Tiểu sử Charles de Gaulle [P1]: de Gaulle trước khi là de Gaulle
Trong những trang sử hào hùng của Đệ Nhị Thế Chiến, người ta thường hay đề cập đến những cái tên như Roosevelt, Churchill hay Stalin....

Trong những trang sử hào hùng của Đệ Nhị Thế Chiến, người ta thường hay đề cập đến những cái tên như Roosevelt, Churchill hay Stalin. Cả ba cái tên đấy đều là những biểu đạt của cảnh sát toàn cầu và đại diện cho các cường quốc thắng trận trên thế giới. Nhưng có một người lúc đấy cũng đóng vai trò quan trọng không kém. Ông là người đưa nước Pháp từ vị thế bị đô hộ bởi chủ nghĩa phát xít thành một cường quốc tự do trong một Châu Âu tự do. Người đấy, không ai khác là Charles de Gaulle. Vậy cuộc đời của ông có gì đặc biệt? Hãy cùng Spiderum tìm hiểu trong bài viết dưới đây.
Phần 1: Huyền thoại, Tuổi thơ và Thế chiến
Khi chúng ta đề cập đến các nhân vật lịch sử, sẽ có hai hình tượng: Một là huyền thoại về họ, hai là bản chất thực sự của các nhân vật đấy. Charles de Gaulle, cũng là một nhân vật kiểu đấy. Trong ký ức mơ hồ nhất của người dân Pháp, ông bước vào lịch sử không phải bằng các chiến thắng quân sự hay bản hòa tấu của triều đại, mà bằng một giọng nói nhỏ nhẹ, nhưng cương quyết và rõ ràng. Trong bối cảnh nước Pháp đầu hàng trước Đức Quốc Xã, de Gaulle thốt lên những câu nói cương quyết - Pháp không đơn độc, họ có một đế chế khổng lồ ở phía sau, có sự ủng hộ từ cả Anh và Hoa Kỳ.
"Nước Pháp đã thua một trận đánh, nhưng nước Pháp chưa thua cả cuộc chiến!"
"Dù chuyện gì xảy ra, ngọn lửa kháng chiến của người Pháp không được phép tắt và sẽ không bao giờ tắt."
Thực tế, rất ít người nghe được trực tiếp buổi phát sóng đó. Thậm chí, BBC còn không buồn ghi âm lại vì nghĩ nó không quan trọng. Nhưng cuộc phát thanh vào ngày 18 tháng 6 năm đấy, đã vực dậy tinh thần của những người Pháp còn muốn chiến đấu, và đưa chúng ta ngược dòng về 50 năm trước, để giải-thiêng hình tượng của de Gaulle và cho chúng ta thấy được ông là ai.

de Gaulle vào ngày 18 tháng 6 năm 1940
Ngày 22 tháng 11 năm 1890, Charles Andre Joseph Marie de Gaulle, ra đời tại Lille, thuộc miền nam nước Pháp. Ông là đứa con thứ ba trong gia đình có ba anh em, với người cha Henri de Gaulle là giáo sư văn sử học, còn người mẹ chủ yếu làm công việc quán xuyến. Cái họ của ông, de Gaulle trùng hợp một cách kỳ lạ với Gaul, tên cổ của nước Pháp và từng khiến nhiều người đương thời nhầm lẫn đấy là bí danh. Thực tế, cái tên này có nguồn gốc từ tiếng Flander là de Walle - hay bức tường. Gia đình de Gaulle là một gia đình quý tộc lâu đời bị thất thế. Hằng trăm năm trước, Nhà de Gaulle đạt được tước vị quý tộc áo dài nhờ vào nắm giữ các chức vụ hành chính, luật pháp. Đến thời kỳ cách mạng, họ mất toàn bộ tài sản - địa vị và phải chuyển sang các công việc khác. Cả ông nội và bà nội của cậu bé Charles ngày đó đều là các tác giả tài năng với hàng chục đầu sách về lịch sử Công giáo và chế độ quân chủ - hai chủ đề mà gia đình de Gaulle tôn thờ.
Họ là những người bảo hoàng thầm lặng, tôn thờ chế độ quân chủ và coi thường nền Đệ Tam Cộng Hòa của nước Pháp, nhưng cũng là một dạng công giáo - xã hội, tin rằng người giàu có trách nhiệm đạo đức với tầng lớp công nhân và người nghèo. Tương tự như con trai của họ về sau, gia đình de Gaulle cũng là những người sống lưu vong ngay trong lòng nước Pháp.
Môi trường trí thức của cậu bé Charles de Gaulle thời trẻ cũng được nhào nặn bởi tinh thần tư sản công nghiệp thời đó. Bên cạnh sự trí thức từ thời ông nội và lòng ái quốc từ người cha Henri, cậu bé Charles còn chịu ảnh hưởng từ sự ổn định và thực dụng từ dòng ngoại Lille, vốn là những nhà sản xuất dệt may giàu có từ miền bắc Pháp. Điều này đã hình thành nên một sự nghiêm nghị và kỷ luật của de Gaulle - từ lúc là một cậu bé đến khi qua đời, ông luôn giữ thái độ xa cách, ít biểu đạt cảm xúc, và quan trọng hơn hết, là tinh thần trí thức lẫn thực dụng. Thậm chí trong thời trẻ, từng có các nghi vấn về việc de Gaulle ủng hộ tư tưởng dân tộc cực đoan của Charles Maurras, nhưng khi nhìn lại cả về xuất thân và cuộc đời, tư tưởng của de Gaulle rộng lớn hơn thế rất nhiều. Ông là người giao thoa giữa chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa quân chủ, tinh thần cộng hòa và đạo đức Công giáo - một điều không quá khó hiểu, bởi nước Pháp thời Đệ Tam Cộng Hòa là một xã hội phân tách với hằng hà tư tưởng khác nhau.
Từ lúc còn nhỏ, de Gaulle đã bắt đầu viết, và đọc triết từ các triết gia như Bergson, Nietzsche, Kant và Goethe. Plato là nhân vật yêu thích của ông, và đến tuổi thiếu niên ông vào trường Stanislas và trong thời gian ngắn, đi du học ở Bỉ. Như nhiều người Pháp khác vẫn còn căm hận trước thất bại nhục nhã trước Đế chế Đức vào năm 1870, de Gaulle cũng mơ về một chiến thắng mà trong đó ông, với tư cách tướng quân sẽ dẫn dắt Quân đội Pháp đánh thắng Đức vào năm 1930. Niềm đam mê với quân sự dẫn đến từ năm 1906, de Gaulle quyết tâm vào học trường quân sự Saint-Cyr, được đặt tên dựa trên vị thống chế danh tiếng thời Hoàng đế Napoleon.

