Tiểu kiến trúc - không gian của trẻ em trong thế giới người lớn
Tại sao một đứa bé lại thích những không gian gầm bàn, gầm tủ, những không gian nhỏ hẹp để chui vào làm nơi trú ẩn, vui đùa?”
Để khởi đầu, có bao giờ bạn tự hỏi: “Tại sao một đứa bé lại thích những không gian gầm bàn, gầm tủ, những không gian nhỏ hẹp để chui vào làm nơi trú ẩn, vui đùa?” “Tại sao những căn lều, nhà nhỏ, hay nhà trên cây lại là những không gian mà trẻ em rất thích thú thậm chí còn hơn cả những căn phòng được bày trí phù hợp?”… Đây là những câu hỏi cứ quay quẩn trong đầu tôi mỗi khi tôi “xây” cho những đứa trẻ một ngôi nhà bằng gối, một không gian trong tủ đồ hay một túp lều đọc sách. Khi tôi so sánh những biểu hiện, những hành vi của một đứa trẻ với những hành vi của một chủ nhà mới nhận được công trình mà mình hằng mong ước, tôi nhận ra có một sự tương đồng rất lớn trong cấu trúc hành vi. Tôi gọi đây là một hiện tượng kiến trúc xuất phát từ hành vi kiến trúc có chủ đích.

Điều này đôi khi gây nên sự khó hiểu cho các bậc phụ huynh, có lẽ họ bảo phải cấm cản vì đó thường là những nơi dơ bẩn và nguy hiểm sức khỏe nhất. Nhưng khi theo dõi các bậc phụ huynh, tôi thấy rằng có một khuôn mẫu lặp đi lặp lại thông qua hành vi tìm kiếm các khu vực dành cho mình, tìm kiếm nơi thuộc về, các quán café chill. Ngoài hành vi tìm kiếm, chúng ta còn thấy thông qua hành vi cải tạo các không gian ít sử dụng, không phù hợp, kho trở thành các không gian riêng, phòng game, phòng đọc – những không gian này đều nhỏ nhưng rất ấm cúng. Những trào lưu tìm kiếm không gian đấy rất nổi trên mạng xã hội, thậm chí đây cũng gắn với một nhu cầu giải tỏa tâm lý xuất hiện ở người trưởng thành thông qua tìm kiếm không gian xả đi căng thẳng.

Vậy hai hiện tượng này thật sự có vẻ khá tương đồng về biểu hiện trong kiến trúc. Sự tương đồng về mặt hiện tượng hành vi này là biểu hiện thông qua cảm nhận trạng thái an toàn không gian kiến trúc.
Với nhiều người, những khả năng cảm thụ kiến trúc này chỉ tồn tại ở những người trưởng thành khi có khái niệm thế nào là công trình, giá trị họ thu nhận lại, hình thành không gian sống và sinh hoạt, thấu hiểu các giá trị nghệ thuật. Những thấu hiểu này được thông qua hai con đường là trải nghiệm và thụ hưởng, đồng thời hình thành thông qua quá trình tích lũy về kinh nghiệm sống trong không gian, từ đó rút ra các kinh nghiệm sống để phân biệt các vùng an toàn và bất an toàn. Ví dụ: Không gian an toàn thường là ở trong phạm vi nhà, phòng khách, hay phòng ngủ vì chúng ta biết rằng sự an toàn sinh ra do chúng ta làm chủ được không gian đó, những gì sinh ra từ đấy đều phần nhiều là từ chúng ta nên việc kiểm soát sự an toàn của không gian này là thuộc về chính chúng ta. Ngược lại, với những không gian có tính chất công cộng hoặc rộng lớn mà sự sở hữu thuộc về không gian chung thì chúng ta biết rằng sự an toàn phải tự mình kiểm soát. Những hành động như rút người lại, tránh làm phiền người xung quanh, quan sát người khác hay chú ý đến các tác động ngoại lai diễn tả cái nhìn bất an của mọi cá thể khi đi vào khu vực lạ, có tính chung, và tiếp xúc với nhiều cá thể không cùng kết nối. Với thụ hưởng, chúng ta được học về những khu vực an toàn và bất an toàn, như khi có cháy thì phải thực hiện tiêu lệnh và di chuyển theo các chỉ dẫn đến không gian thoát hiểm, hoặc khi động đất chúng ta được dạy là phải chui dưới gầm bàn để hạn chế tối đa các vật rơi vào người.

Những điều tôi nói ở trên là phần lớn chỉ xuất hiện ở giai đoạn trưởng thành về tri thức, nhận thức của cá nhân, điều này liên quan đến hai loại trách nhiệm là trách nhiệm cá thể và trách nhiệm cộng đồng.
Trong hành vi kiến trúc, việc nhận dạng không gian có 2 cấp độ chuyên nghiệp và nghiệp dư, sự khác nhau nằm ở một lằn ranh dự đoán hành vi, từ đấy những người chuyên nghiệp hay điều hướng hành vi kiến trúc thông qua các công cụ từ vĩ mô như quy hoạch, đến vi mô như nội thất, decor. Tạm gác lại chuyện chuyên môn, chúng ta hãy quay về với những đứa trẻ. Với trẻ em, thế giới người lớn là một thế giới hoàn toàn khác biệt, sự khác biệt này sinh ra từ sự nhỏ bé của trẻ thông qua cả về tầm nhìn và nhận thức quan sát, điều này vô tình kích hoạt hai trạng thái bao gồm lo sợ và dựa dẫm.
Lo sợ khiến trẻ thôi thúc tìm đến các vùng an toàn, thôi thúc bằng sự khó chịu, ngột ngạt với không gian lớn, điều này dẫn đến hành vi tìm kiếm nơi để dựa dẫm – đây đều là những nơi trẻ có kinh nghiệm là an toàn, ví dụ không gian gần ba mẹ, hoặc cảm thấy an toàn như khu vực nhỏ vừa với vóc dáng. Những cơ chế hành vi đều được thừa hưởng trong gen thông qua quá trình tiến hóa lâu dài của con người, từ thời săn bắt hái lượm con người vốn thuộc nhóm yếu thế luôn phải ẩn nấp nếu không muốn trở thành con mồi, nên việc sinh ra nỗi sợ những không gian rộng hơn kích thước bản thân vì ở đó chắc chắn chúng ta sẽ trở thành mục tiêu của những cuộc phục kích bất ngờ. Thôi thúc bởi nỗi sợ, chúng ta tự mình tìm kiếm chỗ hốc cây, hốc đá, nhà trú ẩn trước những nguy hiểm. Ký ức hành vi này hiệu quả đến mức được mã hóa vào gen và chỉ kích hoạt với những điều kiện nhất định thông qua ngữ cảnh.

Vậy liệu tôi tự hỏi rằng nếu khả năng phân biệt nơi chốn an toàn đã được quy định sẵn trong gen, thì liệu có ai từng nhắc đến? Quả thật rất may những điều tôi nói từng được nghiên cứu thông qua những công bố về hành vi của trẻ: Thí nghiệm "Visual Cliff Experiment" của Eleanor Gibson và Richard Walk công bố năm 1960 chứng tỏ rằng trẻ em dù chưa thật sự trải nghiệm những nguy hiểm cũng có thể cảm nhận được nguy hiểm và tránh chúng một cách hiệu quả thông qua khả năng tự điều khiển bản thân dù chưa được dạy.
Hai hành vi sinh tồn và hành vi kiến trúc này về mặt hiện tượng cực kỳ giống nhau đến mức khó phân biệt, ở đây tôi xin mạn phép gọi hiện tượng này với cái tên thân thương: “Tiểu kiến trúc”. Được biểu hiện thông qua các chỗ mà trẻ em coi đó là không gian kiến trúc thật sự an toàn, vị trí của không gian này thường không thật sự cố định, được định hình thông qua nhu cầu thay đổi liên tục, được bao phủ bởi một không gian kiến trúc nơi người trưởng thành ngự trị như những vị vua đích thực, nơi mà trẻ em cảm thấy nhỏ bé, mong manh và cần được che chở, dựa dẫm vào người lớn trong gia đình. Những hiện tượng này cũng từng được nhắc đến trong cuốn Children's experience of place của Roger Hart.

Ví dụ thế này: Một gầm bàn ăn có thể không phải là nơi phù hợp cho một người trưởng thành cảm thấy thoải mái, gầm bàn, gầm ghế thường là nơi chúng ta rất ít đụng đến; với trẻ em, chúng nhìn thế giới qua sự tự ước lượng theo bản năng, chúng cũng quan sát thế giới khác nên chúng bước vào những không gian đó đầy thích thú, thậm chí liên tục khám phá.

Tiểu kiến trúc và kiến trúc khác nhau thông qua việc chính chủ thể định nghĩa chúng:
Tiểu kiến trúc theo tôi quan sát được định nghĩa thông qua những hành vi như chiếm hữu không gian bằng phương pháp “đánh dấu chủ quyền” có phần rất sơ khai chỉ bằng những vật dụng cá nhân, một món đồ chơi, một bức tranh, một con gấu bông… Đây luôn là lời khẳng định đanh thép không bằng lời rằng không gian này một phần hoặc toàn phần thuộc về lũ trẻ. Chúng xác lập những tiểu kiến trúc ở khắp nơi trong nhà và chỉ chúng mới biết đâu là nơi chúng cảm thấy thoải mái. Từ đây, tiểu kiến trúc đóng vai trò là ý niệm về sự an toàn trong không gian, điều mà chỉ tiểu kiến trúc mới đáp ứng được cho lũ trẻ chứ không phải là không gian to lớn phù hợp với những gã “khổng lồ” theo những gì chúng nhìn thấy.

Những món đồ như thế ở đó cũng kéo chúng quay về đó nhiều hơn, như cái cách mà chính chúng ta xây dựng một căn nhà tổ ấm, nơi những phần trẻ con nhất cũng được chấp nhận, những đồ vật chúng ta thích đều ở đấy được trưng bày, ngắm nghía và thể hiện chủ quyền không gian của chính chủ sở hữu. Hành vi chiếm hữu này xuất phát từ việc nhận diện không gian thông qua tâm trí tưởng tượng của trẻ em, chúng lựa chọn và định hình thông qua sự tưởng tượng về chi tiết đồ vật trang trí, tuy không chi tiết như cách một kiến trúc sư nội thất định hình nhưng việc lựa chọn những gì có ở đó biểu hiện rằng việc hình thành trí tưởng tượng này có tính chi tiết nhất định. Điều này làm cho tiểu kiến trúc mang đến cảm giác thuần về tưởng tượng hơn là suy luận, vì nó không gắn trên bất kỳ cơ sở lý luận thuần túy hay kinh nghiệm nào của cá thể mà chỉ dựa trên trí tưởng tượng dựa trên hình thức của không gian chiếm hữu. Điều đó vô tình khiến cho không gian trong tiểu kiến trúc phù hợp cảm xúc đặc biệt với trẻ. Cũng từ đây, những nhà nghiên cứu tâm lý trẻ cũng có thể dễ dàng nghiên cứu được những mô thức tâm lý sinh ra ở trẻ.

Bên cạnh việc chiếm hữu không gian, lũ trẻ còn thể hiện “chủ quyền” thông qua chiếm hữu thời gian: Chúng ở đó lâu hơn để chơi, ngủ lâu hơn trong không gian đó, thực hiện những cuộc trò chuyện riêng tư lâu hơn, làm nhiều điều “điên khùng” (theo định nghĩa của người lớn) trong không gian tiểu kiến trúc đó hơn là ở bên ngoài không gian kiến trúc lớn. Khi đứng trên góc độ giáo dục, điều này thúc đẩy trẻ em phát triển nhận thức đa chiều và trừu tượng về đặc tính bản thể cá nhân, định hình phong cách chính mình, khơi dậy việc phơi bày những điều trẻ có thể đã kìm nén, và quan trọng hơn là liều thuốc cân bằng cảm xúc cho trẻ. Khi đứng trên góc độ kiến trúc, việc chiếm hữu thời gian tương đương với việc dành nhiều thời gian cho ngôi nhà thân yêu từ dọn dẹp, tu sửa… Những hành vi này đều hướng tới việc khẳng định giá trị tôn trọng không gian, hòa hợp không gian, hướng đến một liên kết bền chặt với không gian đó, từ đó những ngôi nhà “có sức sống” hơn. Giống như một câu về nhà của phương Tây: “Home sweet home” (tạm dịch: Nhà là nơi tuyệt vời), chính vì tuyệt vời nên ta luôn ở nhà nhiều thời gian nhất.

Đối với kiến trúc của người trưởng thành, việc chúng ta khó lòng có thể chiếm hữu được không gian kiến trúc có sẵn mà phần lớn là tự tạo ra không gian, hay biến đổi từ khu vực tự nhiên thành phi tự nhiên, ở đây tôi gọi là kiến tạo không gian. Không gian được kiến tạo sẽ thỏa mãn nhu cầu của con người từ mặt hình thức công trình kết nối với chính ý niệm tạo nên công trình đó. Điều này giúp chúng ta tạo ra những ý niệm lớn hơn phù hợp với cộng đồng, khu vực, quốc gia, mang trong mình biểu tượng về văn hóa truyền thống từ tập thể đến cá thể, từ cái chung cho đến cái riêng. Kiến trúc của người trưởng thành thỏa mãn không chỉ cái tôi của chính người tạo ra nó mà còn là thỏa mãn chính người sử dụng. Đôi khi điều này lại tạo ra nhiều xung đột lớn hơn, phức tạp hơn so với một tiểu kiến trúc đơn giản nhưng đầy kết nối.

Từ đây, chúng ta thấy tiểu kiến trúc quay quanh người lớn không cứng nhắc như một kiến trúc to lớn, không bền vững bằng chất liệu xây kiên cố. Chúng ta có thể xem tiểu kiến trúc như một thực thể hữu hình kết nối với trẻ em, chúng mang nặng ý niệm sơ khai về sự an toàn tuyệt đối ngoài vòng tay của ba mẹ.

Chúng ta thấy rằng việc cho bọn trẻ một cái nhìn linh hoạt về không gian riêng là trách nhiệm của người trưởng thành. Chúng ta tuy không thể can thiệp về việc trong không gian đó có gì, nhưng có thể hỗ trợ trong việc tạo ra các không gian liên hoàn cho trẻ em, điều này biến những không gian tưởng chừng quen thuộc có thể thành những tiểu kiến trúc đầy thu hút và biến đổi liên hoàn phù hợp với nhu cầu thay đổi từng ngày của mỗi trẻ. Việc biến sân chơi trở thành một khu vườn tưởng tượng cũng là một giải pháp hạn chế bớt tác động của việc dính tới các thiết bị điện tử. Đương nhiên tôi cũng không loại trừ việc các bé sẽ mang thiết bị vào đó mà khám phá; với tôi, đôi khi đó cũng là một trải nghiệm giống việc chúng ta đi tìm một quán café chill và gửi thời gian làm việc, hoặc tận hưởng không gian mà ta tạm thuộc về — không phán xét, không thị phi, chỉ đơn giản là ta và thời gian của ta.

Tôi nghĩ chúng ta khi đối xử với tiểu kiến trúc nên dùng cái nhìn cởi mở, người lớn có thể thấu hiểu hơn thế giới nhỏ bé của lũ trẻ, thậm chí tự hiểu chính mình. Chúng ta có thể xem đây như một thí nghiệm xã hội thu nhỏ để chính lũ trẻ tự hóa thân thành những nhân vật, hoặc tự vui vẻ với chính bản thân mình, cũng có thể nói rằng đây cũng là cách mà chính chúng ta tự ôm ấp chính đứa trẻ bên trong của chúng ta. Tôi biết rằng không phải ai cũng từng có những không gian sống tốt, và ba mẹ nào cũng muốn con cái được hưởng những gì tốt nhất, thậm chí tiêu chuẩn đó xuất phát từ chính những thiếu thốn của chúng ta khi còn trẻ; hãy xem con cái là chính chúng ta khi còn nhỏ và thấu hiểu trẻ em như chính cái cách mà chúng ta thấy bản thân mình.
Hãy tưởng tượng một cái tủ quần áo có thể là một không gian bí mật, một căn phòng rộng mở cho trẻ có thể trú ẩn mà hậu quả không phải là đống đồ bị bới tung mà là sự ấm áp và mềm mại, cùng với trí tưởng tượng được tưởng thưởng một cách xứng đáng. Một gầm bàn không còn quá nguy hiểm nữa mà có thể trở thành một ngôi nhà trú ẩn sau lớp khăn trải bàn đầy tiện nghi như một khách sạn với chỗ ngủ nghỉ, đồ ăn dưới sự giám sát của những "quản lý khách sạn" là ba mẹ. Hay những chiếc gối thân yêu có thể trở thành một cái hang đầy thu hút khi được dựng lên đúng cách, một căn lều xông hơi nhỏ cũng có thể trở thành căn chòi ngủ cho bé… Hãy nhớ rằng lũ trẻ, chúng chỉ đơn giản đang tìm một không gian phù hợp hơn những gì to lớn ngoài kia nên mới ngốc nghếch lao vào những không gian “chật hẹp” nhưng ấm cúng để tận hưởng cảm giác chúng thuộc về.

Và tiểu kiến trúc này rồi cũng sẽ sớm muộn trưởng thành, chúng sẽ không thể quay lại cái kích thước cũ cũng như cảm nhận một cách tương đồng lại như trước, cho đến khi chúng lớn lên và bắt đầu quan tâm đến góc nhìn của con cái. Nhưng rồi chúng ta sẽ thấy rằng những gì chúng ta đã làm cho tiểu kiến trúc sẽ là một tiền đề không nhỏ cho không gian kiến trúc tương lai — một không gian mà ở đó chúng ta bị chi phối bởi tiềm thức thông qua hồn nơi chốn, tri thức kiến trúc, trải nghiệm kiến trúc, đối tượng kiến trúc…

Trẻ em là phiên bản mini của người lớn, người lớn là đứa trẻ to xác của trẻ em.
Châu Minh Trí

Tâm lý học
/tam-ly-hoc
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất
