Vị trí địa lý của các dân tộc Thổ
Vị trí địa lý của các dân tộc Thổ
Kể từ khi Liên Xô tan rã năm 1991, trên thế giới giờ đã tồn tại sáu quốc gia nói hệ ngôn ngữ Thổ (Turkic). Ngoài ra, một loạt cộng đồng người Thổ khác cũng trải dài từ tận biên giới Ba Lan-Lithuania-Belarus cho tới tận bán đảo Triều Tiên, với hệ văn hóa vô cùng đa dạng và đặc sắc. Do sự đa dạng vùng miền và lối sống, từ lâu, các cộng đồng này cũng phát triển cách thức sống riêng, theo vùng miền mà họ ở.
Nhưng kể từ sau khi Nga xâm lược Ukraine, ảnh hưởng của Nga đã suy yếu đáng kể tại nhiều nơi trên thế giới. Và ngay tại chính khu vực láng giềng gần, vốn rất nặng văn hóa Thổ, ảnh hưởng của Moscow cũng đang sa sút, và Nga đã không còn cho thấy khả năng "trọng tài" hay đảm bảo an ninh được nữa. Cho đến năm 2026, Nga vẫn loay hoay trong việc đánh chiếm Ukraine, trong khi nỗ lực hướng đông theo Trung Quốc gặp trở ngại vì sự thất thế trong vị thế kinh tế, chính trị và quân sự do sự vượt trội của Bắc Kinh.
Chính trong tình trạng này, Thổ Nhĩ Kỳ và người đồng minh gần của họ, Azerbaijan, đã rục rịch tìm cách thay đổi hiện trạng lịch sử. Cả Ankara và Baku đã bắt đầu tuyên truyền về khái niệm "dân tộc Thổ (Turk) thống nhất" theo khái niệm "liên Thổ" (pan-Turkism), thông qua bộ máy của những tổ chức như Cộng đồng Thổ quốc (Organisation of Turkic States), hay tổ chức văn hóa Thổ TURKSOY. Và thật sự mà nói, cả Ankara và Baku đã có những bước tiến nhất định trong dục vọng này.
Nhưng, như Robert G. Ingersoll đã từng nói khi ông từng nghiên cứu về Abraham Lincoln,
Mọi người đều có thể chống lại khó khăn. Nhưng nếu muốn biết nhân cách một người, hãy cho người đó quyền lực.
Robert G. Ingersoll
Thì quyền lực, nếu đi quá đà, đủ sức làm tha hóa cả một thế hệ lãnh đạo và gây ra hậu quả lâu dài. Và đáng lo thay, chính cách Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan vận hành logic của tư tưởng liên Thổ, lại có thể là mầm mống cho thất bại bất kỳ lúc nào. Và tất cả là do cách cả hai quốc gia này hiểu "liên Thổ" là gì. Nhưng, tại sao lại thế?

Các dân tộc Thổ là gì và lịch sử ra sao?

Để cho dễ hình dung, dân tộc Thổ ở đây là chỉ người Thổ chung, hay còn gọi là người Turk, chứ không phải là dân tộc Thổ ở Việt Nam hay người Thổ Nhĩ Kỳ. Với hơn 160 triệu người, họ vô cùng đa dạng về văn hóa, và thành thử, cũng có phong cách sống cực kỳ khác biệt, tùy theo khu vực địa lý mà họ va phải.
Lịch sử của họ là một nút thắt thú vị. Người Thổ là một trong những hậu duệ của Hung Nô (Xiongnu), những người du mục thảo nguyên thuộc vùng Trung Á, Mông Cổ, bắc Trung Quốc và Siberia ngày nay. Do lối sống du mục và xung đột với các triều đại định cư ở cả Âu và Á, họ đã bắt đầu phân nhánh từ hơn 2,000 năm trước, dù rằng những cuộc phân nhánh cuối cùng chỉ diễn ra từ có hơn 1,000 năm trước mà thôi. So với các dân tộc Ấn-Âu hay các dân tộc Nam Đảo, sự phân nhánh của người Thổ là khá muộn. Tuy nhiên, chừng đó thời gian cũng là quá đủ để gây dựng bản sắc riêng và góp phần tạo nên sự đa dạng lớn này. Nhưng, họ đa dạng như thế nào?

Bộ lạc Oghur

Những đứa trẻ người Chuvash, một nhánh của tộc Oghur
Những đứa trẻ người Chuvash, một nhánh của tộc Oghur
Bộ lạc Oghur chính là bộ lạc Thổ phân nhánh sớm nhất, khi họ đã tách biệt khỏi hệ phả gia đình Hung Nô từ gần 2,000 năm về trước. Họ cũng thi thoảng được coi là người Onogur. Từ Onogur được hiểu là "10 bộ lạc hợp nhất nhau", ám chỉ lịch sử về việc 10 bộ lạc của nhánh này đã tái hợp để thành lập một liên minh dưới sự lãnh đạo của Hãn Kubrat từ đầu thế kỷ thứ 7.
Các nhánh của nhóm này bao gồm các dân tộc Kutrigur, Utigur, Avar, Khazar, Bulgar và Chuvash. Thậm chí, có những nghiên cứu cho rằng người Hung của Attila (và dân tộc Hungary/Magyar) cũng là một hậu duệ của người Oghur cổ do có lối sống lối sống châu Á trước cuộc đại di cư của Hãn Árpad, song đến nay vẫn gây tranh cãi.
Các nhóm dân này đã thiết lập lên các Hãn quốc cổ, như Hãn quốc Avar từ năm 568 dưới sự lãnh đạo của Hãn Bayan I, và Hãn quốc Khazar do Balanjar thành lập năm 650. Họ tạo ra bản sắc văn hóa Oghur độc đáo từ thảo nguyên Đông Âu cho đến tận vùng Caucasus với nền tảng văn hóa được thiết lập ở đó trước cuộc di cư ồ ạt của một dân tộc Ấn-Âu có tên là Slav sau này. Họ cũng liên tục giao chiến với các thế lực cát cứ của người Ả Rập và người Đông La Mã nhằm tranh giành địa bàn, lãnh thổ, và ảnh hưởng. Tuy nhiên, cả hai đều dần sụp đổ do những bất ổn nội tại, với Hãn quốc Avar bị thôn tính bởi người Hungary của chính Árpad; trong khi Khazar bị hủy diệt bởi những người Đông Slav thuộc nhà nước Rus Kiev vào năm 969, với phần lớn dân số bị đồng hóa và cải sang Chính Thống giáo.
Nhóm Oghur còn lại ở vùng Balkan là người Bulgar thì lại có lịch sử vẻ vang theo cách riêng. Dưới chính trướng chỉ huy của Hãn Kubrat, các bộ lạc Oghur sớm tái cấu trúc và lập nên nhà nước Đại Bulgaria Cổ từ năm 632. Dưới sự chỉ huy của Kubrat, người Oghur thực sự có thể thống thống nhất, nhưng số phận ngắn chẳng tày gan - họ lại bị hủy diệt bởi chính người Avar và Khazar đồng hương chỉ sau 30 năm. Tuy nhiên, so với người Avar và Khazar, người Bulgar lại có sự chịu đựng cao nhất.
Những người sống sót của Đại Bulgaria Cổ ngay lập tức tái hơp lực lượng và thiết lập lại một nhà nước mới có tên Đế chế Bulgaria, do Hãn Asparukh lãnh đạo. Dưới trướng Asparukh, Bulgaria dành được sự công nhận của Đông La Mã, và dần dần cải sang Chính Thống giáo của người Hy Lạp, và mở rộng để trở thành một trong những cường quốc cổ xưa nhất của vùng Balkan, và thậm chí còn nhiều lần cả gan chống lại người Hy Lạp.
Cùng thời điểm đó, người Slav di cư đa số đã dần dần làm biến đổi nhân khẩu học của người Bulgar cổ, khiến họ mất dần văn hóa Oghur khi bị đồng hóa vào xã hội Slav, qua đó dần dần thiết lập chuẩn mực văn hóa Slav đa số. Từ thời điểm đó, Bulgaria đã biến đổi từ một đế chế du mục Thổ thành một đế chế Slav. Điều này trở thành một ngã rẽ lịch sử thú vị, khi một dân tộc Thổ đặt nền móng cho nền văn minh Slav đầu tiên trong lịch sử loài người.
Những người Bulgar còn lại là những người tháo chạy khỏi ách áp bức của người Avar và Khazar bị đày ra sông Volga, nơi họ tái lập quyền lực trong dạng tiểu quốc Volga Bulgaria. Chính từ nhánh này mà dân tộc Chuvash, một nhánh của tộc Oghur, ra đời. Người Chuvash, một hậu duệ của Volga Bulgaria, phần lớn đã cải sang Chính Thống giáo do ảnh hưởng từ Rus Kiev và sau này là Đại Công quốc Moscow, với một bộ phận nhỏ cải sang Hồi giáo.
Nhưng người Chuvash lại là một ngoại lai kỳ lạ vì ngoài họ ra, toàn bộ các dân tộc Volga Bulgaria còn lại đều đã cải sang Hồi giáo Sunni do chịu ảnh hưởng từ sự truyền bá Hồi giáo của các dân tộc Thổ từ Trung Á. Nhưng họ vẫn giữ phần lớn văn hóa Oghur cho đến khi những người Mông Cổ tàn phá Volga Bulgaria vào những năm 1230, và cho di cự những người Kipchak của Kim Trướng Hãn quốc vào vùng này. Điều này dẫn đến sự tận diệt của người Oghur Bulgar ở đây, khi họ bị những người Kipchak đồng hóa và trở thành phần của xã hội Kipchak. Đến nay, các dân tộc Volga Tatar và Bashkir của sông Volga được cho là vẫn có một chút dòng máu Oghur và thậm chí liên hệ xa với người Hungary và Bulgaria, nhưng đã bị đồng hóa vào văn hóa Hồi giáo Kipchak tới mức không thể nhận ra được.
Với những gì đã xảy ra, người Chuvash trở thành hậu duệ sống còn sót lại của bộ lạc Oghur, trong khi người Bulgaria, Hungary, Bashkir và Volga Tatar được cho là có gốc gác tương tự nhưng thiếu bằng chứng khẳng định cho điều đó. Người Chuvash sau này có nỗ lực phục hồi văn hóa, nổi bật như Ivan Yakovlev, cha đẻ của bảng chữ cái Chuvash hiện đại; Andriyan Nikolayev, một phi hành gia Liên Xô; và Ivan Yurkin, nhà bảo tồn văn hóa người Chuvash. Nói chung, người Oghur có thể coi là một dạng người Thổ sớm, kiến lập và cũng bị đồng hóa vào xã hội địa phương nhanh hơn rất nhiều.

Bộ lạc Siberia

Người Tuva, một dân tộc Thổ Siberia
Người Tuva, một dân tộc Thổ Siberia
Bộ lạc Siberia chỉ về một liên minh của các bộ lạc Thổ đã chọn ở lại mảnh đất tổ tiên thay vì di cư. Và vì lẽ này, mà nhân chủng học của họ cũng khác xa so với cả người Oghur hay các bộ lạc Thổ khác, và họ cũng ít nhận được sự chú ý hơn.
Lịch sử của họ ban đầu cũng gắn bó chặt chẽ với người Thổ cổ như Lâu Lan (Rouran) và Tiết Diên Đà (Xueyantuo), trước khi hợp nhất vào Đột Quyết (Gokturk), một liên minh các bộ lạc Thổ và, thậm chí, họ còn là một phần của Đột Quyết Hãn quốc (Turkic Khaganate) thống nhất. Tuy nhiên, tranh giành quyền lực và xung đột lợi ích đã khiến nhà nước Đột Quyết tan rã làm hai sau một cuộc nội chiến đẫm máu, với Tây Đột Quyết ở Trung Á và Đông Đột Quyết ở Đông Bắc Á. Người Thổ Siberia chính là hậu duệ của những người Đông Đột Quyết này.
Nhưng ngay từ khi lập quốc năm 581, Đông Đột Quyết tỏ ra yếu hơn hẳn so với người anh em phía tây. Tranh giành quyền lực và xung đột lợi ích nhóm đã mở đường cho Nhà Đường đang trỗi dậy ở Trung Quốc nhòm ngó. Sau nhiều cuộc chiến tranh, Đông Đột Quyết bị thôn tính bởi Trung Quốc sau năm 650 và các vùng đất của họ bị đổi tên thành An Bắc Đô Hộ Phủ (安北都护府), đánh dấu thời kỳ đô hộ của Trung Hoa với các dân tộc này.
Sự phân hóa của các dân tộc Đông Đột Quyết cũng đồng nghĩa là họ không thể tạo ra được sự thống nhất cho đến khi Hãn quốc Duy Ngô Nhĩ, hay còn được biết tới là Hồi Cốt/Hồi Hột (Uyghur Khaganate) ra đời. Người Duy Ngô Nhĩ cổ này (để phân biệt với người Duy Ngô Nhĩ Tân Cương hiện tại), một nhánh của người Thổ Siberia, sau này tung hoành thảo nguyên Bắc Á trong khi Đại Đường bất lực sau khi đã suy yếu quá nhiều bởi cuộc nổi loạn An-Sử. Trong nhiều thời điểm, Đại Đường còn phải khúm núm cúi đầu trước các vị Hãn của người Duy Ngô Nhĩ. Hồi Cốt nổi lên trở thành một trong những trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội lớn nhất khu vực Đông Bắc Á và Trung Á.
Nhưng cuộc vui của người Duy Ngô Nhĩ cổ rồi cũng đến hồi tàn, và nó còn tan rã sớm hơn hẳn cả Nhà Đường. Tranh chấp trong vương triều và sự tham quyền, đi kèm với nạn đói lớn trong những năm 830, dẫn đến sự sụp đổ vào năm 840 khi nhà nước này bị hủy diệt bởi Trung Quốc và những người Siberia đồng hương là Kyrgyz Yenisei cổ (cũng không có liên hệ gì với người Kyrgyzstan hiện tại). Người Duy Ngô Nhĩ lại bị phân mảnh thành hai nhóm: những người ở lại Đông Bắc Á bị buộc phải thay tên, đổi họ, lấy tên dân tộc khác, dẫn đến sự ra đời của một số nhóm người như người Sakha/Yakut, Yugur (Duy Ngô Nghĩ Vàng) và Khakas; trong khi những người di cư đến Trung Á phải trải qua quá trình Hồi giáo hóa bởi người Karluk.
Sau sự lụi tàn của Hồi Cốt, người Kyrgyz Yenisei thành lập Hãn quốc Kyrgyz, và mở rộng từ vùng bản thổ sông Yenisei, nhưng Hãn quốc này nặng tính phòng thủ hơn là tiến công, với ảnh hưởng khá giới hạn. Họ cũng không cải sang Hồi giáo đang hưng thịch từ thế kỷ 10, mà giữ nguyên đức tin cổ xưa hoặc cải sang đạo Phật, Mà Ni và cả Cơ đốc giáo Đông phương. Và giống y hệt người Duy Ngô Nhĩ, Hãn quốc này cũng bị phân rẽ trước khi tan rã sau năm 925 thành các tiểu nhánh nhỏ hơn, nơi họ tiếp tục sống biệt lập cho đến tận đầu thế kỷ 13. Phần lớn lãnh thổ của người Kyrgyz Yenisei bị sáp nhập bởi người Khiết Đan, những người sau này thành lập triều Đại Liêu ở miền bắc Trung Quốc và Siberia.
Giống như người Duy Ngô Nhĩ cổ, người Kyrgyz Yenisei cổ cũng phân thành hai nhánh. Nhánh di cư sang Trung Á cũng dần bị Hồi giáo hóa và tiếp nhận văn hóa Kipchak; trong khi nhánh di cư lên phía bắc giữ nguyên phong tục Siberia và dần dần tạo ra các nhánh như người Tuva và người Phú Dụ, tất cả đều giữ nguyên đức tin thuyết vật linh hoặc sau này là Phật giáo Tây Tạng.
Do tính chất phân mảnh rõ rệt của bộ lạc Siberia này, họ thiếu hụt ý thức hệ của nhà nước và chịu ảnh hưởng rõ rệt từ văn hóa lân bang như Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ, và sau này là người Mãn Châu và Nga. Thêm nữa, do chưa bao giờ rời khỏi khu vực Đông Bắc Á, họ không có khái niệm văn hóa Hồi giáo, mà thay vào đó chú trọng đến lối sống tinh thần và phóng khoáng trong hệ đức tin Chính Thống giáo, Phật giáo Tây Tạng, Vật Linh giáo, Thần đạo Tengri, và thậm chí là Khổng giáo và Đạo giáo. Ngôn ngữ của họ cũng quá tách biệt để có thể coi là gần gũi với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan đến mức hiểu nhau gần như chỉ giới hạn đến 5% là cùng. Và vì lẽ đó, nên dù cho cũng chịu phải những rắc rối như các cuộc chinh phạt bạo lực của Sa hoàng Nga, các chính sách khủng bố của thời kỳ Stalin (vùng Siberia bị biến thành địa ngục gulag) và Mao Trạch Đông, các cộng đồng này phần lớn vẫn quá biệt lập và không có kết nối mãnh liệt với thế giới bên ngoài cho đến tận ngày nay.

Bộ lạc Karluk

Người Uzbek ở Afghanistan, một nhóm của bộ lạc Karluk
Người Uzbek ở Afghanistan, một nhóm của bộ lạc Karluk
Người Karluk, hay trong Hán-Việt là Cát La Lộc (葛逻禄), là một liên minh các bộ lạc Thổ thống trị vùng Trung Á. So với người Oghur và Siberia, họ là một trong những nhánh tách biệt chậm hơn, chỉ bắt đầu từ hơn 1,000 năm trước mà thôi.
Giống những người anh em Siberia, Oghuz và Kipchak, họ là một bộ phận của các bộ lạc Thổ rải rác, nhưng thống nhất dưới thời kỳ Đột Quyết. Tuy nhiên, sau khi nội chiến, người Đột Quyết bị chia làm hai, và những người chọn ở lại Trung Á đều nằm trong hệ phả của Tây Đột Quyết so với Đông Đột Quyết. Người Karluk có xuất thân từ đó.
Những người được coi là tổ tiên của dân Karluk sau đó đã giúp lập nên Khách Lạt Hãn quốc (Karakhanid), và lợi dụng sự yếu tan rã quyền lực Trung Hoa và Ả Rập, họ phát triển độc lập và riêng biệt. Theo thời gian, họ biến thành người Thổ đầu tiên cải sang Hồi giáo, và phát triển nền văn minh riêng biệt.
Thời kỳ Khách Lạt đặc biệt quan trọng vì nó đã giúp biến vùng Trung Á thành trung tâm của Con đường Tơ Lụa, với nền kinh tế đa dạng và giao thương với nhiều nơi trên thế giới bấy giờ. Tuy nhiên, có sự không đồng đều khi phía bắc hoang vu và thảo nguyên lại chỉ hợp với văn hóa du mục, trong khi khu vực thuộc Tân Cương và Uzbekistan ngày nay lại rất hợp cho các hoạt động kinh tế định cư lâu dài. Sự mất cân bằng kinh tế này đóng vai trò lớn cho sự hình thành của hai bộ lạc Thổ riêng biệt: Kipchak và Karluk - với người Karluk chiếm ưu thế tương đối lớn ở vùng trung tâm.
Khách Lạt chỉ tồn tại đủ lâu cho đến đầu thế kỷ 13, khi những người Thổ Oghuz bị Ba Tư hóa về văn hóa là người Hoa Lạt Tử Mô (Khwarazm) tràn sang từ Iran ngày nay và dần lật đổ Khách Lạt, áp đặt sự cai trị của mình ở đây. Tuy nhiên, số mệnh ngắn chẳng tày gan cho những người Thổ-Ba Tư này, khi họ sau đó lai bị Mông Cổ của Thành Cát Tư Hãn đô hộ vào những năm 1220, chỉ vỏn vẹn chưa đầy 10 năm sau khi họ làm chủ Trung Á. Cuộc càn quét của Thành Cát Tư Hãn là đặc biệt tàn bạo, vì nó là một cuộc hủy diệt có hệ thống nhà nước Hoa Lạt Tử Mô, nhưng lý do thì lại khá đơn giản: một đoàn thương buôn người Mông Cổ bị thảm sát bởi Quốc vương Alaeddin Muhammad II của Hoa Lạt Tử Mô.
Hậu quả của việc này là tới 2-15 triệu người ở xứ Ba Tư và Indus bị thảm sát bởi Thành Cát Tư Hãn và đội quân thiện chiến của ông ta, và Hoa Lạt Tử Mô bị hủy diệt. Chính cuộc chinh phạt Hoa Lạt Tử Mô đã mở đường cho sự trỗi dậy của đế quốc lục địa lớn nhất lịch sử loài người về sau này.
Với vùng Trung Á, những người Thổ của Khách Lạt cũ lại sống và chịu ảnh hưởng văn hóa Mông Cổ theo cách khá riêng, và đó là lúc mà có sự hình thành của hệ văn hóa Karluk độc lập. Đó là vì người Mông Cổ đã thiết lập hai tiểu Hãn quốc, và những người Karluk được gộp vào Sát Hợp Đài (Chagatai), thành lập bởi người con trai cùng tên của chính Thành Cát Tư Hãn. Mà vùng đất do Sát Hợp Đài quản lý lại nằm ở vùng vô cùng có lợi, bao gồm vùng Tân Cương, miền nam Kazakhstan, toàn bộ Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan ngày nay - mà trong đó, vùng Tân Cương và Uzbekistan là vùng màu mỡ nhất của Sát Hợp Đài. Đã vậy, nó lại là trung tâm Con đường Tơ Lụa ở Trung Á, và chẳng mấy chốc, Sát Hợp Đài ngay lập tức trở thành một trung tâm kinh tế lớn của Đế chế Mông Cổ.
Sát Hợp Đài là một nền kinh tế hỗn hợp giữa văn hóa du mục Mông Cổ, Thổ và cả phong cách kinh tế bản địa định canh định cư của người Ba Tư. Samarkand, Bukhara, Khiva, Kashgar và Tashkent trở thành những trung tâm kinh tế lớn nhất Trung Á, giao thương từ Trung Quốc, Ấn Độ và cả Tây Á và châu Âu. Ngoài sự giàu có kinh tế, Sát Hợp Đài cũng nổi lên là một trung tâm học thuật và văn hóa lớn của khu vực, với sự ra đời của hệ ngôn ngữ Sát Hợp Đài, một ngôn ngữ hệ Thổ nhưng chịu ảnh hưởng Ba Tư, Mông Cổ và Ấn Độ mạnh mẽ; chính điều này kích hoạt sự phát triển của văn học Sát Hợp Đài, điều mà ngay cả khi Sát Hợp Đài biến mất vào thế kỷ 14, nó vẫn duy trì. Một trong những văn hào nổi tiếng nhất của văn hóa Sát Hợp Đài là Alisher Navoy, người được coi là người cha của văn học Sát Hợp Đài vào thế kỷ 15, một trăm năm sau khi Sát Hợp Đài giải thể; ông được coi là cha đẻ của hệ văn học Karluk của người Uzbek và Duy Ngô Nhĩ Tân Cương. Vào năm 1947, Liên Xô có làm một bộ phim tôn vinh Navoy vì cống hiến cho hệ văn học Karluk.
Nhưng người Karluk chỉ thực sự được coi là minh chủ vùng Trung Á một lần nữa, và là do công của một kẻ trộm cừu bị què tên là Thiếp Mộc Nhi (Timur/Tamerlane). Là một người thuộc hệ văn hóa Sát Hợp Đài, Thiếp Mộc Nhi thấm nhuần văn hóa Mông Cổ, Thổ và Ba Tư mãnh liệt. Sau khi Sát Hợp Đài sụp đổ vào năm 1347 và phân liệt thành hai nhánh tây và đông, Thiếp Mộc Nhi quyết định xưng đế bằng việc thành lập đế chế của riêng mình ở vùng lãnh thổ thuộc Tây Sát Hợp Đài ngày nay, chủ yếu là Transoxiana. Thiếp Mộc Nhi tôn sùng Thành Cát Tư Hãn, nhưng do không phải là hậu duệ đích tôn, ông không thể coi mình là một vị Hãn chính thống. Thay vào đó, ông tự coi mình là Amir (Chỉ huy tối cao) và sau này là Kuragan (Con rể) nhờ cuộc hôn nhân với một phụ nữ thuộc dòng dõi Thành Cát Tư Hãn; từ chính vị thế Kuragan, mới ra đời cái tên "Đế chế Gurkani" (Đế chế của con rể) để nói về dòng dõi Timur.
Tranh vẽ Timur tóm sống Bayezid sau trận Ankara năm 1402
Tranh vẽ Timur tóm sống Bayezid sau trận Ankara năm 1402
Nhưng cũng vì thấm nhuần tư tưởng cai trị của Thành Cát Tư Hãn, mà Thiếp Mộc Nhi tỏ ra vô cùng tàn bạo. Các cuộc chinh phạt của ông ta đã gây kinh hoàng cả vùng Tây Á và Ấn Độ rộng lớn, với gần 15 triệu người đã chết dưới tay ông; thậm chí, ông còn suýt nữa đánh sập Đế chế Ottoman của người Oghuz mới đang chớm nở trong trận Ankara năm 1402 (khi tận tay hạ gục và bắt sống Bayezid I và tàn phá thảm khốc lãnh thổ Ottoman). Tuy nhiên, chính Thiếp Mộc Nhi cũng tha chết cho những nhân vật quan trọng như thợ thủ công, thương gia, nhà khoa học, v.v., và bắt họ về Samarkand để thiết lập nền văn minh của Đế quốc Gurkani mới ra đời. Điều này khiến tộc Karluk là bộ tộc quyền lực nhất vùng Trung Á, và là tiền đề cho sự khai sinh văn hóa Uzbekistan và Duy Ngô Nhĩ hiện đại. Đến nay, Timur được coi là quốc phụ của Uzbekistan hiện đại.
Cái chết của Timur đánh dấu một thời kỳ thoái trào từ từ của đế chế Gurkani, nhưng di sản của Timur không chết yểu sau khi Đế chế Gurkani sụp đổ. Tại Fergana, một Hoàng thân của dòng dõi Timur là Babur đã quyết định mang những người thân tín để tiến vào Ấn Độ và, bằng thủ thuật ngoại giao và quân sự khéo léo, đã đánh bại và thôn tính Hồi quốc Delhi, qua đó thiết lập sự cai trị của những hậu duệ Sát Hợp Đài trên đất Nam Á. Sử sách gọi đế chế này là Mughal, từ phiên âm của từ "Mông Cổ", nhưng những nhà cai trị Mughal lại không bao giờ gọi như vậy, mà vẫn coi đó là "Đế chế Gurkani" ở Ấn Độ. Đế chế này sau đó trở thành một trong những quốc gia giàu có nhất thế giới trước thế kỷ 19, và có nền văn hóa đa dạng song hòa quyện đặc sắc của người Karluk và Ấn Độ, và nắm tới 1/4 dân số thế giới bấy giờ. Đến nay, một bộ phận không nhỏ các tín đồ Hồi giáo ở Nam Á, chủ yếu ở phía bắc Ấn Độ và Pakistan, coi mình là thuộc dòng dõi Babur, và qua đó, thuộc hệ phả Karluk, dù đã bị đồng hóa mạnh mẽ vào văn hóa Ấn Độ.
Với người Karluk Chagatai ở phía đông, họ tái định hình và trở thành dân tộc chủ đạo ở vùng nam Tân Cương mà sử gọi là các thành quốc Tarim Basin, thống trị các thành phố như Yarkand, Kashgar, Hotan, Turpan và Hami trong một khoảng thời gian nhất định. Họ cũng từng có hai thời điểm thống trị vùng này thành hai thực thể thống nhất, một là Moghulistan, và hai là Hãn quốc Yarkand, tất cả đều để lại dấu ấn đậm nét cho văn hóa định cư Duy Ngô Nhĩ cho đến nay.
Những người Shaybanid (thuộc dòng họ Shaban của Kim Trướng), vốn là thuộc về bộ lạc Kipchak đối địch và là chủ nhân đầu tiên của cái tên "Uzbek", chính là những kẻ đã đánh đuổi những người ủng hộ vương triều Timur xuống Nam Á và tạo tiền đề thôn tính khu vực này. Tuy nhiên, những người Kipchak Shaybanid, khi đối mặt với nền văn hóa truyền thống định cư đặc sắc, nhận ra họ không thể giành tình cảm với cách sống du mục, buộc phải chấp nhận bị đồng hóa vào xã hội Sát Hợp Đài, và dần dần họ bị Karluk hóa và mất hẳn nguồn gốc Kipchak xưa; đến thế kỷ 17, từ "Uzbek" dần được dùng để chỉ vào những nhà cai trị thuộc hệ phả bộ tộc Uzbek đã bị Karluk hóa và tôn vinh văn hóa Sát Hợp Đài, Timur, và các di sản Trung Á như Samarkand và Bukhara; từ những người Uzbek này, người Châu Âu đến Ấn Độ từ thế kỷ 17 trở đi cũng hay nhầm lẫn triều Mughal là "triều đại Uzbek" do hệ quả của sự đồng hóa và sự ít hiểu biết về văn hóa thế giới của châu Âu bấy giờ - và sau này Stalin đã sử dụng những tư liệu rời rạc đó để đặt tên cho các dân tộc chịu văn minh Sát Hợp Đài là "người Uzbek" từ những năm 1930.
Những ghi chép trích dẫn từ nhà hàng hải Pháp François Bernier, người từng tới Ấn Độ trong thế kỷ 17
Những ghi chép trích dẫn từ nhà hàng hải Pháp François Bernier, người từng tới Ấn Độ trong thế kỷ 17
Số phận các hậu duệ Karluk, tuy nhiên, lại không may mắn vào thế kỷ 18-19, khi họ bị đô hộ bởi những kẻ ngoại bang người Anh ở Ấn Độ, cũng như người Nga và Trung Quốc ở Trung Á. Và trong cả ba trường hợp, cả người Anh, Nga và Trung Quốc đều nhận ra tầm quan trọng của việc chia để trị là như thế nào, nhất là khi các nhóm dân Karluk ở đây luôn luôn bất mãn với chính sách cai trị của chính phủ thực dân đế quốc.
Tại Trung Quốc, từ thời Đại Thanh, sau khi Càn Long Đế chinh phục thành công Tân Cương từ tay người Chuẩn Cát Nhĩ Mông Cổ vào năm 1757, Trung Quốc phải liên tục đối đầu với các cuộc nổi dậy của người Duy Ngô Nhĩ theo phong trào Hồi giáo Afaq Khoja đến từ chính vùng đất thuộc Uzbekistan ngày nay. Vào cuối thế kỷ 19, A Cổ Bách (Yaqub Beg), một người Tajik-Uzbek đến từ Tashkent, lập nên Hồi quốc Kashgar (Yettishar) trong ý đồ nổi loạn chống Trung Quốc, nhưng thất bại. Đến những năm 1930 của thế kỷ 20, Tân Cương rơi vào bất ổn do tranh giành địa bàn và ảnh hưởng giữa chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và các lực lượng Duy Ngô Nhĩ ly khai; người Duy Ngô Nhĩ đã hai lần cố lập quốc thành nhà nước Đông Thổ (East Turkestan), gây ra những cuộc chiến tranh lớn với Trung Quốc, nhưng cũng thất bại. Người Duy Ngô Nhĩ cũng có ý định móc nối với Nhật Bản trong kế hoạch nhằm lật đổ Trung Quốc và Liên Xô từ những năm 1930, và Nhật Bản đã có kế hoạch để đưa Trung Á vào bản đồ của Đại Nhật Bản trong ý tưởng "Đại Đông Á Thịnh Vượng Chung", song bất thành. Kể từ khi Mao Trạch Đông thiết lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, người Duy Ngô Nhĩ bị thảm sát bởi chính phủ Bắc Kinh trong cuộc Cách mạng Văn hóa và sau đó bị kiểm soát gắt gao trong những hành động bị tố là diệt chủng văn hóa và nhân khẩu học dưới thời Tập Cận Bình.
Người Duy Ngô Nhĩ cũng sống rải rác ở nhiều nước hải ngoại, nơi văn hóa được bảo tồn tốt hơn. Tại đó, tư tưởng chống Trung Quốc vẫn diễn ra trong cộng đồng này, và thậm chí họ còn tiếp thu nhiều ý thức hệ dân tộc liên Thổ cực đoan dưới những lãnh đạo như Isa Alptekin.
Những người Uzbek thì lại chịu cảnh khác. Họ gần như hoạt động độc lập cho tới khi quân đội Sa hoàng của Nga bắt đầu tràn vào từ thế kỷ 19. Sự thiếu liên kết của các tiểu quốc Uzbek khiến họ bị đè bẹp bởi quân Nga và, từ những năm 1870, người Nga thiết lập sự cai trị toàn diện và lấy chính Tashkent làm thủ phủ vùng Turkestan của Nga. Người Nga ban đầu tìm cách mua chuộc dân Uzbek vì họ là những nhà định cư lâu năm, nhưng đến năm 1916, khi Thế chiến I trở nên khó khăn, Sa hoàng Nicholas II ra lệnh tòng quân ở Trung Á. Vụ việc này châm ngòi cho cuộc nổi dậy Basmachi, kéo dài tới khi Liên Xô tái lập ách đô hộ toàn Trung Á vào năm 1922. Cú sốc Basmachi buộc Stalin sau đó phải vẽ lại bản đồ, dẫn đến sự phân chia của các dân tộc thiểu số Trung Á, và sự ra đời của các biên giới cứng ngay trong nội bộ vùng Turkestan của Liên Xô; và người Uzbek, vốn là dân bản xứ ở ngay vùng phì nhiêu nhất Trung Á, được hưởng lợi lớn với biên giới hiện đại.
Cũng phần nhờ vùng lãnh thổ trù phú và phì nhiêu, người Uzbek đã thoát khỏi nạn đói thảm khốc vào những năm 1930 tàn phá Kazakhstan và Kyrgyzstan. Thậm chí, vùng đất Uzbekistan còn trở thành nơi Liên Xô đày những người dân tộc thiểu số bị đàn áp xuống đó trong Thế chiến II, cũng như là các tù nhân chính trị. Uzbekistan thậm chí còn được coi là vùng đất đô thị hóa mạnh nhất khu vực Trung Á. Vì vậy, sau khi Liên Xô tan rã và Uzbekistan trở thành quốc gia độc lập năm 1991, Uzbekistan thừa hưởng một sự ổn định tương đối khi so với các láng giềng chậm phát triển hơn. Song, cũng phải đến năm 2017, sau khi nhà độc tài Islam Karimov qua đời và Thủ tướng Shavkat Mirziyoyev lên thay, thì Uzbekistan mới thực sự mở cửa toàn bộ với thế giới bên ngoài.
Tại Nam Á, đế chế Gurkani, vốn đã suy yếu vì xung đột với các thế lực cát cứ như Maratha, cuối cùng lại bị người Anh nuốt chửng vào năm 1857, qua đó đánh dấu sự lụi tàn của sự cai trị của những người Karluk ở Ấn Độ. Sự cai trị của Anh cũng dẫn đến sự hợp nhất của Ấn Độ thành một khối do Anh cai trị, nhưng cũng mở đường cho người Anh giở ra thủ đoạn giỏi nhất: chia để trị kiểu tôn giáo. Để ngăn người dân Nam Á đoàn kết chống Anh, người Anh gộp người Ấn giáo, Hồi giáo, Sikh, Jain, Cơ Đốc giáo, Phật giáo, v.v., và thiết lập chế độ cai trị bảo hộ riêng biệt. Chính sách này đã dần kích động sự thù hận tôn giáo và sắc tộc giữa các cộng đồng Ấn Độ với nhau khi người Anh bảo kê một bên để chống bên kia.
Dần rà, hai phong trào đối lập nổi lên: phong trào thống nhất Ấn Độ do Mahatma Gandhi lãnh đạo và bao gồm những lãnh đạo cực đoan hơn như Subhas Chandra Bose - tất cả đều tin rằng Ấn Độ vẫn có thể thống nhất trong sự đa dạng; trong khi đó, phong trào Pakistan của người Hồi giáo, do Muhammad Ali Jinnah đứng đầu, lại cho rằng xung đột tôn giáo và sắc tộc là không thể hòa giải và người Hồi giáo cần có có tổ quốc riêng. Cuối cùng, sau Thế chiến II, với việc Anh đã quá kiệt quệ, người Anh ngầm ưng thuận với ý tưởng của Jinnah và chia đôi Ấn Độ thành hai xứ: xứ Ấn Độ của người Ấn giáo, Sikh, Jain; và xứ Pakistan của người Hồi giáo. Sự phân chia này sau này đã gây ra thảm họa nhân đạo lớn nhất lịch sử Nam Á, với hơn một triệu người chết trên đường lánh nạn.
Nỗi đau này còn bị tiếp nối bởi yếu tố chính trị. Trong khi Ấn Độ trở thành nền dân chủ (dù lắm vấn đề) đông dân nhất thế giới, thì Pakistan lại là quốc gia Hồi giáo với văn hóa thế tục (và cũng lắm vấn đề). Tuy vậy, với bản chất và gốc gác chịu ảnh hưởng từ văn hóa Sát Hợp Đài của người Karluk, Pakistan được coi là đồng minh với Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan. Điều này đồng nghĩa Ankara và Baku phải ủng hộ Islamabad ở bất kỳ xung đột chính trị nào, kể cả khi đó là với Ấn Độ, Afghanistan, Liên Xô/Nga, phương Tây hay Iran; và ngược lại cũng vậy. Cho đến nay, Pakistan chính là đồng minh tốt nhất bên ngoài hệ phả văn hóa Thổ được công nhận của Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan.
Người Karluk, nói chung, là những người Thổ chưa bao giờ rời Trung Á, nhưng thấm nhuần văn hóa định cư và cả Hồi giáo Ba Tư (hoặc Nam Á trong trường hợp của Mughal), cũng như một phần nhỏ văn hóa Mông Cổ, nên có sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ nó; họ cũng có những đóng góp rất lớn trong lịch sử với nền văn hóa đa sắc màu của họ, với những cái tên như nhà thiên văn học Mirzo Ulugbek là một tiêu biểu. Đến nay, những người Uzbek, Duy Ngô Nhĩ, và người Hồi giáo Trung-Nam Á (chủ yếu ở Afghanistan, Pakistan, và Ấn Độ), luôn có sự liên kết với văn hóa Karluk rất mạnh mẽ.

Bộ lạc Oghuz

Người Thổ Nhĩ Kỳ tuần hành ở Ankara
Người Thổ Nhĩ Kỳ tuần hành ở Ankara
Người Oghuz, hay trong Hán-Việt là Ô Cổ Tư (乌古斯), cũng có xuất thân giống hệt người Karluk, đều là hậu duệ của những người Tây Đột Quyết. Nhưng khác so với người Karluk đồng hương, người Oghuz đã chọn di cư sớm hơn nhiều, sau khi Tây Đột Quyết bị Đại Đường chinh phạt vào năm 657-58 và sự ra đời của An Tây Đô Hộ Phủ (安西都护府) để cai trị Trung Á.
Đợt tản cư của người Oghuz được chia làm hai phân nhánh. Nhánh thứ nhất là nhánh hướng sang phía đông, và nhánh này, gộp chung với nhánh đến từ Samarkand từ thời Nhà Nguyên sau đó, dẫn đến sự ra đời của dân tộc Tát Lạp (Salar), một nhóm người Oghuz sống ở vùng đất thuộc Cam Túc và Thanh Hải ngày nay. Cộng đồng dân tộc Tát Lạp, chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán, Hồi, Tây Tạng và cả những dân tộc Duy Ngô Nhĩ và Mông Cổ láng giềng, phát triển một ngữ hệ Oghuz biệt lập hẳn, vẫn giữ gốc gác Thổ nhưng bị Hán hóa và Tạng hóa mạnh hơn rất nhiều. Không giống người Duy Ngô Nhĩ hay dân Kazakh, cộng đồng này được coi là thiểu số trung thành của Trung Quốc, được phép sử dụng tên Hán từ thời Nhà Minh, và thậm chí còn từng giúp chính phủ Đại Thanh và sau này, Trung Hoa Dân Quốc và nhà nước CHND Trung Hoa hiện đại, đàn áp những người Thổ đồng hương ở Tân Cương, Thanh Hải và Cam Túc.
Nhánh thứ hai là nhánh tây tiến. Cuộc tản cư này diễn ra chậm nhưng, theo thời gian, họ dần thiết lập các nhà nước lịch sử. Nhà nước Oghuz đầu tiên chính là nhà nước Seljuk tại Iran ngày nay, và trở thành đế quốc Oghuz đầu tiên trong lịch sử của bộ lạc này. Sự ra đời của Seljuk là bước đệm đầu tiên cho tham vọng của bộ lạc Oghuz trong quá trình tây chinh. Cũng chính từ nhà nước Seljuk mà người Thổ Oghuz đã tiếp thu văn hóa Ba Tư và cách trị quốc mà ra.
Nhà nước Seljuk sau này bị thôn tính bởi một nhà nước Oghuz khác là nhà nước Hoa Lạt Tử Mô (Khwarezm) vào năm 1194. Hoa Lạt Tử Mô sau đó mở rộng ảnh hưởng ra tận vùng sông Ấn (Indus) và thôn tính cả Khách Lạt Hãn quốc. Tuy nhiên, bi kịch lớn nhất của Hoa Lạt Tử Mô lại đến từ cuộc xâm lăng của Thành Cát Tư Hãn, một cuộc xâm lăng tàn bạo tới mức hơn 10 triệu người chết và nhiều bộ lạc Oghuz bị bắt tòng quân cho quân đội Mông Cổ, trong khi những thành phần sống sót buộc phải tháo chạy sang phía tây lánh nạn. Chính điều này gieo mầm cho sự thù hận dai dẳng với Mông Cổ của người Thổ Oghuz, khiến họ đặc biệt quyết tâm trong việc chiến đấu chống người Mông Cổ. Một trong những thủ lĩnh kháng Mông của người Oghuz chính là Jalaleddin Mangburni, người sau đó đã được bất tử hóa với nỗ lực kháng chiến lên tới 11 năm. Vào năm 2021, một series truyền hình do Thổ Nhĩ Kỳ và Uzbekistan hợp tác với nhau có tên "Mendirman Jaloliddin" (Tên tôi là Jalaleddin) kể lại công lao của ông trong cuộc kháng chiến này.
Những người Oghuz bị kẹt lại và bị cưỡng bức tòng quân cho Mông Cổ, sau này trở thành hậu duệ của một nhóm Turkmen mà sau này sẽ định cư rải rác ở vùng Trung Á, Afghanistan và Iran, sống với lối sống du mục. Nhánh ở Iran, chịu ảnh hưởng văn hóa Ba Tư, sau đó được biết tới là người Qashqai Turkmen và tiếp tục cuộc sống du mục cho đến tận ngày nay. Những người Turkmen ở Trung Á, trong khi đó, sau này sẽ là những người cuối cùng chống lại quân Nga Sa hoàng xâm lược tại Geok-Tepe từ những năm 1879-81, và cuối cùng bị thảm sát hàng loạt bởi người Nga. Vùng đất mà người Nga lấy được này, sau này, sẽ được Liên Xô thiết lập thành nhà nước Turkmenistan của người du mục Turkmen; từ di sản Liên Xô này, Turkmenistan sau này sẽ trở thành một quốc gia độc lập sau năm 1991, và kể từ đó, theo đuổi một chính sách "trung lập vĩnh viễn" nhưng nằm dưới sự cai trị của ba lãnh đạo kỳ quái bậc nhất thế giới hiện đại: Saparmurat Niyazov, Gurbanguly Berdimuhamedow và con trai Serdar.
Kể cả nhóm Oghuz tây chinh cũng có phân rẽ lớn. Một phân nhánh của nhóm Oghuz, di chuyển từ khá sớm nhưng thời gian không rõ ràng, đã tràn vào vùng Balkan. Cộng đồng này, khác hẳn với các nhóm Oghuz đồng hương khác, đã cải đạo sang Chính Thống giáo Đông phương, trong khi nói một phương ngữ y hệt tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan nhưng không có các ngôn từ Hồi giáo. Điều này dẫn đến sự ra đời của dân tộc Gagauz, dân tộc Chính Thống giáo duy nhất của bộ lạc Oghuz. Ngày nay, cộng đồng Gagauz này sống chủ yếu rải rác giữa biên giới Romania, Moldova và Ukraine, và hòa nhập tốt với xã hội sở tại.
Nhánh Oghuz còn lại dần dần cát cứ vùng Caucasus, tây bắc Iran và Anatolia, và trở thành tổ tiên của hai dân tộc Oghuz hiện đại: Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan. Với những người Oghuz của vùng Caucasus và tây bắc Iran, họ dần định cư ở vùng đất Azerbaijan thuộc Ba Tư và sau này, thậm chí còn đóng một vai trò nhất định trong lịch sử Iran khi giúp thiết lập triều đại Safavid, một triều đại Oghuz bị Ba Tư hóa về văn hóa và là nhà nước Hồi giáo Shia đầu tiên trong lịch sử kể từ Caliphate Fatima. Tuy nhiên, cũng vì điều này, người Azerbaijan bị chia làm hai, với nhánh đầu tiên ở phía bắc thuộc vùng núi Caucasus tỏ ra khó đồng hóa hơn và độc lập hơn, và nhánh phía nam chịu ảnh hưởng văn hóa Ba Tư mạnh hơn, và dần dần tách biệt nhau sau khi Hiệp ước Turkmenchay được ký năm 1828, phân chia hai nhánh dân tộc Azerbaijan làm hai. Tuy nhiên, cái tên "Azerbaijan" vẫn chỉ là giới hạn vùng miền địa lý; người Azerbaijan trong vùng thuộc Nga và Iran quản lý vẫn bị gọi là "Tatar" hoặc "Turki" cho tới khi Liên Xô ra đời, thì mới có thuật ngữ "Azerbaijan" cho dân tộc này.
Sự quan trọng của vựa dầu mỏ Baku sau này khiến Stalin không dám mạnh bạo trấn áp người Azerbaijan trong khoảng thời gian toàn trị, kể cả trong Thế chiến II; sau này, Azerbaijan là một trong những xứ giàu có nhất thuộc Liên Xô. Chính sự giàu có này giúp cho Azerbaijan, khi họ độc lập năm 1991, sớm trở thành một trong những nền kinh tế giàu có nhất vùng Caucasus.
Tại Iran, người Azerbaijan không bị coi là hiểm họa quốc gia và thậm chí họ còn bị đồng hóa vào xã hội Ba Tư khá tốt. Nhưng mọi thứ thay đổi sau năm 1979, khi Iran biến đổi từ một vương triều thế tục (Pahlavi) độc tài sang thành một chế độ thần quyền áp bức. Ruhollah Khomeini nắm quyền, trở thành Lãnh tụ Tối cao (Ayatollah) đầu tiên, và tiến hành chính sách đàn áp người Azerbaijan khốc liệt. Chính sách này không thay đổi ngay cả khi Ayatollah thứ hai là Ali Khamenei - trớ trêu là người gốc Azerbaijan - lên nắm quyền, và các chính sách áp bức đã khiến nhiều người Azerbaijan nổi giận; cũng vì lẽ này, đi kèm với mối quan hệ hữu hảo của Azerbaijan với Israel và Thổ Nhĩ Kỳ, khiến mối quan hệ Azerbaijan-Iran luôn luôn căng thẳng kể từ đó.
Những người Oghuz ở Anatolia sớm định hình khái niệm nhà nước cát cứ, song cũng phải chờ đến thời kỳ của Osman I, người quản lý tiểu quốc Hồi giáo Osman và là một vị Bey (Tổng trấn) nhỏ của Hồi quốc Rum, thì một nhà nước Hồi giáo Oghuz lớn mới chào đời. Nhà nước này sau này mang tên của chính Osman và được dịch thành Đế quốc Ottoman. Dưới sự lãnh đạo của những Quốc vương hậu thế, đế chế Ottoman dần mở rộng lãnh thổ, nhưng cũng đầy rẫy khoảnh khắc lịch sử khó tin, tiêu biểu là Trận Kosovo huyền thoại năm 1389, trận chiến duy nhất trong lịch sử mà một Quốc vương Ottoman (Murad I) tử trận trên chiến trường. Song, cái chết của Murad I không ngăn cản sự mở rộng của Đế chế Ottoman, mà chỉ tạm ngưng nó một thời gian ngắn.
Nhưng đến thời kỳ của Bayezid I, một mối họa lại nổi lên, không phải từ châu Âu, mà là từ Trung Á. Timur, đại diện cho hệ phái Sát Hợp Đài của người Karluk, đem quân tiến chiếm Anatolia vì cho rằng người Oghuz đã cả gan chống lại Thành Cát Tư Hãn, và cần phải bị trừng phạt (cả hai trước đó đã gửi thư sỉ nhục nhau). Bayezid I vốn chưa từng biết đến thua trận, nên đã dàn quân đánh quân Timur ở Ankara 1402; song, Bayezid đánh giá sai thực lực của Timur và kết quả là đại bại, với Bayezid I bị bắt sống. Dù Bayezid được đối xử tốt, nhưng Timur quyết định tàn phá toàn bộ vùng Anatolia màu mỡ để trừng phạt những người Thổ Oghuz bằng việc đốt trụi những gì mà đội quân của ông đi qua. Quá đau đớn, Bayezid qua đời chỉ một năm sau khi thua trận trong thân phận tù binh.
Vụ việc Bayezid bị tóm gây sốc toàn Đế chế Ottoman non trẻ, và nội chiến lập tức xảy ra trong vòng 10 năm. Bốn Hoàng tử: Mehmed, Suleiman, Isa và Musa, lao vào chiến tranh tranh giành ảnh hưởng để nắm giữ đế chế. Cuộc nội chiến này suýt nữa phá sập Đế quốc Ottoman, nhưng cuối cùng, Mehmed giành chiến thắng và trở thành Quốc vương Mehmed I của Đế chế Ottoman đang cần được tái thiết. Mehmed I sau đó chứng minh mình rất có năng lực trong việc tái thiết Đế chế Ottoman, điều rất quan trọng để tái khởi động chinh phạt Á-Âu-Phi của người Thổ.
Nhưng có lẽ nổi danh hơn cả là cuộc chinh phạt Constantinople năm 1453 bởi Mehmed II, cuộc chinh phạt đã làm rạng ranh đế chế Hồi giáo Ottoman vì nó đã đánh bại quân Đông La Mã cố thủ sau một tháng. Cuộc chinh phạt thành công này khiến Mehmed II được đặt biệt danh "Kẻ Chinh phạt" (Fâtih Sultan). Cuộc chinh phạt thành công này khiến quyền kiểm soát vùng Balkan của người Thổ Nhĩ Kỳ là không bàn cãi trong bốn thế kỷ tiếp theo.
Sau khi chiếm được Constantinople, người Thổ đổi sang tên tiếng Hy Lạp khác là "Istanbul", có nghĩa là "tới thành phố", và đặt đô tại thành phố này. Istanbul sẽ trở thành thủ đô của Đế quốc Ottoman cho đến tận năm 1923.
Người Thổ Ottoman sớm hướng sự chú ý đến việc thanh toán trọn vẹn với người Mamluk ở Ai Cập và người Ba Tư. Một loạt các cuộc chiến tranh với người Ai Cập và người Ba Tư nổ ra. Trong cuộc chiến tranh đầu tiên với Mamluk ở cuối thế kỷ 15, Bayezid II tìm cách đánh chiếm, nhưng thất bại do đánh giá quá thấp thực lực quân đội Mamluk. Con trai ông, Selim I, vẫn được gọi là "Selim Nóng giận" (Yavuz Sultan Selim) vì tính khí thất thường dù rất tài năng, thề sẽ giải quyết vấn đề Mamluk tận gốc, và tái cấu trúc lại quân đội. Quyết định cải tổ của Selim I tỏ ra chính xác, khi quân Ottoman sau này đánh chiếm Cairo năm 1517, chấm dứt triều đại Mamluk và đưa Ai Cập, cũng như Mecca và Medina, vào tay người Thổ. Nó cũng đánh dấu sự chuyển mình của đế chế Ottoman từ một đế chế Oghuz thuần thành một quốc gia đa văn hóa.
Tuy nhiên, cuộc chiến với Ba Tư khó nhằn hơn hẳn. Selim I đã gây tiếng vang khi đánh bại quân Ba Tư do Shah Ismail I dẫn dắt tại trận Chaldiran vào năm 1514, và sau đó tiến quân đến đánh chiếm thủ đô Tabriz trong một khoảng thời gian ngắn, trước khi bị buộc phải lui binh vì bất mãn trong quân đội do di chuyển đường dài. Tuy nhiên, Ba Tư tỏ ra là một con mồi khó nuốt hơn hẳn; người Ba Tư sớm tỏ ra có năng lực trong việc tái tổ chức, và sau đó còn kháng cự lại nỗ lực của Selim I để tái bành trướng. Tức giận, Selim I ra lệnh cấm giao thương kinh tế với Ba Tư, một hành động điên cuồng tới mức suýt nữa khiến Đế quốc Ottoman sụp đổ kinh tế; nó chỉ chấm dứt sau khi con trai Selim I là Suleiman lên ngôi.
Suleiman I chính là một trong những minh quân giỏi nhất của Đế chế Ottoman. Dưới trướng Suleiman I, Đế chế Ottoman mở rộng đến mức độ giàu có và sung túc nhất, cũng như lực lượng quân đội thuộc hàng thiện chiến nhất Á-Âu. Khoa học, công nghệ, và các thành tựu y tế, nông nghiệp và hàng hải cũng được đưa vào đế chế, và Suleiman I cũng tỏ ra khoan hồng với các sắc dân không phải Hồi giáo trong đế chế. Thời kỳ hưng thịch của đế chế đã khai màn cho thời kỳ vàng son của Đế chế Ottoman, mà nó sẽ kéo dài trong một thế kỷ, nhiều năm sau khi Suleiman I tạ thế.
Tuy nhiên, nỗ lực của người Thổ Ottoman để Âu chinh bị chặn đứng tại Vienna năm 1683. Trong trận đánh lịch sử này, nước Áo của Vương triều Habsburg đã phải khẩn cầu cứu viện từ khắp châu Âu vì lo sợ bị ép cải sang Hồi giáo, trước một đội quân Thổ thiện chiến đang thắng như trẻ tre. Nhưng vào thời khắc khó khăn nhất, Vua John III Sobieski của Ba Lan-Lithuania và đội kỵ binh mọc cánh lừng danh của ông đã đến ứng cứu và, trong một hành động dũng cảm khó tin, xả thân bằng việc chỉ huy kỵ binh lao thẳng vào hàng ngũ quân Thổ đang bao vây Vienna. Kết quả là cuộc vây hãm Vienna phá sản và tới gần 70,000 quân Ottoman tử trận, phá nát mộng chinh phục châu Âu của Đế chế Ottoman.
Chính thất bại năm 1683 ở Vienna là dấu chấm hết cho kỷ nguyên vàng son của Đế quốc Ottoman, và bắt đầu chu kỳ trì trệ và suy thoái của nhà nước này. Mặc dù giữ phần lớn lãnh thổ vào thế kỷ 18, đế quốc Ottoman đã không còn giữ được sự ổn định như xưa vì tranh chấp trong Hoàng thất (như vụ việc ám sát Quốc vương Selim III) và nạn tham nhũng trong quân đội. Thậm chí, Napoleon còn dám hành động bằng việc viễn chinh Ai Cập thuộc Ottoman, và mặc dù nó không thành công, nó là bằng chứng cho sự suy yếu từ từ của đế chế.
Vào đầu thế kỷ 19, những cú sốc địa chính trị ập tới đế chế Ottoman. Từ cuối thế kỷ 18, những người theo dòng Wahhabi, một nhánh Hồi giáo cực đoan do Ibn Wahhab đứng tên, liên kết với dòng họ Saud và phát động chiến tranh thống nhất bán đảo Ả Rập, trong đó chiếm luôn cả Mecca và Medina, vốn do người Thổ kiểm soát. Giận dữ, Quốc vương Mahmud II hạ lệnh viễn chinh hủy diệt nhà nước Saudi, gây ra chiến tranh Ottoman-Saudi từ 1811-18. Nhà Saud sau đó bị đánh bại, và những lãnh đạo chủ chốt bị đưa về Istanbul làm nhục và hành hình.
Nhưng đó hóa ra là lần duy nhất trong đầu thế kỷ 19 mà người Thổ Ottoman có một chiến thắng quân sự. Bởi sau đó, quân Thổ liên tiếp thất bại ở Hy Lạp khi người Hy Lạp nổi dậy phục quốc từ năm 1821-30. Cùng lúc đó, Thổ cũng bị Nga đánh bại trong cuộc tranh giành ảnh hưởng ở vùng Caucasus, và sau đó bị Pháp làm nhục ở Algeria năm 1830. Những cú sốc này đã giáng một đòn mạnh vào uy thế của đế quốc, buộc Quốc vương Mahmud II, con trai của Selim III, phải đưa ra cải tổ. Để làm điều này, ông cho thảm sát toàn bộ lực lượng thị vệ Janissary đã từng làm nên tên tuổi của Đế chế Ottoman thời đầu, và thay bằng một lực lượng quân đội kiểu Âu đúng nghĩa; chính điều đó khởi màn cho nỗ lực cải cách được biết tới là "Tanzimat" (Tái cấu trúc).
Nhưng mặc cho các nỗ lực cải cách, Đế quốc Ottoman vẫn tiếp tục tàn lụi bởi sức ép ngoại bang và bất ổn trong nước. Họ tiếp tục mất thêm đất đai ở Bắc Phi cho Pháp, Anh và sau này là Ý; bị Anh gây sức ép ở bán đảo Ả Rập, và cũng mất phần lớn vùng Caucasus và Balkan vào tay Nga và Áo. Các phong trào nổi dậy đòi phục quốc của các nhóm dân không phải người Thổ lan rộng ra nhiều vùng của đế chế.
Thời kỳ cuối cùng của đế chế Ottoman đến vào thời kỳ cai trị độc tài của Quốc vương Abdulhamid II. Abdulhamid II cũng mang trong lòng tư tưởng cải cách, nhưng mặt khác, cũng đa nghi và đầy thù hận với nhiều nhóm thiểu số mà ông nghi là bất trung với đế chế. Chính bản tính đa nghi và có phần thất thường của Abdulhamid II khiến cho ông đưa ra quyết định như tấn công Hy Lạp vào năm 1897 (đế chế Ottoman thắng lớn), hay thảm sát người Armenia tại đông Anatolia. Abdulhamid II sau này bị phế truất vào năm 1909, và bị lưu đày cho đến hết cuộc đời.
Nhưng những hành động tội ác này được kế thừa bởi Đảng Thanh niên Thổ (Young Turk), một đảng phái chính trị của những người Thổ Nhĩ Kỳ mong muốn cải cách cực đoan hơn là nửa vời. Mặc cho những khái niệm chính trị mang tính khoan hồng sắc tộc từ đầu, Đảng Thanh niên Thổ dần biến đổi thành một đảng phải dân tộc cực đoan, mà trọng tâm là tổ chức Liên Minh và Tiến Bộ (CUP - Ittihad). Dưới trướng CUP, đặc biệt là sau thất bại nặng nề trong Chiến tranh trước Ý ở Libya và khủng hoảng Balkan, các lực lượng CUP đã gây ra vụ đảo chính lớn ở Istanbul năm 1913, qua đó lật đổ chính phủ dân cử và thiết lập một chế độ Tam Đầu Chế (Triumvirate) do ba người: Ismail Enver, Mehmed Talat, và Ahmed Djemal, lên làm lãnh đạo.
Sự cai trị của nhóm Tam Đầu Chế đã dẫn đến kết quả tai hại. Năm 1914, sau vụ ám sát Đại Công tước Francis Ferdinand ở Sarajevo, chiến tranh nổ ra khắp châu Âu mà sử nay gọi là Thế chiến I. Enver, Djemal và Talat, giờ là ba vị Pasha, đã quyết định liên minh với Đức, gây ra hậu quả thảm khốc là quân Thổ thua trận sau bốn năm chiến tranh với số lượng binh sĩ tử trận cao nhất trong tất cả các cường quốc tham chiến. Tuy nhiên, quân Thổ vẫn có những khoảnh khắc anh hùng, nổi tiếng là Chiến dịch Gallipoli huyền thoại năm 1915, khi quân Thổ đẩy lui quân Anh đang cố đánh chiếm Istanbul (chủ yếu bởi lực lượng ANZAC) trong một trong những chiến thắng vang dội cuối cùng của Đế quốc Ottoman; chính từ chiến thắng này mà có câu nói nổi tiếng "Çanakkale Geçilmez" (Çanakkale không thể bị vượt qua).
Cùng thời điểm đó, chính phủ Istanbul cũng tiến hành cuộc thanh trừng sắc tộc đẫm máu nhất cuộc chiến, với thảm họa diệt chủng các dân tộc Armenia, AssyriaHy Lạp (cuộc diệt chủng Hy Lạp sau đó là nguyên do buộc Hy Lạp, vốn đã trung lập trước đó, phải tham chiến). Người Thổ cũng gây nạn đói thảm khốc với cộng đồng Maronite Công giáo ở Lebanon, giết chết 50% dân số. Các hành động tội ác không dừng lại với các nhóm dân Cơ Đốc giáo thiểu số; người Thổ cũng tiến hành khủng bố với chính người Hồi giáo Ả RậpKurd, gây ra nổi loạn ở cả hai nhóm thiểu số Hồi giáo này; người Ả Rập đã nổi dậy vào năm 1916 vì không chịu nổi sự áp bức của người Thổ, trong khi người Kurd nổi dậy ngay từ khi Thế chiến I khởi phát. Các cuộc nổi dậy này không những giết hại tới gần 5 triệu người tổng cộng, mà còn đặt nền móng cho thù hận sắc tộc về sau ở Thổ Nhĩ Kỳ.
Sau khi bại trận năm 1918, đế chế Ottoman bị giải thể và các nước thắng trận là Anh, Pháp, Ý và Hy Lạp quyết định phân chia toàn bộ đế quốc Ottoman, qua đó tạo ra các nhà nước mới như Hejaz (sau này bị sáp nhập bởi Ả Rập Saudi), Iraq, Palestine, Transjordan, Syria, Lebanon và Kuwait, dựa theo. Cả bốn còn có ý đồ xóa sổ đế chế Thổ ngay từ vùng Anatolia bản thổ để trao độc lập cho người Kurd và Armenia, dựa theo Hiệp ước Sevrès. Tuy nhiên, quyết định này lại châm ngòi cho cuộc Cách mạng Thổ Nhĩ Kỳ, do một cựu sĩ quan Thế chiến I có tên Mustafa Kemal đứng đầu, dẫn đến chiến tranh cho tới năm 1923, khi những người Thổ giành chiến thắng. Một phần cho việc này chính là quyết định trừng phạt hà khắc nước Thổ theo Hiệp ước Sevrès, khiến rất nhiều cựu binh từ cuộc chiến trước đó đào ngũ khỏi chính phủ Hoàng gia Ottoman và chuyển sang phục vụ quân Cách mạng. Chiến thắng này cũng giúp định hình biên giới Thổ Nhĩ Kỳ theo Hiệp ước Lausanne, một hiệp ước có lợi gấp bội cho nước Thổ. Sau này, chính Kemal đặt nền móng cho Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại bằng một quốc gia độc lập theo thể chế Cộng hòa thế tục nhưng nặng tính dân tộc chủ nghĩa, với cộng đồng Thổ Nhĩ Kỳ hải ngoại lớn, trải dài từ tận vùng Bắc Phi, Balkan, cho đến Trung Đông, Iran và Caucasus.
Kể từ 1923, Thổ Nhĩ Kỳ trải qua một thời kỳ cải cách và hỗn loạn với vấn đề chính trị và đảo chính, nhưng theo thời gian, nước này dần định hình hệ văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ riêng biệt, nặng tính Oghuz mạnh mẽ hơn so với đế chế Ottoman đa văn hóa xưa. Họ cũng biến đổi thành một cường quốc tầm trung ở vùng Tiểu Á bằng việc gia nhập NATO (sau khi đã gửi quân đến Triều Tiên hỗ trợ Đại Hàn Dân Quốc và Đồng minh), và, đến thế kỷ 21, với sự tiếp sức của Azerbaijan, bắt đầu mở rộng ảnh hưởng và bành trướng trở lại dưới triều đại của Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan; với Thổ Nhĩ Kỳ tự tái lập vị thế cường quốc Hồi giáo và thủ lãnh của người Thổ cùng thời điểm. Sự thất thường và tham vọng mở rộng ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ khiến nhiều láng giềng và cả các nước ở xa lo lắng vì họ cho rằng Thổ muốn biến thành một tân Đế quốc theo di sản Ottoman xưa cũ.
Có thể nói nôm na là bộ lạc Oghuz chính là bộ lạc Thổ có tham vọng lớn nhất, và chắc chắn là quyền lực nhất trong tất cả các bộ lạc Thổ vì vai trò lịch sử của họ ở Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan, cũng như là ở Trung Đông, Balkan và Thanh Hải, dù cho họ cũng khá phân tán.

Bộ lạc Kipchak

Những người Kazakh, một dân tộc Kipchak, cưỡi ngựa tại Bayan-Ölgii, một tỉnh cực tây Mông Cổ với phần lớn dân số là người Hồi giáo Kazakh
Những người Kazakh, một dân tộc Kipchak, cưỡi ngựa tại Bayan-Ölgii, một tỉnh cực tây Mông Cổ với phần lớn dân số là người Hồi giáo Kazakh
Người Kipchak, trong Hán-Việt gọi là "Khâm Sát" (钦察), có sự chia sẻ chung nguồn gốc với những người anh em Thổ khác ở vùng Trung Á và Siberia vì cũng san sẻ nguồn gốc Lâu Lan và đặc biệt là Tiết Diên Đà; nhưng điểm khiến họ có nhiều sự tương đồng với người Oghuz và người Karluk là vì họ cũng chính là hậu duệ của Tây Đột Quyết năm xưa.
Tuy nhiên, không giống người Oghuz, người Kipchak ban đầu vẫn ở lại Trung Á và, để tránh ách áp bức của người Trung Quốc và sau đó là người Ả Rập, họ liên kết với một dân tộc Kipchak khác là người Kimek, Diễm Mạch (鹽莫) trong Hán-Việt, để lập nên Cơ Mã Khắc Hãn quốc (Kimek-Kipchak, 基马克汗国) để tiếp tục lối sống du mục của họ.
Sau khi đánh đuổi ách đô hộ của người Ả Rập vào thế kỷ 9, một số người Kipchak trở lại và kiến lập lên Khách Lạt Hãn quốc cùng những người Karluk; đến nay, Khách Lạt vẫn được coi là nhà nước tổ tiên của các dân tộc Karluk và Kipchak hiện đại. Tuy nhiên, sự phân rẽ cũng bắt đầu khi các bộ lạc Kipchak tỏ ra quá du mục; họ liền bắt đầu phân tán ở thảo nguyên Á-Âu, và thậm chí, khi Khách Lạt trở nên quá thiên vị dần dần về người Karluk, sự mất cân bằng kinh tế này khiến người Kipchak quyết định lại rời đi và hợp nhất với người Cuman, được gọi là Khố Man (库曼) trong Hán-Việt, để lập nên một nhà nước du mục khác ở phía bắc gọi là Khố Man Hãn quốc. Sử Ba Tư gọi xứ này là "Thảo nguyên Khâm Sát" (دشت قپچاق, Dasht-i-Qipchaq), vì họ không thể phân biệt được giữa người Khố Man và người Khâm Sát; trong khi người Nga gọi nhóm dân tộc này là Polovtsy. Cũng từ nhà nước này, bản sắc Kipchak dần hình thành theo lối sống rất tự do trên thảo nguyên của họ một cách mạnh mẽ.
Nhưng lịch sử rẽ theo ngã rẽ nghiệt ngã đầu tiên cho dân tộc Kipchak lại là do những người Hoa Lạt Tử Mô thuộc hệ Oghuz đánh phá và hủy diệt Khách Lạt. Tuy nhiên, đấy mới chỉ là khúc dạo đầu; Thành Cát Tư Hãn sau đó "ghé thăm" và đã bày kế hoạch xâm lược cả Hoa Lạt Tử Mô và Khố Man. Nhưng trong khi Thành Cát Tư Hãn đã hoàn thành việc xóa sổ Hoa Lạt Tử Mô, ông lại không thể sống để nhìn cháu trai Bạt Đô Hãn (Batu Khan) hoàn thành mộng chinh phục toàn bộ Khố Man vào những năm 1230, qua đó xóa sổ nhà nước Khố Man độc lập và mở đường cho cuộc xâm lược của Mông Cổ vào Trung-Đông Âu sau đó. Những người Khố Man đã bị buộc phải tị nạn tại các xứ quốc như Rus Kiev, Hungary, Đại Công quốc Lithuania, Vương quốc Ba Lan, và thậm chí là ở vùng Balkan, qua đó đánh dấu cáo chung của dân tộc Khố Man như một thực thể độc lập khi họ dần bị đồng hóa và trở thành dân Công giáo hoặc Chính Thống giáo.
Sau sự lụi tàn của Khố Man, người Mông Cổ tái cấu trúc lại nhà nước Khố Man và tích hợp vào lãnh thổ của Đế quốc Mông Cổ, dưới cái tên Kim Trướng Hãn quốc (Ulug Ulus, Nhà nước Vĩ đại), hay còn được sử phương Tây gọi là "Vó ngựa Vàng" (Golden Horde), hoặc là "Truật Xích Hãn quốc" do nó lấy tên từ người sáng lập là Truật Xích (Jochi), cha của Bạt Đô. Đây chính là nhóm dân Thổ bị ảnh hưởng bởi văn hóa Mông Cổ mạnh mẽ nhất, nếu không muốn nói là cực kỳ mạnh, nên dù cho họ đã biến đổi dần thành dân tộc theo Hồi giáo về sau, bản sắc du mục người Mông Cổ cấy vào gen không mất đi, tạo nên hệ phả văn hóa Thổ-Mông độc đáo mà người Kipchak là một phần trực hệ của nó. Đáng chú ý là do di sản Kim Trướng, mà đôi lúc các hậu duệ của nhóm dân này cũng được gọi theo âm Hán-Việt là dân tộc Kim Trướng (金帐) mà ra (ở phương Tây, không có cách gọi phân biệt giữa Kim Trướng và Khâm Sát, nên chung quy hết thành Kipchak).
Kim Trướng Hãn quốc dần trải qua quá trình Hồi giáo hóa và Thổ hóa, dù cho so với người Karluk hay Oghuz, ảnh hưởng Hồi giáo ở đây không được mạnh mẽ và bị dung hòa vào văn hóa Thổ-Mông, và tiếp tục đóng vai trò trong hệ phả chính trị thảo nguyên Á-Âu. Tuy nhiên, một sự kiện sau đó xảy ra vào năm 1386 châm ngòi cho chiến tranh giữa Kim Trướng và Đế quốc Karluk Gurkani, đó là tranh chấp về vị thế của ai sẽ thống trị gia phả Thành Cát Tư Hãn giữa Tokhtamysh (Thoát Thoát Mê Thất, 脱脱迷失) và Timur, với Tokhtamysh khinh miệt Timur vì không thuộc hệ phả chính thống của Đại Hãn quá cố như ông. Kết quả là 10 năm chiến tranh đã khiến Tokhtamysh đại bại và phải tháo chạy sang Lithuania nương náu. Chính sự tàn phá tàn bạo của quân Timur đã làm Kim Trướng khánh kiệt và dần lụi tàn, khiến quyền lực Kim Trướng suy yếu toàn diện ở thảo nguyên Á-Âu; Kim Trướng sau này sẽ chính thức phân liệt thành các tiểu quốc, và các nhóm dân tộc liên hệ với nhóm người này đã bị buộc phải lưu vong, hoặc phải tái lập các tiểu Hãn quốc với vị thế yếu hơn hẳn xưa. Cuộc tấn công đẫm máu của Timur cũng được coi là mở màn cho sự trỗi dậy của một số thế lực Trung-Đông Âu sau này như Lithuania, Ba Lan, Hungary, và đặc biệt là Moscow.
Với Tokhtamysh và những người trung thành với ông ta, sau khi tháo chạy khỏi ách khủng bố của Timur, họ chọn tái trung thành với Đại Công tước Vytautas của Lithuania và ở lại nương náu; sau này, họ trở thành tổ tiên của những người Tatar Lipka sống quanh biên giới Ba Lan-Lithuania-Belarus cho đến ngày nay.
Tuy nhiên, những nhóm Kim Trướng khác, sau khi lạc chủ, dần sống rải rác tại các vùng đất khác xuyên Á-Âu, và dần thành lập các xứ như Hãn quốc Crimea ở Crimea, sau này trở thành chư hầu của Đế chế Ottoman của người Oghuz ở phía nam; Hãn quốc Kazan của những người Kim Trướng và người Bulgar ở sông Volga; Hãn quốc Astrakhan nhỏ bé giáp ranh với vùng núi Caucasus; Hãn quốc Siberia của những người Hồi giáo Siberia Tatar thuộc hệ Kim Trướng (không liên hệ gì với những người Thổ Siberia trước đó); và Hãn quốc Kazakh do gia tộc Tore, một hậu duệ của dòng dõi Thành Cát Tư Hãn, cai trị.
Với các nhóm nhỏ hơn nhiều, họ tỏ ra khó khăn hơn và buộc phải sống thành các tổ chức nhỏ con hơn như nhà nước Thị tộc Nogai (đôi khi được coi là Hãn quốc). Nếu không có cơ hội lập quốc, thì họ buộc phải tỏa ra thành các phân nhánh nhỏ hơn, tạo ra các dân tộc hệ phả Kim Trướng như Karachay-BalkarKumyk ở vùng núi bắc Caucasus; dân tộc Kyrgyz ở Trung Á, Afghanistan và Tân Cương; dân tộc Karakalpak ở trung tâm Trung Á thuộc Uzbekistan ngày nay; hoặc thậm chí là người Hazara ở Afghanistan và Pakistan cũng được cho là có một phần dòng máu Kipchak (dù cho có gốc Mông Cổ và Karluk là chủ yếu); phần lớn buộc phải tìm cách sống chung với xã hội sở tại trong khi cố gắng bảo tồn bản chất du mục xưa. Chính sự phân mảnh này sẽ đóng vai trò quan trọng cho số phận của các dân tộc Kipchak về sau này, khi so với người Oghuz, Karluk, Oghur và Siberia đồng hương.
Với các tiểu Hãn quốc nhỏ bé rải rác này, do có vị thế địa chính trị và kinh tế kém hơn, họ lệ thuộc vào mệnh lệnh của các cường quốc lớn hơn như đế quốc Gurkani, Ba Tư hay đế quốc Ottoman; và theo luật chơi đó, họ tham gia vào hoạt động buôn nô lệ bằng việc bắt phụ nữ và đàn ông trên khắp Đông Âu, bản thổ Trung Quốc, Mông Cổ, Siberia, Balkan, Địa Trung Hải (bao gồm cả vùng châu Phi), Tây Tạng, và vùng Caucasus, trước khi rao bán cho thị trường buôn nô lệ của các đế chế Hồi giáo ở vùng Tây Á, Trung Á, và thậm chí là sau này còn buôn nô lệ ra tận vùng Nam Á của đế quốc Mughal tại Ấn Độ. Các hoạt động buôn nô lệ này nằm trong vòng hợp pháp của các thế lực Hồi giáo ngoại lai, vốn muốn rảnh tay để đối phó với các thế lực Cơ đốc, Phật giáo, Ấn giáo cũng như là Trung Hoa, và cũng là đương đầu lẫn nhau nếu cần (các thế lực Hồi giáo vốn nghi kị nhau và hay có xung đột ngầm). Điều này biến người Kipchak thành những tên lính đánh thuê cho các nhà nước Hồi giáo kia, nhưng cũng khiến họ rất dễ bị tổn thương nếu như có thế lực mạnh hơn can thiệp. Và đó là lúc bi kịch của người dân Kipchak mới bắt đầu từ đây.
Bi kịch bắt đầu với các dân tộc Kipchak bắt đầu từ thế kỷ 16, khi người Nga, một nền văn minh Đông Slav, mở rộng ảnh hưởng từ Moscow trong quá trình biến đổi thành một Đế quốc tương lai. Cuộc chinh phạt đầu tiên, do Ivan Lôi đế tiến hành, nhắm vào Hãn quốc Kazan của người Tatar Volga vào năm 1552, và khiến Hãn quốc này bị hủy diệt, biến nó thành một phần của Nga rộng lớn. Bốn năm sau, người Nga tràn vào Astrakhan và xóa sổ Hãn quốc này vào năm 1556, qua đó hủy diệt chợ nô lệ lớn nhất trên sông Volga, nhưng cũng đánh đuổi người Kipchak khỏi khu vực. Đến năm 1582, người Nga chiếm Hãn quốc Siberia, qua đó xóa sổ sự hiện diện cuối cùng của các nhóm dân Kim Trướng ở Siberia và mở đường cho cuộc xâm chiếm Viễn Đông rộng lớn trong hai thế kỷ sau đó.
Trong khi đó, người Cossack cũng dần làm chủ thảo nguyên Ukraine và bắt đầu lập Nhà nước Hetman do Bohdan Khmelnytsky lãnh đạo, và thậm chí họ cũng hợp tác với Hãn quốc Crimea trong vài thời điểm để chống lại Ba Lan. Nhưng sau đó, Hiệp ước Pereyaslav năm 1654 dần thiết lập sự thống trị của Nga tại Ukraine, đưa kẻ thù của rất nhiều dân tộc Kipchak đến gần biên giới hơn. Tuy nhiên, cú đánh nặng nề nhất lại đến từ trận Vienna năm 1683, khi quân Ottoman thảm bại ở thủ đô nước Áo; từ đó, nước Thổ Ottoman dần bước vào thời kỳ suy yếu và không còn có thể bảo vệ được đồng minh và chư hầu được nữa. Hệ quả của việc này chỉ đến một thế kỷ sau, dẫu vậy, khi Đế chế Ottoman thảm bại nặng trước một Đế quốc Nga mới trỗi dậy trong cuộc chiến tranh những năm 1770, khiến Hãn quốc Crimea bị cô lập; đúng 100 năm sau thảm bại Vienna, Crimea bị Nga sáp nhập trong sự bất lực của Ottoman.
Trong khi đó, Nhà nước Ba Lan-Lithuania vào cuối thế kỷ 18 cũng đang suy yếu và bắt đầu bị phân chia. Những người Tatar Lipka, giờ đã là công dân trung thành của Thịnh Vượng Chung, chia sẻ sự đau khổ của người dân Ba Lan và Lithuania. Dưới quyền chỉ huy của Józef Bielak, họ vùng dậy kháng chiến chống quân Nga-Phổ-Áo xâm lược vào năm 1792, nhưng thất bại. Ba năm sau, Ba Lan-Lithuania bị xóa sổ và người Tatar Lipka phần lớn bị đặt dưới ách thống trị của Sa hoàng.
Tại khu vực Trung và Đông Á, Hãn quốc Kazakh đã bị chia làm ba trướng (juz) là Đại Trướng và Trung Trướng ở miền đông, sát lãnh thổ thuộc ngày nay Mông Cổ và Trung Quốc; trong khi Tiểu Trướng nắm giữ miền tây gần sông Volga. Sự phân chia này là hệ quả của xung đột quyền lực giữa những thành viên Hoàng tộc Tore, trong khi vẫn giữ lối sống buôn bán nô lệ từ Siberia, Nga, Trung Quốc và vùng núi Pamir, cũng như nền kinh tế du mục khác, ngay từ thế kỷ 17. Điều này trở thành mầm mống cho mối họa nổi lên từ phía đông là Hãn quốc Chuẩn Cát Nhĩ, một Hãn quốc do người Mông Cổ thuộc bộ lạc Oirat (Ngỏa Lỗ Đặc, 厄魯特) thành lập năm 1634. Những người Oirat, vốn theo Phật giáo Tây Tạng, coi người Kazakh Hồi giáo là phản giáo, nên liên tiếp tiến công. Chuẩn Cát Nhĩ sớm cho thấy họ mạnh hơn hẳn người Kazakh, khi họ biết cách kết hợp vũ khí và công nghệ phương Tây, cũng như kỹ chiến thuật chiến tranh kiểu Trung Hoa, và chiến thuật ngoại giao khéo léo để đẩy người Nga và Trung Quốc ra ngoài, để đánh bại liên tiếp người Kazakh, xóa sổ sự hiện diện của người Kazakh ở Tân Cương.
Người Kazakh cũng không phải dạng vừa, nhưng sự thiếu thống nhất giữa các Trướng đã làm yếu đi khả năng kháng cự chống Chuẩn Cát Nhĩ, và các thủ lĩnh Chuẩn Cát Nhĩ, lúc này do Tsewang Rabtan và con trai là Galdan Tseren lãnh đạo, tiếp tục tấn công. Vào năm 1722, một series các cuộc tấn công quy mô lớn của Chuẩn Cát Nhĩ đã gây ra thảm họa nạn đói và tị nạn quy mô lớn trong cộng đồng người Kazakh, và tới hơn 50% dân số Kazakh đã bị xóa sổ trong sự kiện gọi là "Ақтабан шұбырынды" (Đại Thảm Họa). Phần lớn lãnh thổ của Đại Trướng và Trung Trướng bị người Oirat thôn tính trong hơn 3 thập kỷ; tuy nhiên, những nỗ lực kháng cự của dân Kazakh do Raiymbek BatyrAbul-Khair Khan đứng đầu đã dẫn đến chiến thắng tại trận Añyraqai năm 1730, dần đẩy lui quân Oirat khỏi lãnh thổ của cả hai Trướng.
Tuy nhiên, người Kazakh phải chờ đến một lực lượng ngoại bang để loại bỏ hoàn toàn người Oirat Chuẩn Cát Nhĩ, và đó là Đại Thanh. Càn Long, Hoàng đế Trung Hoa, muốn nhổ cỏ tận gốc người Oirat và quyết định đánh chiếm toàn bộ Tân Cương năm 1755, trước khi thảm sát tới 90% dân tộc Oirat Chuẩn Cát Nhĩ đầy tàn bạo. Người Kazakh, nhận lời mời hưởng ứng từ Bắc Kinh, cũng nổi dậy và cuối cùng đánh đuổi quân Oirat, giành lại chút tự do. Tuy nhiên, sau khi đã giúp Càn Long dẹp bỏ Chuẩn Cát Nhĩ, người Kazakh lại nhận phải "nhát đâm sau lưng" bởi Càn Long khi ông ta coi toàn bộ vùng Tân Cương và miền đông Kazakhstan nay là lãnh thổ Trung Hoa, và đòi người Kazakh phải quy thuận Đại Thanh. Hành động tráo trở này khiến người Kazakh lại nổi dậy chống lại ách cai trị của Trung Quốc, gây ra những trận đánh lớn giữa quân Thanh và người Kazakh. Cuối cùng, Đại Thanh nuốt trọn một phần lãnh thổ của Đại Trướng và Trung Trướng, nhưng không thể diệt được Hãn quốc Kazakh, và đành chấp nhận tình trạng nguyên trạng (status quo).
Nhưng sự kiệt quệ của Hãn quốc Kazakh trở nên quá rõ ràng: do liên tiếp bị đánh bởi Oirat và Đại Thanh, Hãn quốc Kazakh đã bị suy yếu đáng kể. Người Nga ở phía bắc, sau khi sớm biến Tiểu Trướng thành chư hầu, dần lợi dụng sự yếu thế của Đại Trướng và Trung Trướng, và theo thời gian, cũng dần loại bỏ sự tồn tại của cả ba Trướng bằng việc sáp nhập toàn bộ Hãn quốc vào lãnh thổ Nga, chia đôi lãnh thổ của người Kazakh làm hai sau năm 1781. Không cam lòng, vị Hãn cuối cùng là Kenesary Kasymov, một người có nửa dòng máu Oirat từ con gái của Galdan Tseren, đã quyết định dấy binh nổi dậy chống sự cai trị của Nga vào năm 1837. Cuộc nổi dậy của Kasymov kéo dài tới 10 năm, và nhận được sự ủng hộ của người Kazakh ở cả ba Trướng, đã gây khó khăn lớn cho quân đội Nga Sa hoàng. Tuy nhiên, ông lại bị phản bội bởi những người Kipchak Kyrgyz đồng hương, vốn được hứa hẹn tự do từ tay của người Uzbek và Trung Hoa đang áp bức họ bởi Nga, và Kenesary bị giết năm 1847, với thủ cấp bị đem dâng cho người Nga làm bằng chứng. Cái chết của Kasymov đánh dấu chấm hết cho nỗ lực phục quốc của người Kazakh, và mở đầu thời kỳ bị Nga và Trung Quốc chung trị trong hơn 200 năm.
Người Kyrgyz, trong khi đó, đang nằm dưới trướng của những người Uzbek thuộc Hãn quốc Kokand ở phía tây và cả Đại Thanh Trung Quốc ở phía đông. Vốn chia sẻ chung văn hóa du mục với người Kipchak Kazakh cùng cảnh ngộ, người Kyrgyz bỗng thấy mình nằm dưới sự cai trị của những nhà cầm quyền thuộc hệ Karluk và Mãn Châu đối lập hẳn. Trong khi Đại Thanh đánh thuế má nặng nề và phá hủy nền kinh tế dựa vào chăn nuôi du mục và buôn nô lệ của người Kyrgyz, thì người Uzbek cũng tỏ ra không có thiện cảm với người Kyrgyz khi chỉ xem họ là lính đánh thuê mà thôi; người Uzbek thậm chí còn khinh miệt người Kyrgyz và Kazakh là những mọi dân vô học trên lưng ngựa cần bị giáo dục lại, trong khi tự coi dân Uzbek là dân có học thức cao vì tiếp thu văn hóa định cư sớm. Thù oán với người Uzbek và Trung Quốc lan rộng trong cộng đồng người Kyrgyz, và, được kích động bởi Sa hoàng Nga, người Kyrgyz nổi dậy chống lại cả hai kẻ cai trị hà khắc đến từ Kokand và Trung Quốc từ những năm 1840 và thành lập Hãn quốc Kara-Kyrgyz.
Tuy nhiên, người Kyrgyz, với thực lực thua xa người Uzbek và Trung Quốc, gần như không thể tự giải phóng mà buộc phải nhờ cậy người Nga từ ngoại bang sang giúp. Và với việc Kokand và Đại Thanh suy yếu rõ rệt, người Nga ép người Kyrgyz phải giúp bắt sống Kenesary Kasymov nếu muốn được hỗ trợ kinh tế và quân sự; người Kyrgyz nhận lời và chính họ giúp hạ sát Kasymov năm 1847. Để trả ơn, người Nga cung cấp vũ khí cho Ormon, Hãn của Hãn quốc Kara-Kyrgyz, và sau này, Ormon chấp nhận đặt Hãn quốc dưới sự bảo trợ của Nga. Người Nga dần mở rộng ảnh hưởng ra toàn bộ vùng lãnh thổ thuộc Kyrgyzstan ngày nay, và đến năm 1860, Pishpek được tiếp quản bởi quân Nga do tướng Apollon Zimmermann đứng đầu. Người Nga sau đó tái thiết Pishpek thành một thành phố kiểu Âu điển hình. Nhìn chung, cuộc chinh phạt Kyrgyzstan của Nga diễn ra hòa bình hơn nhiều so với cuộc chinh phạt đẫm máu ở Hãn quốc Kazakh và các Hồi quốc của người Uzbek.
Ở vùng núi Caucasus, những người Kipchak miền núi là người Karachay-Balkar, Nogai và Kumyk quyết đinh nổi dậy chiến đấu chống Nga dưới trướng của các phong trào đòi lập quốc của người Circassia và Chechen, để bảo vệ quê hương miền núi của họ bên cạnh những người dân bản xứ khác như người Ingush, Avar (không liên hệ với người Avar Oghur) và Lezgin, từ cuối thế kỷ 18. Để chống lại, người Nga xây tuyến Đường Quân sự Gruzia từ Vladikavkaz tới Tiflis (nay là Tbilisi) để phân chia các bộ lạc Caucasus làm hai. Chiến lược này tỏ ra hiệu quả khi các bộ lạc Caucasus bị chia rẽ; người Karachay-Balkar ở phía tây bị chia cắt khỏi người Nogai và Kumyk ở phía đông, khiến nỗ lực kết nối kháng chiến của các bộ lạc thất bại. Thảm cảnh là sau đó, người Nga tiến hành cuộc Diệt chủng Circassia sau năm 1860, một tên gọi chung cho cuộc đàn áp quy mô lớn người thiểu số Caucasus, bao gồm cả người Nogai, Kumyk và Karachay-Balkar (người Nga gọi chung họ là người Circassia); hơn một nửa dân số của cả ba bộ lạc Kipchak này đã chết trên đường lánh nạn. Sau này, người Nga chỉ cho một số lượng hạn chế được hồi hương.
Người Karakalpak, một nhóm dân Kipchak khác gần gũi với người Kazakh, đã sống dưới trướng của Hãn quốc Khiva của người Uzbek trong hơn 130 năm sau khi Hãn quốc Karakalpak bị người Uzbek sáp nhập, nhưng người Uzbek gần như làm ngơ với sự hiện diện của người Karakalpak. Tuy nhiên, sau khi Nga tràn xuống Trung Á, Khiva bị buộc phải cắt phần đất thuộc Karakalpakstan ngày nay vào tay Sa hoàng để đổi lấy sự bảo hộ. Người Karakalpak, vốn từ lâu sống biệt lập, bỗng thấy mình nằm dưới trướng người Nga kể từ năm 1873 và bắt đầu phát triển ý thức dân tộc riêng.
Tại Đông Âu, người Tatar Lipka và người anh em ở Crimea đã bị đặt dưới ách cai trị của Nga kể từ cuối thế kỷ 18, và chịu cách đối xử tùy thuộc theo mong muốn của các Sa hoàng; người Tatar Lipka được đối xứ tốt hơn so với người Tatar Crimea khá nhiều. Đến thế kỷ 19, sau khi Ottoman lại thua Nga ở vùng Balkan, Romania và sau này là Bulgaria đã ngay lập tức tiến hành chính sách đồng hóa người Tatar Crimea ở Dobruja vì nghi họ bất trung với chính quyền Bucharest và Sofia. Thực tế, cách các chính quyền này quản lý ít đặt tính tôn giáo, mà nặng tính dân tộc và nghi ngờ với lòng trung thành hơn là đức tin lên đầu.
Nhưng ngay cả khi đó, việc chịu sự cai trị của Nga và các quốc gia Chính Thống khác đã khiến các nhóm dân Kipchak lo ngại. Tại chính Crimea, Ismail Gasprinski, một nhà lý luận học người Tatar Crimea, bắt đầu đề ra phong trào Jadid nhằm phục hưng văn hóa của người Hồi giáo trong Đế chế Nga, và nó trở thành kim chỉ nam cho sự ra đời của chủ nghĩa liên Thổ (pan-Turkism) mà chúng ta thấy bây giờ. Nhưng phiên bản của Gasprinski, một phiên bản nặng tính Kipchak thuần văn hóa Thổ-Mông, mang theo ý tưởng hiện đại hóa ôn hòa và cấp tiến theo kiểu học hỏi và tự lực phát triển, trong khi tin rằng các ulama có thể giúp phát triển khái niệm cấp tiến mà vẫn giữ bản sắc Hồi giáo và Thổ; vì thế, nó rất khác xa so với khái niệm liên Thổ của Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan hiện đại. Ý tưởng của Jadid sau đó trải dài khắp lãnh thổ Nga, và dần được tiếp thu bởi cả người Hồi giáo khác bên ngoài biên giới đế chế Sa hoàng, và theo phiên bản riêng của nó.
Nhưng nỗ lực cải cách của phong trào Jadid bị cản trở bởi sự bùng phát của Thế chiến I ở châu Âu. Nga và Romania, hai quốc gia có lực lượng người Hồi giáo gốc Kipchak đông đảo, tham chiến trong phe Hiệp Ước với Anh và Pháp; trong khi Bulgaria theo phe Đức. Nhiều người Kipchak bị buộc phải tòng quân cho quân đội các nước liên quan, và rất nhiều người đã tử trận. Vì quá nhiều là các tri thức và học giả bị buộc phải nhập ngũ, phong trào Jadid đã mất đi quá nhiều những người có học vấn tốt, làm nó suy yếu đáng kể.
Đến năm 1916, do tình hình chiến tranh bất lợi, Sa hoàng Nicholas II ra lệnh tổng động viên người Hồi giáo ở Trung Á, khiến nhiều người Kazakh, Karakalpak và Kyrgyz, cùng người Uzbek, Turkmen và Tajik, bất bình; nổi loạn Basmachi vì thế mà nổ ra. Đó là lúc tấn bi kịch đầu tiên của thế kỷ 20 ập tới người Kipchak. Từ năm 1916-17, những người Kyrgyz, bị lính Nga đàn áp dã man, đã vượt núi Thiên Sơn lánh nạn sang Tân Cương của Trung Hoa Dân Quốc, vốn cũng đang chìm trong hỗn loạn hậu Nhà Thanh; sự kiện này được coi là "Đại Thảm Họa" (Urkun), với tới hơn 30% người Kyrgyz, và lượng lớn gia súc như trâu, bò, cừu và thậm chí là chó và mèo, đã chết trên đường đi.
Thảm kịch thứ hai, tuy vậy, lại chỉ đến sau khi Thế chiến I đã khép lại. Trong bối cảnh cuộc nổi dậy Basmachi đang bắt đầu suy yếu dần và bị gộp vào mớ bòng bong của cuộc Nội chiến Nga, thì người Volga Tatar, Bashkir và Kazakh từ lưu vực sông Volga tới thảo nguyên Kazakh ở Trung Á bị rơi vào tình trạng mất mùa; để làm tệ thêm, lực lượng Bolshevik tiến hành cưỡng bức trung thu lương thực để chống lại Bạch Vệ và sau này là các lực lượng Menshevik. Hậu quả là cú sốc nạn đói năm 1920-22 ở sông Volga tới Nhà nước Xô viết Kirghiz (người Nga, lúc đó, vẫn không phân biệt được người Kazakh và Kyrgyz, và nhiều lần gọi tùy theo bối cảnh), làm chết tới 20% người Tatar Volga và Bashkir, cũng như 30% người Kazakh lúc đó. Để lấy lòng dân chúng trở lại, chính quyền Bolshevik của Lenin cho phép các tổ chức cứu trợ phương Tây đến hỗ trợ nạn nhân, và chiến lược đó tỏ ra hiệu quả vì nó làm suy yếu phong trào Basmachi và Bạch Vệ cùng thời điểm. Sau năm 1922, Liên Xô chính thức tái lập kiểm soát ở Trung Á; những người Kazakh, Karakalpak, Nogai và Kyrgyz chống đối ách đô hộ của Liên Xô buộc phải tháo chạy sang Afghanistan, Kashmir và Ba Tư.
Sự chấm dứt của Thế chiến I cũng mở đường cho các nước Đông Âu mới độc lập, và người Kipchak bị cuốn theo vòng xoáy này cùng thời điểm, nhưng không phải ai cũng giống nhau. Người Tatar Lipka, nghe theo tiếng gọi của Józef Piłsudski, sớm nổi dậy chống ách đô hộ của Đức và chiến thắng, tái lập lãnh thổ Ba Lan và Lithuania. Những người Tatar này sau này đã thể hiện sự trung thành với Ba Lan bằng việc thành lập một đội kỵ binh để nghênh chiến chống quân Bolshevik xâm lược tại sông Vistula, trước khi giành chiến thắng cuối cùng vào năm 1920, qua đó khẳng định nền độc lập của Ba Lan.
Nhưng số phận của người Tatar Lipka là ngoại lệ hiếm hoi của nhóm người Kipchak này. Những nhóm còn lại như người Tatar Crimea của Crimea đã bị quân Bolshevik đánh bại và sáp nhập vào Liên Xô, với một số đã tị nạn sang Romania, Thổ Nhĩ Kỳ và Bulgaria để thống nhất với người đồng hương ở các nước này. Tại núi Caucasus, người Kumyk, Karachay-Balkar và Nogai, thống nhất dưới ngọn cờ phục quốc của Bắc Caucasus do Tapa Tchermoev lãnh đạo, song nỗ lực này bị quân đội Bạch Vệ nghiền nát và bị tái chiếm; đến năm 1920, quân Bolshevik đánh đuổi Bạch Vệ nhưng giữ nguyên quyền kiểm soát của Nga tại vùng núi này, qua đó lại đẩy các nhóm dân này vào ách thống trị của Liên Xô. Qua đó, chỉ có người Tatar Lipka là thực sự giành được tự do đầu tiên của họ.
Nhưng nếu như Thế chiến I chỉ là khúc dạo đầu, thì những gì xảy ra sau năm 1930 mới thực sự là những đòn giáng tàn bạo nhất cho các dân tộc Kipchak. Tại Trung Á, vào năm 1930, các chính sách cưỡng bức trung thu lương thực và tập thể hóa của Joseph Stalin đã gây ra nạn đói thảm khốc ở Kazakhstan, Karakalpakstan và Kyrgyzstan, khiến tới 35% dân số Kazakh, Karakalpak và Kyrgyz bị chết đói, qua đó làm suy giảm dân số cả ba dân tộc này trầm trọng; thêm nữa, việc Stalin tiến hành chính sách phân chia biên giới sắc tộc đã cướp đi nhà nước độc lập của người Karakalpak, cũng như cắt phần lớn đất đai của người Kazakh và Kyrgyz cho người Karluk Uzbek và Oghuz Turkmen, vốn chịu ảnh hưởng rất ít bởi nạn đói ở thảo nguyên Kazakh, châm ngòi cho mầm mống bất ổn hậu Xô viết sau này. Ở Mông Cổ cộng sản, chính phủ cộng sản Mông Cổ tiến hành khủng bố quy mô lớn, khiến nhiều người Kazakh thiểu số ở phía tây thiệt mạng.
Tại Tân Cương, nội chiến Trung Quốc giữa phe Quốc Dân Đảng và Cộng Sản Đảng của Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông đã lan đến tỉnh này, và các cuộc thanh trừng sắc tộc bùng nổ từ đó. Các đội quân Hồi giáo của các lãnh chúa họ Mã, vốn trung thành với Tưởng, tuyển mộ binh lính người Oghuz Tát Lạp, Tajik, Pamir, và các nhóm quân Hồi giáo gốc Mông Cổ như Bố Nan, để thảm sát người Duy Ngô Nhĩ vốn đang đòi lập quốc. Tuy nhiên, người Kipchak Kazakh, Kyrgyz và Tatar cũng bị vạ lây vì gốc gác Thổ liên quan với người Duy Ngô Nhĩ. Nổi bật là cuộc nổi dậy năm 1932 của người Kyrgyz, một cuộc nổi dậy thất bại trước khi dân chúng ở đó bị thảm sát khoảng 1,000 người bởi tướng quân Mã Thiệu Vũ (馬紹武). Tức giận, người Kyrgyz trả thù bằng việc tấn công những người Hán và Hồi, và cả người Thổ bị coi là cộng tác với Trung Quốc tại Kizil năm 1933, khiến 800 người Hán và Hồi bị giết. Những vụ việc trên châm ngòi cho bạo lực sắc tộc kéo dài tới năm 1934, khi dưới trướng của Mã Chiêm Thương (馬占倉), mọi thứ lại được bình định trở lại. Tuy nhiên, nó ươm mầm cho sự thù hận dai dẳng của người Kipchak Kazakh, Kyrgyz và Tatar với Trung Quốc về sau này.
Thế chiến II thực sự là một đòn giáng rất mạnh vào dân tộc Kipchak. Người Tatar Lipka của Ba Lan và Lithuania đã bị khủng bố bởi Đức Quốc Xã của Adolf Hitler vì bị xem là mọi rợ, và lòng trung thành của họ với chính dân tộc Ba Lan khiến họ bị thảm sát tới 60% dân số. Những người Tatar Crimea thì bị đàn áp khủng khiếp bởi Liên Xô, bao gồm việc bị lưu đày bởi Stalin ra Trung Á (nơi họ còn không được chào đón bởi dân Uzbek), và bị bom đạn của Đức và Đồng Minh làm ly tán ở vùng Dobruja. Người Karachay-Balkar, cùng với dân tộc Kumyk và Nogai, cũng bị trục xuất khỏi Caucasus dã man bởi Stalin do bị nghi cộng tác với cuộc nổi dậy của Hasan Israilov. Trong khi đó, người Kazakh, Karakalpak và Kyrgyz bị buộc phải tòng quân cho Hồng Quân, và bị giết chết tới 10% trên chiến trường.
Sau Thế chiến II, các dân tộc Kipchak lại phải sống dưới ách cai trị của những người Cộng sản do Moscow dựng nên trải dài từ Âu sang Á. Và những người Cộng sản thực sự là những kẻ tệ bạc bậc nhất cho các dân tộc Kipchak. Dưới trướng những nhà cai trị Cộng sản, người Kipchak lại phải đối mặt với thảm họa như Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông khiến rất nhiều người Kipchak bị giết hại, hay sự kiện Y-Tháp mà hàng ngàn người Kazakh, Kyrgyz và Tatar buộc phải tị nạn sang Liên Xô đang mở cửa dưới thời Nikita Khrushchev. Tại Ba Lan và Lithuania (bị sáp nhập bởi Liên Xô năm 1940), các trung tâm văn hóa Tatar Lipka bị đóng cửa và người dân bị cưỡng ép bỏ đạo Hồi; các chính sách tương tự được áp dụng tại Romania và Bulgaria với người Kipchak thiểu số ở đây. Tại Crimea, sau khi xua đuổi người Tatar Crimea, Liên Xô đưa người Nga, Ukraine, Belarus, và các nhóm Slav khác định cư, trong khi nỗ lực phá hủy di sản Tatar Crimea, từ nghĩa trang đến nhà thờ Hồi giáo; điều mà Liên Xô cũng làm với người Kipchak ở Caucasus. Tại Karakalpakstan (giờ thuộc Uzbekistan) và tây Kazakhstan, Liên Xô tiến hành chiến dịch rút cạn biển Aral để xây dựng nền công nghiệp bông quy mô lớn, gây ra thảm họa môi trường lớn và làm mất kế sinh nhai của cả hai dân tộc Kipchak này. Ở Mông Cổ, người Kazakh thiểu số ở miền tây đã không còn bị khủng bố kiểu Stalin nữa, song lại bị kiểm soát ngặt nghèo bởi chính phủ cộng sản xem họ là nguy cơ an ninh.
Cuộc xâm lược đẫm máu của Liên Xô vào Afghanistan vào năm 1979 lại khiến người Kipchak ở Afghanistan, vốn đã rất vất vả trốn chạy áp bức ở Liên Xô và Trung Quốc, chìm trong khói lửa. Trong khi quân đội Xô viết chủ yếu đánh nhau với người Tajik, Pashtun và Uzbek, họ cũng tiến hành thảm sát cả người bản địa Kipchak Kazakh và Kyrgyz ở vùng núi và du mục của lãnh thổ này, đẩy thêm nhiều người Kipchak phải chạy nạn sang Pakistan và Kashmir (bao gồm vùng Jammu do Ấn Độ kiểm soát).
Sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 một phần giúp giải phóng dân Kipchak khỏi kiếp nô lệ và bị đàn áp, và cũng giúp dựng nên hai quốc gia Kipchak độc lập là Kazakhstan và Kyrgyzstan, nhưng di chứng thì vẫn rất nặng nề và các nhóm người Kipchak đặc biệt nhạy cảm với các láng giềng hay với các quốc gia đã từng tiếp nhận họ. Trên thực tế, Kazakhstan và Kyrgyzstan được tự do không đồng nghĩa là người Kipchak đã hết kiếp nạn.
Với Trung Quốc, dù rất đồng cảm với người Kazakh và Kyrgyz thiểu số ở Bắc Kinh, thì bản thân chính phủ Kazakhstan và Kyrgyzstan, vốn yếu thế hơn hẳn, rất khó dám chỉ trích Bắc Kinh công khai vì sợ bị Trung Quốc trừng phạt; các nhà hoạt động dân sự Kazakhstan và Kyrgyzstan cũng bị kiểm soát bởi nỗi lo đó, và nhóm dân này, không như người Duy Ngô Nhĩ, không có các phong trào vũ trang riêng để chống lại. Tại Nga, người Kazakh và Kyrgyz thiểu số, cùng với người Tatar Volga, Bashkir, Tatar Siberia, Karachay, Balkar, Nogai và Kumyk, được công nhận là dân tộc trong lòng nước Nga; nhưng kể từ sau khi Nga xâm lược Ukraine, chính quyền Nga đã cưỡng ép các tộc người Kipchak phải tham chiến cho tham vọng bành trướng đầy hoang tưởng của Putin, và đàn áp những tiếng nói bất đồng chính kiến của các nhóm dân này. Ngoài ra, chính phủ Nga cũng đàn áp và khủng bố người Tatar Crimea sau khi sáp nhập năm 2014.
Mọi thứ cũng không khá khẩm hơn ở Uzbekistan và Turkmenistan, hai quốc gia cùng hệ Thổ nhưng khác bộ lạc (Karluk và Oghuz). Tại Uzbekistan, người Karakalpak đã bị đàn áp dã man kể từ thời kỳ Islam Karimov làm Tổng thống thứ nhất, và nó vẫn không có cải thiện dưới thời kỳ mở cửa và cách tân của Tổng thống thứ hai Shavkat Mirziyoyev. Tại Turkmenistan, nằm dưới trướng của Saparmurat Niyazov và cha con Berdimuhamedow (Gurbanguly và Serdar), người Kazakh thiểu số bị đàn áp mạnh và phải lánh nạn sang Kazakhstan. Ở Afghanistan, người KazakhKyrgyz thiểu số cũng phải chạy nạn một lần nữa sau khi Taliban tái chiếm Kabul năm 2021, với điều kiện sống cơ cực và khó khăn trong khi Astana và Baku không có vị thế để ảnh hưởng tới Taliban; họ còn phải chịu phân biệt đối xử và đàn áp ở Pakistan, vốn là đồng minh quan trọng của Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan, chỉ vì bị lẫn trong làn sóng người Afghan tị nạn sau khi quan hệ giữa Pakistan và Taliban chuyển từ đồng minh sang rạn nứt và thù địch.
Ngoài ra, tình hình bất ổn ở Tajikistan và Iran cũng khiến nhóm dân Kipchak này lại bị đánh đuổi, dù vấn đề ít nhắm vào thanh trừng sắc tộc như ở Uzbekistan, Nga, Trung Quốc, hay Afghanistan. Người Kyrgyz đã bị mất nhà và của cải do xung đột biên giới giữa Tajikistan và Kyrgyzstan cách đây năm 2022, cuộc xung đột mà mới chỉ được giải quyết sau năm 2025. Ở Iran, dù người Kazakh đã hòa nhập vào xã hội Iran tốt hơn và gần như rất nhỏ, nhưng khủng hoảng kinh tế và chính trị ở Iran nhiều năm qua đã khiến nhiều người Kazakh phải tìm cách lánh nạn khỏi Iran.
Tại Azerbaijan, mặc dù quốc gia này là thuộc hệ phả Thổ chung (dù khác bộ lạc) và có quan hệ tốt với Kazakhstan và Kyrgyzstan, nhưng Baku lại có tư tưởng nghi kỵ người Caucasus mạnh, bao gồm cả người Kipchak là Karachay, Balkar và Kumyk đồng hương (thường bị lẫn là người Chechen), và thường không muốn đón chào họ trừ khi họ có vai trò cho tham vọng địa chính trị của quốc gia này. Tại Gruzia, thiện cảm cho nhóm dân này cũng khá thấp, cũng do cảm giác bị đe dọa khủng bố (giống như Azerbaijan, Gruzia cũng xem nhóm dân này chung chung là Chechen). Trong khi đó, người Tatar Lipka ở Belarus, dù ít bị phân biệt đối xử so với các anh em Kipchak khác, nhưng lại bị kìm kẹp bởi một hệ thống chính trị chuyên chế của Alexander Lukashenko, khiến họ gặp khó khăn trong việc thể hiện quyền công dân, nếu không muốn nói bị lợi dụng cho mục đích chính trị.
Tuy nhiên, vẫn có những điểm sáng trong cách người Kipchak được đối xử hậu Xô viết.
Tại Mông Cổ, sau khi Cách mạng Dân chủ năm 1990 thành công, Mông Cổ chuyển sang thành một nền dân chủ trẻ nhưng ổn định giữa hai ông lớn láng giềng Nga và Trung Quốc toàn trị; người Kazakh tại Mông Cổ được đối xử tốt hơn rất nhiều so với ở Trung Quốc và Nga, phần vì di sản du mục từ thời Kim Trướng Hãn quốc và cũng vì họ là dân bản xứ dù khác tôn giáo.
Tại Ba Lan và Lithuania, nơi người Tatar Lipka sinh sống, họ được đối xử tốt hơn rất nhiều và được trao quyền công dân, và văn hóa cũng được phục hưng và bảo tồn. Đến nay, người Tatar Lipka được xem là công dân Hồi giáo kiểu mẫu ở cả hai quốc gia. Tuy nhiên, họ cũng đang ngày càng xung đột với người Hồi giáo bên ngoài, những người mà người Tatar Lipka cáo buộc đem giáo luật cực đoan và phi Hồi giáo nhưng đội lốt Hồi giáo vào trong các nhà thờ.
Người Tatar Dobruja, vốn có chung gốc gác với người đồng hương ở Crimea, đã thoát khỏi kiếp đàn áp tương tự, và giờ còn được đối xử tốt hơn rất nhiều nhờ sự hỗ trợ của Bucharest, Sofia và các tổ chức từ thiện như TIKA ở Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, nhiều người Romania và Bulgaria cũng rất lo lắng khi chính quyền Ankara và Baku, vốn ngày càng chuyên chế, lại đang cố tìm cách mở rộng đế quốc của họ, đe dọa bản sắc riêng của người Tatar Dobruja, chưa kể mối hiểm họa từ chủ nghĩa bành trướng Nga của Putin, vốn đã bắt người Kipchak làm bia đỡ đạn cho Nga ở Ukraine.

Năm bộ lạc, năm số phận riêng

Các chiến binh Kipchak cổ xưa
Các chiến binh Kipchak cổ xưa
Vì vậy, dù là người Thổ rất đông đảo, họ lại không hề là một "khối thống nhất", mà là một loạt các nhánh phức tạp với nhau. Đến nay, chỉ có năm bộ lạc còn sót lại, và mỗi bộ lạc lại là một lịch sử riêng biệt:
1. Người Oghur, bộ lạc di cư sớm nhất, đã hoàn toàn bị đồng hóa và tạo ra hệ phả xã hội riêng biệt, không đồng nhất. Hậu duệ còn sót lại là người Chuvash, song họ cũng có sự liên hệ với sự ra đời của dân tộc Bulgaria và Hungary, và ở Caucasus.
2. Người Siberia, bộ lạc chọn ở lại vùng Đông Á, sống tách biệt, biệt lập, và theo đuổi văn hóa riêng biệt, phần lớn là Phật giáo Tây Tạng, Chính Thống giáo, hoặc Tengri giáo. Sự liên hệ với Mông Cổ, Nga, Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản khiến họ có cách sống rất khác biệt và thiếu ý thức hệ quốc gia đã thấy ở người Oghur và các bộ lạc Thổ sau này.
3. Người Karluk, những chủ nhân vùng Trung Á, là những người giỏi trong việc không chỉ cai trị, mà còn là hòa tan văn hóa để tạo nên nền tảng độc đáo, với di sản Thổ đa số cộng hưởng với Mông Cổ, Trung Hoa, Ấn Độ và Ba Tư, cũng như áp dụng Hồi giáo theo cách họ dễ hiểu, khiến tộc Karluk không chỉ quyền lực, mà di sản họ lại cũng lâu dài, kể cả khi gây tranh cãi.
4. Người Oghuz, những người Thổ di cư sớm ra Anatolia và Tây Á, đã xây dựng nền văn minh thuần túy và nặng ảnh hưởng Hồi giáo, song cũng rất Ba Tư, Hy Lạp và Đông Âu theo một số thời điểm. Họ cũng là những nhà kiến thiết văn minh và thậm chí trở nên vô cùng quyền lực, nhưng di sản của họ còn tranh cãi và thảm khốc hơn nhiều, và đến nay vẫn gây nghi ngờ ở một số góc độ.
5. Người Kipchak, những người Thổ của thảo nguyên, tản cư từ tận Balkan sang bán đảo Triều Tiên, và chịu ảnh hưởng Mông Cổ nặng từ thời Kim Trướng. Họ tạo ra các nền văn minh du mục đơn lẻ, xen kẽ, song cũng đặc sắc yếu tố dòng máu Thành Cát Tư Hãn, nhưng lại cũng là nhóm Thổ khổ đau nhất vì lối sống du mục của họ.
Điều này khiến cách Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan lạm dụng chủ nghĩa liên Thổ rất nguy hiểm khi xét về góc độ văn hóa và chính trị. Dù cả hai tự coi mình đại diện cho hệ văn minh Thổ, họ lại viết chọn lọc, lạm dụng, và cố ý tìm cách giảm nhẹ lịch sử của nhóm bộ lạc Thổ khác.
Trên thực tế, cách họ diễn giải di sản Mông Cổ là một trong những vấn đề như thế: dù Thành Cát Tư Hãn không hề coi mình là người Thổ, nhưng Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan lại cố ý Oghuz hóa để biến Thành Cát Tư Hãn thành một người Thổ Oghuz, dù không có bằng chứng khoa học nào; trong khi họ lại cũng tìm cách thù địch với Mông Cổ vì người Oghuz bị đánh đuổi khỏi quê hương bởi chính đội quân của Thành Cát Tư Hãn.
Chẳng đâu xa, cũng từ ý thực hệ liên Thổ mà cả hai nảy nở tư tưởng thù địch chủng tộc nặng nề. Cách họ ghét người Armenia và thề tái lập cuộc đại diệt chủng thứ hai khiến nhiều người ngày càng xem Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan phát triển ý thức hệ liên Thổ bằng tâm lý thù ghét hơn là đồng cảm; khái niệm này cũng được Ankara nhiều lần ngầm ý với các nước Balkan, Ả Rập ở Trung Đông, và thậm chí chống lại cả Ấn Độ, Trung Quốc và Hoa Kỳ như thể cả hai là siêu cường. Chính yếu tố này mà ngay từ năm 2020, cựu thủ lĩnh tình báo Mossad là Yossi Cohen đã cảnh báo Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan là "hiểm họa an ninh" của Israel và các nước láng giềng khu vực sau khi chứng kiến cách Ankara và Baku tìm cách khủng bố đất nước Armenia nhỏ bé, và sự hoang tưởng của chế độ Ankara do Erdoğan lãnh đạo về tham vọng của một đại đế quốc Thổ trải dài từ Âu đến Á, nhưng do bộ lạc Oghuz với tư tưởng Hồi giáo làm chủ đạo.
Tuy nhiên, có các nỗ lực phản kháng lại chính ý đồ của Ankara và Baku. Gần đây, các học giả Trung Á đã phê phán cách Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan diễn đạt chủ nghĩa liên Thổ là có tính phân biệt đối xử cao và xem thường các nền văn minh không thuộc hệ Oghuz khác; những luận điểm này cũng được các học giả ngoài Trung Á để ý và áp dụng. Nhiều người cảnh báo Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan đang không xem xét bài học của chủ nghĩa liên Ả Rập hay liên Slav trong quá khứ, khi tất cả đều thất bại vì cách phản ứng phi thực tế và có tư tưởng tranh giành ảnh hưởng hơn là công tâm giúp các tộc đồng hương khác. Và các tiếng nói đang lớn dần trên mạng xã hội để chỉ trích cách cả hai quốc gia Oghuz này đang làm.
Nếu lịch sử có dạy bài học nào lớn, thì cách chủ nghĩa liên Thổ bị lạm dụng bởi Thổ Nhĩ Kỳ và Azerbaijan vào hiện tại là một lời cảnh báo cho cách chủ nghĩa liên Thổ đang bị lợi dụng bởi một nhóm địa chính trị nhỏ. Nhưng liệu Ankara và Baku có từ bỏ sự điên loạn của họ không, thì chỉ có thời gian mới trả lời.