Thống chế Saint-Cyr, một trong các chỉ huy quân sự vĩ đại nhất thời Napoleon
Năm 1908, trước khi thi vào Saint-Cyr, de Gaulle dành mùa hè ở Đức. Điểm đáng chú ý là ông hoàn toàn thờ ơ với văn hóa hay cảnh quan nơi đây. Sự quan tâm duy nhất của ông là tàn tích của cuộc chiến tranh Pháp - Phổ và linh cảm về một cuộc chiến tranh sắp nổ ra. Năm 1909, ông đậu vào Saint-Cyr với thứ hạng trung bình - ấn tượng của người ta khi nói chuyện với ông là ngoại hình rất đặc biệt. Cao đến 1m93, nhỉnh hơn 30cm với chiều cao trung bình đương thời, đầu nhỏ, cổ dài cùng một cử chỉ vụng về, lo lắng. Chiều cao quá khổ này khiến ông luôn cảm thấy không thoải mái trong các hoạt động giao tiếp xã hội, và điều này có thể giải thích vì sao ông không muốn làm một nhà văn hay sử gia, mà thay vào đó là một sĩ quan. Tại đây, ông có thể cảm nhận được nước Pháp một cách trọn vẹn nhất, và tìm thấy sự yên bình.
Điều mỉa mai là, trong bối cảnh xã hội Pháp lúc bấy giờ đang có xu hướng chuộng hòa bình và ác cảm với quân đội - một di chứng từ biến cố Dreyfus, de Gaulle lại là một người ủng hộ quân đội. Tốt nghiệp trường với thứ hạng 13, vị sĩ quan trẻ tài năng trẻ cho rằng chiến tranh là một "cái ác cần thiết" để khơi dậy tinh thần thống nhất và yêu nước. Thay vì lựa chọn các đơn vị kỵ binh hào nhoáng đến lỗi thời hoặc các đơn vị thuộc địa, de Gaulle lại chọn lực lượng bộ binh đóng quân tại Pháp - và chỉ huy của trung đoàn đấy, Philippe Pétain sẽ là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất đến cuộc đời về sau của de Gaulle. Năm sau đó, de Gaulle liên tiếp nhận được những lời tán dương từ Petain. Khác với các tướng sĩ Pháp thời đấy chuộng lý thuyết chủ động tiến công - một học thuyết đã quá nổi tiếng từ thời Napoleon với các cuộc tấn công bằng cánh quân bộ binh kết hợp với lưỡi lê hay Offensive à outrance; Petain lại là một người cẩn trọng, nhận thức rõ sự nguy hiểm của pháo binh và chú trọng phòng thủ. Là một đại tá đang chuẩn bị nghỉ hưu, thật khó có thể nghĩ tư tưởng của Petain một ngày nào đó sẽ được chứng minh - nếu không có Đệ Nhất Thế Chiến.

Thống chế Petain
Khi Đệ Nhất Thế chiến nổ ra vào tháng 8 năm 1914, de Gaulle không hề sợ hãi mà ngược lại, ông cảm thấy phấn khích và thiêng liêng. Những sự ảo tưởng của de Gaulle về chủ nghĩa anh hùng nhanh chóng bị dập tắt trong lần thực chiến đấu tiên tại Dinant, Bỉ. Trong khi Tập đoàn quân Pháp vẫn giữ tư duy tấn công cảm tử bằng bộ binh từ thế kỷ 19, quân Đức đã áp dụng hỏa lực mạnh. Dẫn đầu một cuộc xung phong trên cầu, de Gaulle đã phải trả một cái giá đắt khi bị thương nặng ở đầu gối bởi một loạt đạn và phải nằm gục giữa những xác chết. Lòng dũng cảm là vô nghĩa trước hỏa lực áp đảo của vũ khí hiện đại, và de Gaulle, dù vẫn ủng hộ tư tưởng đánh tấn công, ông đã bắt đầu cảm thấy thất vọng trước quân đội. Điều theo sau đó là sự kinh hoàng của chiến tranh chiến hào - Sau khi bình phục và quay lại mặt trận, de Gaulle đối mặt với chiến tranh chiến hào. Ông gọi đây là "cuộc chiến vây hãm", nơi cả hai bên đều chôn chân dưới bùn lầy và chờ đợi đối phương kiệt quệ.
Ở Champagne và Artois, bộ chỉ huy Pháp liên tục tung ra các cuộc tấn công để xuyên thủng phòng tuyến quân Đức - mà như de Gaulle về sau nhận xét - có giá trị vô nghĩa. Hàng ngàn lính Pháp chết thảm chỉ để đổi lấy vài mét đất. Trung đoàn của de Gaulle mất gần một nửa quân số chỉ trong vài tuần. Khi viết nhật lệnh, de Gaulle vẫn giữ giá, tuân thủ mệnh lệnh và ca ngợi sự hy sinh của binh linh, nhưng trong thâm tâm, khi chép lại, ông cực kỳ cay đắng trước sự bất tài từ bộ chỉ huy Pháp. Những bức thư về nhà của de Gaulle trong gia đình thể hiện rất rõ sự tức giận - ông chửi rủa đám chính trị gia của cộng hòa là lũ cặn bã, phản đối các chiến dịch quân sự viển vông ở Hy Lạp hay Thổ Nhĩ Kỳ.

de Gaulle dính tù ngay
Đầu năm 1916, quân Đức phát động chiến dịch nã pháo dữ dội nhất lịch sử vào thành trì Verdun hòng làm tiêu diệt quân đội Pháp. Trong cuộc chiến đó, de Gaulle bị ném vào chảo lửa Douaumont - bất chấp vị sĩ quan trẻ đã phải cảnh báo về một lỗ hổng trong phòng tuyến, đơn vị của họ vẫn tiến lên và bị địch bao vây. Sau khi bị pháo binh Đức vùi dập, trung đoàn của de Gaulle bị quân Đức tấn công bằng lựu đạn và lưỡi lê. Bị đâm trúng đùi bằng lưỡi lê và ăn một quả pháo ngay trước mặt, de Gaulle bị bắt làm tù bình vào tháng 3 năm 1916. Bên trong quân đội Pháp, cấp trên Petain tưởng ông đã chết nên ký quyết định vinh danh truy tặng.
Xuyên suốt 32 tháng sau đấy, de Gaulle chịu cảnh tù giam ở sáu trại giam khác nhau. Khi bị bắt, de Gaulle thời gian để đọc sách báo và tranh luận về cuộc chiến với các tù nhân Pháp. Sự tự tin và tinh thần ái quốc dẫn đến de Gaulle được gọi là Le Connetable - Đại Thống Soái, một tước hiệu cao quý từ thời Chiến Tranh Trăm Năm của Pháp. Tại Ingolstadt, ông gặp nhà báo Remy Roure, và Mikhail Tukhachevsky, tướng quân tương lai của Hồng Quân Liên Xô. Được gặp Tukhachevsky, de Gaulle rất đồng cảm - cả hai đều đề xuất lý thuyết về một đội quân cơ giới hóa và di chuyển nhanh. Ông cũng bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên của mình - Discorde chez l'ennemi - Sự Chia Rẽ Trong Nội Bộ Kẻ Thù. Nhưng thời gian chủ yếu của de Gaulle vẫn là nghĩ cách trốn thù - ông trốn tù và bị bắt lại đến 5 lần, đi từ đào hầm, trốn vào một rổ giặt, thậm chí giả trang thành một nữ y tế. Nhưng tất cả các lần đấy đều thất bại, và đến cuối năm 1918, khi Đệ Nhất Thế Chiến kết thúc, de Gaulle mới về nhà ở Dordogne.
Phần 2: Bền bỉ
Sau sự kinh hoàng của Đệ Nhất Thế Chiến, de Gaulle rơi vào hố sâu sâu trầm cảm và tự xem mình như một hồn ma lạc lõng giữa thế giới của những người đang sống. Sự nghiệp binh nghiệp của ông tưởng chừng đã khép lại trong tủi nhục khi để bản thân bị quân Đức bắt giam, một vết nhơ khó gột rửa đối với một sĩ quan đầy kiêu hãnh. Nhưng may mắn thay, thế chiến có thể kết thúc nhưng Đông Âu vẫn đang hỗn loạn. Tìm lại ý nghĩa tồn tại và cứu vãn danh dự, ông tình nguyện gia nhập phái đoàn quân sự Pháp tại Ba Lan vào năm 1919. Dù ban đầu vẫn giữ vẻ gắt gỏng đặc trưng trước sự quan liêu, nhưng công việc giảng dạy bộ binh tại Rembertów đã giúp ông dần lấy lại sự tự tin. Qua những bài giảng về địa chính trị nhằm cân bằng thế lực với Đức, de Gaulle dần cảm phục với người dân Ba Lan lẫn cách tổ chức tác chiến của phe Liên Xô. Kinh nghiệm Ba Lan đã mang lại cho ông những bài học đắt giá khi chứng kiến phép màu bên sông Vistula, nơi quân đội Ba Lan đã chặn đứng cuộc viễn chinh của người bạn tù cũ Tukhachevsky. Dù không trực tiếp thừa nhận đây là nguồn gốc của tư tưởng về chiến tranh cơ động, nhưng những gì chứng kiến đã củng cố trong ông niềm tin rằng một quốc gia chỉ thực sự bại trận khi mất đi ý chí chiến đấu. Việc nhìn thấy cả Nga lẫn Ba Lan vẫn có thể huy động nguồn lực khổng lồ dù đang ở trong tình cảnh tồi tệ hơn cả Pháp đã trở thành một bài học về tinh thần dân tộc cho de Gaulle. Sau chiến công tại dòng Zbrucz, ông được trao tặng huân chương Virtuti Militari, một sự công nhận quý giá và một sự hồi sinh của de Gaulle.

de Gaulle bên cạnh vợ Yvonne
Trở về Pháp và đảm nhiệm vai trò giảng viên lịch sử quân sự tại Saint-Cyr, de Gaulle bước vào một cuộc hôn nhân. Cuộc hôn nhân với Yvonne Vendroux vào năm 1921 đã mang lại cho ông một sự ổn định cần thiết. Dù Yvonne xuất thân từ giới tư sản công nghiệp giàu có, khác biệt hoàn toàn với nguồn gốc trí thức quý tộc sa sút của de Gaulle, nhưng họ lại tìm thấy sự đồng điệu tuyệt đối trong tính cách. Tinh thần khắc khổ, nghiêm nghị và bảo thủ của bà Yvonne đã trở thành mảnh ghép hoàn hảo cho cuộc đời ông. Sự ra đời liên tiếp của hai người con là Phillipe và Élisabeth trong vòng ba năm đã tạo nên một hậu phương vững chắc, cho phép de Gaulle tập trung toàn lực để xây dựng lại sự nghiệp từ con số không.
Năm 1924, de Gaulle xuất bản cuốn sách “Sự Chia Rẽ Nội Bộ Kẻ Thù” để phân tích nguyên nhân thất bại của nước Đức trong thế chiến. Ông lập luận rằng sự mất cân bằng giữa chính quyền dân sự và quân sự, cùng việc đánh mất ý chí chiến đấu của người dân, chính là tử huyệt của đế chế Đức. Tuy nhiên, lối tư duy độc lập và thái độ có phần cao ngạo đã khiến ông gặp khó khăn tại trường tham mưu Ecole de Guerre. Dù được đánh giá là một bộ óc sáng dạ và thông minh, ông chỉ tốt nghiệp hạng khá thay vì xuất sắc như mong đợi do không chịu gò mình vào sự giáo điều. Ngay khi tốt nghiệp, ông đã không ngần ngại viết bài chỉ trích các học thuyết cứng nhắc của trường, đồng thời đề cao sự linh hoạt và khả năng ứng biến của người lãnh đạo Napoleon.

Chính sự sắc sảo và linh hoạt trong cách ông viết lách đã thu hút sự chú ý từ Thống chế Petain - hay giờ là anh hùng trận Verdun. Petain, một người không mấy giỏi trong việc viết lách và ghi chép, giờ cần một trí thức và tay viết kỹ nghệ - một vị trí mà quá hoàn hảo cho de Gaulle. Với vai trò là một người viết thuê, de Gaulle được lệnh viết cuốn lịch sử quân đội Pháp mà vị thống chế định xuất bản. Tuy nhiên, quan hệ giữa hai thầy trò cũng đang xấu dần đi. Biến sự Morocco - khi Petain lợi dụng thời cơ để gạt bỏ một thống chế đồng cấp khác để giành được sự ủng hộ từ chính quyền cánh tả, vấn đề bản quyền - khi bản thân Petain không cho de Gaulle có được tên bản quyền bất chấp các đóng góp của ông với cuốn sách mà de Gaulle đang viết, và sự phóng túng của Petain trước toàn công chúng đã giết chết niềm ngưỡng mộ của de Gaulle vào người thầy. Không còn nhìn nhận Petain như một nhà chiến thuật khắc khổ trong trận Verdun, de Gaulle chỉ thấy Petain như một người hùng giả mạo và thiếu sự cao thượng cần thiết của người lính - trong một bức thư, ông đã bộc bạch rằng
“Thống chế Petain từng là một vĩ nhân. Ông ta đã chết vào năm 1925, ấy vậy mà ông không nhận ra được điều đấy”.
Năm 1926, sau một cuộc cãi vã với Petain, de Gaulle chính thức rút về trụ sở Tập đoàn quân Rhine và trở về công việc của một người lính. Ông vẫn chấp nhận lời mời giảng dạy của Petain - nhưng đây là một hành động mang tính cá nhân hơn, bởi de Gaulle có lẽ đã chủ động về trường chiến tranh nhằm thực hiện 3 bài giảng quan trọng và khẳng định vị thế của mình trước ngôi trường từng hạ thấp ông. Sau Petain, de Gaulle cần một nơi để khẳng định năng lực thực tế. Tướng Gallet, lúc đó là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quân sự Cao cấp, chính là người đã dang tay đón ông. Công nhận năng lực của tay sĩ quan trẻ, Gallet đã cho phép de Gaulle giảng dạy và thuyết trình về học thuyết chiến tranh cơ động tại các trường quân sự danh tiếng. Sự ủng hộ của Gallet giúp De Gaulle không bị "vùi dập" bởi những tướng lĩnh tôn thờ phòng ngự tĩnh - những môn đệ trung thành của Petain, đồng thời tạo cho ông một diễn đàn để thu hút các sĩ quan trẻ có cùng lý tưởng, cũng như xuất bản cuốn sách Lưỡi Kiếm của ông.
Năm 1927, de Gaulle được điều động đến dòng Trier để chỉ huy một tiểu đoàn bộ binh, với nhiệm vụ chiếm đóng miền đất Rhineland và quan sát biên giới nước Đức. Với de Gaulle, dù nước Đức đã thua trận - nhưng tinh thần dân tộc và tiềm lực của người Đức vẫn rất đáng gờm. Điều này có thể lí giải vì sao de Gaulle huấn luyện quân đội nghiêm khắc đến như vậy - ông đòi hỏi rất cao từ binh sĩ và đối xử công bằng với họ, và lúc rảnh thì dành thời gian để viết lách và nghiên cứu lịch sử Đức.
Năm 1928, de Gaulle có con gái thứ ba - Anne. Nhưng thay vì là một cô bé khỏe mạnh, Anne lại bị bệnh Down bẩm sinh. Bệnh Down có lẽ là cú sốc lớn nhất dành cho vợ chồng de Gaulle - cả ông lẫn bà Yvonne đều coi việc sinh con là nghĩa vụ thiêng liêng của Nhà nước và Tôn giáo, và Anne vừa là nỗi đau lẫn niềm hạnh phúc trong cuộc đời của họ. Sau Anne, cả hai vợ chồng de Gaulle không sinh con nữa, và trong số các đứa con của mình, de Gaulle vẫn dành tình cảm nhiều nhất bên cô bé Anne xấu sổ.
Tháng 11 năm 1929, De Gaulle được cử sang Beirut của Lebanon – lúc đó thuộc quyền ủy trị của Pháp. Di chuyển cùng với cả gia đình, ông làm việc tại Bộ tham mưu quân đội Pháp tại Levant, phụ trách về vấn đề tình báo và chiến lược. Với de Gaulle, mảnh đất Lebanon là sự chán chường - thứ duy nhất có thể khiến ông trở nên thoải mái khi bàn đến vùng đất này trong những lá thư gửi đến gia đình là sự kiện thập tự chinh từ nước Pháp diễn ra hằng trăm năm về trước.

Phòng tuyến Maginot
Sau khi dành một khoảng thời gian để học tập và tìm hiểu mảnh đất Trung Đông tại Beirut trong các năm 1929-1931, de Gaulle trở về trung tâm quyền lực Paris vào năm 1931. Thất bại trước việc giành được một chức giáo sư ngành sử học tại Ecole de Guerre - de Gaulle một lần nữa được Petain - lúc đấy là Phó Chủ Tịch Hội Đồng Chiến Tranh Tối Cao - mời đến với công việc mới. Công việc nhận được của ông là một vị trí cực kỳ quan trọng - Tổng thư ký Hội đồng Quốc phòng tối cao. Công việc này cho phép ông tiếp cận với những bí mật quân sự cấp cao nhất của nước Pháp và hiểu rõ quan hệ giữa quân đội và chính phủ - dù trên thực tế, điều hằng ngày ông làm chỉ là soạn thảo văn bản kỹ thuật, luật tổ chức quốc gia khi có chiến tranh và viết sách. Khi làm việc trong đây, de Gaulle bắt đầu thấy sự nguy hiểm và tê liệt về tư duy của Đệ Tam Cộng Hòa. Việc đổ hàng tỷ franc vào các công trình bê tông tĩnh tại biên giới hay sau này là Tuyến Maginot không chỉ là sự lãng phí tài chính mà còn là cái bẫy tâm lý khiến quân đội đánh mất khả năng chủ động. Thay vào đó, ông phác thảo những trang đầu tiên về một lực lượng xe tăng cơ động và đưa ra các đề xuất về tổ chức nhà nước trong thời chiến.
Đáng tiếc thay, điều này đã không được chính quyền Pháp đương thời thông qua - vào thời của de Gaulle, trong vòng 5 năm nội các đã phải thay đổi đến 14 lần, dẫn đến một chính sách quốc phòng thiếu chuyên nghiệp và nhất quán. Sự thiếu nhất quán trong chính sách quốc phòng đã khiến nước Pháp lỡ mất cơ hội quý giá để hiện đại hóa lực lượng, trong khi ở phía bên kia biên giới, quân đội Đức đang ráo riết hiện đại hóa theo những gì de Gaulle đang cố gắng thuyết phục chính phủ của mình thực hiện.

Năm 1932, de Gaulle xuất bản cuốn “Cạnh Lưỡi Gươm”, nhấn mạnh vào vai trò của sự linh hoạt và cá tính của người chỉ huy. Hai năm sau, ông một lần nữa đề xướng học thuyết quân sự của mình qua tác phẩm Vers l'armée de metier - “Tiến Tới Quân Đội Chuyên Nghiệp”. Tác phẩm này có hai điểm chính. Điểm đầu tiên về cơ giới hóa - xe tăng không chỉ nên được tiến hành làm nhiệm vụ hỗ trợ bộ binh mà phải được tổ chức thành các sư đoàn thiết giáp độc lập, có tốc độ và hỏa lực mạnh để tiến hành chiến tranh tấn công. Điểm thứ hai là về quân đội chuyên nghiệp - sự vận hành máy móc phức tạp như xe tăng vượt quá khả năng của người lính nghĩa vụ, mà thay vào đó Pháp cần một đạo quân chuyên nghiệp khoảng 10 vạn người của cuốn sách. So với các lý thuyết quân sự thời đấy, tác phẩm này là sự pha trộn kỳ lạ giữa các thông số kỹ thuật khô khan và những suy tưởng mang tính triết lý về nghiệp binh. Không chỉ đề cập đến xe tăng, nó còn nói về một hình mẫu quân đội có khả năng làm điểm tựa tinh thần cho một xã hội Pháp đang mất phương hướng và nghiêm minh.

Mặt khác, “Tiến Tới Quân Đội Chuyên Nghiệp” không phải hoàn hảo. Về mặt kỹ thuật, các sử gia hiện đại đã chỉ ra de Gaulle quá coi thường vai trò của không quân và mô tả khá mơ hồ về các chi tiết kỹ thuật thực tế của xe tăng. Ấy vậy, trong không gian của các sử gia và tham mưu đương thời, lý do họ phản đối de Gaulle vì cho rằng xe tăng là một công cụ hỗ trợ thay vì là một lí thuyết quân sự đúng đắn. Đối với những nhà chính trị, ý tưởng về quân đội chuyên nghiệp cũng khiến họ khiếp sợ, bởi một đội quân như thế có thể làm được điều mà Napoleon một trăm năm trước làm - Đảo chính quân sự, hủy diệt nền cộng hòa.
Với de Gaulle trong năm 1934 đấy, việc xuất bản và bảo vệ học thuyết của mình hẳn là điều quan trọng nhất. Còn với cả xã hội Pháp, năm 1934 là năm của cuộc khủng hoảng chính trị gay gắt. Các cuộc biểu tình bạo động tại Paris kể từ sau Đại Suy Trầm một năm trước đấy, kinh tế suy thoái và sự trỗi dậy của các nhóm cực hữu lẫn cánh tả từ năm 1936 đã đẩy nước Pháp vào một tình trạng bấp bênh. Một lần nữa, thật khó để biết được de Gaulle về phe ai trong cuộc chiến này. Ông có quan hệ với nhóm Ordre nouveau - những trí thức không chính thống, những người tìm con đường thứ ba giữa chủ nghĩa tư bản và xã hội. De Gaulle dần hiểu được luận đề về xã hội hiện đại đang chịu ảnh hưởng từ cái bẫy vật chất - điều duy nhất có thể giải quyết được cái bẫy này, là xây dựng một cấu trúc cộng đồng để thay thế chủ nghĩa cá nhân cực đoan. Những lời phê phán của de Gaulle dành cho chính khách Raymond Poincaré cũng thể hiện sự ngưỡng mộ của ông dành cho triết gia Henri Bergson, nhất là lý thuyết trực giác trong chính trị của ông ta.
Những trang cuối trong cuốn sách “Tiến Tới Quân Đội Chuyên Nghiệp” vừa khẳng định nỗi niềm cần một nhà nước duy lý để dẫn dắt người dân, nhưng cũng cần một bậc thầy để tái thiết lại trật tự - một lãnh đạo huyền thoại mà có thể thuyết phục được đám đông phi lí. Ngôn ngữ này hẳn có thể khiến nhiều người cảm thấy gần đến chủ nghĩa phát xít và tư tưởng bạo động quân đội - nhưng trên thực tế, không hề có bằng chứng nào cho thấy de Gaulle chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa phát xít, và nếu có gì liên hệ đến de Gaulle và phát xít, đó là ông luôn tin chiến tranh Pháp - Đức là không thể tránh khỏi và tin rằng liên minh với Liên Xô là cần thiết để chống lại chủ nghĩa phát xít, như cách Pháp quốc liên minh với Thổ năm trăm năm trước đó để đối đầu với Thánh chế La Mã.
Cuối năm 1934, de Gaulle lại có thêm một tin vui nữa - Paul Reynaud, một chính trị gia Pháp đồng ý chấp nhận liên minh với ông. Cả Reynard và de Gaulle đều có điểm tương đồng nhất định. Họ đều thông minh, và bị cô lập chính trị. Reynard thì thất thế do ủng hộ chương trình phá giá đồng Franc, còn de Gaulle thì bị cho là mộng tưởng với lí thuyết quân sự của mình. Nhận thấy Reynard là ván cờ tốt nhất để đưa các tư tưởng quân sự của mình vào trong Quốc hội, de Gaulle sẵn sàng tâng bốc vị ân nhân và tuyên bố bản thân là “người của ngài”. Sự thực dụng chính trị và nhạy bén của de Gaulle đã giúp Reynard có được các liên minh chính trị cần thiết.

Paul Reynaud, nhà bảo trợ của de Gaulle
Khi Hitler đưa quân đội vào Rhineland, đến cả thủ lĩnh phe cánh tả cũng phải lắng nghe họ. Cách nhìn của de Gaulle cũng khác với phần lớn giới bảo thủ Pháp đương thời - trong khi nhiều người coi Hitler là một phiên bản ít tệ hơn của tư tưởng cộng sản, de Gaulle coi Hitler là một phiên bản kế cận của chủ nghĩa dân tộc Đức - “sức mạnh của Hitler đến từ sự hèn nhát của kẻ khác” - de Gaulle từng tuyến bố như vậy, hẳn với ông, giới lãnh đạo Pháp mới là đám hèn nhát trong đây.
Giữa các biến cố chính trị đấy, de Gaulle vẫn dành thời gian cho gia đình ở La Boisserie, với con gái yêu dấu Anne. Ông thường dành thời gian chơi với cô bé thiếu may mắn, nghiên cứu tài liệu và viết sách. Cuốn nước Pháp và Quân Đội được xuất bản vào năm 1938 không chỉ viết về lịch sử quân sự quê hương mà còn thể hiện tư tưởng thực dụng từ tay tác giả. Khác với những người đương thời kẹt trong ý thức hệ, de Gaulle sẵn sàng ca ngợi bất kỳ ai bảo vệ được vinh quang Pháp, từ các vị vua triều đình phong kiến đến các nhà cách mạng. Một quân đội mạnh, với de Gaulle, cần “sự tổ chức khoa học” của lý trí lẫn “tinh thần chiến đấu rực lửa”, sự dung hợp hoàn hảo giữa lý trí và tính huyền ảo từ nghệ thuật chính trị. Cuốn sách được viết vào năm 1938 của de Gaulle một lần nữa đem đến bất đồng cho ông, lần này là với người thầy cũ Petain. Vốn dĩ, cuốn sách được trên phần bản thảo mà Petain đã không xuất bản từ hàng chục năm trước - Petain lúc này đã yêu cầu de Gaulle nên thêm vào một đoạn văn dành cho thầy, nhưng de Gaulle lại chọn tự viết.

Bìa cuốn sách Nước Pháp và Quân Đội
Khi Pétain cố tình ngăn cản việc xuất bản, de Gaulle đã dùng những mưu mẹo văn chương để lách luật. Trong khi de Gaulle nhìn thấy một nước Đức đang trỗi dậy đầy đe dọa, Pétain vẫn bám lấy tư duy phòng thủ thụ động. Nhận ra rằng người anh hùng năm 1916 đông cứng lại trong vinh quang cũ, không còn khả năng thích nghi với dòng chảy của lịch sử - nếu de Gaulle nói một cách mập mờ rằng Petain đã chết từ năm 1925 thì hẳn đến năm 1939, với ông người thầy đã chắc chắn ra đi rồi.
Trái đắng là vậy, nhưng cũng có trái ngọt cho vị tướng quân - Ông được thuyên chuyển về Metz chỉ huy trung đoàn xe tăng 507, De Gaulle cuối cùng đã có cơ hội hiện thực hóa lý thuyết về xe tăng. Ông xây dựng xe tăng, tổ chức những buổi diễu binh hoành tráng với hơn 60 xe tăng để tăng cường sức mạnh cơ động, cũng như ngầm phản kháng cấp trên để kêu gọi xây dựng hệ thống hậu cần cần thiết cho xe tăng.
Khi nhận ra ngay cả người thầy cũ cùng những người ông từng ngưỡng mộ đã để nỗi sợ hãi phe tả làm mờ mắt đến mức phản bội lại lợi ích và chủ quyền quốc gia của đồng minh Tiệp Khắc, de Gaulle quyết định đặt trọn niềm tin vào Paul Reynaud. Ông tin rằng Reynaud sẽ là người đưa nước Pháp trở lại vị thế cường quốc và chính bản thân ông sẽ đóng vai trò then chốt trong việc tổ chức quân đội để đi đến chiến thắng cuối cùng. Cuộc đời de Gaulle lúc này là một tập hợp của những mâu thuẫn đan xen giữa một nhà tư tưởng đầy nhiệt huyết và một công chức quân đội mẫn cán, giữa một người luôn ca ngợi vẻ đẹp huyền thoại, cao quý của binh nghiệp và một người đang vật lộn với những bài toán thực tế về tổ chức quân đội hiện đại. Lý trí sắc bén cùng khao khát về một hình mẫu lãnh đạo đầy sức cuốn hút đã trở thành nền tảng định hình phong cách cầm quyền của ông sau này. Nếu những biến động của năm 1938 mang lại một trải nghiệm đau đớn, thì chính sự cay nghiệt đó đã rèn giũa de Gaulle thành một con người có khả năng dung hòa hoàn hảo hai khái niệm của nước Pháp.
Sự trỗi dậy của chủ nghĩa phát xít cũng khiến de Gaulle phải điều chỉnh lại tư tưởng của mình, từ tâm thế bài Anh của đa phần sĩ quan Pháp lúc đấy, de Gaulle bắt đầu kêu gọi khối liên minh của các nền dân chủ, trong đó bao gồm nhóm Công giáo cấp tiên vì họ dám kiên quyết chống lại chính sách xoa dịu của người Đức.
Kiêu hãnh
Đầu tháng 9 năm 1939, Đệ Nhị Thế Chiến bắt đầu với cuộc xâm lược Ba Lan của Đức Quốc Xã. Trong thời gian đấy, de Gaulle lúc đấy đang là chỉ huy của nhóm thiết giáp Tập đoàn thứ năm của Quân đội Pháp. Trong khi các tướng Pháp tin rằng thời gian đang ủng hộ Đồng minh nhờ sự phong tỏa kinh tế, de Gaulle viết hẳn với Reynaud về việc không chủ động tấn công sẽ làm thối rữa tinh thần quân đội, và Ba Lan chắc chắn sẽ không thể trụ được lâu - với ông, một đội quân thiếu tính cơ động như Ba Lan sẽ bị nghiền nát bởi sức mạnh cơ khí hóa của người Đức.
Dù lực lượng thiết giáp cuối cùng cũng nhận được sự ủng hộ từ phe cánh tả nhưng đối với de Gaulle lúc bấy giờ, thời gian dành cho cuộc cải cách quân đội đã cạn kiệt. Không cam chịu cảnh ngồi yên chờ đợi thảm họa tại căn cứ Wangembourg, ông đã thực hiện một nước cờ chính trị táo bạo nhất trong sự nghiệp khi gửi bản ghi nhớ cho 80 nhân vật quyền lực nhất nước Pháp. Trong biên bản này, de Gaulle khẳng định đanh thép rằng kỷ nguyên của chiến tranh cơ khí hóa là điều không thể đảo ngược, và để phá vỡ sức mạnh cơ khí của đối phương, cách duy nhất là sử dụng một lực lượng cơ khí tương xứng.
Đáp lại sự nhiệt huyết ấy, giới quân sự Pháp một lần nữa gạt bỏ các đề xuất của ông với lập luận rằng địa hình bằng phẳng của Ba Lan hoàn toàn khác biệt với điều kiện tự nhiên của nước Pháp. Hy vọng cuối cùng của de Gaulle giờ đây đổ dồn vào Paul Reynaud. Khi Reynaud đắc cử Thủ tướng vào tháng 3 năm 1940, de Gaulle đã mong mỏi được bổ nhiệm làm cố vấn quân sự tối cao với quyền lực đủ lớn để xoay chuyển cục diện quốc phòng. Tuy nhiên, Reynaud dần bộc lộ sự yếu thế trước các áp lực chính trị bủa vây, khiến tham vọng trở thành Tổng thư ký Ủy ban Chiến tranh của de Gaulle không bao giờ trở thành hiện thực.

de Gaulle và Churchill
Biết chắc viễn cảnh chiến tranh trong lòng biên giới Pháp không thể tránh khỏi, de Gaulle dần chuẩn bị sự vụ gia đình. Trong những bức thư gửi vợ và mẹ, ông bày tỏ lo lắng cho Yvonne và con gái Anne đang bị cô lập tại Colombey, và bắt đầu nghĩ đến việc đưa cả gia đình sang nước Anh. Tháng 5 năm 1940, sự xuất hiện của Churchill trong chính trường Anh cũng giúp de Gaulle có được một đồng minh giá trị và bản thân ông cũng xác nhận chính thức về việc chỉ huy quân đoàn thiết giáp thứ tư - một đơn vị mà ông đã đấu tranh gần 10 năm để có được. Cùng thời điểm đấy, quân Đức đã tràn qua Vùng Đất Thấp.
Cuộc chiến thực sự đã bắt đầu, và De Gaulle cuối cùng cũng có trong tay những chiếc xe tăng của mình, nhưng có lẽ đã quá muộn để cứu vãn một hệ thống mục rỗng từ bên trong và một đất nước đã thảm bại từ tinh thần. Quân Đức đã vượt qua được vùng Ardennes, de Gaulle được lệnh cấp tốc thành lập và chỉ huy Sư đoàn thiết giáp số 4 để chặn đứng đà tiến quân của Panzers Đức.
Trong trận Montcornet, de Gaulle đã dẫn dắt lực lượng thiết giáp phản công nhưng không thể giành thắng lợi trọn vẹn do thiếu hụt sự chuẩn bị về hậu cần và sự phối hợp từ bộ binh hỗ trợ. Rút kinh nghiệm từ thất bại này, ông tiếp tục chỉ huy quân đội giành chiến thắng tại trận Abbeville, nơi lực lượng của ông đã bắt giữ hàng trăm binh sĩ Đức và chứng minh tính hiệu quả của xe tăng khi được vận hành đúng cách. Giữa bối cảnh quân đội Pháp đang tan rã trước sức mạnh của Đức Quốc Xã, sự quyết đoán của de Gaulle nổi lên như một điểm sáng hiếm hoi khiến Tổng tư lệnh Weygand phải thừa nhận rằng ông đã góp phần cứu vãn danh dự của người Pháp.
Nhờ những nỗ lực phi thường đó, ông được thăng quân hàm chuẩn tướng ở tuổi 49 và trở thành vị tướng trẻ nhất trong quân đội Pháp thời bấy giờ. Một phần quan trọng tạo nên thành công của de Gaulle trong giai đoạn này chính là sự độc đoán đi kèm với lòng tự tin tuyệt đối vào các phán đoán cá nhân trên chiến trường, cùng khả năng giữ được sự tĩnh lặng nội tại để tư duy giữa cơn biến loạn. Dù không phải mẫu lãnh đạo truyền cảm hứng bằng sự gần gũi, nhưng chính sự hiện diện không mệt mỏi và thái độ phớt lờ hiểm nguy của ông đã trở thành điểm tựa vững chắc, tạo nên sự gắn kết cho một đơn vị quân đội vốn được xây dựng trong vội vã và thiếu thốn.
Những ngày tháng hy vọng ngắn ngủi ấy nhanh chóng tan biến khi tháng 6 ập đến. Trong một nỗ lực tuyệt vọng nhằm vực dậy tinh thần dân tộc, Thủ tướng Reynaud đưa Thống chế Pétain vào nội các, nhưng chính quyết định này lại đẩy nước Pháp vào thế chủ bại toàn diện. Trong khi de Gaulle kiên định với ý chí tiếp tục chiến đấu từ các thuộc địa hải ngoại, thì bộ đôi Weygand và Pétain bắt đầu tin rằng một lệnh đình chiến là con đường duy nhất không thể tránh khỏi. Họ liên tục đổ lỗi cho người Anh đã không hỗ trợ đủ lực lượng không quân để bào chữa cho sự thất bại của Nhà nước Pháp, và nhà nước phải chịu trách nhiệm để cứu vãn danh dự của quân đội.

Thống chế Petain trong bản phim năm 1993
Trở lại Paris vào mùng 1 tháng 6, de Gaulle bàng hoàng chứng kiến luồng tư tưởng bài Anh, chủ nghĩa chiến bại cùng sự hỗn loạn đang gặm nhấm hàng ngũ lãnh đạo tối cao. Sau khi được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Quốc phòng vào mùng 5 tháng 6, ông lập tức bay sang London để hội kiến với Winston Churchill. Vị Thủ tướng Anh ngay lập tức bị thu hút bởi vị tướng trẻ đầy sinh lực giữa một tập thể đang rệu rã, người mà ông đánh giá là mang lại ấn tượng tốt hơn hẳn về tinh thần và quyết tâm của người Pháp.
Thế nhưng đến mùng 10 tháng 6, mọi nỗ lực của de Gaulle đều trở nên vô nghĩa trước guồng quay sụp đổ. Paris bị tuyên bố là một thành phố mở và đầu hàng vô điều kiện để tránh bị hủy diệt, trong khi chính phủ Pháp phải tháo chạy hỗn loạn về phía Nam.

George Mandel
Tại hội nghị Briare, de Gaulle ngồi im lặng với vẻ khinh miệt lộ rõ khi chứng kiến Weygand trình bày một bản báo cáo đầy rẫy sự thảm hại về tình trạng quân đội. Ông chỉ lên tiếng một lần duy nhất để đề xuất giải pháp thực tế là hợp nhất các sư đoàn thiết giáp Anh-Pháp, nhưng ngay lập tức bị Weygand gạt đi bằng một giọng mỉa mai đầy cay nghiệt. Thất vọng trước sự bạc nhược của tổng chỉ huy và thái độ do dự của Reynaud, de Gaulle đã định từ chức ngay trong đêm 13 tháng 6. Thế nhưng, chính khách Georges Mandel đã thuyết phục ông ở lại với lập luận rằng ông là người duy nhất còn giữ được danh tiếng nguyên vẹn để gánh vác trách nhiệm với lịch sử. Chính lúc này, ý định rời bỏ chính quốc để tiếp tục cuộc chiến từ Bắc Phi hoặc đảo quốc Anh đã bắt đầu nhen nhóm trong lòng ông.
Sau biến cố đó, de Gaulle đề xuất sang London để bàn thảo việc vận chuyển quân đội sang Bắc Phi. Trước khi khởi hành, ông ghé thăm vợ con tại Bretagne lần cuối và dành một khoảnh khắc chào vĩnh biệt Pétain tại Bordeaux - de Gaulle và Petain, cả hai đã quen biết nhau gần bốn thập kỷ và đã là thầy trò với nhau, nhưng giờ đây, de Gaulle chỉ có thể nhìn người thầy cũ của mình trong sự im lặng đầy khinh miệt.
Đến Luân Đôn lần thứ hai, cùng với nhà ngoại giao Jean Monnet, de Gaulle đã thúc đẩy một đề xuất táo bạo là hợp nhất hoàn toàn Anh và Pháp thành một quốc gia duy nhất nhằm giữ chân Pháp lại trong cuộc chiến. Dù Churchill đã đồng ý, nhưng khi de Gaulle gọi điện thông báo tin này cho Reynaud và bay về tới Bordeaux trong đêm 16 tháng 6, kế hoạch đã bị bác bỏ phũ phàng. Reynaud từ chức, Pétain chính thức lên nắm quyền và bắt đầu dọn đường cho một hiệp định đình chiến nhục nhã.
Nhận ra mình đang đứng trước nguy cơ bị chính đồng bào bắt giữ, de Gaulle quyết định quay lại London trên một chiếc máy bay nhỏ của Anh cùng với người phụ tá Courcel và Tướng Louis Spears. Trái ngược hoàn toàn với những mô tả đầy kịch tính của Spears về một phi vụ đào thoát nghẹt thở, de Gaulle chỉ tóm gọn cuộc ra đi ấy bằng những từ ngữ bình thản - không lãng mạn và không khó khăn. Tuy nhiên, chính vào khoảnh khắc máy bay rời khỏi mặt đất, chuỗi ngày khổ hạnh và hành trình vạn dặm để cứu lấy linh hồn nước Pháp của ông đã thực sự bắt đầu.
Trong cuốn Hồi ký Hy vọng, de Gaulle đã viết về khoảnh khắc này trong cuộc đời mình:
"Tôi tự thấy mình đơn độc và trắng tay, như một người đứng trước bờ đại dương mà anh ta hy vọng sẽ bơi qua được… Tôi cảm thấy một cuộc đời đang khép lại, một cuộc đời mà tôi đã sống trong khuôn khổ của một nước Pháp kiên cường và một quân đội không thể chia cắt. Ở tuổi bốn mươi chín, tôi đang dấn thân vào một cuộc phiêu lưu."
Thật khó để có thể phóng đại tính chất phi thường và mạo hiểm của hành động mà de Gaulle đang thực hiện. Với vỏn vẹn hai chiếc vali và một ít đồng franc, ông đang hướng tới một đất nước mà ông mới đặt chân đến lần đầu mười ngày trước đó, một nơi ông hầu như không có quan hệ, tiếng Anh thì bập bẹ và quê nhà giờ đang đòi tử hình ông. Không tiền, không đồng minh và gia đình đang nguy cấp vì bị phát xít lẫn đồng bào truy quét. Ông đang sống cuộc đời của một kẻ lưu vong - kể từ cách mạng Pháp hai trăm năm trước đó, khái niệm lưu vong chỉ mang hàm ý tiêu cực trong đời sống chính trị Pháp, với người Pháp, những quý tộc di cư là đại diện của nhóm lưu vong, đã tách mình khỏi cộng đồng dân tộc để trốn sang Anh. Vương tộc Bourbon thất thế suốt hàng chục năm trời vì bị lưu vong, Napoleon dành những năm tháng cuối đời trên đảo Saint Helena, và Napoleon Đệ Tam chết dần chết mòn tại Anh Quốc.

Cái chết của Hoàng đế Pháp Napoleon Đệ Nhất
Tuy nhiên, truyền thống quân chủ và Công giáo của gia đình de Gaulle vốn không nhìn nhận sự lưu vong một cách tiêu cực. Chính bản thân ông từng trải qua một năm lưu vong tại Antoing, Bỉ trong thời niên thiếu khi các trường dòng bị đóng cửa tại Pháp. Trải nghiệm sớm sủa đó đã định hình trong ông một thế giới quan khác biệt, với ông, lưu vong không phải là sự đào tẩu hay phản bội, mà là hành động trung thành tuyệt đối với lương tri và danh dự đất nước khi chính quốc đã rơi vào tay kẻ thù. Điều này đi ngược lại hoàn toàn với tư duy chủ lưu của xã hội Pháp thời bấy giờ và đặc biệt là với người thầy của ông, Thống chế Pétain.
Đa số người dân Pháp lúc ấy dành tình cảm cho Pétain vì ông chọn ở lại quê hương để che chở và bảo vệ mạng sống cho họ dưới màn đêm phát xít. Ngược lại, de Gaulle chọn rời bỏ đất nước để bảo vệ một thứ vô hình nhưng thiêng liêng hơn mà ông gọi là "ý niệm về nước Pháp". Cuộc xung đột giữa chủ nghĩa thực dụng nghiệt ngã và lý tưởng cao cả này thực chất đã bén rễ từ lúc cả hai viết sách, khi de Gaulle luôn đề cao uy tín dân tộc còn Pétain lại ưu tiên mạng sống của con người trong thời đại cách mạng Pháp. Giữa hai con đường là bảo toàn một thực thể đang rệu rã hay chấp nhận biến đổi để tái sinh quốc gia, de Gaulle đã chọn con đường thứ hai, gần như không có chút do dự.
Quyết định của de Gaulle là sự kết hợp giữa suy xét và bản năng, tương tự như những gì ông đã phân tích trong cuốn “Cạnh Lưỡi gươm”. Điều đáng chú ý ở de Gaulle năm 1940 không hẳn là sự phân tích trí tuệ về tương lai cuộc chiến, mà là hành động và sự chuẩn đoán. Trong cuốn “Cạnh Lưỡi gươm”, ông đã kể rằng:
"Sự can thiệp của ý chí con người vào chuỗi sự kiện mang trong mình một điều gì đó không thể vãn hồi… Trách nhiệm đè nặng đến mức ít người có khả năng chịu đựng nó một mình. Đó là lý do tại sao những phẩm chất trí tuệ tuyệt vời nhất là không đủ. Chắc chắn trí tuệ giúp ích, bản năng thôi thúc, nhưng suy cho cùng, một quyết định luôn mang yếu tố đạo đức."
De Gaulle, người đã dành 22 năm kể từ sau Đệ Nhất Thế Chiến để suy ngẫm về bản chất của sự lãnh đạo, đã tự viết ra câu chuyện cho mình. Giờ đây, ông đã sẵn sàng để thực hiện nó, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc không tuân lệnh nhà lãnh đạo và chỉ huy quân sự đáng kính nhất nước Pháp.
Nếu không có Đệ Nhất Thế Chiến, Petain đã không là Petain.
Nếu không có sự sụp đổ của nước Pháp, de Gaulle đã không là de Gaulle.
Ông chắc chắn sẽ trở thành một vị tướng hàng đầu trong quân đội Pháp, thậm chí là một Bộ trưởng Quốc phòng. Nhưng đời sống chính trị đã cuốn lấy ông, để bản thân ông không bao giờ có cơ hội được cầm quân trực tiếp trên chiến trường lần nào nữa. Đệ Nhị Thế Chiến, đã đưa de Gaulle trở thành một huyền thoại trong lịch sử thế giới.

Lịch sử
/lich-su
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất









