TỰ DO TÔN GIÁO VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN: SỰ XUNG ĐỘT BẢN CHẤT HAY SỰ BỔ TRỢ CẦN THIẾT?
TỰ DO TÔN GIÁO VÀ TỰ DO NGÔN LUẬN: SỰ XUNG ĐỘT BẢN CHẤT HAY SỰ BỔ TRỢ CẦN THIẾT?
Lời mở đầu
Tôn giáo, tự do và quyền bình đẳng luôn là những chủ đề khiến người ta thích khơi mở, tranh luận nhưng chưa từng có hồi kết. Không tồn tại đúng sai tuyệt đối, nhưng xung đột thì luôn hiện hữu. Tôi không dám khẳng định bài viết này hoàn toàn trung lập hay không gây tranh cãi; tuy nhiên, như chính chủ đề tôi lựa chọn khi đăng tải bài viết này, mọi điều đều thuộc phạm trù quan điểm và tranh luận văn minh. Xin bạn đọc hãy kiên nhẫn lắng nghe một chút góc nhìn cá nhân, và nếu có điều gì trái ý, tôi rất mong nhận được phản hồi trong tinh thần khách quan và bình tĩnh. Tôi sẵn sàng lắng nghe và tiếp thu mọi góp ý.
Ngày 24 tháng 04 năm 2025, như thường lệ, tôi lướt qua các bài đăng trên mạng xã hội và dừng lại ở một bài chia sẻ về Công giáo - một bài viết rất mực bình thường, đơn thuần truyền tải những giá trị đẹp đẽ. Thế nhưng, phần bình luận bên dưới lại bùng nổ những tranh cãi không đáng có. Dưới danh nghĩa Phật giáo, các tôn giáo khác, hoặc cả những người "bên lương" (không theo tôn giáo nào), không ít cá nhân thi nhau công kích, chà đạp lẫn nhau về mặt đức tin.
Chà, thành thật mà nói, tôi cũng bật cười trước vài câu đùa liên quan đến tôn giáo. Tuy nhiên, sau tiếng cười ấy, nếu chịu khó suy ngẫm sâu hơn, ta sẽ nhận ra một mối đe dọa âm ỉ đối với các giá trị đạo đức, niềm tin cá nhân, và xa hơn nữa là nguy cơ xung đột xã hội - những điều vốn đã từng thổi bùng các cuộc xung đột tôn giáo đẫm máu tại nhiều quốc gia đa sắc tộc, đa tín ngưỡng.
Vậy, cốt lõi của những xung đột này đến từ đâu?
Liệu có phải con người tự nhiên thích xúc phạm và bông đùa trên niềm tin thiêng liêng của kẻ khác? Thật khó để đưa ra một đáp án đơn giản, vì bản chất vấn đề vô cùng phức tạp, với nhiều lớp nguyên nhân đan xen. Nếu bạn từng đọc các nghiên cứu về lịch sử tôn giáo, hẳn cũng đã thấy những phân tích về sự khác biệt tín ngưỡng, những biến động lịch sử và tiến trình thay đổi xã hội dẫn đến sự va chạm giữa các tôn giáo lớn.
Tuy nhiên, hôm nay, tôi muốn bàn đến một khía cạnh khác: phương tiện thúc đẩy xung đột, mà mâu thuẫn thay, lại chính là một trong những quyền cơ bản nhất của con người: quyền tự do ngôn luận.

Đa dạng tôn giáo trên toàn cầu (Ảnh: Gemini)
I. Khi ngôn luận va chạm niềm tin – Sự xung đột tưởng không thể hòa giải
Tự do tôn giáo có thể được xem là một trong những quyền cơ bản nhất của con người và được Nhà nước đặc biệt quan tâm, quy định bằng những văn bản cụ thể. Nhìn chung, tự do tôn giáo là quyền được tin – hoặc không tin – vào một đấng thiêng liêng, một hệ thống tín ngưỡng, hoặc đơn giản là một cách lý giải cuộc đời vượt khỏi khuôn khổ duy lý. Nó cho phép con người thực hành niềm tin của mình, xây dựng cộng đồng tinh thần và sống đúng với lẽ sống sâu thẳm nhất trong tâm hồn. Như vậy, về cơ bản, việc bạn duy trì một đức tin vào một điều gì đó vốn chỉ cần không phương hại về mặt hành pháp và đạo đức, đức tin của bạn cũng đã và đang được bảo hộ bởi các quy định về mặt pháp luật tương ứng. Bạn đọc vui lòng tham khảo thêm tài liệu tôi trích lục từ Thư viện pháp luật bên dưới.
Theo đó tại Điều 24 Hiến pháp 2013, cũng nêu về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã được nhà nước như sau: - Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. - Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. - Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Đồng thời, thì tại Điều 6 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng đã được nêu như sau: - Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. - Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo. - Mỗi người có quyền vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo, lớp bồi dưỡng của tổ chức tôn giáo. Người chưa thành niên khi vào tu tại cơ sở tôn giáo, học tại cơ sở đào tạo tôn giáo phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. - Chức sắc, chức việc, nhà tu hành có quyền thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo tại cơ sở tôn giáo hoặc địa điểm hợp pháp khác. - Người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; người đang chấp hành hình phạt tù; người đang chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo.
Tự do ngôn luận thì khác nhưng cũng chả khác là bao - vì về cơ bản nó cũng được xây dựng trên cơ sở “niềm tin”: tin rằng con người có quyền nói ra suy nghĩ của mình, cho dù đó là sự đồng thuận hay phản biện, sự chiêm nghiệm hay chất vấn, sự đồng cảm hay… chỉ trích. Không có tự do ngôn luận, không ai dám nói lên sự thật. Quyền tự do ngôn luận cũng không chỉ là lời nói suông, cũng như tự do tôn giáo và tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận cũng là một trong những quyền cơ bản được Nhà nước bảo hộ và có quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật. Thông tin tôi trích lục từ Thư viện pháp luật, quý bạn đọc có thể tham khảo như sau.
Theo Điều 25 Hiến pháp 2013 quy định về quyền tự do ngôn luận như sau: Điều 25. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định. Theo đó, có thể hiểu quyền tự do ngôn luận là quyền được tự do trong giới hạn mà pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Cả hai tự do này, về bản chất, đều bảo vệ phẩm giá và niềm tin con người. Nhưng khi đi vào thực tiễn, có thể vì bị va chạm bóp méo theo tình hình thực tiễn và có bàn tay, ý thức của con người nhúng vào, cho nên dù bắt đầu với chung mục đích bảo vệ quyền, tự do, niềm tin của con người, tưởng chừng như không có xung đột nào đáng kể thì đến bây giờ, hai quyền tự do này lại vô tình hay cố ý cọ xát đa phương diện khó kể tốt xấu.
II. Khi ngôn luận va chạm niềm tin – Sự xung đột tưởng không thể hòa giải
Khi bắt đầu suy xét mối quan hệ giữa tôn giáo và ngôn luận trong đời sống xã hội, không ít lần chúng ta tự hỏi: rốt cuộc, hai phạm trù này là phương tiện bổ trợ lẫn nhau, hay là công cụ để đối đầu và chà đạp nhau?
Sự phân vân này hoàn toàn có cơ sở. Xét về mặt logic, chúng ta có thể nhận thấy: sẽ rất khó để các nhà truyền giáo có thể truyền tải triết lý đạo đức, rao giảng đức tin cho giáo đồ nếu thiếu vắng phương tiện ngôn luận. Nếu ngay từ đầu con người bị cấm đoán trong việc tự do phát ngôn, việc tự do diễn đạt niềm tin và triết lý, thì có lẽ các tôn giáo đã bị bóp nghẹt từ khi còn chưa kịp hình thành.Nói cách khác, tự do ngôn luận chính là nền tảng cho tự do tôn giáo được khai sinh và phát triển; ngược lại, tự do tôn giáo cũng là một hình thức biểu hiện cụ thể và mạnh mẽ của tự do ngôn luận.
Hai khái niệm này, vốn dĩ, không chỉ song hành mà còn tương hỗ cho sự tồn tại của nhau.

Tự do ngôn luận và tự do tôn giáo là hai quyền cơ bản bổ trợ lẫn nhau (Ảnh: Gemini)
Tuy nhiên, vấn đề bắt đầu nảy sinh khi quyền tự do ngôn luận bị diễn giải lệch lạc thành quyền xúc phạm.
Những bức biếm họa về tiên tri Muhammad, những phát ngôn cực đoan nhắm vào các nhóm tôn giáo thiểu số, hay thậm chí chỉ là những bình luận châm chọc trên mạng xã hội - tất cả đều được viện dẫn dưới danh nghĩa "tự do biểu đạt".
Ngay cả câu chuyện tôi đã đề cập ở phần mở đầu: những tranh cãi giữa các tín đồ khác tôn giáo về việc vị thần nào linh thiêng hơn, đấng quyền năng nào đáng thờ phụng hơn - tưởng chừng chỉ là những cuộc đối đáp vô thưởng vô phạt - dần dà lại trượt dài thành các cuộc đấu tố, xúc phạm lẫn nhau về đức tin.
Điều đáng buồn và cũng đáng suy ngẫm là gì?
Ngay cả những người tuyên bố mình không theo bất kỳ tôn giáo nào, tự thân họ cũng mang một dạng niềm tin: niềm tin vô thần. Thế nhưng, chính họ lại dễ dàng xúc phạm những niềm tin hữu thần khác.
Như vậy, vô hình trung, chúng ta đều đang sử dụng quyền tự do ngôn luận của mình để xúc phạm, phủ nhận, thậm chí báng bổ đức tin của người khác.
Tôi cũng tin rằng, phần lớn những lời công kích ấy không hoàn toàn xuất phát từ ác ý. Có khi chỉ vì cái tôi, sự tự mãn, hoặc đơn giản chỉ là sự trêu chọc một ai đó quá cuồng tín cho vui.
Thế nhưng, xét về tổng thể, tất cả chúng ta - bất kể hữu thần hay vô thần - đều mang trong mình một dạng tín ngưỡng.
Vậy, chúng ta có thực sự thấy vui khi niềm tin của mình bị xúc phạm không?
Câu hỏi này, tôi xin gửi lại cho tất cả những ai đang đọc bài viết này - những người mang đức tin hữu thần lẫn vô thần - để tự vấn và suy ngẫm.

Dùng tự do ngôn luận để mạt sát tôn giáo? (Ảnh: Gemini)
Ở chiều ngược lại, nếu chúng ta đặt tôn giáo lên trên mọi lời phê bình, coi tín ngưỡng là bất khả xâm phạm trong mọi khía cạnh, thì liệu chính chúng ta có đang bóp nghẹt quyền tự do tư tưởng - tự do ngôn luận?
Lịch sử thế giới đã chứng kiến không ít lần các chế độ độc tài, nhân danh tôn giáo, tiến hành kiểm duyệt báo chí, hạn chế tự do học thuật, cấm đoán văn học nghệ thuật và thậm chí đàn áp tàn bạo các nhóm thiểu số tôn giáo khác biệt.
Ví dụ điển hình có thể tìm thấy trong chính các triều đại phong kiến phương Đông: nhiều triều đại từng tôn sùng Nho giáo như một công cụ duy trì trật tự xã hội, củng cố quyền lực cai trị bằng cách trói buộc con người vào hệ thống niềm tin về thiên mệnh, về thứ bậc và lễ giáo. Từ đó, xuất hiện những lớp trí thức "hủ nho", chỉ biết phục tùng quyền lực thay vì phản tỉnh hay khai phóng tư tưởng.
Thậm chí ngay cả đạo Phật - tôn giáo mà tôi kính ngưỡng - cũng không nằm ngoài vòng xoáy thế tục hóa, từng bị các triều đại lợi dụng để thao túng lòng người, phục vụ những mưu đồ chính trị.
Nhìn chung, thật khó để một tôn giáo hoàn toàn tách biệt khỏi quyền lực thế tục. Và một khi đã bị nhuốm màu lợi ích trần thế, tinh thần nguyên thủy của tôn giáo vốn hướng tới sự giải thoát và khai mở tâm thức cũng dần bị méo mó, thậm chí biến dạng, từ lúc nào không hay.
Khi ấy, tôn giáo không còn thuần túy là một chốn thiêng liêng để con người tìm kiếm ý nghĩa và cứu rỗi, mà đã trở thành một công cụ quyền lực, được sử dụng để duy trì đặc quyền, dập tắt những tiếng nói bất đồng và bảo vệ lợi ích thế tục.
Sự tha hóa này khiến cho tôn giáo vốn ra đời để nâng đỡ và khai phóng tinh thần nhân loại lại biến thành gông xiềng trói buộc nhận thức. Khi tôn giáo bị lạm dụng như một chiếc áo choàng che đậy cho chủ nghĩa chuyên chế, tự do ngôn luận và tự do tín ngưỡng không còn song hành mà quay lưng lại với nhau, gieo rắc những bi kịch xã hội đẫm máu và những vết thương khó có thể hàn gắn.
Hệ lụy tất yếu là, một tôn giáo bị tha hóa có thể, vô tình hoặc cố ý, chà đạp lên các quyền cơ bản khác của con người. Và chính trong những hoàn cảnh đó, tự do ngôn luận - thứ từng phải nhường chỗ cho tôn giáo - lại cần được tái khẳng định, như một phương tiện để đấu tranh, để bảo vệ sự công bằng và nhân phẩm.

Tôn giáo có thể dễ dàng đè ép về mặt tư tưởng của một con người (Ảnh: Gemini)
Chính vì vậy, nếu chúng ta cực đoan hóa bất kỳ giá trị nào dù là tôn giáo hay tự do ngôn luận mà thiếu sự tỉnh táo, thiếu tinh thần đối thoại và khoan dung, thì chúng ta chỉ đang góp phần đẩy xã hội vào những vòng xoáy xung đột không hồi kết.
III. Bổ trợ hay xung đột – Phụ thuộc vào cách ta dùng quyền
Tôi không nêu ra vấn đề này chỉ để bàn luận suông, thưa quý bạn đọc.
Trên tư cách một con người có đức tin, đồng thời cũng là công dân của một đất nước nơi các quyền tự do được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ, tôi tha thiết mong rằng: chúng ta, trên nền tảng bình đẳng và sự tôn trọng lẫn nhau, cùng chung tay điều chỉnh thái độ và hành vi, để tự do tôn giáo và tự do ngôn luận trở thành hai giá trị song hành, bổ trợ, chứ không đối kháng.
Câu trả lời, có lẽ, nằm ở chỗ này:
Hai quyền tự do ấy vốn không mâu thuẫn về bản chất, chúng chỉ va chạm khi con người vận dụng chúng một cách cực đoan.
Tự do ngôn luận khi được thực thi với tinh thần xây dựng - giúp các tôn giáo tự soi chiếu, tự canh tân, khiến tôn giáo không rơi vào trạng thái giáo điều, bảo thủ hoặc lỗi thời.
Ngược lại, tôn giáo nếu được giữ gìn trong sự thuần khiết và không bị lợi dụng lại là la bàn đạo đức, định hướng cho tự do ngôn luận đi trong khuôn khổ của sự tử tế, lòng trắc ẩn, và nhận thức được những ranh giới mong manh giữa "phê bình" và "xúc phạm".
Một xã hội phát triển và văn minh không phải là nơi cấm phê bình tín ngưỡng, cũng không phải là nơi cổ vũ cho sự báng bổ.
Đó phải là nơi mà mỗi cá nhân đều hiểu rằng: quyền chất vấn tôn giáo là cần thiết cho sự khai sáng, nhưng việc xúc phạm niềm tin của người khác không làm nên trí tuệ, mà chỉ phơi bày sự nghèo nàn về tâm hồn.
Một cộng đồng văn minh không chỉ bảo vệ quyền được tin, mà còn bảo vệ quyền được chất vấn, quyền được đối thoại trong tinh thần khoan dung, kiên nhẫn và nhân bản.
Bởi xét cho cùng, tự do đích thực không phải là tự do để làm tổn thương nhau, mà là tự do để cùng nhau phát triển và trưởng thành cả về thể chất lẫn tâm hồn.
IV. Câu chuyện ở Việt Nam: Chúng ta đang ở đâu?
Ở Việt Nam, tôi vẫn chưa dám khẳng định rằng chủ đề về tôn giáo và tự do ngôn luận đã thực sự được cởi mở hay vẫn còn là vùng nhạy cảm.
Chúng ta không chứng kiến những xung đột căng thẳng, đẫm máu như một số quốc gia phương Tây hay Trung Đông, nhưng điều đó không có nghĩa là những va chạm không tồn tại. Chúng ta chỉ đang sống trong một xã hội nơi những va chạm ấy diễn ra một cách âm thầm, dè dặt – dưới lớp vỏ của sự "tế nhị", "không tiện bàn", hay "né tránh cho yên chuyện".
Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận rằng, trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, nhờ vào làn sóng hội nhập và sự lan tỏa của văn hóa phương Tây, thế hệ trẻ Việt Nam đang ngày càng chủ động hơn trong việc tiếp cận và chất vấn các chủ đề liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng và quyền biểu đạt.
Họ không còn ngần ngại bày tỏ chính kiến. Họ dùng ngôn luận để thể hiện sự hoài nghi, sự hài hước, hoặc đôi khi là cả thái độ phản kháng. Những meme, dark jokes, hay bình luận châm biếm về tôn giáo xuất hiện ngày càng phổ biến trên mạng xã hội, cho thấy một xu hướng chuyển mình rõ rệt trong cách thế hệ trẻ tiếp cận các vấn đề từng được xem là “nhạy cảm”.
Dưới một khía cạnh tích cực, điều này giúp tín ngưỡng bớt đi phần giáo điều, trở nên gần gũi hơn với đời sống thường nhật. Tôn giáo không còn là điều gì đó xa vời, nghiêm trọng đến mức không thể chạm tới, mà có thể được tiếp cận bằng tiếng cười, bằng sự thân thiện, bằng chính trải nghiệm cá nhân.
Nhưng song song với đó, cũng cần thừa nhận một thực tế: tự do nếu không đi kèm với tỉnh thức và đạo đức, thì rất dễ trượt sang sự khinh suất và xúc phạm.
Một lời đùa vô tình cũng có thể trở thành sự báng bổ. Một câu nói tưởng như "vui vẻ thôi mà" có thể đụng chạm đến điều thiêng liêng trong lòng người khác.
Chúng ta không thể và cũng không nên ngăn cản người trẻ tiếp xúc với đa chiều văn hóa, tiếp cận thế giới bằng tư duy cởi mở. Nhưng đồng thời, chúng ta cũng không thể bỏ quên nơi mà mình đang sống: nơi có những chuẩn mực đạo đức, những giá trị tín ngưỡng đã bám rễ trong nền văn hóa hàng ngàn năm.
Việc gỡ bỏ các hủ tục, cổ hủ, lỗi thời là điều cần thiết. Nhưng trong hành trình hội nhập và hiện đại hóa, sẽ là một sai lầm nếu chúng ta đánh mất đi những nền tảng tinh thần, những nét đặc sắc văn hóa, những giá trị tín ngưỡng đã và đang là sợi dây kết nối cộng đồng.
V. Lời kết - Tự do là bài học không bao giờ xong
Tự do, dù là tự do ngôn luận hay tự do tín ngưỡng, chưa bao giờ là một vạch đích - nó là một hành trình, một quá trình học hỏi không hồi kết.
Chúng ta không sinh ra đã hiểu được cách sử dụng tự do. Chúng ta học cách làm chủ nó, như học cách làm chủ một lưỡi dao sắc: để chữa lành, chứ không để làm tổn thương.
Tự do không phải là "quyền để nói bất cứ điều gì mình muốn", cũng không phải là "quyền để sống theo cách mình tin mà phớt lờ thế giới xung quanh".
Nó là quyền được sống đúng với mình, mà không chà đạp người khác.
Là quyền được tin, nhưng cũng là bổn phận phải hiểu niềm tin của người khác không giống mình.
Là quyền được chất vấn, nhưng với tinh thần lắng nghe chứ không phải hủy diệt.
Bởi nếu tự do được xây dựng trên sự ngạo mạn, nó sẽ dẫn đến chia rẽ.
Nếu được sử dụng bởi lòng cực đoan, nó sẽ trở thành công cụ của xung đột.
Nhưng nếu được nâng đỡ bằng sự thấu cảm, bằng hiểu biết, bằng sự khiêm nhường chân thành - thì tự do chính là con đường để con người xích lại gần nhau hơn.
Tôi tin rằng, trong một xã hội phát triển và văn minh, người ta có thể đồng thời giữ vững niềm tin và tôn trọng tiếng nói khác biệt.
Tự do khi ấy không còn là mối đe dọa của tôn giáo, và tôn giáo cũng không còn là mối đe dọa của tư tưởng.
Chúng trở thành hai cánh tay cùng nâng đỡ phẩm giá con người, để chúng ta sống nhân văn hơn, chín chắn hơn, và cùng nhau tiến về phía ánh sáng của sự hiểu biết.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất