tập đoàn quân Ý đã được chuyển đến Genoa. Toàn quân cũng đặt biệt danh cho Berthier là "vợ của Napoleon".
Tuy nhiên, sau cái chết của Chauvet vì bệnh tật, Napoleon thấy cần phải hành quân ngay lập tức. 
Người Áo – những người đã thống trị miền bắc Ý từ năm 1714 – đang điều động một đội quân lớn về phía tây đến Piedmont để giao chiến với quân Pháp, trong khi người Piedmont đang được Hải quân Hoàng gia Anh tiếp tế từ Corsica. Điều này buộc Napoleon phải vận chuyển tất cả những gì ông cần qua những con đèo cao chót vót của vùng Liguria. Khi tới Albenga vào ngày 5 tháng 4, ông đã trình bày với Massena và Laharpe kế hoạch chia cắt kẻ thù tại khu vực giữa Carcare, Altare và Montenotte.
Quân Áo trong chiến tranh Pháp
Quân Áo trong chiến tranh Pháp
Đối trọng của Napoleon và chỉ huy quân Áo, Johann Beaulieu, là một người dày dặn kinh nghiệm và có tài năng nhất định, nhưng ông đã 71 tuổi và từng bại trận dưới tay quân đội Pháp trước đây. Là một người nghiên cứu kỹ lưỡng các chiến dịch trong quá khứ, Napoleon biết rằng Beaulieu rất thận trọng. Liên minh giữa Áo với người Piedmont vốn lỏng lẻo, và Beaulieu thì cũng không dám tin vào.
“Bây giờ khi đã hiểu về các liên minh,” Thống chế Foch từng nói đùa trong Thế chiến thứ nhất, “tôi bớt sùng bái Napoleon đi một chút!”
Ngay cả trong quân đội Áo, tính chất đa tạp của Đế quốc Habsburg lai tạp với Thánh chế La Mã rộng lớn đồng nghĩa với việc các đơn vị thường không nói cùng một ngôn ngữ; thứ tiếng chung duy nhất mà đội ngũ sĩ quan của họ sử dụng lại là tiếng Pháp.
Để làm các vấn đề của Beaulieu thêm nghiêm trọng, ông còn phải báo cáo lên Hội đồng Quân sự Trung ương cồng kềnh và quan liêu ở Vienna, nơi thường đưa ra mệnh lệnh muộn đến mức khi chúng tới nơi thì tình hình thực tế đã thay đổi hoàn toàn. Ngược lại, Tướng quân Napoleon dự định áp dụng một diễn biến táo bạo mà nay được các học viện quân sự gọi là “chiến lược vị trí trung tâm”. 
Ông sẽ đứng giữa hai lực lượng đang đối đầu với mình, lần lượt tấn công từng phía trước - cô lập địch, trước khi địch có thể sử dụng quân số áp đảo để nghiền nát Tướng quân Bonaparte. Đây là chiến lược mà ông sẽ sử dụng đến mức nhuần nhuyễn trong suốt sự nghiệp của mình.
Một trong những câu châm ngôn chiến tranh của ông là: 
“Việc để các quân đoàn không có liên lạc với nhau hành động riêng lẻ chống lại một lực lượng tập trung có đường liên lạc thông suốt là trái với mọi nguyên tắc.”
Anh rất bận trong quãng thời gian này - Napoleon viết cho Josephine từ Albenga, ông viết thư liên tục cho vợ xuyên suốt cả chiến dịch, trong đó có cả biết bao trang đắm thắm nước mắt. Ngay cả khi đại chiến diễn ra, Napoleon vẫn viết thư về đến cho vợ.
Sự chuyển đổi giữa một người đàn ông giãi bày trái tim nồng thấm của mình với một người khắc kỷ tập trung thật đáng kinh ngạc. Như một lẽ dĩ nhiên, Napoleon cũng nhận thấy Josephine không bao giờ viết thư lại cho ông - khi bà có viết lại, bà cũng chỉ gọi ông là một người bạn. Hẳn ông sẽ sốc lắm khi biết vợ ông đang làm gì sau lưng mình.

Đại Chiến Bắt Đầu

Ngày 6 tháng 4, Napoleon vẫn cho quân đội hành quân đến địa điểm đã định. Tập đoàn quân Ý giờ đã có đến 5 vạn quân, đối đầu trước 8 vạn quân Áo và Piedmond. May mắn thay, Berthier đã giải quyết vấn đề cung ứng và quân phí. Napoleon đã định đến ngày 15 tháng 4 mới bắt đầu gây chiến, nhưng lực lượng Áo-Piedmont đã bắt đầu từ ngày 10 tháng 4, đi theo tuyến đường mà Napoleon đã định di đến. Bất chấp đòn tấn công không ngờ đến này, Napoleon đã có thể đưa ra một đòn phản công hiệu quả trong vòng 48 giờ. Đêm ngày 11 tháng 4, tuyến liên lạc quân Áo giờ đã bị giãn ra quá mức - chớp lấy thời cơ này, ông ghim quân Áo tại Montenotte, rồi sau đó cử Massena đến cánh phải vào 1h sáng để vây định. Đòn vận động thọc sườn - flanking maneuvre - của Napoleon đã có hiệu quả, khi bất chấp điều kiện thời tiết khắc nghiệt, Napoleon đã vượt qua được các công sự của quân Áo và bị các cánh quân chiều dọc của người Pháp đánh thọc vào bên trong. 
Lược đồ trận Montenotte
Lược đồ trận Montenotte
Áo đã mất đến 2,500 người, còn Napoleon chỉ mất đến tám trăm. Napoleon đã giành được chiến thắng đầu tiên với cương vị tổng tư lệnh trên chiến trường, và khiến quân đội trở nên phát điên. Sĩ khí dâng cao - và Napoleon đã bắt đầu quãng thời gian nhuần nhuyễn sự vận động của quân đội trên chiến trường để giành được thắng lợi quân số trên một chiến thắng nhất định. Sau ngày vinh quang của Montetnotte, Napoleon đánh tiếp tại Millesimo, một vùng thô nhỏ bé quanh dòng Bormida, tại đây ông đã thành công cắt đôi lực lượng địch - Áo về thủ Milan, Piedmont thì về thủ kinh đô Tyruib của họ. Napoleon tiến tục đánh tiếp, đến ngày 14 giành được chiến thắng tại Dego. 
Trận Dego
Trận Dego
Một tuần sau, Napoleon đã đánh vào vùng Piedmonte và thực hiện một cuộc vận động bao vây hết sức hiệu quả trên chiến trường. Đấy là một đòn vận động tham vọng và khó để thực hiện, nhưng gây hại rất lớn cho sĩ khí quân địch, khi đang đánh nhau mà thấy một cánh quân khác đột ngột xuất hiện, khiến địch không dám đánh tiếp mà bỏ chạy tán loạn.
Ngày hôm sau, Piedmont tuyên bố đầu hàng - điều này thực sự rất may mắn cho Napoleon vì ông không có vũ khí công thành hạng nặng để vây Turin. Ngày 26 tháng 4, Napoleon tuyên bố trước toàn quân: 
Ngày hôm nay, bằng những đóng góp của mình, các anh [binh sĩ] đã sánh ngang với các tập đoàn quân tại Hà Lan và vùng Rhine. Dù thiếu thốn đủ đường, các anh đã tự cung ứng mọi thứ. Các anh đã thắng những trận đánh mà không có đại pháo; vượt những dòng sông mà không có cầu; thực hiện những cuộc hành quân cấp tốc mà không có giày; đóng trại mà không có rượu mạnh và thường không có bánh mì mà ăn...
Ngày hôm nay, các anh đã được chu cấp đầy đủ. Ta hứa với các anh về cuộc chinh phục nước Ý, nhưng với một điều kiện. Các anh phải thề sẽ tôn trọng những người dân mà các anh giải phóng, và đẩy lùi nạn cướp bóc kinh khủng mà những kẻ đê tiện – vốn bị kẻ thù kích động – đã gây ra.
Một đội quân chiến thắng và đói khát giờ đang càn quét khắp nước Ý. Napoleon thực tế rất quan tâm đến hành động của quân lính và muốn họ kiểm soát việc cướp phá hay sống dựa vào đất. Ông ra lệnh tướng quân xử bắn bất kỳ sĩ quan nào cho phép điều đấy, gửi thư đến Đốc Chính về việc sẽ xử tử những ai ăn cướp - lẫn bắt đầu đề xuất từ chức. Đây mới chỉ là lần đầu trong số rất nhiều lần từ chức khác mà ông sẽ thực hiện xuyên suốt cuộc đời của mình. Thực tế, Napoleon luôn phân biệt rõ ràng với việc sống dựa vào đất khi hành quân và đi cướp phá khắp nơi. Thực tế ông từng buộc tội quân Anh và Nga vì cướp phá - dù trên thực tế Napoleon cùng Đại Quân cũng từng thực hiện các cuộc cướp phá còn ác liệt hơn. 
"Chiến Tranh Nuôi Chiến Tranh"
"Chiến Tranh Nuôi Chiến Tranh"
Sống dựa vào đất - cho phép Napoleon có tốc độ vận động nhanh đến mức trở thành một phần chiến lược của ông ta. Ông khuyến khích bất kỳ thứ gì cho phép quân đội hành quân nhanh hơn, bao gồm các cuộc hành quân thần tốc với 15 dặm - 30 dặm một ngày - Napoleon có thể khiến quân đội hành quân nhanh đến kinh ngạc. Trong thời kỳ khó khăn, quân đội Pháp thậm chí còn ngủ ngoài trời, và đặc biệt là với sự phát triển của hệ thống đường xá từ năm 1775, súng nhẹ hơn, nhiều đường hơn cùng các tuyến cung ứng được giảm nhẹ đã giúp Napoleon có thể hành quân với tốc độ gấp đôi những gì mà quân đội La Mã cổ đại dưới quyền Nhà độc tài Caesar có thể làm được. 
Các cuộc đàm phán đình chiến với người Piedmont tại Cherasco đã bắt đầu ngay lập tức. Hiệp định đình chiến được ký kết ngay lập tức. Tortona, Alessandria, Coni và Ceva được bàn giao cho quân Pháp, cùng với tuyến đường đến Valence và toàn bộ lãnh thổ nằm giữa Coni và các con sông Stura, Tanaro và Po. Trong một mưu đồ nham hiểm, Napoleon nhấn mạnh vào một điều khoản bí mật cho phép ông có quyền sử dụng cây cầu bắc qua sông Po tại Valenza, ông biết rằng tin tức này sẽ bị rò rỉ tới tai người Áo và Beaulieu sẽ gửi quân đến bảo vệ cây cầu đó. 
Một ngày sau khi văn bản đình chiến được ký kết, Napoleon đã viết thư về Paris, ông hoàn toàn nhận thức được rằng mình đã vượt quá thẩm quyền khi ký kết một thỏa thuận ngoại giao với ngoại quốc– chưa kể, với tư cách là một người cộng hòa thuần túy, ông lại cho phép Vua Victor Amadeus Đệ Tam của Piedmont-Sardinia được giữ lại ngai vàng. Ông hy vọng sẽ dập tắt mọi sự chỉ trích từ Paris bằng tiền mặt, hứa hẹn sẽ thu một khoản tiền để hỗ trợ cho nền tài chính đất nước.
Trên thực tế chỉ có một số hành động yếu ớt dám chống lại Napoleon. 
Napoleon quyết tâm rằng nước Ý – hoặc ít nhất là những vùng đã chống lại ông – sẽ không chỉ bị tước đoạt tiền mặt, mà còn cả những kiệt tác nghệ thuật vĩ đại. Vào ngày 1 tháng 5, ông viết cho Công dân Faipoult:
"Hãy gửi cho tôi danh sách các bức tranh, tượng, tủ trưng bày và những món đồ quý hiếm tại Milan, Parma, Piacenza, Modena và Bologna."
Nhiều báu vật tinh xảo nhất của họ đã được định sẵn để đưa về phòng triển lãm nghệ thuật tại Paris – nơi được biết đến với tên gọi Bảo tàng Nghệ thuật Trung tâm từ khi mở cửa năm 1793 cho đến năm 1803, sau đó là Bảo tàng Napoleon cho đến năm 1815, và cuối cùng là Bảo tàng Louvre.
Những tác phẩm được quy hết về một nơi giúp nó dễ tiếp cận hơn nhiều - phần lớn những gì người Pháp đang lấy đi chính là những cổ vật mà người La Mã như Chấp chính quan Lucius Mummius trước đây đã từng đoạt lấy từ những nơi như Corinth và Athens. Bảo tàng ban đầu được để là sẽ mang tên Napoleon và sẽ trở thành một cung điện lộng lẫy, và Napoleon sau này còn định giao tìm những kho lưu trữ của Charles Đệ Ngũ và Phillipe Đệ Nhị của Tây Ban Nha. Đây chính xác là đặc sản sau này của Đế chế Napoleon.
Một ví dụ về vận động thọc sâu
Một ví dụ về vận động thọc sâu
Đầu tháng 5 năm 1796, Napoleon vượt sông Po và bắt đầu chiến dịch khó nhằn tiếp theo của mình. Beauliu đã rút về phía sau sông Po và Ticino, Napoleon đáp trả bằng cách đến Piacenza, vượt qua hàng loạt các tuyến phòng thủ sông và đe dọa đến Milan. Đây là chiến lược yêu thích của Napoleon - manoeuvre sur les derrières - vận động thọc sâu, vòng sau cánh quân kẻ thù để có thể đe dọa đến các tuyến liên lạc và tiếp tế của họ. Quân đội Pháp bắt đầu di chuyển nhanh hơn, cả Massena và Serurier đều đến Valenza, Augereau tiến đến giữa Valenza - Piacenza, Napoleon hành quân thần tốc đến Parma, và bắt đầu vượt sông Po.
Tướng quân Lannes tập hợp tất cả thuyền và công cụ xây tàu lại để vượt sông, trong khi các tướng quân khác đều được yêu cầu tập hợp càng nhanh càng tốt để có thể gia nhập Napoleon. Napoleon đến được Piacenza vào ngày 8 tháng 5 và giành được một hiệp ước với Parma, đến ngày 10 quân Áo đã bắt đầu rút quân về Milan qua Lodi, khoảng 22 dặm phía đông nam Milan quanh dòng sông Adda. Napoleon đã quyết tâm đánh chặn quân Áo. Một đơn vị lính phóng lựu cùng kỵ binh hussar theo chân quân Áo quanh thị trấn, cả hai bên đều bị tác động từ những đợt đánh pháo từ bờ bên kia. Thứ duy nhất nối quân Áo với quân Pháp lại là một cây cầu gỗ dài ở Lodi. Napoleon ra lệnh sử dụng khẩu pháo đến cầu để có thể đánh kẻ địch nhằm ngăn họ phá được cây cầu. Ông trực tiếp đứng lên chỉ đạo trận chiến và ra lệnh quân sĩ một mặt vừa tìm đường qua sông, mặt khác ra lệnh quân sĩ thực hiện một cuộc tiến đánh - gần như là tự sát - vào trên cầu.

Trận Lodi năm 1796
Trận Lodi năm 1796
Nhưng chính tinh thần hăng hái - sự giận dữ trứ danh của người Pháp này - đã bùng lên, và cuối cùng Napoleon đã giành được cây cầu, bất chấp cuộc phản công từ địch và lực lượng bộ binh. Năm ngày sau, Napoleon đã chiếm được Milan. 
Thực tế ngày hôm đó, cuộc vây cầu Lodi khiến người Pháp mất đến 900 người và quân Pháp chỉ đánh đúng hậu quân Áo. Dù vậy, câu chuyện này đã trở thành một huyền thoại về Napoleon, và từ cuộc chiến này hàng loạt các sĩ quan đánh trận hôm đấy - Lannes, Berthier và Massena đã trở thành những chỉ huy vĩ đại nhất của Napoleon. Napoleon cũng được trao tặng biệt danh - le petit caporal, một danh hiệu mà quân lính thường dành cho người chỉ huy yêu dấu của họ, một danh hiệu mà Napoleon yêu thích và khuyến khích họ theo đuổi. 
"Tôi không còn coi mình là một vị tướng bình thường nữa," Napoleon sau này đã nói như vậy về chiến thắng của mình, "mà là một người được triệu tập để quyết định vận mệnh của các dân tộc. Lúc đó, tôi nhận ra rằng mình thực sự có thể trở thành một nhân vật quyết định trên sân khấu của quốc gia. Tại thời điểm đó, tia lửa đầu tiên của tham vọng cao cả đã được nhen nhóm." 
Ông đã lặp lại điều này với rất nhiều người khác nhau trong rất nhiều dịp khác nhau suốt cuộc đời mình, đến mức trận Lodi thực sự có thể được coi là một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp của ông. Tham vọng ngông cuồng có thể là một điều kinh khủng, nhưng nếu nó được kết hợp với một tài năng kiệt xuất – một nguồn năng lượng biến hóa khôn lường, một mục đích vĩ đại, khả năng hùng biện thiên bẩm, một trí nhớ gần như hoàn hảo, sự nhạy bén về thời điểm và khả năng lãnh đạo đầy cảm hứng – nó có thể tạo ra những kết quả phi thường và nằm ngoài dự đoán của tất cả mọi người.

Beaulieu, giờ đang tuyệt vọng cho quân về thủ Mantua. Napoleon đã báo cáo láo về các thiệt hại quân số của mình, nhưng trên thực tế, đây là một đòn đánh cần thiết để kích động sĩ khí. Khi Napoleon báo cáo láo, điều đó khiến cho những chiến thắng vĩ đại nhất cũng trở nên khó tin - và câu nói “nói dối trên bảng tin” trở thành một phần trong ngôn ngữ Pháp. Khả năng báo cáo của Napoleon cũng từ đấy có thể biến các tin tức tệ thành xấu, xấu thành chấp nhận được và tốt trở thành chiến thắng vĩ đại. 

Tạm nghỉ

Napoleon muốn Josephine đến với mình - nhưng lúc này, Josephine lại bảo mình đã có thai. Điều này khiến Napoleon hạnh phúc ghê gớm, nhưng ông đâu biết được sự thực về cái sừng to tướng trên đầu mình. Vào ngày 20 tháng 4, lấy cớ một vụ giết người Pháp, Napoleon yêu cầu Venice trục xuất đại sứ Anh và những người Pháp di cư theo phe Bourbon, giao nộp toàn bộ hàng hóa của Anh, nộp một khoản đóng góp trị giá 20 triệu franc và bắt giữ những kẻ giết người.
Napoleon đã lờ đi lời hứa bồi thường của Tổng trấn cho vụ thảm sát Verona, nói rằng những đặc sứ của ông ta đang nhễ nhại máu người Pháp. Chỉ mười ngày sau khi bắt đầu cuộc chiến với Venice, Napoleon đã khơi mào một cuộc đảo chính trong thành phố. Bằng cách sử dụng thư ký của phái đoàn Pháp, Joseph Villetard để suy yếu tầng lớp quý tộc trị ở đ, vị Tổng trấn và hội đồng thủ lĩnh đã lẳng lặng tự giải tán Venice sau 1.200 năm tồn tại như một quốc gia độc lập. 
Họ cũng cố gắng hối lộ Napoleon, lần này là 7 triệu franc. Ông đáp lại: 
"Máu người Pháp đã bị đổ một cách hèn hạ; nếu các người có thể dâng cho ta kho báu của Peru — nếu các người có thể phủ vàng lên toàn bộ lãnh thổ của mình — thì sự tạ lỗi đó vẫn là chưa đủ: sư tử của Thánh Mark phải liếm bụi đường." 
Vào ngày 16 tháng 5, 5.000 quân Pháp dưới quyền Tướng Louis Baraguey d’Hilliers đã tiến vào Venice với tư cách là những "người giải phóng" và bốn con ngựa đồng vốn từng tô điểm cho Cổng chào Trajan ở Rome đã bị dỡ xuống từ cổng vòm của Vương cung thánh đường San Marco và đưa đến bảo tàng Louvre, nơi chúng ở lại cho đến khi được trả lại vào năm 1815. Hiệp ước với chính phủ bù nhìn Venice mới thân Pháp quy định rằng họ phải cung cấp ba tàu chiến và hai tàu hộ vệ cho hải quân Pháp, trả khoản đóng góp 15 million franc, cung cấp 20 bức tranh và 500 bản thảo, đồng thời bàn giao các lãnh thổ đất liền mà Pháp muốn chia cắt giữa Cộng hòa Cispadane và Áo. Đổi lại, Pháp đưa ra những lời tuyên bố về tình hữu nghị vĩnh cửu. Tất cả điều này được thực hiện mà không có sự tham gia của Hội đồng Đốc chính. 
Venice ngày nay
Venice ngày nay
Ông chuẩn bị ký kết thỏa thuận thứ năm. Vào ngày 23 tháng 5, các cuộc giao tranh trên đường phố đã nổ ra ở Genoa giữa những người dân chủ giacobini thân Pháp và lực lượng của tổng trấn cùng hội đồng thủ lĩnh Genovese. Các nhà chức trách đã chiếm ưu thế, và các tài liệu đã được phát hiện tiết lộ vai trò của Saliceti và Faipoult trong việc kích động cuộc nổi dậy thất bại này. Napoleon đã vô cùng giận dữ với những người dân chủ Genoa vì nổi dậy quá sớm, nhưng ông đã sử dụng cái cớ về cái chết của một số người Pháp để cử sĩ quan tùy tùng Lavalette đến dỗ dành chính quyền Geneva.
bản đồ Linguria
bản đồ Linguria
Giống như những người đồng cấp ở Venice, họ sớm đầu hàng và Napoleon đã đích thân soạn thảo hiến pháp cho một nước Cộng hòa Liguria mới — một lần nữa mà không có bất kỳ ý kiến đóng góp nào từ Hội đồng Đốc chính. Hiến pháp này dựa trên hiến pháp Pháp năm 1795. Napoleon xây dựng một cơ quan lập pháp lưỡng viện gồm 150 và 300 thành viên, ủng hộ quyền tự do tôn giáo, bình đẳng dân sự và các biện pháp tự quản địa phương, những nguyên tắc phản ánh không phải chủ nghĩa Jacobin nghiêm ngặt của những ngày đầu, cũng không phải (như một số người đương thời gợi ý) một tinh thần trả thù kiểu Corsica đối với Genoa. 
Ý, năm 1796
Ý, năm 1796
Nước Ý năm 1796, thay vì là một quốc gia thống nhất, chỉ là một khái niệm và một hệ thống thành quốc có sự tương đồng về văn hóa và ngôn ngữ chung, như Hy Lạp mấy trăm năm về trước. Lombardy là một nước bảo hộ của Pháp, Venetia là một tỉnh của Áo, Mantua thì đang bị quân đội Áo hay Thánh chế La Mã chiếm đóng. Các đại vương công, đại công tước và công tước Áo trấn thủ Tuscany, Modena, Lucca và Parma, các nước giáo hoàng chịu quyền cai trị trực tiếp từ giáo hội, Naples - Sicily là một vương quốc duy nhất dưới quyền của Ferdinand Đệ Tứ thuộc dòng Bourbon, và chế độ quân chủ Savoy vẫn cư trú ở Piedmont-Sardinia.
Những người Ý mơ mộng về một quốc gia thống nhất, do đấy không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đặt hy vọng vào tướng quân Napoleon, người duy nhất có đủ khả năng để thống nhất nước Ý. 
Trong khoảng 3 năm tiếp theo kể từ ngày Napoleon đặt chân đến Ý, Napoleon đã thiết lập hàng loạt thân cận giacobini - người Jacobin trong một loạt các nước cộng hòa chị em của họ. Ông xây dựng nền văn hóa chính trị Ý dựa trên Cách mạng Pháp, đề cao chế độ trọng dụng nhân tài, tinh thần dân tộc và tư duy tự do hơn là Công giáo hay chủ nghĩa địa phương. 
Đây cũng là chương trình nghị sự chính trị của Hội đồng Đốc chính, mặc dù Napoleon ngày càng áp đặt quan điểm của mình mà tôn trọng ý kiến của họ ít hơn. Những giacobini được thấm nhuần các nguyên tắc của Cách mạng, và trong thời kỳ nắm quyền sau này, ông đã cho họ quyền lực và quyền thực thi một cách hạn chế.
Tuy nhiên, quyền lực thực sự của các chính phủ giacobini không bao giờ vươn xa hơn các thành phố, và hiếm khi kéo dài lâu. Quyền lực của Pháp quá thô bạo, thô thiển, quá tập trung vào trung ương, quá đòi hỏi và quá xa lạ đối với hầu hết người Ý. Mặt khác, cần lưu ý rằng ngoại trừ vài tháng ở Lombardy vào mùa hè năm 1796, và sau đó là ở vùng nông thôn miền nam Calabria cực kỳ sùng đạo Công giáo, đã không có cuộc nổi dậy lớn nào chống lại sự cai trị của Napoleon ở Ý như đã xảy ra ở Tyrol và Tây Ban Nha, bởi vì nhìn chung người Ý chấp nhận rằng các phương thức quản lý của Pháp tốt hơn cho họ so với Đế quốc Áo trước đây.
Calabria ngày nay
Calabria ngày nay
Các cải cách mà Napoleon áp đặt lên các vùng lãnh thổ mới chinh phục bao gồm xóa bỏ thuế quan nội địa, giúp kích thích phát triển kinh tế; chấm dứt các hội đồng quý tộc và các trung tâm đặc quyền phong kiến khác; tái cơ cấu tài chính nhằm giảm nợ công; chấm dứt hệ thống phường hội hạn chế; áp đặt sự khoan dung tôn giáo; đóng cửa các khu bài trừ Do Thái giáo và cho phép người Do Thái sống ở bất cứ đâu, và đôi khi là quốc hữu hóa tài sản của Giáo hội.
Những biện pháp hiện đại hóa này, vốn được lặp lại ở hầu hết các vùng lãnh thổ mà ông chinh phục trong thập kỷ tới, đã được những người tiến bộ thuộc tầng lớp trung lưu ở nhiều vùng đất ngoài nước Pháp hoan nghênh, kể cả những người căm ghét Napoleon. Quan điểm của Voltaire rằng nền văn minh châu Âu đang trên đà tiến bộ là quan điểm khá phổ biến ở Pháp thời Napoleon, và nó là nền tảng cho sứ mệnh khai hóa của ông.
Ở những nơi ông xóa bỏ Tòa án dị giáo, các hủ tục phong kiến, các quy định bài Do Thái và những hạn chế về thương mại, công nghiệp như hệ thống phường hội, Napoleon cũng mang lại ánh sáng văn minh thực sự cho người dân Ý. 
Để thuyết phục châu Âu về sự ưu việt cốt lõi của mô hình chính phủ Pháp, Napoleon cần sự hợp tác tích cực từ người dân bản địa. Ông có thể thắng trong chiến tranh, nhưng Napoleon nhà quản lý phải nhanh chóng ổn định để giành lấy hòa bình. Là những nhà lãnh đạo nhiệt thành của cái mà họ thực sự coi là một hình thức văn minh mới – mặc dù bản thân từ "văn minh" chỉ mới du nhập vào từ vựng tiếng Pháp trong những năm 1760 và rất ít được sử dụng trong kỷ nguyên Napoleon – giới tinh hoa cách mạng Pháp thực sự tin rằng họ đang thúc đẩy phúc lợi của châu Âu dưới sự lãnh đạo của Pháp.
Châu Âu năm 1796
Châu Âu năm 1796
Họ đang đề nghị một mô hình địa chính trị mới mà điều kiện tiên quyết tất nhiên là sức mạnh quân sự không thể tranh cãi của Pháp. Kể từ thời Louis XIV, Pháp đã tự gọi mình là "Quốc gia Vĩ đại" - sau này sẽ là Đại Quân và Đại Đế chế, và vào tháng 8 năm 1797, tờ báo của Đội quân Ý đã thổi phồng quan điểm rằng
"Mỗi bước đi của Quốc gia Vĩ đại đều được đánh dấu bằng những phước lành!" 
Dưới thời Đốc chính, các sĩ quan Pháp đã nâng ly trong các bữa tiệc yêu nước với những lời chúc như "Vì sự thống nhất của những người cộng hòa Pháp; cầu mong họ noi gương Tập đoàn quân Ý và, với sự hỗ trợ của nó, lấy lại năng lượng phù hợp cho quốc gia hàng đầu trên Trái đất!" Mặc dù điều này có ý định tốt, vẫn không thể phủ nhận tư tưởng Đế quốc và khai hóa văn minh đã nảy sinh từ giai đoạn xuất hiện và cầm quyền của Napoleon. 
Các học giả rất ấn tượng với việc bãi bỏ kiểm duyệt của Napoleon, mặc dù tất nhiên điều này không bao gồm việc chỉ trích sự chiếm đóng của Đế quốc Pháp. Và để bất cứ điều nào trong nhãn quan của họ có thể đơm hoa kết trái, Napoleon cần phải chiếm được hoàn toàn bắc Ý, và vào tháng 5 năm 1796 - vẫn có một lượng lớn cánh quân Áo đang ở bên trong đại thành Mantua, với rất ít hy vọng về khả năng được giải cứu. Napoleon tuyên bố với các binh sĩ: 
"Các anh đã lao xuống như thác lũ từ đỉnh dãy Apennines. Các anh đã lật đổ và phân tán mọi thứ chống lại cuộc hành quân của các anh... Các Công tước xứ Parma và Modena nợ sự tồn tại chính trị của họ chỉ nhờ sự hào phóng của các anh... Những thành công lớn lao này đã lấp đầy niềm vui trong trái tim của đất nước các anh... Ở đó, cha, mẹ, vợ, chị em và những người thân yêu của các anh đang vui mừng trước vận may của các anh, và tự hào khoe khoang rằng họ thuộc về các anh."
Lời khen ngợi thật hào phóng, nhưng bất kỳ người lính nào hy vọng được nghỉ ngơi và hồi phục ở Milan đều lập tức bị vỡ mộng:
"Sự nghỉ ngơi ủy mị thật nhàm chán đối với các anh: những ngày mất đi vì vinh quang là những ngày mất đi hạnh phúc của các anh. Vậy thì, hãy lên đường! Chúng ta vẫn còn những cuộc hành quân cưỡng bách phải thực hiện, những kẻ thù phải khuất phục, những vòng nguyệt quế phải gặt hái, những tổn thương phải trả thù... Các anh sẽ trở về nhà và quê hương. Người ta sẽ chỉ tay vào các anh và nói: 'Anh ấy thuộc về Tập quân đoàn Ý'."
Vào ngày 23 tháng 5, một cuộc nổi dậy chống lại sự chiếm đóng của quân Pháp tại Pavia, do các linh mục Công giáo dẫn đầu, đã bị Lannes đàn áp dã man. Một sự việc tương tự đã diễn ra vào ngày hôm sau tại Binasco, cách Milan 10 dặm về phía tây nam. Cuộc nổi loạn dẫn đầu bởi những người nông dân có vũ trang, những kẻ đã phát động các cuộc tấn công vào tuyến liên lạc của quân Pháp và bị đáp trả bằng một cuộc đốt phá tại Binasco. 
Tướng quân Lannes
Tướng quân Lannes
Vụ đốt Binasco tương tự như kiểu hành động chống du kích đang diễn ra trên khắp vùng Vendée, nơi các vụ thảm sát và đốt làng được sử dụng để chống lại quân Chouan. Napoleon tin rằng "đổ máu là một trong những thành phần cần thiết của liệu pháp chính trị", nhưng ông cũng cho rằng những hình phạt nhanh chóng và chắc chắn sẽ giúp tránh được sự đàn áp trên quy mô lớn. Ông gần như không bao giờ tàn bạo một cách vô cớ và có thể nhạy cảm trước sự đau khổ của con người. 
Một tuần sau vụ Binasco, ông nói với Hội đồng Đốc chính: "Mặc dù cần thiết, nhưng cảnh tượng này vẫn thật kinh khủng; tôi bị ảnh hưởng đau đớn bởi nó." Mười năm sau, Napoleon viết trong phần tái bút của một lá thư gửi Junot: "Hãy nhớ lấy Binasco; nó mang lại cho ta sự yên bình trên khắp nước Ý, và tránh việc phải đổ máu hàng ngàn người. Không gì có lợi hơn những tấm gương răn đe nghiêm khắc thích đáng." "Nếu các anh gây chiến," ông nói với Tướng d’Hédouville vào tháng 12 năm 1799, "hãy tiến hành nó bằng sự năng nổ và nghiêm khắc; đó là cách duy nhất để làm cho cuộc chiến ngắn hơn và do đó ít thê thảm hơn đối với nhân loại."
Trong cuộc nổi dậy ở Pavia, vốn lan rộng ra phần lớn vùng Lombardy, năm trăm con tin từ những gia đình giàu có nhất địa phương đã bị đưa đến Pháp với tư cách là quốc-gia-tù-nhân để đảm bảo hành vi tốt. Tại vùng nông thôn quanh Tortona, Napoleon đã phá hủy tất cả các chuông nhà thờ từng được sử dụng để kêu gọi nổi dậy, và không chút do dự khi xử bắn bất kỳ linh mục làng nào bị bắt quả tang đang lãnh đạo các băng đảng nông dân. Mặc dù thái độ chống giáo sĩ trước đây của ông tại Corsica là đủ để khiến ông oán giận những gì ông gọi là la prêtraille - đám linh mục giả tạo, thì điều đó giờ đây đã được củng cố thêm bởi cách các linh mục giáo xứ khuyến khích các cuộc nổi dậy. Tuy nhiên, điều này cũng gieo vào lòng ông sự tôn trọng đối với quyền lực của Giáo hội như một tổ chức, một thế lực mà ông nhận ra rằng mình không thể hoàn toàn chống lại. 
Lá thư gửi đến cho Josephine
Lá thư gửi đến cho Josephine
Đến cuối tháng 5, Napoleon đang bước vào một cuộc khủng hoảng hiện sinh. Josephine đã ngừng viết thư cho ông, bất chấp hàng loạt bức thư dài cực kỳ sến súa và chìm đắm trong tình yêu:
“Anh có linh cảm rằng em đã lên đường đến đây," ông viết trong một lá thư, "ý nghĩ đó làm anh ngập tràn niềm vui... Đối với anh, sự hiện diện của em sẽ làm anh hạnh phúc đến mức anh sẽ hoàn toàn đánh mất lý trí. Anh khao khát đến cháy lòng được nhìn thấy em mang thai... Không, tình yêu ngọt ngào của anh, em sẽ đến đây, em sẽ rất khỏe; em sẽ sinh ra một đứa trẻ xinh đẹp như mẹ nó, đứa trẻ sẽ yêu em như yêu cha nó, và khi em về già, khi em trăm tuổi, nó sẽ là niềm an ủi và niềm vui của em... hãy đến nhanh để nghe nhạc hay và ngắm nhìn nước Ý xinh đẹp. Nơi đây không thiếu thứ gì ngoại trừ hình bóng của em."
Josephine đã không rời Paris thêm một tháng nữa, vì bà quá mê mẩn bộ quân phục màu xanh da trời, đôi ủng da thuộc màu đỏ, chiếc quần chẽn bó sát kiểu Hungary cùng những trò đùa vớ vẩn của Hippolyte Charles.

Chiến dịch tiếp diễn

Ngày 2 tháng 6 năm 1796, Napoleon bắt đầu cuộc vây Mantua nổi tiếng của ông. Mantua, chốt chặt quan trọng nhất của quân đội Áo và minh chứng cho tầm kiểm soát của Áo ở Lombardy, là pháo đài kiên cô nhất Bắc Ý thời bấy giờ. Lực lượng của Napoleon bị dàn trải cực mỏng, với một cánh quân vây Mantua và cánh quân bên kia vẫn đang chiếm Đại Thành của Milan, và một cánh khác đang phải theo dõi viện quân Áo từ Tyrol trong khi dập tắt cuộc nổi dậy ở miền bắc.
Mặt khác, chỉ thị thiếu khả thi của chính quyền Paris về việc truyền bá cách mạng về phía nam qua các Quốc gia giáo hoàng cũng như trục xuất Hải quân Hoàng gia khỏi Livorno thêm với cả lệnh đe dọa Venice càng khiến tình hình Napoleon thêm mệt mỏi, căng thẳng. 
Trước đó, trong trận Borghetto vào ngày 30 tháng 5, Napoleon đã vượt sông Mincio và buộc tướng quân Beaulieu phải rút về phía bắc, hướng về Trento. Sau khi suýt bị bắt, Napoleon đã xây dựng một đại đội lính mới để bảo vệ ông - tiền thân của đội Chasseurs à Cheval de la Garde, dưới quyền chỉ huy của Tướng Jean-Baptiste Bessières điềm tĩnh và thận trọng, một trong những bạn thân nhất và cũng là cố vấn thân cận nhất của Tướng quân Napoleon. Sau trận Borghetto, Hoàng đế Francis xứ Áo đã miễn nhiệm Beaulieu khỏi quyền chỉ huy Tập đoàn quân Áo ở Ý - mặc dù ông ta vẫn giữ quyền chỉ huy Mantua - và bổ nhiệm Thống chế Dagobert von Wurmser, một người gốc Alsace và lại là một người đã ngoài 70 tuổi, một chiến binh dày dặn kinh nghiệm trong Chiến tranh Bảy năm. 
Bốn pháo đài, trong đó có cả Mantua, đang là điểm then chốt để Áo nắm giữ được Ý - Mantua, Peschiera, Legnagno và Verona. Chúng bảo vệ các lối vào các con đèo vào nước Ý ở Bắc và Đông, cùng với đó là các lối tiếp cận sông Po cùng hồ Garda. Napoleon đang sử dụng đến 4 vạn quân để vây Mantua lẫn gìn giữ các tuyến liên lạc thông suất từ Adige. 
Mantua ngày nay
Mantua ngày nay
Từ tháng 6 năm 1796 đến tháng 2 năm 1797, Mantua đã bị bao vây, ngoại trừ năm tuần ngắn ngủi mà sắp tới đây sẽ được miêu tả. Được bảo vệ ở ba phía bởi một hồ nước rộng và phía thứ tư bởi những bức tường cao dày, Pháo đài Mantua là một thách thức ghê gớm đối với bất kỳ kẻ tấn công nào. Quân bị vây đông hơn quân vây hãm rất nhiều, và ít nhất là ban đầu, người Áo đã bắn số lượng đạn đại bác vào quân Pháp còn nhiều hơn số pháo mà quân Pháp có thể bắn trả. Nhưng đến đầu tháng 6, Napoleon đã nhận được cung ứng cần thiết, một số là rất tốt từ các đồng bằng Lombardy và bằng các khoản đóng góp đến từ chính quyền Pháp. 
Vào ngày 5 tháng 6, Napoleon gặp nhà ngoại giao André-François Miot de Melito, bộ trưởng Pháp tại Tuscany. Miot đã viết về cuộc gặp của họ và ấn tượng đầu của Napoleon như sau: 
"vóc dáng cực kỳ mảnh khảnh. Mái tóc rắc phấn, cắt một cách kỳ lạ và rơi xuống ngang bằng dưới tai, dài chạm vai. Ông mặc một chiếc áo khoác thẳng, cài khuy đến tận cằm, viền thêu vàng rất hẹp, và đội một chiếc mũ có gắn lông vũ ba màu. Thoạt nhìn, ông không gây ấn tượng với tôi là một người đẹp trai, nhưng những đường nét nổi bật, đôi mắt nhanh nhẹn và sắc sảo, cùng những cử chỉ bộc trực và linh hoạt của ông đã bộc lộ một tinh thần nồng nhiệt, trong khi vầng trán rộng và trầm tư là vầng trán của một nhà tư tưởng sâu sắc."
Miot lưu ý rằng khi Napoleon ra lệnh cho Murat, Junot và Lannes, tất cả đều: 
"Mọi người đều duy trì một thái độ tôn trọng đối với ông, tôi thậm chí có thể nói là ngưỡng mộ. Tôi không thấy bất kỳ dấu hiệu thân mật nào giữa ông và các bạn đồng hành như tôi đã quan sát trong các trường hợp khác, vốn phù hợp với sự bình đẳng cộng hòa. Ông ấy đã tự xác lập vị trí của mình và giữ khoảng cách với người khác." 
Điều này là cố ý; ngay cả khi ở tuổi hai mươi bảy, Napoleon đã bắt đầu sử dụng các sĩ quan tùy tùng, thư ký và nhân viên phục vụ để nâng cao vị thế và xây dựng vòng tròn quan hệ của riêng mình. Vì mục đích này, ông đã bổ nhiệm hai sĩ quan tùy tùng mới tham gia cùng Junot, Marmont, Muiron và Murat. Đó là Joseph Sulkowski, một đại úy người Ba Lan trong quân đội cách mạng, và Géraud Duroc, một sĩ quan pháo binh. Nhiều năm sau, Napoleon mô tả Duroc là "người duy nhất có được sự gần gũi và sự tin tưởng hoàn toàn của ông". Duroc là một trong số rất ít người không thuộc gia đình Napoleon được phép dùng từ “cậu” khi nói chuyện với ông - cũng như Bessieres và Lannes, Duroc cũng sẽ là một trong những người bạn vĩ đại nhất của Hoàng đế tương lai của nước Pháp.
Duroc
Duroc
Tại Paris, Hội đồng Đốc chính đang ở trong một tình thế mong manh. Với lạm phát mất kiểm soát –, tình hình chính trị đang ở trạng thái căng thẳng hơn bao giờ hết. Sự bất mãn với chính phủ lên thêm một nấc vào tháng 5 năm 1796, khi một thành viên bên phe bảo hoàng lập hiến tên Barthelemy trở thành đốc chính và củng cố phe bảo hoàng trong cuộc bầu cử. 
Napoleon đã không thể chấp nhận cứu nền Cộng hòa tại Vendémiaire chỉ để chứng kiến nó bị phe bảo hoàng thay thế, vì vậy ông đã cử Lavalette đến Paris để quan sát các diễn biến chính trị tại đó. Lavalette đã phát hiện ra các âm mưu khôi phục nhà Bourbon, trong đó có một âm mưu liên quan đến Tướng Charles Pichegru, cựu huấn luyện viên quân sự tại Brienne và là tướng quân chinh phục Hà Lan, nhưng cũng có những âm mưu từ cánh tả cực đoan. 
Pichegru
Pichegru
Napoleon đặc biệt nhạy cảm với sự phản đối đối với các hành động của chính mình trong Quốc hội. Khi một đại biểu ôn hòa, cựu thành viên phái Girondin tên là Joseph Dumolard có bài phát biểu phàn nàn rằng Venice đã bị đối xử quá gắt gỏng, rằng Quốc hội luôn trong tình trạng không biết gì về các hiệp ước của Napoleon và rằng Napoleon - hay ở đấy là “nước Pháp” đã vi phạm luật pháp quốc tế khi can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, Napoleon đã phản ứng dữ dội. 
Napoleon đã sử dụng bài diễn văn Ngày Bastille của mình gửi tới quân đội để cảnh báo phe đối lập trong nước và tuyên bố chúng sẽ không còn tồn tại một khi dám chống đối ông nữa. Năm ngày sau, Napoleon tổ chức lễ kỷ niệm lớn tại Milan, tuyên bố rằng Tập đoàn quân Ý đáng tin cậy hơn so với những thành viên của Tập đoàn quân Rhine.
Bernadotte
Bernadotte
Sự ghét bỏ lẫn nhau giữa hai lực lượng này lớn đến mức khi sư đoàn của tướng quân Bernadotte từ Đức đến Ý vào đầu năm 1797, các cuộc ẩu đả đã nổ ra giữa các sĩ quan, và khi Napoleon trao cho Bernadotte vinh dự mang những lá cờ chiếm được ở Rivoli trở về Paris, một số người cho rằng đó là một mưu mẹo để loại bỏ ông ta khỏi Ý. Mối quan hệ của Napoleon với Bernadotte, một người đầy tham vọng và độc lập, vốn luôn căng thẳng, và sẽ còn trở nên căng thẳng hơn nhiều vào năm sau khi Bernadotte kết hôn với Désirée Clary, vị hôn thê cũ của Napoleon.
Chính quyền Đốc Chính đã đề xuất để Napoleon tiến quân vào Naples dưới triều đình Bourbon, nhưng ông quá hiểu việc nam tiến sẽ bỏ lỡ mặt trận Tyrol - và việc hành quân dưới mùa hè không khác gì tự sát. Thay vì nghe lệnh, Napoleon đã thách thức chúng. Ông lệnh cho Miot đàm phán một hiệp định đình chiến với Naples, yêu cầu vương quốc này rút các trung đoàn khỏi quân đội Áo cùng các tàu chiến của họ phải rời khỏi Hải quân Hoàng gia ở Livorno. Phương án thay thế sẽ là cuộc xâm lược Naples đến từ Tập đoàn quân Ý. Bị đe dọa bằng một cuộc xâm lược, nhà ngoại giao người Naples đã chấp nhận hiệp ước chỉ trong vòng hai giờ. Nữ thần may mắn đã mỉm cười với Napoleon. 
Trở lại Milan vào ngày 5 tháng 6, Napoleon lại viết thư cho Josephine, người mà ông vẫn nghĩ là đang mang thai và trên đường đến gặp ông. Những lời lẽ cuồng nhiệt của tình yêu, sự giận dữ, bối rối và sự tự thương hại ( self-pity ), cùng với số lượng của những bức thư, cho thấy việc viết thư hẳn là một hình thức giải tỏa, một lối thoát khỏi những áp lực chính trị và quân sự đang bủa vây ông lúc bấy giờ. Trong thời đại của lối viết thư lãng mạn đầy tự ý thức, Napoleon rõ ràng đang cố gắng tạo ra hiệu ứng mạnh nhất có thể, và ranh giới giữa những gì ông viết cho vợ mình với thế giới tưởng tượng trong câu chuyện có phần đồi trụy Clisson et Eugénie của Napoleon gần như vô hình.
 "Tâm hồn anh vốn tràn đầy mong đợi niềm vui," một lá thư viết, "nay lại ngập tràn nỗi buồn. Những chuyến bưu điện cứ đến mà không mang lại điều gì từ em. Khi em viết thư, đó chỉ là vài dòng ngắn ngủi, chẳng có chút bằng chứng nào của tình cảm sâu sắc. Tình yêu của em dành cho anh chỉ là một thú vui thất thường nhẹ nhàng; em cảm thấy thật nực cười nếu trái tim em đã thực sự gắn kết sâu đậm... Còn về phần anh, hy vọng duy nhất còn lại là việc nhớ về anh sẽ không khiến em ghê tởm... Trái tim anh chưa bao giờ chứa đựng những cảm xúc tầm thường... nó đã tôi luyện bản thân chống lại tình yêu; em đã đến và khơi dậy một niềm đam mê vô hạn, một sự say mê làm tha hóa con người. Ý nghĩ về em đã chiếm vị trí ưu tiên hơn mọi thứ khác trong tâm hồn anh, cả vũ trụ này chẳng là gì cả; thú vui nhỏ nhất của em cũng là mệnh lệnh thiêng liêng đối với anh; được nhìn thấy em là hạnh phúc tối thượng của anh. Em thật xinh đẹp, thật duyên dáng; một tâm hồn ngọt ngào, thiên đường tự biểu hiện qua những sắc thái thiên giới trên khuôn mặt em... Tàn nhẫn!!! Làm sao em có thể để anh tưởng tượng nơi em những cảm xúc mà em chưa bao giờ có!!! Nhưng những lời trách móc thật không xứng với anh. Anh chưa bao giờ tin vào hạnh phúc. Cái chết vờn quanh anh mỗi ngày... Liệu cuộc đời có đáng giá tất cả những ồn ào và náo nhiệt mà chúng ta tạo ra về nó không? Vĩnh biệt, Josephine... Hàng ngàn lưỡi dao đâm vào tim anh; xin đừng cắm chúng sâu hơn nữa. Vĩnh biệt hạnh phúc của anh, cuộc đời của anh, tất cả những gì thực sự tồn tại đối với anh trên trái đất này."
Sự thất bại với mối tình về Desiree, đã khiến Napoleon tìm đến văn chương để giải tỏa nỗi đau. Sự thất thế của Corsica, đã khiến Napoleon dùng văn chương để giải thích tư tưởng Jacobin và bày tỏ lòng căm thù của nước Pháp. Hiện tại, Napoleon thực sự gửi những bức thư tình với cảm xúc lên đồng này đến cho Josephine - người cũng đang bận lên đồng với tay tình nhân riêng của bà ta.  Đến lúc đó, Napoleon dường như cuối cùng đã đoán ra có điều gì đó không ổn, vì ngày hôm đó ông đã viết cho tình cũ của nàng là Barras: 
"Tôi tuyệt vọng vì vợ tôi không đến với tôi; nàng có gã nhân tình nào đó giữ nàng ở Paris. Tôi nguyền rủa tất cả phụ nữ nhưng tôi ôm những người bạn tốt của mình bằng tất cả trái tim."
Chính với Josephine, ông đã viết để nói rằng ông gần như chấp nhận thực tế là nàng không còn yêu ông nữa – nếu nàng thực sự đã từng yêu – nhưng rồi ngay khoảnh khắc tiếp theo, ông lại không thể chấp nhận kết luận có phần hiển nhiên này đến mức ông bám víu vào mọi khả năng khác, bao gồm cả ý nghĩ rằng nàng có thể đang hấp hối,
"Em không còn yêu anh nữa. Anh chỉ còn cách chết đi... giá mà có thể như vậy!!! Tất cả những con rắn của các nữ thần báo thù đều nằm trong tim anh, và giờ đây anh chỉ còn sống dở chết dở. Ôi! Em... nước mắt anh tuôn rơi, chẳng còn sự nghỉ ngơi cũng không còn hy vọng. Anh tôn trọng ý chí và quy luật bất biến của số phận này; nó đè nặng lên anh bằng vinh quang để khiến anh cảm nhận nỗi bất hạnh của mình cay đắng hơn. Anh sẽ dần quen với mọi thứ trong trạng thái sự việc mới này; nhưng anh không thể quen với việc không còn tôn trọng nó; nhưng không, điều đó là không thể, Josephine của anh đang trên đường đến; nàng yêu anh, ít nhất là một chút; quá nhiều tình yêu đã hứa hẹn không thể tan biến trong hai tháng. Anh ghét Paris, ghét phụ nữ và những chuyện yêu đương... Trạng thái sự việc đó thật kinh khủng... và cách cư xử của em... Nhưng anh có nên buộc tội em không? Không, cách cư xử của em là do số phận của em. Thật tốt bụng, thật xinh đẹp, thật dịu dàng, lẽ nào em lại là công cụ gây ra nỗi tuyệt vọng của anh? . . . Vĩnh biệt Josephine của anh; ý nghĩ về em từng khiến anh hạnh phúc, nhưng tất cả giờ đã thay đổi. Hãy ôm những đứa con đáng yêu của em thay anh. Chúng viết cho anh những lá thư thú vị. Vì anh không được phép yêu em nữa, anh càng yêu chúng hơn. Bất chấp số phận và danh dự, anh sẽ yêu em suốt cuộc đời này. Đêm qua anh lại đọc tất cả những lá thư của em, kể cả bức thư viết bằng máu của em: những cảm xúc đó đã khiến anh phải trải qua!"
Có lúc ông yêu cầu nàng đừng tắm trong ba ngày trước khi họ gặp nhau để ông có thể đắm mình trong hương thơm của nàng. Đến ngày 15 tháng 6, ông đã thẳng thắn nói với nàng, "Anh không thể chịu đựng được một gã nhân tình, càng không thể cho phép em có một gã." Ông nói rằng ông nhớ lại một giấc mơ "trong đó anh cởi ủng, cởi váy của em, và khiến em nhập vào tận trái tim anh."
Napoleon và Josephine nhiều năm sau đó
Napoleon và Josephine nhiều năm sau đó
Mặc dù Napoleon đã viết hàng trăm trang thư chứa chan cảm xúc cho Josephine, không ngớt lời ám chỉ rằng ông sẽ tự sát nếu có chuyện gì xảy ra với nàng, nhưng ông hiếm khi kể cho nàng bất cứ điều gì về cuộc chiến. Ông cũng không tin tưởng chia sẻ với nàng những suy nghĩ thầm kín nhất của mình về con người hay sự kiện. Có lẽ vì ông sợ rằng những lá thư của mình, vốn mất hai tuần mới đến được Paris bằng đường chuyển phát đặc biệt, có thể bị kẻ thù bắt được. Hoặc có lẽ, như nhà chính trị người Anh John Wilson Croker nhận xét trên tờ Quarterly Review năm 1833, khi 238 lá thư của Napoleon gửi Josephine lần đầu tiên được xuất bản, là vì ông nghĩ nàng "phù phiếm, thất thường và nông nổi – quá kiêu ngạo nên dễ bị nịnh nọt, quá thiếu kín đáo nên không thể tin tưởng". 
Croker đã rất khắt khe, nhưng không phải là bất công, khi chỉ trích những lá thư đó thể hiện:
"hông có sự tin tưởng thực sự, không có sự trao đổi về tư tưởng... không có sự chia sẻ những suy nghĩ nghiêm túc...., không có sự đồng nhất về lợi ích!
Napoleon có khả năng phân loại những vấn đề cuộc sống của mình, để những mối bận tâm này không bao giờ lấn sang những mối bận tâm khác – có lẽ đây là một đặc điểm cần thiết cho bất kỳ chính trị gia vĩ đại nào, nhưng ông sở hữu nó ở một đẳng cấp phi thường đến mức chuyên nghiệp. Giữa cơn bão táp trong đời sống cá nhân và sự nhận thức ngày càng lớn, day dứt rằng người phụ nữ ông tôn thờ chỉ dành cho ông tình cảm nguội lạnh, Napoleon vẫn đang hoàn thiện những bước cuối cùng cho một kế hoạch chiến dịch táo bạo. Wurmser sẽ đến, và sẽ chứng kiến cơn ác mộng mang tên Napoleon tại Bắc Ý. 
Mặc dù kẻ thù chính của Napoleon luôn là nước Áo trong suốt chiến dịch Ý, ông đã có thể tận dụng những khoảnh khắc ngắn ngủi khi quân Áo không gây ra mối đe dọa nào để bảo vệ hậu phương của mình. Tập đoàn quân Ý đến các nước giáo hoàng vào tháng 6 năm 1796, họ bắt đầu châm tẩu thuốc bằng nến trên bàn thờ, họ tiến vào Modena ngày 18 tháng 6 và ngày hôm sau là Bologna, trục xuất chính quyền giáo hoàng và ký kết các điều khoản trong vòng 1 tuần. Tiền tài và đồ vật có giá trị văn hóa - lịch sử bị tước đoạt, đến ngày 21 tháng 6 thì Napoleon gửi lên hội đồng đốc chính về một tập đoàn quân trung bình đang phải đối mặt với những tình huống không trung bình chút nào cả. Thực tế, Hội đồng Đốc chính cung cấp rất ít quân tiếp viện, vì vẫn coi sông Rhine là chiến trường quan trọng hơn nhiều.
Sự tương tác khôn ngoan giữa đe dọa và thái độ thờ ơ đóng một vai trò quan trọng cho lí do vì sao Tập đoàn quân Ý vẫn không bị chính những người dân họ đô hộ đánh lại. "Ở nơi này, người ta phải đốt và bắn để tạo ra sự kinh hoàng," ông viết vào ngày 21 tháng 6, "và ở nơi kia, người ta phải giả vờ như không thấy vì chưa đến thời điểm hành động."
Ông đánh vào niềm kiêu hãnh của những kẻ mà ông định chinh phục nhưng không để họ nghi ngờ về hậu quả của việc kháng cự.
"Quân đội Pháp yêu thương và tôn trọng tất cả các dân tộc, đặc biệt là những cư dân giản dị và đức hạnh của vùng núi," một bản tuyên ngôn gửi người xứ Tyrol viết vào tháng đó. "Nhưng nếu các người phớt lờ lợi ích của chính mình và cầm vũ khí lên, chúng ta sẽ trở nên khủng khiếp như ngọn lửa từ thiên đàng."
Napoleon nhờ vào Berthier để thực hiện các công tác ngoại giao, và người Anh đã bắt đầu bị trục xuất khỏi Đại công quốc Tuscany. Đại thành Milan thất thủ vào ngày 29, nhưng trước đó 3 ngày,, Josephine cuối cùng cũng rời Paris để đến Milan trong nước mắt. Đi cùng bà là Joseph Bonaparte, người hầu gái Louise Compoint, em rể của Joseph là Nicolas Clary, nhà tài chính Antoine Hamelin, Junot, bốn người hầu, một đội hộ tống kỵ binh và chú chó nhỏ Fortuné của Josephine—chú chó từng cắn Napoleon trên giường và sau đó thất bại trong cuộc chiến không cân sức với chú chó to lớn và hung dữ hơn của đầu bếp nhà Napoleon. Với sự trơ trẽn đến kinh ngạc, Josephine còn mang theo cả "gã hussar phòng khuê" Hippolyte Charles của mình. Junot đã quyến rũ Louise trên đường đi, nên Josephine đã sa thải cô ta khi họ đến Milan, qua đó biến Junot thành kẻ thù. Hai năm sau, bà sẽ vô cùng hối tiếc về điều này.
Joseph Bonaparte
Joseph Bonaparte
Napoleon ngập chìm bà trong những lá thư tình dài trên suốt hành trình về phía nam, một bức thư kinh điển kết thúc bằng:
"Vĩnh biệt, tình yêu của anh, một nụ hôn trên môi em – một nụ hôn nữa trên trái tim em" và mong chờ khoảnh khắc "anh có thể được ở trong vòng tay em, dưới chân em, trên bộ ngực em." Từ Pistoia ở Tuscany, ông viết cho bà rằng ông có những chiếc túi "đầy ắp những lá thư mà anh chưa bao giờ gửi cho em vì chúng quá ngốc nghếch, quá khờ dại – bête / ngu ngốc chính là từ đó."
Xét đến bản chất của những lá thư ông thực sự gửi, những bức thư này hẳn phải rất quá khờ dại. Trong một màn tái hiện sự tự hành xác về mặt cảm xúc trước đây, ông viết:
"Cứ chế giễu anh tùy thích, cứ ở lại Paris, cứ tìm nhân tình và cho cả thế giới biết điều đó, đừng bao giờ viết thư cho anh – Chà! Anh sẽ chỉ yêu em gấp mười lần hơn!"
Josephine đến Cung điện Serbelloni vào ngày 10 tháng 7, và Napoleon gặp bà ở đó ba ngày sau, sau khi đã hành quân 300 dặm từ Milan qua các thành phố Peschiera, Brescia, Tortona, Modena, Bologna, Livorno, Florence, Roverbella, Verona của người Habsburg, Giáo hoàng, Venice và các thành phố độc lập trong vòng sáu tuần, khuất phục toàn bộ miền trung nước Ý và thu giữ các khoản quân phi tổng cộng hơn 40 triệu franc.
Bạn của Napoleon - Junot
Bạn của Napoleon - Junot
Ông hoàn toàn không hay biết về Hippolyte Charles – cả Junot, Murat hay Joseph Bonaparte đều không định nói cho ông biết – và Josephine dường như đã phản ứng nồng nhiệt trước sự quan tâm của ông, bất kể bà cảm thấy thế nào về mặt tình cảm. Hamelin nhớ lại rằng: 
Thỉnh thoảng ông sẽ rời khỏi phòng làm việc để chơi đùa với bà như thể bà là một đứa trẻ. Ông sẽ trêu chọc bà, khiến bà kêu lên, và vùi lấp bà trong những cử chỉ âu yếm thô bạo đến mức tôi buộc phải đi ra cửa sổ và quan sát thời tiết bên ngoài.
Đó chắc chắn là một mối quan hệ rất gần gũi về thể xác; nhà viết kịch Carrion de Nisas ghi lại rằng: 
Madame Bonaparte không còn trẻ cũng không xinh đẹp, nhưng bà cực kỳ khiêm tốn và thu hút. Bà thường xuyên âu yếm chồng mình, người có vẻ rất tận tâm với bà. Bà thường khóc, đôi khi hằng ngày, vì những lý do rất tầm thường.
Napoleon đã triệu tập Joseph, người mà Saliceti đã dành cho cấp bậc tổng ủy viên trong Tập đoàn quân Ý, để có một người đàn anh bên cạnh mà ông có thể tin tưởng giao phó những cuộc đàm phán bí mật. Với tư cách đó, Joseph được em trai sử dụng cho các nhiệm vụ tới Livorno, Parma và Rome, và sau đó ông cùng Miot de Melito đi tái thiết lập quyền kiểm soát của Pháp đối với Corsica. Trong quá trình thực hiện các chuyến viễn chinh này, Joseph đã bắt đầu khai mở năng lực ngoại giao xuất chúng của mình. 
Napoleon chỉ có thể ở lại hai đêm với Josephine. Tướng quân Wurmser đang tiến về phía nam với 5 vạn quân và người Pháp cần chiếm Mantua từ tay Beaulieu trước khi ông ta có thể giải vây cho nó. Napoleon định đề xuất một chiến dịch táo bạo - ông nói với Hội đồng Đốc chính. Sau đó, ông thông báo với họ về kế hoạch của Murat là vượt qua một trong bốn hồ bảo vệ Mantua vào ban đêm với một nhóm lính giả trang quân Áo, hy vọng mở cổng thành đủ lâu để quân của Napoleon tiến vào bên trong. Trên thực tế, mực nước sông Po giảm bất ngờ đã làm hạ thấp mực nước trong các hồ, phá hỏng kế hoạch này.
sông Po
sông Po
Vào cuối tháng 7, Napoleon biết được từ một người cung cấp thông tin trong bộ tham mưu Áo rằng Wurmser đang đưa quân đội của mình, hiện bao gồm các đơn vị tinh nhuệ xuất phát từ chiến dịch Rhine năm 1796, xuống cả hai bên Hồ Garda để giải vây cho Mantua. Lúc này bệnh tật đang bắt đầu làm suy yếu quân đồn trú của Beaulieu.
Napoleon dựa khá nhiều vào thông tin tình báo trong các chiến dịch của mình - các phương pháp thu thập tình báo bao gồm thẩm vấn lính đào ngũ và tù binh, cử các đội tuần tra kỵ binh, và thậm chí cải trang binh lính thành công nhân nông trại sau khi bắt vợ của những người lao động thực sự làm con tin. Mục đích là để Napoleon tự mình phân tích và xử lý dữ liệu. Napoleon ý thức được cách các điệp viên và sĩ quan làm nhiệm vụ trinh sát có thể nhầm lẫn quân đoàn với các phân đội và ngược lại, và thường lặp lại những gì họ đã nghe từ "những người bị hoảng loạn hoặc bất ngờ" thay vì những gì họ đã chứng kiến. Các mệnh lệnh của ông dành cho các sĩ quan tình báo là: 
"Phải trinh sát chính xác các đèo và các điểm vượt sông thuộc mọi loại hình. Cung cấp những người dẫn đường có thể tin cậy được. Thẩm vấn linh mục và chủ bưu điện. Nhanh chóng thiết lập sự hiểu biết tốt với cư dân. Phái đi các điệp viên. Đánh chặn thư từ công và tư... Tóm lại, phải có khả năng trả lời mọi câu hỏi của tổng tư lệnh khi ông ấy đến chỉ huy quân đội."
Trong trường hợp này, các điệp viên đã đúng. Wurmser đang di chuyển xuống phía đông Hồ Garda với 32.000 quân trong năm cánh quân hàng dọc, trong khi tướng kỵ binh người Croatia, Peter von Quasdanovich, đang tiến xuống phía tây với 18.000 quân. Napoleon để lại tướng Sérurier với 10.500 quân để duy trì cuộc vây hãm Mantua. Ông chỉ có 3 vạn quân để đối đầu với kẻ địch có gấp đôi ông số lượng quân số. Ông gửi 4.400 quân dưới quyền tướng Pierre-François Sauret đến Salo để làm chậm bước tiến của Quasdanovich, ra lệnh cho Masséna với 15.400 quân đến phía đông, triển khai tướng Hyacinthe Despinoy với 4.700 quân để bảo vệ tuyến Peschiera–Verona, gửi 5.300 quân của Augereau để theo dõi các con đường từ phía đông và giữ 1.500 kỵ binh của Kilmaine làm lực lượng dự phòng. Bản thân Napoleon sau đó di chuyển liên tục giữa Brescia, Castelnuovo, Desenzano, Roverbella, Castiglione, Goïto và Peschiera, đưa bộ chỉ huy di động của mình đến bất cứ nơi nào mang lại cho ông ý tưởng tốt nhất về tiến độ của chiến dịch. Hoạt động liên tục trong cái nóng gay gắt thường xuyên này khiến ông mất năm con ngựa vì kiệt sức trong thời gian ngắn. 
Ngày 29 tháng 7, Quasdanovich ép tướng Sauret của Napoleon ra khỏi Salò như dự đoán, mặc dù quá trình không mấy dễ dàng khi thị trấn đã đổi chủ ba lần. Lúc 3 giờ sáng cùng ngày, ở phía đông Hồ Garda, Masséna bị tấn công tại La Corona và Rivoli bởi cường địch và phải vừa rút lui vừa chiến đấu, cuộc chiến của tướng Massena kéo dài xuống Adige đến Bussolengo khi màn đêm buông xuống. 
Bresica ngày nay
Bresica ngày nay
Quân Áo tiến lên và chiếm Rivoli. Vào ngày 30 tháng 7, trong một chiến dịch được gọi là "Sự bất ngờ ở Brescia", quân Áo đã chiếm được quân đồn trú và các bệnh viện của Brescia chỉ với ba người chết và mười một người bị thương. Những người bị ốm bao gồm Murat, Lannes và con trai kỵ binh tài ba của Kellermann, François-Étienne. Josephine, người đã đến Brescia từ Milan theo yêu cầu của Napoleon vì ông cho rằng thành phố đó đã nằm an toàn sau chiến tuyến, suýt bị bắt, khiến Napoleon thề rằng: 
"Wurmser sẽ phải trả giá đắt cho những giọt nước mắt đó."
"Chúng ta đã phải chịu một số thất bại," Napoleon thừa nhận với Hội đồng Đốc chính, trong khi gửi tất cả các đồ dụng không thiết yếu ra phía sau. Cánh trái của Napoleon đã tan nát, và hiện giờ điều ông cần làm là khôi phục lại sĩ khí. Vào buổi trưa ngày 29 tháng 7, cho rằng kẻ thù đang đổ xuống từ Bassano với lực lượng mạnh và ra lệnh tập trung quân tại Villanova, phía đông Verona, Napoleon lệnh tướng Augereau hành quân thần tốc. 
Đến trưa ngày hôm sau, Napoleon nhận ra rằng lực lượng chính của kẻ thù thực tế đang ở phía bắc và phía tây của ông. Nếu ông đối đầu với đợt tiến quân chính của Wurmser mà không đạt được chiến thắng hoàn toàn, ông vẫn sẽ mất Mantua, vì vậy ông quyết định giải quyết tướng Quasdanovich trước. Do đó, vào ngày 30 tháng 7, ông ra lệnh cho tướng Sérurier từ bỏ cuộc vây hãm Mantua để tăng quân số trên thực địa. Mệnh lệnh của ông cho Augereau rút lui về Roverbella viết: 
"Mọi khoảnh khắc đều quý giá... Kẻ thù đã chọc thủng tuyến phòng thủ của chúng ta tại ba nơi: hắn đã làm chủ các điểm quan trọng là Corona và Rivoli... Anh sẽ thấy rằng các tuyến liên lạc của chúng ta với Milan và Verona đã bị cắt đứt. Hãy chờ đợi mệnh lệnh mới tại Roverbella; tôi sẽ đích thân đến đó." 
Augereau không lãng phí thời gian.
Việc chấm dứt cuộc vây hãm Mantua đồng nghĩa với việc bỏ lại không dưới 179 khẩu đại bác và súng cối không thể di chuyển được, và phải đổ đạn dược xuống sông hồ. Napoleon rất đau lòng khi làm điều này, nhưng ông biết rằng những chiến thắng quyết định trên chiến trường, chứ không phải các pháo đài, mới là chìa khóa của chiến tranh hiện đại. 
Ngày hôm đó, ngày 31, các chuyển động liên tục của ông suýt gặp tai họa khi ông suýt bị phục kích bởi một đơn vị Croatia trên đường từ Roverbella đến Goito.
Địa hình giữa Brescia và Mantua bao gồm những ngọn núi cao 3.000 feet và các dãy đồi băng tích qua Lonato, Castiglione và Solferino đến Volta, một vùng đất rất gồ ghề đổ xuống một đồng bằng rộng và bằng phẳng. Vào ngày 31 tháng 7, quân đội Pháp hành quân về phía tây lúc 3 giờ sáng và có một cuộc giao tranh dữ dội vào lúc bình minh tại thị trấn Lonato giữa Sauret và quân Áo. Trong khi đó, Masséna dẫn dắt Bán Lữ đoàn số 32 ở bên trái. Bị áp đảo về số lượng, Ott rút lui. Với việc Augereau tiến lên nhanh nhất có thể, 18.000 quân của Quasdanovich hiện phải đối mặt với 30.000 quân Pháp, nên ông ta nhanh chóng rút lui. Đêm đó, Napoleon, lo ngại cho các tuyến liên lạc của mình, đã hành quân cùng Augereau đến Brescia, đến nơi vào lúc mười giờ sáng hôm sau.
Đến lúc này, Wurmser, người vừa nghe tin Napoleon vừa hành quân về phía tây tới Brescia vừa tập trung quân tại Roverbella để bảo vệ các tuyến vây hãm tại Mantua - ông ta không hề biết Napoleon đã từ bỏ Mantua, đã hoàn toàn bối rối. Quân Áo đã mất thế chủ động trên chiến trường, và Wurmser đã trao cho Napoleon 24 giờ quý giá để triển khai lực lượng. 
trận Lonato
trận Lonato
Sự nhiệt tình của quân lính ngày hôm đó đã giúp Napoleon quyết định cố gắng nghiền nát Quasdanovich. Tại trận Lonato thứ hai, vào ngày 3 tháng 8, ông đã cử lực lượng của Despinoy từ Brescia đến đánh vào sườn phải của Quasdanovich tại Gavardo, và Sauret tấn công sườn trái của Quasdanovich tại Salò. Trận Lonato lần thứ hai tiếp diễn với lệnh trực tiếp của Napoleon dành cho Bán Lữ Đoàn số 32 - họ được lệnh tiến vào mà không dừng lại, bắt đầu bằng lưỡi lê và kết thúc bằng lưỡi lê. 
Mặc dù mất cả hai chỉ huy tiểu đoàn, họ vẫn đẩy quân Áo lùi về phía Desenzano, thẳng vào con đường của đại đội kỵ binh hộ tống của Napoleon, cùng với các đơn vị của Trung đoàn Long kỵ binh 15 và Trung đoàn Légère 4. Junot bị sáu vết thương, nhưng điều này không ngăn cản ông giành được chiến thắng trên chiến trường. Khi nghe tin về thảm họa, tướng Quasdanovich đã rút lui vòng quanh phía bắc hồ để gia nhập lại với Wurmser. Ông ta sẽ không tham chiến trong mười ngày tiếp theo. Trận Lonato lần thứ hai cũng là lần đầu tiên Napoleon sử dụng hệ thống phương tiểu đoàn - mặc dù đã được nhà quân sự Guibert đề xuất từ 40 năm trước, nhưng chính Napoleon là người đầu tiên đưa nó vào thực tiễn thành công trên chiến trường. 

Trong đội hình các đơn vị có hình thoi này, nếu quân chủ lực của kẻ thù bị chạm trán, chẳng hạn như ở sườn phải, sư đoàn bên phải sẽ trở thành đội tiên phong mới với nhiệm vụ ghim kẻ thù tại chỗ. Các sư đoàn đã hình thành đội tiên phong và hậu quân cũ tự động trở thành masse de manoeuvre - vận động đa số, trong đó các lực lượng tấn công ở trung tâmcó khả năng hỗ trợ sư đoàn tiên phong mới, với mục đích bao vây các sườn của kẻ thù. Do đó, quân đội có thể quay 90 độ theo bất kỳ hướng nào một cách tương đối dễ dàng. 
Hệ thống này còn có thêm ưu điểm là có khả năng phóng đại, áp dụng cho toàn bộ quân đoàn cũng như các sư đoàn. Nó cho phép Napoleon tăng cường sự linh hoạt đáng kể, cho phép mặt trận liên tục được điều chỉnh theo hoàn cảnh thay đổi.
trận Castiglione
trận Castiglione
Trong khi đó, tướng quân Augereau chiếm lại Castiglione vào ngày 3 tháng 8, sau mười sáu giờ chiến đấu ác liệt trên vùng đồng bằng nóng bức, khô cằn, với mục đích sau cùng là để cản quân của Wurmser đến cứu viện cho Quasdanovich. Nhiều năm sau đó, bất cứ khi nào Augereau bị những người thân cận chỉ trích vì lòng bất trung, Napoleon, vẫn không quên sự dũng cảm của Augereau, đã nói rằng: 
"À, nhưng đừng quên rằng ông ta đã cứu chúng ta tại Castiglione." 
Đến khi người Pháp tập hợp đầy đủ vào ngày 4 tháng 8, Wurmser đã mất mọi cơ hội mà ông ta có thể có để tấn công Napoleon từ phía sau. Điều tốt nhất ông ta có thể hy vọng, khi ông ta chậm rãi di chuyển xung quanh Solferino với khoảng 20.000 quân, là câu thời gian chuẩn bị cho Mantua. Vào buổi sáng ngày 4 tháng 8, Napoleon đang ở Lonato với chỉ 1.200 quân khi hơn 3.000 quân Áo bị lạc, nhóm người đã bị cắt đứt khỏi quyền chỉ huy của Quasdanovich, đột ngột xông vào thị trấn. 
Napoleon bình tĩnh thông báo cho sĩ quan đàm phán của họ rằng
"toàn bộ quân đội của ta đang có mặt… và Nếu trong tám phút sư đoàn của hắn không hạ vũ khí, tôi sẽ không tha cho một người nào." 
Người Áo chỉ phát hiện ra sau khi họ đã đầu hàng và bị tước vũ khí rằng không có lực lượng Pháp nào gần đó, và rằng họ đã có thể bắt sống Napoleon một cách dễ dàng.
Ngày 5 tháng 8, Napoleon tiến đánh trận Castiglione lần thứ hai. Wurmser triển khai toàn quân đứng giữa Solferino ở sườn phải và một pháo đài kiên cố trên đồi Monte Medolano trên đường Mantua–Brescia ở sườn trái, với quân số từ 20.000 đến 25.000 người. Napoleon có hơn 30.000 quân, 10.000 quân của Masséna tập trung theo hàng ngang lẫn dọc ở cánh trái, 8.000 quân của Augereau dàn thành hai hàng trước thị trấn Castiglione, kỵ binh của Kilmaine ở cánh phải, 5.000 quân của Despinoy quay trở về từ Salò, và 7.500 quân của Tướng Pascal Fiorella đến từ phía nam, với hy vọng giáng một đòn quyết định vào hậu quân Áo. Ông lên kế hoạch ghim lực lượng dự bị của Wurmser về phía bắc bằng cách giả vờ rút lui. 
Castiglione là một trận chiến rất phức tạp - khi nghe tiếng đại bác ở phía nam lúc 9 giờ sáng ngày 5 tháng 8, Napoleon cho rằng đó là tín hiệu cho thấy Fiorella đã đến, nhưng thực tế đó chỉ là Trung đoàn Long kỵ binh số 8 của ông đang cướp phá quân Áo tại Guidizzolo. Ông ra lệnh cho Masséna và Augereau tấn công, và Marmont cũng đi theo cùng đi cùng một khẩu đội 12 khẩu pháo về phía Monte Medolano.
Giao tranh diễn ra trên toàn bộ mặt trận, với việc Augereau chiếm được Solferino và Despinoy đến kịp lúc để hỗ trợ trung tâm cánh trái. Tướng Wurmser buộc phải di chuyển bộ binh đi để giữ vững mặt trận Fiorella. Chẳng mấy chốc, Wurmser thấy mình bị mắc kẹt giữa hai cánh quân với cánh quân thứ ba thì đe dọa hậu phương của ông. Vị tướng già buộc phải rút lui và chỉ suýt chút nữa mới tránh được việc bị kỵ binh nhẹ của Pháp bắt giữ. Chỉ có sự kiệt sức của quân Pháp sau cuộc hành quân vất vả mới ngăn cản việc tiêu diệt hoàn toàn quân đội Áo.
Người Áo mất 2.000 người chết và bị thương vào ngày hôm đó, và 1.000 người khác bị bắt cùng với hai mươi khẩu pháo. Khi các sĩ quan của Napoleon đếm số người chết của quân Pháp, họ thấy khoảng 1.100 người đã bị giết hoặc bị thương hoặc mất tích. Hai ngày sau, Napoleon chiếm lại Verona. Vị tướng trẻ tuyên bố: 
"Quân đội Áo... đã biến mất như một giấc mơ và nước Ý mà họ đe dọa giờ đây đã yên tĩnh." 
Ông tiếp tục cuộc vây hãm Mantua vào ngày 10 tháng 8. Bên trong đấy vẫn còn 16.400 lính Áo bên trong những bức tường dày 10 feet, mặc dù chỉ có 12.200 người trong số đó đủ sức chiến đấu. Napoleon đã dành ba tuần còn lại của tháng 8 để trang bị lại quân đội, và gửi Sauret và Sérurier, hai trong số các tướng lĩnh của ông bị thương và là những người ông rất tôn trọng, trở về nhà. Ông thay thế họ bằng Tướng quân kỳ cựu Claude-Henri de Vaubois và Tướng Jean-Joseph de Sahuguet. 
Danh tiếng của ông ở Pháp ngày càng tăng sau mỗi chiến thắng và Hội đồng Đốc chính ngày càng nghi ngờ rằng ông không thể bị kiểm soát. Trước đây, ông đã phải thương lượng với Hội đồng đốc chínhvề việc những tướng lĩnh nào ông có thể thăng chức, vì họ có một nhóm 343 người trong danh sách hoạt động. Tuy nhiên, khi ông càng thành công trên chiến trường, và Hội đồng Đốc chính càng phụ thuộc vào ông về khả năng thanh toán và uy tín của họ, thì ông càng ít gặp phải sự can thiệp trong các lựa chọn của mình.
Vấn đề gia đình của ông rõ ràng là đáng lo ngại hơn. Ông cố gắng truy tìm Josephine trong kỳ nghỉ, viết rằng
"Vợ tôi đã chạy quanh Ý trong hai tuần qua; tôi tin rằng bà ấy đang ở Livorno, hoặc ở Florence."
Ông cũng yêu cầu rằng người em trai Lucien của mình, người mà ông đã tìm cho một công việc ủy viên chiến tranh tại Marseilles nhưng đột nhiên đến Paris mà không có sự cho phép của tổng tư lệnh, phải được gửi đến Tập đoàn quân phương Bắc trong vòng hai mươi bốn giờ kể từ khi được tìm thấy.

Đợt Tấn Công Cuối Cùng của Wurmser

Cuối tháng 8, Napoleon biết rằng tướng Wurmser sắp triển khai đợt đánh thứ hai để giải vây Mantua. Việc rà soát lại các tuyến liên lạc và nhận thêm viện quân từ Tập đoàn quân vùng Alps đã mang lại cho ông tổng cộng hơn 5 vạn quân. Vì không biết Wurmser sẽ chọn một trong ba tuyến đường nào, ông đã cử Vaubois với 11.000 quân ngược lên phía tây Hồ Garda để chặn đường tiếp tế đầu tiên, đồng thời cử Masséna với 13.000 quân và Augereau với 9.000 quân lần lượt đến Rivoli và Verona làm lực lượng vận động thọc sâu của mình. Kilmaine canh giữ các ngả đường phía đông với 1.200 bộ binh và phần lớn kỵ binh. Bản thân Napoleon ở lại với lực lượng dự bị 3.500 quân tại Legnago, trong khi Sahuguet bao vây Mantua với 10.000 quân và thêm 6.000 quân nữa theo dõi các cuộc nổi dậy quanh Cremona. Một khi Napoleon đã đoán ra tuyến đường tấn công của Wurmser, ông sẽ tập trung lực lượng của mình; cho đến lúc đó, ông dành hết tâm trí để đảm bảo có đầy đủ nguồn cung cấp rượu brandy, bột mì, cỏ khô, đạn dược và bánh quy cho quân đội. Tập đoàn quân Ý sẽ không chết vì đói trong năm nay. 
Hồ Garda
Hồ Garda
Đến ngày 2 tháng 9, Napoleon biết chắc chắn rằng Wurmser đang tiến xuống thung lũng Vallagarina của sông Adige. Ông dự định tấn công ngay khi nghe tin Tướng Moreau, chỉ huy Tập đoàn Đức, đã đến Innsbruck, bởi vì, nếu có thể, các bước tiến của Napoleon nên được phối hợp với những gì đang diễn ra ở Đức như những gì Hội đồng Đốc chính mong muốn. Tuy nhiên, Đại vươn công Charles đã đánh bại Tướng Jourdan tại Würzburg vào ngày 3 tháng 9 và Moreau đang đột kích Munich, sâu trong miền nam Bavaria, vì vậy không ai trong số họ có thể giúp gì. Napoleon cần đề phòng nguy cơ bị buộc phải chiến đấu với quân đội của Đại vương công Charles và Wurmser cùng một lúc.
Trận Rovereto
Trận Rovereto
Napoleon tiến đến Rovereto, cách Trento 15 dặm về phía nam, tại đây ông chặn được đội tiên phong của Wurmser vào ngày mùng 4. Vào lúc bình minh, ông có mặt trước đèo Marco, trong khi một lực lượng địch khác đang ở bên kia sông Adige tại trại Mori. Bộ binh nhẹ của Pijon chiếm được các cao điểm bên trái Marco và sau hai giờ kháng cự ngoan cường, phòng tuyến Áo đã tan vỡ. Khoảng 750 lính Pháp đã thiệt mạng, bị thương hoặc mất tích. Tướng Áo, Nam tước Davidovich, mất 3.000 quân - phần lớn trong số đó là tù binh, 25 khẩu pháo và 7 lá cờ.
Với việc quân đội Áo hiện đang rút lui toàn diện, thêm bốn trận chiến nữa đã diễn ra dọc cùng thung lũng đó trong tuần tiếp theo. Napoleon nhận ra rằng Wurmser đang định vòng ngược lại thung lũng để giải phóng Mantua. Thay vì rút quân như quân Áo kỳ vọng, Napoleon cho quân Pháp dưới quyền tướng Vaubois chặn đường đánh phía bắc lên Trento và cử 2 vạn lính còn lại theo sát tướng quân Wurmser. Wurmser, với tuyến liên lạc của ông ta giờ bị chặn đứng, sẽ phải chiến đấu hoặc buộc phải rút lui thay vì vây cứng Napoleon như kỳ vọng. 
Tại Calliano, cách canh gác tồi của quân Áo đồng nghĩa với việc quân Pháp đã có thể tấn công quân Áo khi họ đang nấu bữa sáng và buộc họ phải rời khỏi vị trí của mình. Vào ngày 7 tháng 9 tại Primolano, quân Pháp tấn công một vị trí tưởng chừng như không thể công phá và chiếm được nó bằng chính khí thế ngút trời. Người Áo đáng lẽ đã có thể bảo vệ đèo một cách dễ dàng, nhưng chiều hôm đó, các cánh quân bộ binh nhẹ của Pháp tràn lên cả hai bên sườn núi, lội qua dòng sông Brenta chảy xiết đến tận thắt lưng và đơn giản là lao vào tấn công quân Áo, khiến họ bỏ chạy xuống Bassano.
Đêm đó, Napoleon ngủ cùng sư đoàn của Augereau, quấn mình trong chiếc áo choàng dưới bầu trời đầy sao và chia sẻ khẩu phần ăn với họ, như ông vẫn thường làm trong các chiến dịch đầu tiên. Ngày hôm sau, ông bắt giữ 2.000 quân Áo và 30 khẩu pháo tại Bassano, cùng với vài xe chở đạn dược. Quân Pháp đã khiến quân Áo vỡ trận tại Bassano và khiến họ tách thành hai phần. Cùng ngày đó, Wurmser vượt dòng Adige và bắt đầu thực hiện một cuộc hành quân ép buộc vào Mantua. Chỉ tại Cerea vào ngày 11, Massena mới phải chịu một thất bại nhỏ – bốn trăm lính Pháp thiệt mạng và bị thương – khi ông quá mải mê truy đuổi kẻ thù. Ngày hôm sau, Augereau chiếm Legnago và hai mươi hai khẩu pháo của Áo mà không chịu tổn thất nào, giải phóng năm trăm tù binh Pháp. 
Sau đó, vào ngày 15 tháng 9, tại La Favorita bên ngoài Mantua, Kilmaine đã gây ra một thất bại cho Wurmser, buộc vị tổng tư lệnh Áo phải rút vào trong thành phố. Cuộc giải phóng Mantua lần thứ hai đã thất bại, và khiến thành phố càng mất lương thực trong khi vẫn đang bảo vệ một thành trì khổng lồ. 
Wurmser bắt đầu chiến dịch với 20.000 quân và lợi thế đi trước ba ngày; ông ta kết thúc chiến dịch khi 14.000 quân của mình hợp nhất với 16.000 quân đã bị cầm chân trong Mantua. Đến ngày 10 tháng 10, Mantua lại bị vây hãm hoàn toàn, chỉ có điều lần này Wurmser đang ở bên trong. Bốn nghìn quân của ông đã chết vì vết thương, suy dinh dưỡng và bệnh tật trong sáu tuần, và 7.000 người khác phải nằm viện. Với chỉ ba mươi tám ngày lương thực còn lại, Wurmser phải thực hiện các cuộc xuất kích để tìm kiếm nhu yếu phẩm từ vùng nông thôn, dù một cuộc trong số đó khiến ông mất gần 1.000 quân.

 Quân Áo phản công

Ngày 19 tháng 9, Napoleon trở lại Milan để đến bên Josephine và ở đó gần một tháng, gửi Marmont tới Paris cùng một công cụ tuyên truyền thượng hạng: hai mươi hai lá cờ Áo chiếm được để trưng bày tại điện Les Invalides. Tốc độ hành quân chóng mặt của các chiến dịch đảm bảo rằng ông luôn nắm thế chủ động, tiến không thể cản phá dọc theo một thung lũng hẹp đầy những địa điểm mà quân Áo lẽ ra có thể làm chậm hoặc chặn đứng ông. Chiến dịch chớp nhoáng ngược lên thung lũng Brenta này là minh chứng hoàn hảo cho lý do tại sao tinh thần Tập đoàn quân lại có giá trị lớn đến vậy. 
Les Invalides ngày nay
Les Invalides ngày nay
Napoleon đã sử dụng khả năng tiếng Ý của mình để hỏi thăm người dân địa phương, và sử dụng hệ thống tiểu đoàn lập phương để điều quân đội đi bất cứ hướng nào chỉ trong chớp mắt. Ông đã chia cắt quân đội Áo tại Rovereto và buộc chúng phải hành quân tách biệt, để mặc cho từng bộ phận bị đánh bại trong màn điều quân kinh điển từ vị trí trung tâm, đồng thời duy trì áp lực lên Wurmser bằng các cuộc tấn công đều đặn vào lúc bình minh.
Mantua không thể cầm cự được lâu hơn nữa, nhưng tình hình chiến tranh rộng lớn hơn không cho thấy triển vọng tốt đẹp về cơ hội chiếm được thành phố của Napoleon. Tướng quân Jourdan đã bị Đại vương công Charles đánh bại và buộc phải rút lui qua sông Rhine vào ngày 21 tháng 9, và nhiều khả năng quân Áo sẽ triển khai lực lượng còn lớn hơn để giải vây Mantua, lần này với một lực lượng lớn hơn nhiều. 
Napoleon yêu cầu Hội đồng Đốc chính gửi thêm 25.000 quân tiếp viện trong trường hợp các nước Giáo hoàng và Naples tuyên chiến. Vào ngày 2 tháng 10, Napoleon đưa ra các điều khoản hòa bình cho Thánh chế La Mã Đế Francis, hy vọng thuyết phục ông ngồi vào bàn đàm phán bằng sự kết hợp giữa nịnh hót và đe dọa.
"Thưa Hoàng thượng, châu Âu muốn hòa bình," ông viết. "Cuộc chiến tai hại này đã kéo dài quá lâu." 
Sau đó, ông cảnh báo rằng Hội đồng Đốc chính đã ra lệnh cho ông phong tỏa Trieste và các cảng khác của Áo dọc theo biển. Hoàng đế Francis của Áo – Thánh Chế La Mã Đế - một thực thể tách biệt về mặt chính trị nhưng do Áo thống trị, lại có suy nghĩ khác. Thánh chế La Mã là một tập hợp lỏng lẻo các quốc gia bán độc lập trải dài khắp phần lớn nước Đức và là trung tâm toàn châu Âu. Francis được nuôi dạy trong một môi trường bảo thủ, ông là một người đàn ông kiêu hãnh, khổ hạnh, tính toán, và hết sức căm ghét cuộc Cách mạng đã chặt đầu dì của ông là Marie Antoinette. Tài năng quân sự không phải một phần khả năng của Francis - ông từng chỉ huy ngắn ngủi quân đội Áo trong chiến dịch Flanders năm 1794, trước khi bàn giao lại cho người em trai có tài quân sự hơn nhiều là Đại vương công Charles. Napoleon không nhận được hồi đáp cho lời đề nghị hòa bình của mình. Thật khó để tin 14 năm sau, Napoleon sẽ gọi Francis, người chỉ kém mình một tuổi, là cha vợ.
Francis Đệ Nhất
Francis Đệ Nhất
Napoleon lại đe dọa từ chức vào ngày 8 tháng 10, lần này là do kiệt sức. Ông tuyên bố rằng Mantua không thể bị chiếm trước tháng Hai, và các nước giáo hoàng đang bắt đầu đe dọa đến Tập đoàn quân Ý. Ông yêu cầu quyền ký một hiệp ước cuối cùng với Naples và một liên minh cần thiết với Genoa và Piedmont, cảnh báo rằng những cơn mưa mùa thu đã mang đến bệnh tật khiến các bệnh viện của ông trở nên quá tải. Thông điệp cốt lõi của ông cuối cùng vẫn là hãy gửi Tập đoàn quân đội.  
Đại vương công Charles
Đại vương công Charles
Hai ngày sau, Napoleon vẫn không có sự đồng ý trước của Hội đồng Đốc chính. Phẫn chí, ông ký một hiệp ước hòa bình toàn diện với Naples cho phép nhà Bourbon giữ lại ngai vàng mà không bị quấy rầy nếu họ đồng ý không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào chống lại người Pháp. Nếu người Áo định xâm lược từ phía bắc, Napoleon cần phải an toàn ở phía nam. Ông cũng đảm bảo rằng các tuyến liên lạc của mình chạy qua Genoa đáng tin cậy hơn, thay vì Piedmont, nơi nhà vua mới Charles Emmanuel IV vẫn còn đang mập mờ.
Napoleon ý thức được những lời thì thầm đang lan truyền ở Paris, nơi một số người nói rằng ông chỉ bị thúc đẩy bởi tham vọng và một ngày nào đó có thể lật đổ chính phủ. Trong các lá thư gửi Hội đồng Đốc chính, ông chế nhạo những kẻ gièm pha mình. Tuy nhiên, họ vẫn không bị thuyết phục; mặc dù Barras và Carnot công nhận năng lực quân sự không thể chối cãi của ông, tất cả các đốc chính đều lo sợ cách ông có thể sử dụng sự nổi tiếng ngày càng tăng của mình với công chúng một khi chiến dịch Ý kết thúc. 
Mối bận tâm chính của Napoleon vào thời điểm đó là sự thiếu tin cậy quanh co của các nhà cung ứng chính quân đội, những người mà ông thường xuyên mô tả là những kẻ lừa đảo. Ông từng bộc bạch ước gì có thể đem họ ra xử bắn, và đến ngày 16 tháng 10 tuyên bố Wurmser nên đầu hàng Mantua. 
Ông đã bị từ chối thẳng thừng.
Cùng ngày hôm đó, một lần nữa với sự can thiệp tối thiểu từ Hội đồng Đốc chính, ông tuyên bố thành lập Cộng hòa Cispadane, được thành lập từ Bologna, Ferrara, Modena và Reggio với một Quân đoàn Ý mới gồm 2.800 quân để bảo vệ nó. Cộng hòa Cispadane đã bãi bỏ chế độ phong kiến, ban hành quyền bình đẳng dân sự, thành lập một hội đồng do dân bầu và bắt đầu phong trào thống nhất Risorgimento mà cuối cùng – dù phải mất ba phần tư thế kỷ sau – đã tạo ra một nước Ý thống nhất, độc lập. Việc soạn thảo hiến pháp của nó mất không dưới ba mươi tám cuộc họp, một minh chứng cho sự kiên nhẫn của Napoleon vì ông đã tham gia tích cực và có tâm với nền cộng hòa. Người Pháp bắt đầu mang lại sự thống nhất chính trị cho một bán đảo đã không biết đến cái gì là thống nhất trong nhiều thế kỷ.
Tuy nhiên, nếu nhìn sâu hơn, các thể chế cách mạng Pháp chưa bao giờ có nhiều hy vọng giành ưu thế tại Ý, bản chất điều này là những nỗ lực làm giảm quyền lực của Giáo hội Công giáo La Mã. Người Ý phản đối các cải cách tôn giáo của Napoleon một cách điên cuồng, và trong cái được gọi là epoca francese - Giai đoạn Pháp thuộc trong lịch sử Ý, các cải cách Giáo hội của Napoleon bị căm ghét cũng nhiều như sự ngưỡng mộ dành cho việc giới thiệu văn hóa hành chính của ông.
Nỗ lực bắt nạt Vatican của ông là một trong những nguyên nhân đấy. Vào tháng 10 năm 1796, Napoleon cảnh báo Pius VI không được chống lại Cộng hòa Cispadane, chứ đừng nói đến việc tấn công quân Pháp một khi người Áo quay lại. Sau đó, ông cảnh báo Giáo hoàng rằng nếu tuyên chiến, điều đó sẽ đồng nghĩa với "sự hủy diệt và cái chết của những kẻ điên rồ dám chống lại các đội hình Cộng hòa". Với việc Hội đồng Đốc chính không thể dành ra 25.000 quân tiếp viện mà ông cần vô cùng sau thất bại của Jourdan và Moreau ở mặt trận Đức – chỉ có vỏn vẹn 3.000 quân đến cho chiến dịch sắp tới – Napoleon buộc phải tranh thủ thời gian. Chiến trường này sẽ chỉ có tự mình ông quản lý. 
Alvinczi
Alvinczi
Vào đầu tháng 11, quân Áo đã sẵn sàng cho nỗ lực thứ ba nhằm giải vây Mantua, sử dụng một kế hoạch chiến lược mà Hội đồng Aulic tại Vienna. Lão tướng gốc Hungary là József Alvinczi và 28.000 quân của ông ta sẽ đẩy quân Pháp lùi từ Rivoli về Mantua, trong khi Tướng Giovanni di Provera sẽ tiến quân cùng 9.000 người từ Brenta đến Legnago như một đòn nghi binh, và 10.000 quân tại Bassano sẽ cố gắng ngăn cản Napoleon tập trung lực lượng. 
Việc có 19.000 quân tham gia vào các cuộc tấn công nghi binh, với chỉ 28.000 quân trong lực lượng chính, cho thấy Hội đồng đã không rút ra được bài học từ sáu tháng trước đó. Napoleon sau đó nói rằng Alvinczi, sáu mươi mốt tuổi, người đã chiến đấu ở Bavaria, Hà Lan và Thổ Nhĩ Kỳ trong sự nghiệp dài lâu của mình, là vị tướng giỏi nhất mà ông từng đối đầu cho đến nay, đó là lý do tại sao ông không bao giờ nói bất cứ điều gì tích cực hay tiêu cực về ông ta trong các bản tin của mình. Mỉa mai thay, trên chính trường, ông khen ngợi Beaulieu, Wurmser và Đại công tước Charles, những người mà ông thực chất không đánh giá cao. Ông cũng thể hiện sự tôn trọng lớn đối với Tướng Provera trong các bản tuyên ngôn và Mệnh lệnh trong ngày của mình vì ông nghĩ rằng lão ta là kẻ tồi tệ nhất trong số đó và hy vọng lão sẽ không bị cách chức.
Napoleon đang cần chiến thắng mà. 
Napoleon và Provera
Napoleon và Provera
Napoleon lúc này có 41.400 quân. Ông bố trí họ xa nhất có thể để có bố trí tin tức tối đa về việc quân Áo đang đến từ đâu và khi nào. Ngoài ra, ông còn có 2.700 quân đồn trú tại Brescia, Peschiera và Verona, và 2.500 quân của Trung đoàn Bán lữ đoàn 40 đang trên đường từ Pháp tới. Alvinczi vượt sông Piave vào ngày 2 tháng 11. Ông ta chỉ thị cho Quasdanovich và Provera tiến về Vicenza, Quasdanovich qua Bassano, và Provera qua Treviso. Cuộc tấn công của quân Áo đã bắt đầu.
Montebello, Ý
Montebello, Ý
Mặc dù rất khó chịu, Masséna phải tuân theo mệnh lệnh của Napoleon là rút lui về Vicenza mà không tham chiến. Cũng như Augereau, Massena bắt đầu đánh giá cao Napoleon với tư cách là một chỉ huy và người lính, nhưng ông cũng ghen tị với Napoleon - cả hai đều là những vị tướng giỏi nhất nước Pháp , và nếu Massena tự hào về biệt danh "đứa con cưng của chiến thắng", thì hẳn ông cũng nhận ra nữ thần chiến thắng cũng nuông chiều Napoleon như cách nàng làm với Massena. Ông không thích bị ra lệnh rút lui, ngay cả trước các lực lượng lớn hơn. Ngày 5 tháng 11, Napoleon đưa Augereau lên Montebello và, nhìn thấy đội tiên phong của quân Áo vượt sông Brenta ngay trước các hàng ngũ của họ, ông quyết định tấn công toàn quân didhcj vào ngày hôm sau. Trong khi đó, Masséna đánh vào quân của Provera tại Fontaniva, đẩy chúng lùi lại một vài hòn đảo trên sông nhưng không hoàn toàn giải quyết được cường địch.
Ngày 6 tháng 11, Augereau tấn công lực lượng của Quasdanovich khi họxuất hiện từ Bassano, nhưng bất chấp giao tranh ác liệt, ông không thể đẩy lùi Quasdanovich qua sông Brenta. Ngôi làng Nove đã đổi chủ vài lần trong ngày và Napoleon, hiện bị áp đảo về quân số 28.000 so với 19.500, đã phải rút lui. Trận Bassano cũng là thất bại đầu tiên của Napoleon, mặc dù không phải là một thất bại nghiêm trọng.
Trận Bassano
Trận Bassano
Rút lui về Vicenza, Napoleon nhận tin về thất bại của Vaubois trước Davidovich sau năm ngày giao tranh tại các ngôi làng Cembra và Calliano. Hơn 40% lực lượng của ông đã bị giết, bị thương hoặc mất tích. Augereau lập tức được lệnh quay trở lại sông Adige, phía nam Verona, Masséna về chính Verona, và Tướng Barthélemy Joubert – con trai một luật sư, người đã bỏ nhà đi từ năm mười lăm tuổi để gia nhập pháo binh – được lệnh gửi một lữ đoàn từ Mantua đến Rivoli để giúp Vaubois tập hợp ở đó. Sau đó, Napoleon đã diễn thuyết trước quân lính của Vaubois: 
"Những người lính của Trung đoàn Bộ binh 39 và 85, các anh không còn xứng đáng thuộc về Quân đội Pháp nữa. Các anh không thể hiện được kỷ luật cũng như lòng dũng cảm; các anh đã để cho kẻ thù đánh bật các anh khỏi một vị trí mà một nắm tay những người dũng cảm có thể đã chặn đứng cả một đội quân. Tổng Tham Mưu sẽ cho khắc lên cờ của các anh dòng chữ: 'Những người này không còn thuộc Tập đoàn quân Ý nữa'." 
Với sự nhạy bén của mình, Napoleon hiểu rõ những gì mình sẽ làm tiếp thêm sinh lực và những gì sẽ làm giảm nhuệ khí của một đơn vị, Napoleon đã đánh giá chính xác rằng sự sỉ nhục công khai này sẽ đảm bảo rằng cả hai bán lữ đoàn sẽ chiến đấu quyết liệt và quyết tâm hơn trong những ngày tới hơn bao giờ hết. Sự bất động của quân Áo sau chiến thắng tại Bassano đã cho phép Napoleon tập hợp lại lực lượng. Đến ngày 12, ông giữ Verona với 2.500 quân và các bờ sông Adige với 6.000 quân, trong khi Vaubois, người vừa bị làm nhục bởi cả đồng hương lẫn kẻ địch, kiềm chế Davidovich tại Rivoli và Kilmaine tiếp tục bao vây Mantua. 
Điều này để lại cho Masséna 13.000 quân ở sườn phải và Augereau 5.000 ở sườn trái để tấn công Alvinczi tại Caldiero, một ngôi làng cách Verona 10 dặm về phía đông. Với mưa trút thẳng vào mặt, họ không thể hiện bất kỳ sự dũng mãnh nào như thường thấy của Tập đoàn quân Ý. Gió thổi bay thuốc súng, giày của họ trượt trong bùn và các cuộc tấn công suốt buổi sáng chỉ giành được một chút lợi thế ở cánh phải, mà họ phải nhượng lại ngay khi quân tiếp viện Áo đến vào lúc 3 giờ chiều. Khoảng 1.000 người đã chết hoặc bị thương ở cả hai bên.
Mặc dù tự nhiên ông tuyên bố đó là một chiến thắng, nhưng có một điều đáng nói là khi Napoleon cho đúc huy chương để kỷ niệm Montenotte, Millesimo và Castiglione năm đó, ông đã không ra lệnh đúc huy chương cho Caldiero.
Ngày 13 tháng 11, cả hai đối thủ đều tạm nghỉ một lúc. Napoleon dùng thời gian này để viết một lá thư tuyệt vọng gửi nhóm Đốc chính từ Verona, thực tế là đổ lỗi cho họ về tình thế của mình: 
"Có lẽ chúng ta đang trên bờ vực mất Ý. Không có sự cứu viện nào tôi đang chờ đợi đã đến... Tôi đang làm nhiệm vụ của mình, quân đội đang làm nhiệm vụ của mình. Tâm hồn tôi tan nát, nhưng lương tâm tôi thanh thản... Thời tiết vẫn tiếp tục tồi tệ; toàn bộ quân đội quá mệt mỏi và không có giày... Những người bị thương là tinh hoa của quân đội; tất cả các sĩ quan cấp cao của chúng tôi, tất cả các vị tướng giỏi nhất của chúng tôi đều không thể chiến đấu. Tất cả những ai đến với tôi đều quá bất tài và thậm chí không có cả sự tự tin của một người lính! ... Chúng ta đã bị bỏ rơi ở tận cùng nước Ý... Có lẽ giờ của tôi... đã đến. Tôi không còn dám phơi mình ra nữa vì cái chết của tôi sẽ làm nhụt chí quân sĩ."
Đúng là Sérurier và Sauret bị thương, còn Lannes, Murat và Kellermann trẻ tuổi đang ốm đau trong bệnh viện, nhưng ông còn nhiều vị tướng giỏi khác phục vụ dưới quyền mình. Ông chắc chắn đã kết thúc bằng một nốt cao trào đến mức phủ nhận mọi thứ khác mà ông đã viết - ông tuyên bố sẽ chiếm Mantua và cả nước Ý. 
Napoleon đã vạch ra một kế hoạch táo bạo: tiến ra phía sau Alvinczi tại Villanova và buộc ông ta phải chiến đấu để giành lấy con đường rút lui của mình trên vùng đất ngập tràn những cánh đồng lúa đến mức số lượng quân đông đảo hơn của ông ta cũng sẽ trở thành một điểm bất lợi. Thay vì vượt sông Adige dễ dàng hơn tại Albaredo, ông chọn vượt sông tại Ronco, nơi một cây cầu phao đã được xây dựng cho chiến dịch trước đó; nó đã được tháo dỡ nhưng được cất giữ an toàn gần đó. Đêm 14 tháng 11, Masséna rời Verona về phía tây để đánh lừa các gián điệp Áo trong thành phố, nhưng sau đó quay sang hướng đông nam để tham gia cùng Augereau trên con đường ở đó.
Các con đường đắp cao ở phần đó của nước Ý thời đấy vẫn rất khó đi, với hai bên rất dốc và đứng cao hơn các đầm lầy, vì vậy cuộc tiếp cận của quân Pháp và việc xây dựng cây cầu phao hoàn toàn không bị các toán quân gác Áo phát hiện. Trung đoàn 51 vượt sông bằng thuyền để bảo vệ đầu cầu vào lúc bình minh và cây cầu hoàn thành trước bảy giờ sáng hôm sau. Tại nơi con đường rẽ nhánh ở phía bên kia sông, Augereau đi sang phải dọc theo một con đê đến thị trấn Arcole, định băng qua suối Alpone và hành quân về phía bắc tới Villanova, để tấn công khu pháo binh của Alvinczi. 
Trong khi đó, Masséna đi sang trái về phía Porcile để cố gắng vòng ra sau sườn trái của Alvinczi. Augereau tiến quân cùng Trung đoàn Bộ binh Hạng Nhẹ số 5 của Tướng Louis-André Bon vào màn đêm, nhưng sớm thấy mình bị tấn công từ khắp nơi dọc con đường chạy dọc theo suối Alpone bởi hai tiểu đoàn người Croatia và hai khẩu pháo bảo vệ phía sau cánh trái của Alvinczi. Arcole được giữ rất chặt – có lỗ châu mai và chướng ngại vật – và đã đẩy lùi cuộc tấn công đầu tiên của người Pháp, cũng như cuộc tấn công thứ hai từ Trung đoàn số 4 do đích thân Augereau chỉ huy. 
Quân Pháp phải trượt xuống các bờ dốc để tìm nơi ẩn nấp khỏi hỏa lực. Trong khi đó, Masséna gặp một tiểu đoàn Croatia khác và một trung đoàn Áo dưới quyền Provera trên đường tới Porcile và đẩy lùi họ, từ đó đảm bảo cánh trái của đầu cầu. Điều kiện giao tranh trên đồng bằng Lombardy khác với trên núi, và mang lại cho kỵ binh Áo nhiều cơ hội hơn. Mặt khác, ở đây những dòng suối chảy xiết và mạng lưới đê điều lại có lợi cho một chỉ huy trẻ có cảm quan về chi tiết chiến thuật hơn nhiều.
Mặc dù Alvinczi nhanh chóng được thông báo về động thái của quân Pháp, ông ta cho rằng do địa hình đầm lầy nên đó chỉ là một lực lượng nhỏ thực hiện đòn nghi binh. Khi các toán tuần tra của ông ta thấy Verona yên tĩnh, ông ta cử họ đi xem điều gì đang xảy ra ở cánh trái của mình, tại đây Alvinci mới thấy 3.000 quân của tướng Provera đã bị Masséna đánh bại. 3.000 quân khác đã hành quân nhanh chóng đến Arcole, đến nơi ngay sau buổi trưa. Họ đặt hai khẩu lựu pháo để tạo hỏa lực dồn dập lên con đường đắp cao, tại đây tướng Lannes, người vừa mới trở lại quân đội từ bệnh viện ở Milan, bị thương lần nữa.
Napoleon đến cây cầu tại Arcole ngay khi nỗ lực chiếm nó của Augereau bị đẩy lùi. Ông ra lệnh cho một cuộc tấn công khác, bị đình trệ dưới hỏa lực dữ dội. Sau đó, Augereau chộp lấy một lá cờ và đi bộ mười lăm bước phía trước những người lính của mình, nói: 
"Những người lính phóng lựu, hãy đến và tìm lấy màu cờ của các anh!" 
Tại thời điểm đó, Napoleon, được bao quanh bởi các sĩ quan tùy tùng và cận vệ, đã nắm lấy một lá cờ khác và tự mình dẫn đầu cuộc tấn công, ông bắt đầu diễn thuyết với quân lính về sự anh hùng của họ tại Lodi. Bất chấp tất cả những tuyên bố của ông với Hội đồng Đốc chính hai ngày trước đó về việc không phơi mình trước nguy hiểm, ông chắc chắn đã làm như vậy tại Arcole. Tuy nhiên, nó đã thất bại – quân lính thể hiện "sự hèn nhát phi thường" theo Sulkowski – và họ đã không lao lên cây cầu rải rác xác người, mặc dù sĩ quan tùy tùng của ông là Đại tá Muiron và những người khác đã thiệt mạng trên đó ngay bên cạnh Napoleon. 
Trong một cuộc phản công của Áo, Napoleon phải được đưa trở lại vùng đất đầm lầy phía sau cây cầu và chỉ được cứu nhờ đòn phản công của nhóm lính phóng lựu. Ông là một người dũng cảm, nhưng bất kỳ ai cũng chỉ có thể làm được chừng đó khi đối mặt với hỏa lực tập trung do sự kháng cự kiên cường của quân Áo, vốn sẽ tiếp tục trong hai ngày nữa. Napoleon đã có thể bị đẩy xuống mương thoát nước lớn ngay thời điểm đó, điều mà bất chấp sự nhục nhã, có lẽ đã cứu mạng ông.
Khi rõ ràng rằng cây cầu sẽ không bị chiếm, Napoleon ra lệnh cho Masséna và Augereau quay trở lại phía nam sông Adige, để lại các đống lửa trại tại Arcole để nhắc quân Áo rằng quân Pháp vẫn còn ở đó. Ông cần phải sẵn sàng di chuyển chống lại Davidovich nếu Vaubois rút lui thêm nữa tại Rivoli. Từ tháp chuông nhà thờ của ngôi làng nhỏ Ronco, quân Pháp có thể nhìn thấy Alvinczi đang hành quân trở lại Villanova và triển khai quân phía đông suối Alpone. Cây cầu tại Arcole sẽ không bị chiếm trong hai ngày nữa, bởi Augereau và Masséna, những người đã quay lại đó vào ngày 17, và Napoleon không có mặt khi nó thất thủ. Mặc dù tổn thất của Pháp là đáng kể – 1.200 người thiệt mạng, bao gồm 8 vị tướng, và 2.300 người bị thương, so với 600 người chết và 1.600 người bị thương của Áo – Arcole cuối cùng là một chiến thắng của Pháp, khi họ thu được 4.000 quân Áo bị bắt và 11 khẩu pháo.
"Phải nhờ may mắn mới đánh bại được Alvinczi,"
Napoleon sau đó thừa nhận.
Khi mùa đông đến gần và mùa chiến đấu kết thúc trong khi Mantua vẫn bị vây hãm, người Áo sẽ thực hiện nỗ lực thứ tư để giải vây thành phố. Chiến dịch đã khiến Áo tổn thất gần 18.000 người, và Pháp hơn 19.000 người. Quân Pháp giờ đây thiếu thốn mọi thứ – sĩ quan, giày dép, thuốc men và lương bổng. Một số người đói đến mức xảy ra cuộc binh biến trong Trung đoàn 33, nơi ba đại đội phải bị giam giữ và hai kẻ cầm đầu bị xử bắn. Ngay khi giao tranh chấm dứt, Napoleon đã sa thải Vaubois và thăng chức cho Joubert lên chỉ huy sư đoàn phụ trách Rivoli.
Báo cáo của Napoleon gửi Carnot ngày 19 tháng 11 lạc quan hơn nhiều so với báo cáo trước đó của ông. 
“Số phận của nước Ý đang bắt đầu trở nên rõ ràng… Tôi hy vọng, trong vòng chưa đầy mười ngày, sẽ viết thư cho các ông từ tổng hành dinh đặt tại Mantua. Chưa từng có chiến trường nào bị tranh chấp ác liệt hơn chiến trường Arcole. Tôi gần như không còn vị tướng nào; sự tận tụy và lòng dũng cảm của họ không gì sánh bằng." 
Ông kết thúc bằng việc nói rằng ông dự định hành quân đến Rome ngay khi Mantua đầu hàng. Khi vào cuối tháng 11, Hội đồng Đốc chính cử Tướng Henri Clarke, sếp cũ của Napoleon tại Cục Địa hình, đến Vienna để xem hòa bình còn khả thi đến đâu, riêng tướng quân Napoleon đã thuyết phục ông ta rằng, vì Mantua sắp thất thủ, ông ta không nên hy sinh Cộng hòa Cispadane trong các cuộc đàm phán. 
"Ông ta là một kẻ gián điệp mà Hội đồng Đốc chính đã phái đến theo dõi tôi," 
Napoleon được cho là đã nói với Miot, "ông ta là một kẻ không có tài năng – chỉ tự phụ." Đây khó có thể là quan điểm đã cân nhắc của Napoleon, bởi vì ông sau này đã nâng tầm Clarke vô cùng năng lực, người mà ông sau này phong làm Công tước xứ Feltre, trở thành thư ký riêng, sau đó là bộ trưởng chiến tranh và, đến năm 1812, là một trong những người quyền lực nhất nước Pháp. 

 Tạm Nghỉ Lần Hai

"Anh đến Milan," Napoleon nói với Josephine vào ngày 27 tháng 11, khi bà vẫn đang đi nghỉ cùng Hippolyte Charles ở Genoa, "Anh vội vã đến căn hộ của em; anh đã bỏ lại tất cả để gặp em, để ôm em vào lòng... Em không có ở đó: em chạy hết thị trấn này đến thị trấn khác sau các buổi lễ hội; em rời đi ngay khi anh sắp đến nơi; em không còn quan tâm đến Napoleon thân yêu của mình nữa... Cả thế giới này thật quá hạnh phúc nếu nó có thể làm em vui lòng, và chỉ có chồng của em là rất, rất bất hạnh. Bonaparte." Ngày hôm sau, ông viết tiếp: "Khi anh đòi hỏi ở em một tình yêu ngang bằng với tình yêu của anh, anh đã sai; làm sao người ta có thể đặt ren lên bàn cân so sánh với vàng được?" 
Tuy nhiên, Josephine rất giỏi trong việc xoa dịu những nghi ngờ của Napoleon. Antoine Lavalette, một người họ hàng bên vợ đã thay thế vị trí của cố Đại tá Muiron trong số tám sĩ quan tùy tùng của Napoleon, nhớ lại cảnh tượng ở Milan:
 "Phu nhân Bonaparte thường bế chồng mình vào lòng sau bữa sáng và giữ chặt ông ấy trong vài phút." 
Ngoài những điều khác mang tính chất tình dục hơn, đó là một dấu hiệu cho thấy ông nhẹ cân đến mức nào vào thời điểm đó. Một giai thoại quyến rũ không kém từ giai đoạn này có thể thấy trong bức thư Napoleon gửi Jérôme de Lalande, giám đốc Đài thiên văn Paris, trong đó ông trầm ngâm: 
"Dành cả đêm giữa một người phụ nữ xinh đẹp và một bầu trời trong vắt, và dành cả ngày ghi lại các quan sát và thực hiện các phép tính, đối với tôi đó chính là hạnh phúc trên trái đất."
Battaglia, quan chức cấp cao của Venice trung lập, gửi thư đến Napoleon vào tháng 12 để phàn nàn về hành vi của quân Pháp trên đất Venice. Napoleon phẫn nộ phủ nhận rằng không có phụ nữ nào bị lính Pháp hãm hiếp Battaglia ngay lập tức rút lui và câu trả lời của Napoleon hai ngày sau đó bình tĩnh hơn, hứa hẹn "sẽ trừng phạt theo cách gương mẫu bất kỳ người lính nào đi chệch khỏi các quy định kỷ luật nghiêm ngặt".
Horatio Nelson
Horatio Nelson
Nhận thấy rằng sau sự thất thủ của Livorno, họ không còn có thể bảo vệ Corsica trước người Pháp, quân Anh dưới sự chỉ huy của Đại tá Horatio Nelson, 38 tuổi, đã thực hiện một cuộc sơ tán kiểu mẫu khỏi hòn đảo này vào tháng 10. Paoli và những người ủng hộ ông rời đi cùng họ. Napoleon cử Miot de Melito và Saliceti đến để tổ chức các đơn vị hành chính Pháp sẽ được thiết lập ở đó sau khi người Anh rời đi. Cùng ngày ông viết thư cho Battaglia, ông cũng viết cho Joseph, người đã đi cùng Melito, nói rằng ông muốn ngôi nhà Casa Bonaparte được làm cho sạch sẽ và đáng sống. Napoleon đã có thể về nhà, và ngôi nhà của ông phải được khôi phục như trước khi nó bị những người theo Paoli cướp phá bốn năm trước đó. 
Từ tháng 9 đến tháng 12 năm 1796, gần 9.000 người đã chết vì dịch bệnh và đói ở Mantua. Trong số 18.500 binh sĩ đồn trú bên trong thành phố, chỉ còn 9.800 người đủ sức chiến đấu. Khẩu phần ăn cuối cùng dự kiến sẽ hết vào ngày 17 tháng 1. Do đó, cuộc tấn công tiếp theo của Áo phải sớm diễn ra, và mối quan tâm chính của Napoleon là Tập đoàn quân Ý phải sẵn sàng cho chiến dịch đó. Ông đã gửi bốn mươi bức thư cho Berthier từ Milan trong vòng mười tám ngày của tháng 12, và cầu xin Hội đồng Đốc chính gửi thêm viện binh. 
"Kẻ thù đang rút quân từ sông Rhine để gửi chúng đến Ý. Hãy làm điều tương tự, hãy giúp chúng tôi. Chúng tôi chỉ yêu cầu thêm quân." 
Không có khía cạnh nào trong cuộc sống và phúc lợi của binh sĩ Pháp mà vị Tướng quân Pháp không quan tâm. Khi phát hiện một số người lính của Joubert không đến trình diện cấp quản lý quân nhu vào ngày nhận lương, ông muốn được biết lý do, nghi ngờ có một vụ lừa đảo nào đó. Khẳng định rằng sự xa hoa đang đi quá đà, ông nhắc lại yêu cầu được xử bắn bất kỳ quản trị viên nào của quân đội - điều này thực tế là lạm quyền. Napoleon không ngần ngại sử dụng các quyền lực mà ông nắm giữ một cách tàn nhẫn khi có thể. Ngày 7 tháng 1, ông ra lệnh cho Tướng Jean-Baptiste Rusca xử bắn những kẻ đứng đầu một cuộc nổi loạn ở Modena, và phá hủy ngôi nhà của thủ lĩnh nhóm này, cha giải tội của Công tước Modena. 
Quasdanovich
Quasdanovich
Cùng ngày đó, Napoleon nhận được tin Alvinczi đang hành quân về phía nam, lần này với 47.000 quân. Một lần nữa, người Áo chia quân thành hai cánh quân hàng dọc. lực lượng chính của Alvinczi gồm 28.000 người - bao gồm cả Quasdanovich hành quân xuống phía đông Hồ Garda theo sáu cánh quân chiều dọc, sử dụng tất cả các con đường và lối mòn có sẵn, qua đó tránh việc phải đối mặt với quân Pháp trên đồng bằng, trong khi 15.000 quân của Provera tiến quân qua đồng bằng từ phía đông, hướng tới Verona. Hơn 4.000 quân được bố trí ở phía tây Hồ Garda. Tướng Alvinczi ra lệnh cho Wurmser phá vòng vây Mantua và tiến về phía đông nam để hội quân với họ. Napoleon lập tức rời Milan và thực hiện nhiều chuyến thăm tới Bologna, Verona và tổng hành dinh của mình tại Roverbella, cố gắng đoán ý đồ của Alvinczi. Ông có 37.000 quân trên chiến trường và 8.500 quân dưới quyền Sérurier trên các tuyến bao vây Mantua.
cầu Adige
cầu Adige
Ngày 12 tháng 1, Joubert báo cáo về một cuộc tấn công tại La Corona, phía bắc Rivoli, nhưng đã thất bại trong lớp tuyết mới rơi dày đặc. Napoleon cho rằng chiến dịch sẽ được quyết định ở các chân đồi của dãy Alps Ý dọc theo sông Adige, nhưng ông cần nhiều thông tin hơn trước khi tung đòn phản công. Trong khi chờ đợi, ông ra lệnh cho Masséna đồn trú tại Verona và rút 7.000 quân qua sông Adige; Tướng Gabriel Rey tập trung hai lữ đoàn tại Castelnuovo. Lannes để lại những người lính Ý của mình ở phía nam và hành quân 2.000 quân Pháp trở lại Badia để ngăn chặn mọi động thái của Áo về phía nam, trong khi Augereau bảo vệ Ronco.
Joubert
Joubert
Ngày hôm sau, khi Napoleon chuẩn bị tiến lên đè bẹp Provera, lúc 10 giờ tối, ông biết tin Joubert đang phải đối mặt với một cuộc tấn công lớn và đang rút lui về Rivoli trong trật tự, để lại những đống lửa trại phía sau. Nhận ra rằng bước tiến của Provera chỉ là đòn nghi binh và cuộc tấn công chính sẽ đến qua ngả Rivoli, Napoleon nhanh chóng từ Verona phóng ngựa đến đó, ban hành một bộ mệnh lệnh hoàn toàn mới. Giờ đây, Joubert phải giữ Rivoli bằng mọi giá; Sérurier đặt các tuyến bao vây trong tình trạng báo động cao, nhưng đồng thời gửi ngay kỵ binh, pháo binh và sáu trăm bộ binh đến Rivoli; Masséna hành quân cùng các bán lữ đoàn 18, 32 và 75 với cương vị cánh trái của Joubert; Augereau phải cầm chân Provera trên sông Adige nhưng gửi một số kỵ binh và pháo binh đến Rivoli. Mọi người đều được thông báo rằng một trận chiến quyết định sắp diễn ra. Với hai lữ đoàn của Tướng Gabriel Rey, Napoleon dự kiến sẽ tập trung 18.000 bộ binh, 4.000 kỵ binh và 60 khẩu pháo tại Rivoli vào giữa trưa ngày 14 tháng 1, để lại 16.000 quân trên sông Adige và 8.000 quân tại Mantua.
Nguyên tắc hành quân riêng lẻ, nhưng chiến đấu cùng nhau của Napoleon một lần nữa đã đem ra trái ngọt. Alvinczi đã thất bại trong việc mang thêm bất kỳ lực lượng nào đến Rivoli ngoài 28.000 quân và 90 khẩu pháo của ông ta.
Napoleon đến cao nguyên phía trên các hẻm núi Rivoli lúc 2 giờ sáng thứ Bảy, ngày 14 tháng 1 năm 1797, nơi sẽ là điểm quyết định – điểm tựa hoặc trọng tâm chiến lược – của trận chiến. Đó là một đêm trăng sáng, trong trẻo và rất lạnh, và ông giải thích số lượng cũng như vị trí các đống lửa trại có nghĩa là Hầu tước de Lusignan, một vị tướng Áo năng nổ gốc Tây Ban Nha, vẫn còn quá xa để có thể giao chiến cho đến giữa buổi sáng. Ông hiểu rất rõ khu vực này vì đã thường xuyên cưỡi ngựa băng qua đó trong bốn tháng trước đó. Nếu có thể giữ được hẻm núi Osteria và con dốc có nhà nguyện San Marco ở phía đông chiến trường, ông tin rằng mình có thể ngăn chặn cuộc tấn công chính một cách tương đối dễ dàng. Ông cần để sư đoàn của tướng quân Masséna nghỉ ngơi và tranh thủ thời gian cho Rey đến, vì vậy ông quyết định thực hiện một cuộc tấn công để ghim Alvinczi. Joubert được lệnh hành quân trở lại cao nguyên Rivoli và gửi một lữ đoàn đến Osteria trước khi tấn công vào trung tâm địch, được yểm trợ bởi tất cả các khẩu pháo Pháp trên cao nguyên. Trong khi đó, Masséna được lệnh cử một lữ đoàn giữ chân Lusignan càng lâu càng tốt.
Lúc 4 giờ sáng, ba giờ trước bình minh, lữ đoàn của Tướng Honoré Vial gồm các trung đoàn bộ binh nhẹ số 4, 17 và 22 đã đẩy quân Áo lùi về San Giovanni và Gamberon, chiếm được nhà nguyện San Marco. Khi bình minh lên, Joubert tấn công tại Caprino và San Giovanni nhưng quân lực của ông quá mỏng và bị chặn đứng bởi quân số đông đảo hơn nhiều. Quân Áo phản công lúc 9 giờ sáng, làm tan rã lữ đoàn của Vial, sau đó Napoleon lập tức gửi một trong các lữ đoàn của Masséna đến cứu viện trung tâm, nhờ đó giành lại được ngôi làng Trambassore. Cuộc chiến ở trung tâm này tiếp diễn không ngừng nghỉ trong suốt mười tiếng đồng hồ bền bỉ.
Đến 11 giờ sáng, Lusignan đã đến cùng 5.000 quân. Ông ta đã đánh tan lữ đoàn độc lập của Masséna và thâm nhập sâu vào phía sau cánh trái quân Pháp gần Affi, ngăn cản bất kỳ viện binh nào đến được. Napoleon chỉ vừa đủ giữ vững trung tâm, đang chịu áp lực rất lớn ở sườn phải và Lusignan đã vòng qua cánh trái của ông. Ông chỉ còn một lữ đoàn dự bị và tướng Rey vẫn còn cách đó một giờ hành quân. Khi tin tức truyền đến rằng Lusignan đã lọt ra phía sau, các sĩ quan tham mưu nhìn Napoleon, người vẫn bình thản đến lạ thường, ông chỉ đơn giản nhận xét: 
"Chúng ta tóm được chúng rồi." 
trận Rivoli
trận Rivoli
Nhận định rằng quân Áo ở trung tâm là lực lượng đã kiệt sức và Lusignan vẫn còn quá xa để tác động đến trận chiến, Napoleon tập trung vào Quasdanovich ở phía đông như mối đe dọa chính. Ông làm mỏng phòng tuyến của Joubert và gửi tất cả những người có năng lực nhất đến San Marco. Khi các cánh quân hàng dọc dày đặc của Áo, được pháo binh yểm trợ, tấn công hẻm núi và tiến lên cao nguyên, họ bị pháo binh Pháp bắn đạn chùm vào các hàng ngũ dày đặc từ mọi phía, sau đó bị cánh quân bộ binh Pháp tấn công bằng lưỡi lê, rồi bị tất cả các kỵ binh Pháp có sẵn tấn công. Khi họ lùi vào hẻm núi, một phát đạn may mắn trúng một xe chở đạn – gây chấn động tâm lý trong không gian hẹp – ngay lập tức Quasdanovich ra lệnh hủy bỏ cuộc tấn công.
Napoleon lập tức chuyển hướng tấn công của chính mình sang trung quân Áo, nơi quân Áo hầu như không có pháo binh hay kỵ binh. Sau khi giành được cao nguyên với cái giá rất đắt, cả ba cánh quân Áo đều bị đẩy lùi khỏi đó. Lusignan bị chặn đứng khi vừa đến chiến trường, đúng lúc tướng Rey đột ngột xuất hiện ở phía sau ông ta. Ông ta chỉ thoát thân trong gang tấc với khoảng 2.000 quân. Đến 2 giờ chiều, quân Áo rút lui hoàn toàn, và cuộc truy đuổi chỉ bị hủy bỏ khi có tin từ Augereau rằng Provera đã vượt sông Adige và đang hướng tới Mantua, khi đó Masséna được gửi đi để giúp Augereau ngăn chặn cuộc giải vây.
Napoleon mất 2.200 quân trong trận Rivoli và 1.000 người khác bị bắt. Tổn thất của quân Áo, cao hơn nhiều: 4.000 người chết và bị thương cùng 8.000 người bị bắt, cùng với 8 khẩu pháo và 11 lá cờ. Cuộc rút lui của Alvinczi dần biến thành một cuộc tháo chạy khi 11.000 tù binh nữa bị bắt trong những ngày tiếp theo. Napoleon đã giành được chiến thắng đỉnh cao nhất trong cuộc đời mình - ít nhất là đến thời điểm hiện tại. 
Vào trưa ngày 15 tháng 1, Provera đến La Favorita cùng đạo quân cứu viện gồm 4.700 người, nhiều người trong số họ là tân binh chỉ mới được huấn luyện. Vào rạng sáng ngày hôm sau, tướng quân Wurmser cố gắng xuất kích khỏi Mantua, nhưng ông ta bị chặn đứng ngay lập tức. Khi Napoleon đến nơi, tướng Provera của Áo bị kẹt giữa hai chiến tướng Masséna và Augereau tại La Favorita, một ngôi làng bên ngoài Mantua. Ông ta chiến đấu dũng cảm, nhưng đã đầu hàng trước khi một cuộc thảm sát xảy ra và toàn bộ lực lượng của ông bị bắt. Ở Mantua, lương thực cuối cùng đã cạn kiệt. 
Wurmser đã cố gắng cầm cự thêm hai tuần so với dự kiến với hy vọng hão huyền rằng Alvinczi có thể xuất hiện một cách thần kỳ, nhưng vào thứ Năm, ngày 2 tháng 2 năm 1797, ông đã đầu hàng thành phố cùng đội quân đồn trú của mình. Khoảng 16.300 lính Áo đã chết ở Mantua trong suốt tám tháng trước đó, và còn nhiều thường dân hơn nữa, họ đã phải ăn cả chuột và chó trong quãng thời gian vây thành dài đến tưởng chừng như vô tận. Quân Pháp thu giữ 325 khẩu pháo Áo và giành lại 179 khẩu mà họ đã bỏ lại từ tháng 8. Wurmser và năm trăm sĩ quan tham mưu của ông được phép rời đi với danh dự quân đội và trở về Áo, với điều kiện họ sẽ không chiến đấu chống lại Pháp cho đến khi có cuộc trao đổi tù binh. Những người còn lại bị bắt làm tù binh ở Pháp, nơi họ phải làm việc trong các dự án nông nghiệp và xây dựng. Tin tức về sự thất thủ của Mantua đã gây chấn động ở Paris, và với người dân Pháp, đây đã là chiến thắng vĩ đại nhất từ đầu đến giờ. 
Napoleon không có mặt để chứng kiến chiến thắng của mình. Ông tiếp tục đến Verona và sau đó là Bologna để trừng phạt các nước Giáo hoàng vì đã đe dọa nổi dậy ủng hộ Áo bất chấp hiệp định đình chiến mà họ đã ký vào tháng 6 năm trước. Không chút xấu hổ hay nhục nhã, ông tiếm quyền của Hội đồng Đốc chính, vào ngày 22 tháng 1, ông yêu cầu đặc phái viên Pháp tại Rome, Cacault rời Rome trong vòng sáu giờ sau khi nhận được bức thư này để gây áp lực lên thành Vatican. 
Cùng ngày, ông viết thư cho nhà đàm phán của Giáo hoàng, Hồng y Alessandro Mattei, để nói rằng ảnh hưởng của Áo và Naples đối với chính sách đối ngoại của Rome phải chấm dứt. Nhưng ông đã làm dịu giọng điệu của mình ở phần kết và yêu cầu ông ta đảm bảo với Đức Giáo hoàng rằng ngài có thể ở lại Rome mà không cần lo lắng gì cả.
Victor
Victor
Napoleon, như ông đã nói với Hội đồng Đốc chính, "Nếu Giáo hoàng và tất cả các hồng y bỏ trốn khỏi Rome, tôi sẽ không bao giờ có thể đạt được những gì tôi yêu cầu." - lo sợ về thế mạnh của phe tôn giáo trong trường hợp này. Napoleon ban hành một tuyên ngôn vào ngày 1 tháng 2 tuyên bố rằng tất cả các linh mục và tu sĩ nào không cư xử theo các nguyên tắc của Tân Ước sẽ bị xử lý nghiêm khắc hơn các công dân khác, với hy vọng làm giảm sự phản đối của họ đối với sự cai trị của Pháp ở Ý. 
Một cách mỉa mai thay, quân đội của các nước Giáo hoàng vẫn cố gắng chống trả. Tại Castel Bolognese vào ngày 3 tháng 2, Tướng Claude Victor-Perrin - thống chế Victor tương lai - đã dễ dàng đánh bại những người lính mà ông gặp, và một tuần sau đó, ông chiếm được đơn vị đồn trú của Giáo hoàng ở Ancona mà không chịu tổn thất nào. Đến ngày 17 tháng 2, Giáo hoàng đã cầu hòa. Ngài cử Mattei đến tổng hành dinh của Napoleon tại Tolentino để ký một hiệp ước, theo đó ngài nhượng lại Romagna, Bologna, Avignon và Ferrara cho Pháp, đóng cửa tất cả các cảng đối với người Anh, và hứa trả một khoản đóng góp 30 triệu franc cùng một trăm tác phẩm nghệ thuật. Trừ Turin và Naples, gần như toàn bộ nước Ý đã nằm trong bàn tay của tướng quân Napoleon. 

 Tạm nghỉ lần ba

Nơi cư trú chính của Napoleon vào mùa xuân năm 1797 là cung điện Mombello ở ngoại ô Milan, tại đây Napoleon sống cuộc sống xa hoa - ông đưa cả gia đình đến sống cùng mình cùng một nghi thức mô phỏng cung đình, trong đó giới quý tộc Ý xuất hiện tại bàn ăn của ông, việc dùng bữa diễn ra công khai và Napoleon thì thể hiện sở thích rất sặc mùi quân chủ với những người phục vụ ông. 
Elisa Bonaparte
Elisa Bonaparte
Chính vào thời điểm này, Napoleon đã bắt đầu sự can thiệp dai dẳng vào đời sống tình cảm của các anh chị em của mình. Vào ngày 5 tháng 5 năm 1797, cô gái Elisa 20 tuổi đã kết hôn với vị quý tộc người Corsica, Đại úy Felice Baciocchi, người sau đó đã nhanh chóng thăng tiến trong quân đội và cuối cùng trở thành thượng nghị sĩ kiêm Hoàng thân xứ Lucca. Tháng sau đó, vào ngày 14 tháng 6, dưới sự khuyến khích và thúc giục tương tự của Napoleon, Pauline 17 tuổi đã kết hôn với vị tướng 25 tuổi Charles Leclerc, người từng phục vụ cùng Napoleon tại Toulon và cũng từng chiến đấu tại Castiglione và Rivoli. Napoleon biết rằng vào lúc đó Pauline đang yêu một người khác, một người mà mẹ của họ, bà Letizia, cho là không phù hợp, nhưng ông vẫn ủng hộ cuộc hôn nhân đó bất chấp tất cả. Ông cũng khuyến khích viên kỵ binh Murat tán tỉnh người em gái khác của mình, Caroline, và họ kết hôn vào tháng 1 năm 1800.
Murat và Caroline Bonaparte
Murat và Caroline Bonaparte
• • • 
Vào ngày 18 tháng 2 năm 1797, Quân đội Ý đã ra mắt một tờ tin tức mang tên Journal de Bonaparte et des Hommes Vertueux - Tạp chí của Bonaparte và những người đức hạnh, với tiêu đề tuyên bố rằng: "Hannibal đã ngủ ở Capua, nhưng Bonaparte không ngủ ở Mantua". 
Napoleon nhận thức rất rõ về sức mạnh của tuyên truyền, và giờ đây ông đã nỗ lực một cách có ý thức để gây ảnh hưởng đến dư luận, vốn đã nghiêng hẳn về phía ông. Ông bắt đầu sự nghiệp mới của mình với tư cách là một chủ báo và nhà báo bằng cách đọc những câu như - 
"Bonaparte bay như chớp và tấn công như sấm sét". 
Trong vòng mười ngày, tờ Tạp chí đã gián tiếp chỉ trích Chính quyền Đốc chính. Cuối năm đó, ông cũng thành lập hai tờ tin tức quân đội: 
- Courrier de l’Armée d’Italie - Sứ giả Tập đoàn quân Ý
- La France Vue de l’Armée d’Italie* - Nước Pháp nhìn từ Tập đoàn đội Ý
Chiến dịch Rhine năm 1796
Chiến dịch Rhine năm 1796
Cả hai tờ báo này đều được viết với mục đích tuyên truyền. Với mặt trận sông Rhine gần nước Pháp hơn nhiều, tướng quân Napoleon không muốn chiến dịch Ý bị lu mờ trong tâm trí công chúng. Chủ biên tập của tờ báo đầu tiên, D’Angély là một cựu nghị sĩ và luật sư, người đã điều hành các bệnh viện của Quân đội Ý và sau đó trở thành một trong những cấp phó cao cấp của Napoleon. Việc bổ nhiệm Jullien, chủ biên tập của tờ báo thứ hai, là dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của Napoleon trong việc bỏ qua các lập trường chính trị trong quá khứ nếu cá nhân đó có tài năng và thể hiện mong muốn lấy đày quá khứ. 
Trong một thể chế chính trị biến động như nước Pháp, đây không hẳn là sự khoan dung mà là lẽ thường tình. Xét cho cùng, bản thân Napoleon cũng từng là một Jacobin chỉ ba năm trước đó. Tại Paris, người dân và chính quyền cho ăn mừng các chiến thắng của Napoleon. 
Hoàn toàn tách biệt khỏi chính trị, Napoleon tạo nên những tin tức hấp dẫn, khiến cho cả người dân bảo thủ lẫn người dân cấp tiến cũng phần nào đó tôn trọng, và ưa thích ông. Nhìn chung, những chiến công của Napoleon được nhắc đến thường xuyên hơn nhiều so với bất kỳ vị tướng Pháp nào khác, gây ra sự khó chịu ngày càng tăng đối với bộ chỉ huy cấp cao của Tập đoàn quân Rhine và Moselle cũng như Tập đoàn quân Sambre và Meuse, vốn rất bực bội khi bị Tập đoàn quân Ý làm lu mờ.
Năm 1796 là năm đầu tiên các bản in và tranh khắc về Napoleon bắt đầu được sản xuất và tiếp thị, với các tiêu đề như Tướng quân Bonaparte tại Lodi hay Milan.  Một số người thêm chữ 'e' vào tên và chữ 'u' vào họ của ông, những người khác đọc là "Bounaparte". Hàng chục, thậm chí hàng trăm cách viết khác nhau về ông vào năm 1798 chứng minh rằng hiện tượng sùng bái cá nhân Napoleon đã bắt đầu. Các nghệ sĩ cảm thấy không cần phải tận mắt nhìn thấy ông trước khi vẽ về ông, vì vậy trong một số bản in, chúng ta thấy ông được mô tả là một người đàn ông trung niên với mái tóc hoa râm, đúng như những gì người ta mong đợi ở một vị tướng chiến thắng. Tương tự như thế, đã có hằng trăm loại huy chương để kỷ niệm cho chiến thắng của Bonaparte. 

Giai đoạn cuối cùng và một nhận định

Vào thứ Sáu, ngày 10 tháng 3 năm 1797, Napoleon khởi hành chiến dịch phía bắc mà ông đã hứa với Chính quyền Đốc chính; một cuộc viễn chinh mạo hiểm chỉ với 40.000 quân qua Tyrol đến Klagenfurt và cuối cùng là Leoben ở Styria, từ đó, trên đỉnh đồi Semmering, đội tiên phong của ông có thể nhìn thấy những ngọn tháp của Vienna. 
Napoleon đã đến để đánh Vienna. 
Các đội quân của Jourdan và Moreau – cả hai đều có quy mô gấp đôi tướng quân Napoleon – đã bị Đại vương công Charles hành cho ngập mặt và đánh bật khỏi Đức; nước Pháp giờ đây hy vọng lực lượng khiêm tốn hơn của Napoleon sẽ buộc người Áo phải hòa đàm bằng cách đe dọa chính thủ đô của họ. Napoleon ban đầu dự định phối hợp với Tập đoàn quân Rhine trong một thế gọng kìm. Tuy nhiên, ông ngày càng lo ngại khi biết rằng cả tướng Jourdan và Moreau đều không thể vượt sông Rhine trở lại sau những thất bại vào mùa thu năm đó. Để khích lệ quân sĩ, ông tố cáo anh trai của Charles, Hoàng đế Francis, trong một bản tuyên ngôn tuyên bố Francis được người Anh trả tiền làm phục vụ và tuyên bố rằng người Anh, - những kẻ xa lạ với những tai ương của chiến tranh, mỉm cười sung sướng trước những khốn cùng của Lục địa. 
Đòn đánh này trong cuộc chiến tuyên truyền của Napoleon chống lại Áo xuất phát từ việc chính phủ Anh sắp cung cấp một khoản vay 1,62 triệu bảng Anh, tương đương với hơn 40 triệu franc dành cho chính quyền Áo. Mặc dù người Anh không có ý định đổ bộ quân lên lục địa vào thời điểm này, họ vẫn luôn hào phóng trợ cấp cho bất kỳ kẻ thù nào của Pháp sẵn sàng ra trận chống lại nước này.
Ngày 16 tháng 3, Napoleon vượt sông Tagliamento, gây ra một thất bại nhỏ cho Đại vương công Charles tại Valvassone. Ngày hôm sau Tướng Jean-Baptiste Bernadotte biến đây thành một thất bại lớn hơn khi ông bắt được một cánh quân Áo bị tách khỏi đội hình chính. Tại sông Tagliamento, Napoleon đã lần đầu tiên giới thiệu kiểu đội mình yêu thích mới của mình - Đội hình hỗn hợp – một sự kết hợp giữa tấn công theo hàng ngang và tấn công theo cột dọc, vốn được nhà lý luận quân sự Guibert phát triển lần đầu để đối phó với sự bất thường của các cấu trúc địa hình. Đây là một kỹ thuật mà ông sẽ sử dụng lại vài ngày sau đó khi vượt sông Isonzo vào Áo; trong cả hai dịp này, ông đã đích thân can thiệp để có thể vận hành một đội hình kết hợp hỏa lực của một tiểu đoàn hàng ngang với sức mạnh tấn công của hai tiểu đoàn chiều dọc.
Napoleon không hề ấn tượng với đối thủ mới của mình - Đại vương công Charles, người mà ông thấy danh tiếng là một nhà chiến lược là không xác đáng, mặc dù Charles đã giành chiến thắng trong các trận chiến ở Hà Lan năm 1793 và đã đánh bại Jourdan và Moreau năm 1796. 
"Cho đến nay Đại công tước Charles đã điều động quân tệ hơn cả Beaulieu và Wurmser," Napoleon nói với Hội đồng Đốc chính, "hắn mắc sai lầm ở mọi bước đi, và đó là những sai lầm cực kỳ ngu ngốc." 
Hiển nhiên Hoàng đế Pháp sẽ không nhận ra Charles là người giỏi nhất trong số các địch thủ của ông.
Không có một trận chiến lớn nào diễn ra giữa Napoleon và Đại vương công tước, bởi người Áo lúc này cũng đang đối mặt với một cuộc tấn công đến từ tướng quân Moreau – Vị tướng quyết định sẽ không mạo hiểm mất công đoạt thủ đô vào tay Napoleon, và chấp nhận đề nghị đình chiến của địch tại Leoben vào ngày 2 tháng 4, cách Vienna hơn một trăm dặm về phía tây nam.
Kể từ khi chiến dịch bắt đầu một năm trước đó, Napoleon đã vượt qua dãy Apennines và dãy Alps, đánh bại một đội quân Sardinia và sáu đội quân Áo, đồng thời giết, làm bị thương hoặc bắt giữ 12 vạn lính Áo. Tất cả những điều này ông đã làm trước khi bước sang tuổi hai mươi tám. Mười tám tháng trước, ông còn là một người lính vô danh, ủ rũ, viết các bài luận về tự sát. 
Giờ đây ông đã nổi tiếng khắp châu Âu, đã đánh bại nước Áo hùng mạnh của Thánh chế La Mã, ép Giáo hoàng cùng các vị vua xứ Piedmont và Naples phải ký hiệp ước hòa bình, xóa bỏ công quốc thời trung cổ Modena, đập tan chính quyền 1,200 năm của Milan và đánh bại quân Áo trong mọi hoàn cảnh quân sự có thể hình dung được. Hầu hết các vị tướng lừng lẫy nhất của Áo – Beaulieu, Wurmser, Provera, Quasdanovich, Alvinczi, Davidovich – và đặc biệt là Đại vương công Charles, đều đã bị đánh bại Napoleon.
Napoleon đã chiến đấu chống lại các lực lượng Áo luôn chiếm ưu thế về quân số trên chiến trường, nhưng ông thường xuyên áp đảo họ trên chiến trường nhờ chiến lược vị trí trung tâm được lặp đi lặp lại đến mức trở thành thói quen nhuần nhuyễn. Việc nghiên cứu sâu sắc về lịch sử và địa lý nước Ý trước khi đặt chân đến đó đã tỏ ra cực kỳ quý giá, cũng như sự sẵn sàng trong cách thử nghiệm các ý tưởng của người khác, đáng chú ý nhất là tiểu đoàn lập phương và đội hình hỗn hợp, cùng những tính toán tỉ mỉ của ông về hậu cần.
Cần phải nói rằng, tư duy và trí nhớ phi thường của Napoleon trong chiến dịch này là là vô giá. Nhờ vào việc giữ các sư đoàn của mình trong phạm vi một ngày hành quân của nhau, ông có thể tập trung họ lại để chiến đấu và một khi đã hợp nhất, ông thể hiện sự bình tĩnh tuyệt vời dưới áp lực.
Việc Tập đoàn quân Ý vẫn có khả năng chiến đấu, xét đến những thiếu thốn mà nó phải chịu đựng khi Napoleon tiếp quản quyền chỉ huy, là một minh chứng khác cho năng lượng và khả năng tổ chức hậu cần của ông, một khả năng thần sầu không kém năng lực cầm quân trên chiến trường.
Những phẩm chất lãnh đạo của ông – hành động gay gắt khi ông cho là xứng đáng, ban tặng những lời khen ngợi cao quý trong những dịp khác – đã tạo ra tinh thần đồng đội rất cần thiết cho chiến thắng. Lòng dũng cảm cá nhân của ông càng gắn kết ông với binh lính. Tất nhiên, ông đã được giúp đỡ rất nhiều bởi thực tế là người Áo liên tục cử các chỉ huy đã đến tuổi lục, thất tuần chống lại ông, những người liên tục chia cắt lực lượng của mình và di chuyển với tốc độ chỉ bằng khoảng một nửa so với quân Pháp.
Napoleon cũng may mắn khi có dàn các sĩ quan cấp dưới chất lượng, đặc biệt là những người xuất sắc như Joubert, Masséna và Augereau, cùng những đóng góp tuyệt vời từ Lannes, Marmont, Victor và Sérurier, cũng như từ Brune, Murat và Junot. Napoleon xứng đáng được ghi nhận vì đã xác định được những chỉ huy tài năng này, bất kể tuổi tác và xuất thân của họ, và vì đã sa thải những người như Meynier và Vaubois, những người không thể vươn tới tầm vóc của sự vĩ đại. Không phải ngẫu nhiên mà khi ông nắm quyền, các cựu chỉ huy từ Tập đoàn quân Ý đều được thăng tiến tốt, và nhiều người trong số họ sẽ có đóng góp quan trọng cho bá nghiệp của Napoleon về sau.
Nhưng tất nhiên, không ai có thể phủ nhận được tài năng của Napoleon, một chiến thần 27 tuổi và đứa con cưng của chiến thắng. 
Chính trong các chiến dịch đầu tiên tại Ý, triết lý và thói quen quân sự của Napoleon lần đầu tiên trở nên rõ nét. Trên hết, ông tin vào việc duy trì tinh thần đồng đội vững mạnh. Mặc dù sự kết hợp giữa tinh thần và niềm tự hào này về bản chất mang tính vô hình to lớn, nhưng ông biết rằng một đội quân sở hữu nó có thể đạt được những điều kỳ diệu. Đây chính là sĩ khí luận của Napoleon - 10 chiến dịch tạo lên sĩ khí dâng cao ngút trời, nhưng chỉ chốc lát là sĩ khí đấy có thể bị đánh bại.
Ông đã hình thành một số cách để nâng cao và duy trì nhuệ khí, một số được rút ra từ việc đọc lịch sử cổ đại, số khác lại được lấy từ phong cách lãnh đạo đặc thù của riêng mình và được phát triển trong quá trình chinh chiến. Một trong số đó là nuôi dưỡng ý thức mạnh mẽ về sự gắn kết của người lính với trung đoàn của mình. 
Các vở kịch, bài hát, aria opera, tuyên ngôn, lễ hội, nghi lễ, biểu tượng, quân kỳ, huy chương còn thể hiện rõ rằng - Napoleon bản năng hiểu được binh lính muốn gì và ông đã trao cho họ điều đó. Và ít nhất cho đến trận Aspern-Essling năm 1809, ông đã mang lại cho họ điều họ mong muốn nhất đó là chiến thắng. Và thực tế xuyên suốt 13 năm sau, Napoleon đã liên tục chiến thắng. 
Trong các chiến dịch, Napoleon thể hiện sự gần gũi khiến ông được binh sĩ quý mến. Họ được phép đệ trình, được phép thăng cấp và thậm chí là lương hưu. Ông đích thân đọc các bản kiến nghị từ hàng ngũ và chấp thuận nhiều nhất có thể. Napoleon lắng nghe, tra hỏi và quyết định ngay lập tức; nếu là từ chối, các lý do được giải thích theo cách làm dịu bớt sự thất vọng.
Sự dễ tiếp cận như vậy đối với một tổng tư lệnh là điều không thể tưởng tượng nổi trong quân đội Anh của Công tước Wellington hay trong quân đội Áo của Đại vương công Charles, nhưng ở nước Pháp cộng hòa vốn chú trọng tính bình đẳng và sự gần gũi giữa dân quân và sĩ quan, đó là một phương tiện vô giá để giữ liên lạc với các nhu cầu và mối quan tâm của binh sĩ. Những người lính gọi xin một bộ quân phục mới một cách thân thiện, chỉ vào chiếc áo rách rưới của mình, thường sẽ được đáp lại bằng một câu nói đùa. Thực tế là trong chiến dịch Ý, khi một người lính làm vậy, Napoleon đáp:
 "Ồ không, không được đâu. Nó sẽ che mất những vết thương của anh đấy." 
Napoleon thực sự thích dành thời gian cho binh lính của mình; ông véo tai họ, nói đùa với họ và chọn ra những cựu binh - những người mà ông gọi là cựu binh, ôn lại về những trận đánh đã qua và đặt ra hàng loạt câu hỏi cho họ. Khi các cuộc hành quân dừng lại để ăn trưa, Napoleon và Berthier sẽ mời các sĩ quan tùy tùng và binh lính cần vụ ăn cùng. Ông cũng đảm bảo rằng rượu từ bàn ăn của mình luôn được chia cho các lính gác. Có lẽ đó chỉ là những điều nhỏ nhặt, nhưng chúng được trân trọng và góp phần nuôi dưỡng lòng trung thành. 
Trong nghệ thuật lãnh đạo, khó có điều gì đạt được khó hơn thế này, và cũng không có động lực nào mạnh mẽ hơn để thúc đẩy hành động. Napoleon dạy cho những người bình thường rằng họ có thể tạo nên lịch sử, và thuyết phục những người đi theo mình rằng họ đang tham gia vào một cuộc phiêu lưu, một màn trình diễn, một cuộc thử nghiệm, một thiên anh hùng ca mà sự huy hoàng của nó sẽ thu hút sự chú ý của hậu thế trong nhiều thế kỷ tới.
Trong các buổi duyệt binh, có thể kéo dài tới năm tiếng đồng hồ, Napoleon chất vấn binh sĩ về thức ăn, quân phục, giày dép, sức khỏe chung, các thú tiêu khiển và việc trả lương đều đặn, và ông mong đợi được nghe sự thật. Quân đội yêu quý Napoleon vì sự tận tâm của ông dành cho họ, khác với những tên mũ to đang cầm quyền nước Pháp. 
Chăm sóc chu đáo cho thương binh là mối quan tâm đặc biệt, một phần vì ông cần họ quay trở lại hàng ngũ càng nhanh càng tốt, nhưng cũng vì ông biết điều trị y tế kịp thời quan trọng như thế nào đối với nhuệ khí hay sĩ khí trên chiến trường. Nếu tình cờ gặp các đoàn thương binh, ông dừng lại, tìm hiểu tình trạng của họ, sự đau đớn của họ, những trận đánh mà họ bị thương, và không bao giờ rời đi mà không an ủi họ bằng lời nói hoặc chia sẻ sự hào phóng của mình như tiền tài hoặc hiện vật. Ngược lại, ông thường xuyên khiển trách các bác sĩ, những người mà ông coi là lang băm.
Napoleon đã học được nhiều bài học lãnh đạo thiết yếu từ Julius Caesar, đặc biệt là cách ông quở trách những đội quân mà ông cho là không đáp ứng được kỳ vọng, như tại Rivoli vào tháng 11 năm 1796.  Các bài diễn văn của Napoleon gửi tới quân đội được dán trên các bảng thông báo trong trại và được đọc rộng rãi.
Ông thích tung ra hàng loạt số liệu thống kê, kể cho binh lính nghe họ đã giành được bao nhiêu chiến thắng trong bao lâu và họ đã chiếm được bao nhiêu pháo đài, tướng lĩnh, đại bác, lá cờ và tù binh. Một số tuyên ngôn này có thể nghe có vẻ khoe khoang, nhưng chúng được viết cho những người lính ít học. Napoleon tâng bốc quân đội bằng cách nhắc đến thế giới cổ đại – mặc dù chỉ một thiểu số rất nhỏ quen thuộc với các tác phẩm kinh điển – và khi ông so sánh họ với những huyền thoại một cách đầy cảm hứng, hay nói với họ rằng gia đình và hàng xóm sẽ vinh danh họ như thế nào, ông đã giành được sự tận trung của toàn quân sĩ, nhiều người trong số họ sẽ mãi tận trung với ông, và hát lên bài ca -
Hoàng đế Vạn Tuế!