1. Một cú cắt ngân sách, một cú tát nhận thức

Chính quyền Trump, trong đề xuất ngân sách FY 2027, muốn cắt rất mạnh ngân sách của National Science Foundation. Theo tài liệu ngân sách của chính NSF, mức discretionary budget authority được đề xuất chỉ còn khoảng 3.963 tỷ USD, trong khi NSF FY 2025 ở mức khoảng 8.826 tỷ USD; tức là mức giảm hơn một nửa, xấp xỉ 55% nếu so trên phần discretionary. Cùng trong tài liệu đó, NSF ghi rõ kế hoạch FY 2027 sẽ “close-out” Directorate for Social, Behavioral, and Economic Sciences, tức SBE, đơn vị tài trợ quan trọng cho các nghiên cứu xã hội, hành vi và kinh tế tại Mỹ.
Nói cho chặt: đây vẫn là đề xuất ngân sách, chưa phải luật đã thông qua. Ngân sách liên bang Mỹ còn phải đi qua Quốc hội. COSSA cũng nhấn mạnh đây là President’s budget request trong tiến trình ngân sách, chứ không phải bản án tự động có hiệu lực ngay ngày mai. Nhưng kể cả khi nó chưa thành luật, bản thân đề xuất này đã là một tín hiệu rất mạnh. Nó cho thấy một thứ mà giới nhân danh tri thức không thể né mãi: đến một lúc nào đó, xã hội sẽ hỏi rất thô, rất bạo, rất khó chịu: sau bao nhiêu năm nhận tài nguyên, các anh tạo ra giá trị vận hành gì?
Đây không chỉ là một câu chuyện tài khóa. Nó là một cú tát nhận thức. Một cú tát vào mặt những hệ sinh thái đã quen dùng mấy chữ “khoa học”, “tri thức”, “học thuật”, “nghiên cứu”, “critical”, “impact”, “social relevance” như một lớp áo miễn trừ trách nhiệm. Cứ hễ bị hỏi làm được gì thì bắt đầu dựng tượng chữ nghĩa lên, nói nào là tri thức không thể đo bằng ứng dụng, nào là nghiên cứu cơ bản cần thời gian, nào là khoa học phải được tự do. Đúng, tri thức không phải lúc nào cũng đẻ ra sản phẩm ngay. Nhưng nếu dùng tài nguyên xã hội mà sau một thời gian dài vẫn không giải thích được mình giúp xã hội hiểu gì, tránh ngu ở đâu, thiết kế chính sách nào tốt hơn, mở năng lực nhận thức nào, thì đừng ngạc nhiên khi có người rút ổ cắm.
Điểm quan trọng là: bài này không chống khoa học. Càng không chống khoa học xã hội. Ngược lại, tôi ủng hộ khoa học xã hội. Nói thẳng, không có khoa học xã hội thì rất khó phát triển một xã hội đúng nghĩa. Nhưng chính vì khoa học xã hội quan trọng, nó càng không được phép trở thành một giáo phái thuật ngữ tự sướng bằng citation, journal ranking, impact factor, p-value wars và mấy cái mô hình nghe rất sang nhưng không chạm vào cấu trúc vận hành thật của xã hội.

2. Không chỉ khoa học xã hội bị cắt, STEM cũng bị kéo vào máy chém

Nhiều người sẽ đọc vụ SBE rồi tưởng đây chỉ là chuyện phe bảo thủ Mỹ đánh vào khoa học xã hội. Không sai, nhưng chưa đủ. Nếu chỉ nhìn như vậy thì hơi nông. Vấn đề lớn hơn là cả NSF bị đề xuất cắt rất mạnh. Các tổ chức trong giới nghiên cứu máy tính và khoa học cũng cảnh báo rằng đề xuất FY 2027 sẽ gây tác động rộng lên toàn bộ hệ sinh thái nghiên cứu, không chỉ riêng SBE.
Tức là không phải STEM ngồi trên ngai vàng còn khoa học xã hội bị lôi ra xử. STEM cũng bị kéo vào máy chém, nhất là các mảng nghiên cứu nền, giáo dục STEM, những phần không lập tức chứng minh được giá trị chiến lược, quân sự, công nghệ, sản xuất, cạnh tranh quốc gia hoặc lợi ích ngắn hạn. Trong khi đó, các mảng công nghệ chiến lược như AI, quantum, biotech, advanced manufacturing vẫn được đặt vào nhóm ưu tiên trong tài liệu ngân sách NSF.
Vậy nên cú này không phải “STEM thắng, khoa học xã hội thua”. Cú này là một cuộc tái phân bổ quyền lực tri thức. Nhà nước không ngừng tin vào khoa học. Nó chỉ hỏi: khoa học nào phục vụ quyền lực, cạnh tranh, công nghệ, an ninh, sản xuất và kết quả đo được nhanh hơn? Còn khoa học nào không chứng minh được vai trò, không đủ sức tự biện hộ trước công chúng, không nối được với năng lực vận hành của xã hội, thì rất dễ bị đặt lên thớt.
Đây là chỗ bọn nhân danh khoa học nên tỉnh ngủ. Đừng tưởng cứ dán nhãn STEM là bất khả xâm phạm. Đừng tưởng cứ dán nhãn khoa học xã hội là tự nhiên đáng được nuôi. Đừng tưởng cứ có journal, conference, tenure, grant, citation là xã hội phải cúi đầu. Cái nhãn “khoa học” chỉ có giá trị khi phía sau nó là năng lực kiểm định, năng lực giải thích, năng lực mô hình hóa, năng lực dự báo, năng lực can thiệp, hoặc tối thiểu là năng lực mở ra một tầng hiểu biết mà xã hội thật sự cần.
Không có cái đó, anh chỉ là một hệ thống tự cấp phép cho chính mình bằng thuật ngữ.

3. Cú tát vào bọn nhân danh khoa học

Tôi nhắc lại cho rõ: tôi không chửi khoa học. Tôi chửi bọn nhân danh khoa học.
Hai thứ này khác nhau.
Khoa học đúng nghĩa là phương pháp kiểm định. Nó biết sai. Biết sửa. Biết khai báo giả định. Biết đặt câu hỏi về phương pháp. Biết phân biệt dữ liệu với diễn giải. Biết rằng mô hình không phải thực tại. Biết rằng kết luận đứng trong điều kiện. Biết rằng càng mạnh càng phải chịu kiểm định mạnh hơn.
Còn bọn nhân danh khoa học thì khác. Chúng dùng chữ “khoa học” như một con dấu quyền lực. Chúng không muốn người khác hỏi giả định nền. Không muốn bị hỏi khái niệm được định nghĩa thế nào. Không muốn bị hỏi mô hình bỏ qua biến nào. Không muốn bị hỏi dữ liệu đo được cái gì, không đo được cái gì. Không muốn bị hỏi nghiên cứu này giúp hiểu xã hội ở đâu. Cứ hễ bị hỏi sâu là lôi quyền uy ra: paper, journal, trường, viện, giáo sư, chỉ số, phương pháp, “đã được khoa học chứng minh”.
Đó không còn là khoa học. Đó là giáo hội mới.
Và cú cắt NSF, dù chưa thành luật, là một cú tát vào mặt giáo hội ấy. Không phải vì Trump đúng hay sai ở toàn bộ chuyện này. Động cơ chính trị có thể phức tạp, có thể chứa ý thức hệ, có thể chứa ưu tiên quyền lực cứng, có thể chứa cả sự thù ghét những mảng nghiên cứu xã hội nhạy cảm. Nhưng không vì động cơ của người cắt có thể bẩn mà giới học thuật được phép sạch giả. Một cú đánh từ quyền lực chính trị có thể sai ở động cơ, nhưng vẫn phơi ra một vết yếu thật: giới học thuật đã thất bại trong việc làm xã hội hiểu vì sao tri thức của mình đáng được bảo vệ.
Các anh có thể nhân danh khoa học, nhân danh học thuật, nhân danh tri thức bao lâu cũng được. Nhưng đến lúc bị hỏi “xã hội được gì từ các anh?”, nếu câu trả lời chỉ là một đống thuật ngữ quay vòng trong phòng hội thảo, thì đừng ngạc nhiên khi người ta rút ổ cắm.
Tri thức không nhất thiết phải có ứng dụng thương mại ngay lập tức. Không phải paper nào cũng phải đẻ ra app, chip, thuốc, vũ khí hay startup. Đó là kiểu tư duy thị trường hóa ngu. Nhưng tri thức dùng tài nguyên xã hội thì phải chứng minh được ít nhất một thứ: nó mở hiểu biết ở đâu, giảm mù hệ thống ở đâu, giúp tránh sai lầm xã hội nào, tạo mô hình nào tốt hơn, cải thiện chính sách nào, hay giúp con người hiểu chính mình sâu hơn ra sao.
Nếu không trả lời được, thì thứ bị cắt không chỉ là ngân sách. Thứ bị cắt là quyền tự miễn trừ của giới nhân danh tri thức.

4. Tôi ủng hộ khoa học xã hội

Tôi ủng hộ khoa học xã hội. Phải nói rõ chỗ này, vì bọn đọc nông rất thích kéo mọi thứ về hai phe: hoặc thờ học thuật, hoặc chống học thuật. Không. Cái kiểu nhị nguyên trẻ con đó chính là một phần của cái ngu.
Không có khoa học xã hội, xã hội rất khó phát triển. Bởi xã hội không chỉ là cầu đường, chip, AI, vũ khí, GDP, năng lượng, dây chuyền sản xuất và bảng tăng trưởng. Xã hội là con người sống cùng nhau trong cấu trúc. Gia đình, giáo dục, truyền thông, luật pháp, tôn giáo, lao động, bất bình đẳng, định danh, tầng lớp, biểu tượng, xung đột, kỳ vọng, nỗi sợ, danh dự, xấu hổ, niềm tin, thói quen, truyền thống, phản ứng đám đông. Không nghiên cứu mấy thứ này thì anh có thể xây máy rất giỏi, nhưng vẫn không hiểu xã hội đang dùng cái máy đó vận hành như thế nào.
STEM có thể tạo ra công cụ mạnh. Nhưng công cụ mạnh đặt vào một xã hội ngu có thể làm cái ngu lan nhanh hơn, sâu hơn, hiệu quả hơn. AI đặt vào truyền thông ngu sẽ khuếch đại ngu. Thuật toán đặt vào xã hội thích phẫn nộ sẽ tối ưu phẫn nộ. Công nghệ giáo dục đặt vào nền giáo dục luyện đề sẽ chỉ làm luyện đề hiệu quả hơn. Big data đặt vào chính sách không hiểu con người sẽ biến sai lầm thành sai lầm có dashboard.
Vì vậy, khoa học xã hội không phải thứ trang trí cho đời sống hiện đại. Nó là hạ tầng nhận thức để xã hội hiểu chính nó. Nhưng chính vì nó quan trọng nên nó phải nghiêm túc. Không thể cứ ngồi đó sản xuất thuật ngữ, trích dẫn nhau, thẩm mỹ hóa sự mơ hồ, rồi tự gọi đó là nghiên cứu sâu sắc.
Tôi không chống khoa học xã hội. Tôi chống loại khoa học xã hội không nghiên cứu được xã hội, chỉ nghiên cứu cách làm cho chính nó nghe có vẻ sâu sắc.

5. Khoa học xã hội đáng làm nhất là nghiên cứu biến dị xã hội

Khoa học xã hội đáng tiền không phải là loại chỉ mô tả hiện tượng xã hội bằng một đống từ sang. Khoa học xã hội đáng tiền phải đi vào biến dị xã hội.
Biến dị xã hội là gì? Là câu hỏi: vì sao cùng là con người, cùng thuộc một loài, cùng có những nền sinh học tương tự nhau, nhưng trong các môi trường xã hội khác nhau lại sinh ra các kiểu nhận thức, phản ứng, giá trị, sợ hãi, ổn định, bạo lực, sáng tạo, phục tùng, phản tư, tự do khác nhau?
Điều kiện xã hội nào tạo ra loại người nào?
Môi trường nào làm phần con mạnh lên, phần người yếu đi?
Cấu trúc giáo dục nào tạo ra người biết phản tư?
Cấu trúc giáo dục nào tạo ra động vật có bằng cấp?
Cấu trúc truyền thông nào làm con người mất khả năng nghĩ chậm?
Áp lực sinh tồn nào khiến con người bám vào giáo điều?
Bất bình đẳng tái sản xuất phản ứng, kỳ vọng và cơ hội sống ra sao?
Tôn giáo tác động thế nào vào safezone nhận thức?
Chính trị biến con người thành phe bằng cơ chế nào?
Gia đình uốn nỗi sợ, danh dự, xấu hổ và nhu cầu được công nhận ra sao?
Lao động, đô thị, thuật toán, truyền thông ngắn, thị trường chú ý, tất cả những thứ đó đang uốn hệ thần kinh xã hội theo hướng nào?
Đó mới là mỏ vàng thật sự. Khoa học xã hội đúng nghĩa phải trả lời được: xã hội tạo ra loại người nào, bằng cơ chế nào, trong điều kiện nào. Nếu không trả lời được câu đó mà chỉ sản xuất thuật ngữ để quay vòng trong tạp chí, thì đừng ngạc nhiên khi người ta hỏi: nuôi các anh để làm gì?
Nói theo trục “con người” mà tôi đã viết: khoa học xã hội đúng nghĩa là nghiên cứu điều kiện nào khiến phần con nắm quyền, điều kiện nào cho phần người xuất hiện.
Một xã hội có thể tạo ra người phản tư. Nó cũng có thể tạo ra người phản xạ. Nó có thể tạo ra người chịu được bất định. Nó cũng có thể tạo ra người chỉ cần một chân lý đóng gói sẵn để quỳ vào. Nó có thể tạo ra người biết định nghĩa. Nó cũng có thể tạo ra người chỉ biết lặp lại định nghĩa của hệ thống. Khoa học xã hội mà không nghiên cứu các cơ chế đó thì đang bỏ qua chính mạch máu của xã hội.

6. Từ biến dị xã hội đến biến dị nhận thức

Biến dị xã hội không chỉ là chuyện văn hóa khác nhau, phong tục khác nhau, hệ thống chính trị khác nhau, mức sống khác nhau. Sâu hơn, nó là chuyện môi trường xã hội tạo ra biến dị nhận thức.
Cùng một bộ não nền, nhưng điều kiện xã hội khác nhau tạo ra kiểu chú ý khác nhau. Kiểu sợ khác nhau. Kiểu học khác nhau. Kiểu phản xạ khác nhau. Kiểu chịu bất định khác nhau. Kiểu dùng ngôn ngữ khác nhau. Kiểu cảm nhận đúng sai khác nhau. Kiểu định nghĩa bản thân khác nhau. Kiểu phản ứng trước cái mới khác nhau.
Xã hội không chỉ bao quanh con người. Xã hội uốn cấu trúc ổn định của con người. Nó uốn phần con, uốn hệ phản xạ, uốn nỗi sợ, uốn cách người ta cảm nhận nguy hiểm, danh dự, xấu hổ, thuộc về, bị loại trừ, được công nhận. Rồi chính những con người đã bị uốn đó quay lại tái tạo xã hội.
Đây là một vòng lặp. Xã hội tạo con người. Con người tái tạo xã hội. Hệ giáo dục tạo ra kiểu đầu óc nào đó. Kiểu đầu óc đó quay lại làm giáo dục. Truyền thông tạo ra kiểu chú ý nào đó. Kiểu chú ý đó quay lại nuôi truyền thông. Chính trị tạo ra kiểu phản ứng phe phái nào đó. Kiểu phản ứng phe phái đó quay lại nuôi chính trị. Tôn giáo tạo ra một hệ an toàn tinh thần nào đó. Hệ an toàn tinh thần đó quay lại bảo vệ tôn giáo.
Khoa học xã hội mà chỉ mô tả hiện tượng bên ngoài mà không chạm vào vòng lặp này thì rất dễ biến thành bình luận xã hội có footnote. Nghe có vẻ học thuật, nhưng xương sống vận hành yếu.
Câu hỏi nghiêm túc phải là: biến xã hội nào tác động vào biến nhận thức nào? Tác động qua đường nào? Qua gia đình? Qua ngôn ngữ? Qua stress? Qua reward? Qua xấu hổ? Qua cơ chế thuộc về? Qua kỳ vọng? Qua bạo lực biểu tượng? Qua bất bình đẳng? Qua attention economy? Qua nền giáo dục? Qua truyền thông? Qua luật pháp? Qua thuật toán?
Đó mới là nghiên cứu đáng làm.

7. Chính từ đây, khoa học xã hội nối thẳng với STEM

Và đây là chỗ bọn óc chó chia ngành kiểu hành chính thường không nhìn ra. Chúng tưởng STEM là cứng, khoa học xã hội là mềm. STEM là thật, xã hội là nói mồm. Kỹ thuật là ứng dụng, nhân văn là trang trí. Nghe rất tự tin, nhưng đó là tư duy phân ngành của văn phòng đào tạo, không phải tư duy cấu trúc của thực tại.
Một khi nói đến biến dị nhận thức, ta không thể chỉ ngồi trong xã hội học. Câu hỏi đó lập tức kéo sang khoa học thần kinh. Nhận thức có nền não bộ: chú ý, trí nhớ, cảm xúc, stress, reward, threat detection, học tập, dự đoán, kiểm soát hành vi. Xã hội khác nhau tạo ra môi trường stress khác nhau, reward khác nhau, nỗi sợ khác nhau, chuẩn mực khác nhau. Vậy nó tác động lên não, hành vi và học tập như thế nào?
Từ khoa học thần kinh lại kéo sang tâm lý học phát triển. Trẻ em hình thành phản ứng, chú ý, ngôn ngữ, tự kiểm soát, khả năng trì hoãn, khả năng phản tư, khả năng chịu bất định trong điều kiện nào? Một đứa trẻ lớn lên trong môi trường an toàn khác gì một đứa trẻ lớn lên trong môi trường đe dọa liên tục? Một nền giáo dục tạo câu hỏi khác gì một nền giáo dục tạo sợ sai?
Từ đó kéo sang ngôn ngữ học. Con người không chỉ có não; con người có hệ ký hiệu. Ngôn ngữ không chỉ truyền thông tin. Ngôn ngữ chia thực tại thành danh, nghĩa, hệ. Nó cho con người tên gọi để nghĩ. Nó cũng có thể nhốt con người trong tên gọi. Một xã hội gọi “ngoan” là gì, “giỏi” là gì, “phản động” là gì, “vô đạo” là gì, “thiếu khoa học” là gì, “yêu nước” là gì, “tự do” là gì, các tên gọi đó không đứng ngoài nhận thức. Chúng cấu hình nhận thức.
Từ ngôn ngữ kéo sang toán và ký hiệu. Toán là hệ ký hiệu hình thức. Mô hình hóa là cách nén thực tại thành cấu trúc có thể kiểm định. Nếu khoa học xã hội không biết mô hình hóa, nó dễ trôi thành văn chương thuật ngữ. Nhưng nếu mô hình hóa không hiểu ngôn ngữ, xã hội và điều kiện sinh thành dữ liệu, nó dễ đo sai thứ cần đo, tối ưu sai thứ cần tối ưu, rồi gọi đó là kết quả.
Từ toán và ký hiệu kéo sang AI, khoa học dữ liệu, network science, agent-based modeling, causal inference, dynamical systems. Muốn hiểu xã hội nghiêm túc thì không thể mãi nói chuyện bằng cảm giác. Phải có mô hình. Nhưng mô hình xã hội mà không hiểu người, không hiểu biến dị nhận thức, không hiểu tầng ngôn ngữ, không hiểu hệ phản ứng của cộng đồng, thì cũng chỉ là toán hóa một cái nhìn ngu.
Vậy nên khoa học xã hội đúng nghĩa không đối lập với STEM. Khoa học xã hội đúng nghĩa là nơi STEM va vào con người.

8. Ngôn ngữ nối với toán, ký hiệu và nghệ thuật

Có một đoạn nhiều người bỏ qua: ngôn ngữ không chỉ nối với xã hội, mà còn nối với toán, ký hiệu và nghệ thuật.
Toán là một hệ ký hiệu cực kỳ nén. Nó cho phép con người định hình quan hệ, cấu trúc, lượng, biến, hằng, xác suất, giới hạn, mô hình. Khoa học tự nhiên không mạnh chỉ vì nó “cứng”, mà vì nó có hệ ký hiệu cho phép kiểm định, truyền đạt và tái lập quan hệ trong thực tại.
Ngôn ngữ tự nhiên lại là hệ ký hiệu xã hội. Nó lỏng hơn toán, nhưng rộng hơn toán trong đời sống. Nó chứa cảm xúc, lịch sử, quyền lực, tầng nghĩa, ẩn dụ, định danh, đạo đức, phe phái, xấu hổ, danh dự. Con người không sống trong phương trình thuần túy. Con người sống trong câu chữ, tên gọi, biểu tượng, câu chuyện, khẩu hiệu, luật, lời răn, lời hứa, lời chửi, lời cầu nguyện, lời tuyên án.
Nghệ thuật là hệ ký hiệu cảm giác và biểu tượng. Nó tổ chức ý nghĩa ở tầng mà ngôn ngữ khô và toán học hình thức không luôn chạm tới. Nghệ thuật có thể làm một cấu trúc xã hội trở nên cảm được, thấy được, sống được. Nó không chỉ trang trí. Nó là một cách con người mô hình hóa cảm giác về thực tại.
Vậy nếu nghiên cứu biến dị nhận thức nghiêm túc, ta phải nhìn cả ba: ngôn ngữ, toán, nghệ thuật. Một xã hội dạy trẻ con ký hiệu toán thế nào, dạy ngôn ngữ thế nào, cho chúng tiếp xúc với nghệ thuật thế nào, thật ra đang cấu hình cách chúng phân loại thực tại, chịu bất định, xử lý quan hệ, cảm nhận cái đẹp, cái đúng, cái sai, cái có nghĩa.
Đây là chỗ khoa học xã hội đáng ra phải nối rất sâu với STEM và nhân văn, chứ không phải ngồi tách khoa rồi diễn trò tự tôn ngành mình. Thực tại không chia khoa như đại học. Thực tại vận hành bằng dây mơ rễ má. Não nối với xã hội. Xã hội nối với ngôn ngữ. Ngôn ngữ nối với ký hiệu. Ký hiệu nối với toán. Toán nối với mô hình. Mô hình nối với AI. Nghệ thuật nối với tri giác, cảm xúc và ý nghĩa. Tất cả quay lại tạo ra con người.
Không nhìn được cái dây nối này mà vẫn nhân danh học thuật thì đúng là phí tài nguyên.

9. Hai loại ngu: khoa học xã hội bay khỏi thực tại và STEM cụt khỏi con người

Ở đây phải đánh cả hai bên.
Một bên là khoa học xã hội bay khỏi thực tại. Khái niệm đẹp. Câu chữ sang. Tên bài rất kêu. Mô hình nghe có vẻ cấp tiến. Trích dẫn rất nhiều. Nhưng đọc xong không biết xã hội vận hành thế nào, biến nào tác động vào biến nào, điều kiện nào tạo ra loại người nào, can thiệp ở đâu, đo cái gì, kiểm định ra sao, dùng được gì. Nó không phải tri thức. Nó là diễn ngôn không có xương sống.
Một bên là STEM cụt khỏi con người. Đo được, code được, tính được, tối ưu được, mô phỏng được, scale được, nhưng không hiểu người dùng, không hiểu hành vi tập thể, không hiểu biến dị nhận thức, không hiểu xã hội tiếp nhận công nghệ thế nào, không hiểu hậu quả của công cụ mạnh khi đặt vào môi trường xã hội ngu. Nó có thể tạo ra thứ rất mạnh, nhưng không hiểu loài đang cầm thứ đó.
Một bên bay khỏi thực tại. Một bên cụt khỏi xã hội. Một bên sản xuất diễn ngôn rỗng. Một bên sản xuất công cụ mạnh cho một loài mà nó không hiểu.
Đó là lý do chia phe STEM với khoa học xã hội là ngu. Vấn đề không phải ngành nào cao hơn. Vấn đề là ngành nào nối được với thực tại vận hành tốt hơn. Khoa học xã hội mà không nối được với cơ chế nhận thức, hành vi, thần kinh, ngôn ngữ, dữ liệu và mô hình hóa thì dễ thành văn chương thuật ngữ. STEM mà không nối được với xã hội, hành vi, chính sách và biến dị nhận thức thì dễ thành kỹ thuật mù người.
Cả hai đều có thể ngu. Chỉ là ngu bằng hai giọng khác nhau. Một bên ngu bằng jargon. Một bên ngu bằng dashboard.

10. Khoa học xã hội đáng tiền phải trông như thế nào?

Khoa học xã hội đáng tiền không nhất thiết phải biến thành công cụ chính sách ngay trong sáu tháng. Nghiên cứu cơ bản cần thời gian. Nhiều hiểu biết quan trọng không có ứng dụng tức thì. Nhưng khoa học xã hội đáng tiền phải có xương sống kiểm định và hướng vào cơ chế vận hành thật.
Nó phải trả lời được: đang nghiên cứu cơ chế nào? Cơ chế đó tạo ra hành vi, nhận thức, phản ứng, cấu trúc xã hội nào? Nó có biến số không? Có mô hình không? Có dữ liệu không? Có khả năng kiểm định không? Có phân biệt được mô tả với giải thích không? Có phân biệt được diễn giải với cơ chế không? Có nối được với thần kinh, tâm lý, ngôn ngữ, hành vi, giáo dục, chính sách, công nghệ không? Nó giúp xã hội hiểu chính nó ở đâu? Nó giúp tránh sai lầm nào? Nó giúp thiết kế hệ thống tốt hơn thế nào?
Nếu anh nghiên cứu bất bình đẳng, hãy chỉ ra bất bình đẳng tái sản xuất nhận thức, phản ứng, cơ hội sống và cấu trúc ổn định ra sao. Nếu anh nghiên cứu giáo dục, hãy chỉ ra môi trường nào tạo ra phản tư, môi trường nào tạo ra phục tùng. Nếu anh nghiên cứu chính trị, hãy chỉ ra cơ chế nào biến con người thành phe trước khi họ kịp nghĩ. Nếu anh nghiên cứu truyền thông, hãy chỉ ra attention economy uốn hệ thần kinh xã hội thế nào. Nếu anh nghiên cứu tôn giáo, hãy chỉ ra khi nào đức tin là điểm tựa, khi nào nó biến thành quyền áp đặt. Nếu anh nghiên cứu khoa học, hãy chỉ ra khi nào khoa học là phương pháp kiểm định, khi nào nó biến thành giáo điều tổ chức.
Còn nếu câu trả lời chỉ là: “đây là nghiên cứu quan trọng vì nó critical, social, justice, identity, discourse, power”, thì xin lỗi, nghe rất mệt. Mấy chữ đó không sai tự thân, nhưng nếu chúng chỉ dùng để tạo cảm giác sâu sắc thay cho cơ chế, thì nó là khói.
Khoa học xã hội đáng ra phải nghiên cứu xã hội, không phải nghiên cứu cách làm cho bài viết của nó không ai ngoài hội của nó đọc nổi.

11. Cắt ngân sách không chứng minh khoa học vô dụng, nhưng nó phơi ra thất bại biện hộ

Công bằng mà nói, việc chính quyền Trump đề xuất cắt ngân sách không tự động chứng minh khoa học xã hội vô dụng. Không. Lý do cắt có thể dính ý thức hệ, ưu tiên chính trị, phản ứng với các chương trình bị xem là không phù hợp, muốn dồn tiền cho công nghệ chiến lược, hoặc muốn làm yếu các mảng nghiên cứu xã hội có khả năng soi vào bất bình đẳng, hành vi chính trị, chính sách công, giáo dục, lao động. Nhiều hiệp hội khoa học xã hội cảnh báo đề xuất xóa SBE sẽ ảnh hưởng đến gần hai phần ba nguồn tài trợ nghiên cứu học thuật trong các ngành xã hội và hành vi ở Mỹ.
Các nhóm khoa học cũng nhấn mạnh rằng NSF là hạ tầng quan trọng cho khoa học và kỹ thuật Mỹ, và đề xuất FY 2027 là một cú cắt rất lớn đối với năng lực nghiên cứu quốc gia. Vậy nên nếu ai dùng chuyện này để kết luận đơn giản “khoa học xã hội vô dụng, cắt là đúng hết” thì đó là ngu kiểu khác. Một chính quyền cắt ngân sách vì lý do chính trị không tự động trở thành người phán xét chân lý.
Nhưng ở chiều ngược lại, giới học thuật cũng không thể dùng chuyện “động cơ chính trị” để né toàn bộ câu hỏi về giá trị. Việc một chính quyền có thể đề xuất cắt mạnh và nhiều người ngoài giới học thuật không lập tức hiểu vì sao phải bảo vệ những ngành này cho thấy một thất bại truyền thông và biện hộ rất lớn. Nếu anh nghiên cứu xã hội mà xã hội không hiểu anh giúp nó hiểu gì về chính nó, thì vấn đề không chỉ nằm ở người cắt ngân sách. Vấn đề còn nằm ở anh.
Đây là cú tát thật sự: không phải cắt ngân sách chứng minh học thuật vô dụng, mà nó phơi ra rằng nhiều mảng học thuật đã để mất quyền biện hộ trước xã hội.
Một ngành quan trọng mà không làm người ta thấy được tầm quan trọng của nó thì sớm muộn cũng bị kẻ khác định nghĩa thay. Và khi bị định nghĩa thay, đừng ngạc nhiên nếu người định nghĩa không tử tế.

12. Tri thức phải chịu kiểm định giá trị

Tri thức không có nghĩa vụ phải phục vụ thị trường ngay lập tức. Nhưng tri thức dùng tài nguyên xã hội có nghĩa vụ chứng minh nó không chỉ đang tự nuôi một hệ thống tự sướng bằng thuật ngữ.
Kiểm định giá trị ở đây không phải là hỏi “có ra tiền ngay không”. Đó là kiểm định của đám kế toán tưởng mình hiểu tri thức. Kiểm định đúng hơn là hỏi: nó có mở hiểu biết không? Có tạo mô hình tốt hơn không? Có giúp ra chính sách tốt hơn không? Có giúp xã hội tránh ngu tập thể không? Có nối được con người với công nghệ không? Có giúp giáo dục tạo ra năng lực phản tư không? Có giúp AI hiểu biến dị hành vi không? Có giúp hệ thống nhận ra phần con và phần người trong xã hội không?
Nếu một nghiên cứu không thể trả lời những câu đó ngay, nó vẫn có thể có giá trị dài hạn. Nhưng nếu cả một hệ sinh thái sau nhiều năm vẫn chỉ trả lời bằng mấy lớp thuật ngữ tự xoay quanh nhau, thì vấn đề không còn là một paper dở. Vấn đề là một hệ thống đang tự bảo vệ mình bằng sương mù.
Học thuật không phải vô tội chỉ vì nó không cầm súng. Học thuật cũng có thể lãng phí. Cũng có thể tạo ra quyền lực giả. Cũng có thể tự phong. Cũng có thể biến người đọc thành kẻ ngoại đạo không đủ trình hiểu “thánh ngữ”. Cũng có thể dùng độ khó của câu chữ để che độ rỗng của cơ chế.
Một hệ thống tri thức tử tế phải có khả năng nói được với xã hội: tôi đang giúp anh hiểu gì, nhìn ra gì, tránh gì, thiết kế gì, kiểm định gì, mở khả năng gì. Không phải lúc nào cũng phải nói bằng ngôn ngữ đại chúng, nhưng phải có đường nối về thực tại.
Không có đường nối đó, tri thức thành khói. Và khói thì rất đẹp dưới ánh đèn hội thảo, nhưng khi ngân sách cháy, nó bay mất đầu tiên.

13. Bài học cho khoa học xã hội

Bài học cho khoa học xã hội không phải là “hãy ngoan hơn để được tài trợ”. Không. Nếu khoa học xã hội chỉ học cách ngoan hơn trước quyền lực, nó chết còn nhanh hơn.
Bài học là: quay lại mạch thật. Nghiên cứu xã hội như một hệ thống tạo hình con người. Nghiên cứu biến dị xã hội, biến dị nhận thức, phần con, phần người, phản tư, bản năng, safezone, ngôn ngữ, giáo dục, truyền thông, chính trị, công nghệ, bất bình đẳng, lao động, hành vi tập thể. Nối với dữ liệu. Nối với mô hình. Nối với thần kinh. Nối với tâm lý học phát triển. Nối với AI. Nối với chính sách công. Nối với giáo dục. Nối với nghệ thuật và ký hiệu. Nối với đời sống thật.
Đừng biến khoa học xã hội thành văn chương đạo đức có footnote. Đừng biến nó thành nơi sản xuất những bài đọc xong chỉ giúp tác giả có thêm citation trong một nhóm rất nhỏ cùng chơi trò đó. Đừng biến nó thành giáo phái chính trị mặc áo học thuật. Đừng biến nó thành trò gọi tên áp bức mà không chỉ ra cơ chế tái sản xuất áp bức. Đừng biến nó thành nghi thức đạo đức của đại học.
Khoa học xã hội tử tế phải đủ can đảm để nói những điều khó chịu với cả phe mình. Nó phải soi cả chính quyền, cả phản động, cả bò đỏ, cả dân chủ, cả tôn giáo, cả khoa học, cả giáo dục, cả thị trường, cả bản thân giới học thuật. Nếu nó chỉ chọn mục tiêu an toàn trong hệ đạo đức của nhóm mình, nó không phải khoa học xã hội. Nó là truyền giáo chính trị bằng ngôn ngữ học thuật.

14. Bài học cho STEM

Bài học cho STEM cũng không nhẹ hơn.
Đừng tưởng tạo ra công cụ mạnh là đủ. Công cụ không sống trong chân không. AI không sống trong paper. Thuật toán không sống trong benchmark. Công nghệ không sống trong slide gọi vốn. Chúng sống trong xã hội, trong hành vi người dùng, trong thị trường chú ý, trong giáo dục, trong truyền thông, trong luật, trong bất bình đẳng, trong nỗi sợ, trong ham muốn, trong bầy đàn, trong chính trị, trong sự mệt mỏi của con người.
STEM mà không hiểu xã hội sẽ tạo ra công cụ mạnh cho một loài mà nó không hiểu. Và khi công cụ ấy khuếch đại cái ngu, người làm STEM lại ngồi ngạc nhiên như thể lỗi thuộc về người dùng. Không. Nếu anh tạo công cụ cho con người mà không hiểu con người, đó cũng là lỗi thiết kế ở tầng hệ.
AI càng mạnh thì càng cần khoa học xã hội nghiêm túc. Không phải khoa học xã hội đạo đức giả kiểu viết vài dòng “ethics” vào cuối paper. Mà là khoa học xã hội hiểu hành vi, ngôn ngữ, thiên kiến, truyền thông, quyền lực, chính sách, giáo dục, biến dị nhận thức, điều kiện xã hội của việc dùng công cụ.
Không có cái đó, AI sẽ trở thành máy gia tốc cho phần con của xã hội. Nó sẽ làm con người phản xạ nhanh hơn, phẫn nộ nhanh hơn, bầy đàn nhanh hơn, tin giả nhanh hơn, tự sướng nhận thức nhanh hơn, và ngu có vẻ thông minh hơn.
STEM cần khoa học xã hội không phải để nghe giảng đạo đức. STEM cần khoa học xã hội để khỏi mù người.

15. Kết: Không có KHXH, STEM mù người. Không có STEM, KHXH mềm xương

Từ cú cắt NSF, câu chuyện không nên kết thúc bằng một câu hả hê rẻ tiền kiểu: “Đáng đời bọn khoa học xã hội.” Câu đó ngu. Cũng không nên kết thúc bằng một câu khóc lóc kiểu: “Khoa học đang bị tấn công, hãy bảo vệ tất cả.” Câu đó cũng thiếu kiểm định.
Kết luận đúng hơn là: đây là một cú kiểm định hệ thống.
Khoa học xã hội phải chứng minh nó không phải một đống diễn ngôn tự quay trong đại học. Nó phải quay lại nghiên cứu cơ chế thật: xã hội tạo ra con người thế nào, điều kiện nào tạo phần con, điều kiện nào mở phần người, biến dị xã hội tạo biến dị nhận thức ra sao, và làm sao thiết kế môi trường để con người phản tư hơn thay vì bầy đàn hơn.
STEM phải chứng minh nó không chỉ là kỹ thuật mạnh nhưng mù người. Nó phải hiểu rằng công cụ đặt vào xã hội sẽ bị xã hội dùng, bẻ, lạm dụng, hiểu sai, thần thánh hóa, thương mại hóa, chính trị hóa và biến thành một phần của cấu trúc hành vi tập thể. Không hiểu xã hội thì công cụ mạnh có thể thành máy khuếch đại ngu.
Hai bên không phải kẻ thù. Chúng là hai nửa của một câu hỏi: xã hội tạo ra con người thế nào, và con người dùng công cụ để tái tạo xã hội ra sao.
Cho nên, tôi ủng hộ khoa học xã hội. Nhưng tôi ủng hộ loại khoa học xã hội đủ sức nối với thần kinh, hành vi, ngôn ngữ, toán, ký hiệu, dữ liệu, AI, giáo dục, chính sách và đời sống thật. Tôi ủng hộ STEM. Nhưng tôi ủng hộ loại STEM đủ hiểu rằng thế giới không chỉ có máy móc, dữ liệu và mô hình, mà còn có con người với nỗi sợ, định danh, safezone, bản năng, bầy đàn, ngôn ngữ, quyền lực và cái ngu rất biết đội lốt chân lý.
Còn bọn nhân danh khoa học để dựng một cái chuồng thuật ngữ, nhận tài nguyên xã hội, quay vòng citation, thẩm mỹ hóa sự rỗng, rồi khi bị hỏi “xã hội được gì từ các anh?” thì bắt đầu giãy lên như giáo sĩ bị hỏi giấy phép của Chúa, thì cú tát này không oan.
Không oan chút nào.
Bởi tri thức thật không sợ bị hỏi giá trị.
Chỉ có tri thức rỗng mới sợ người khác bật đèn.