Trong thời gian gần đây, câu chuyện về bộ ba hoa hậu Hòa bình quốc tế Nguyễn Thúc Thùy Tiên – Hằng Du mục – Quang Linh Vlogs đang gây xôn xao cộng đồng mạng vì quảng cáo không đúng sự thật về loại kẹo rau củ ăn một viên bằng…một đĩa rau. Sau vụ việc này, hoa hậu Thùy Tiên đã chọn cách im lặng, Hằng Du mục và Quang Linh đứng ra xin lỗi, đồng thời Quang Linh cũng hứa sẽ quay trở lại châu Phi. Câu chuyện trên gợi ra cho ta nhiều suy nghĩ, đặc biệt đây cũng là một minh chứng rõ nét cho những ảnh hưởng về thời đại “hậu – sự thật” đối với con người hiện nay, cũng là lời nhắc nhở chúng ta về cách ứng xử trong thời đại mới. 
“Hậu – sự thật” (Post truth) là một khái niệm được phát triển bởi nhà triết học Friedrich Nietzsche từ thế kỷ 19. Thời đại “hậu sự thật” là khi những chân lý, khi tính xác thực của thông tin không còn được đề cao, coi trọng. Thay vì đi tìm cái thật, người ta lại tin vào những điều có khả năng lan tỏa cảm xúc, để rồi thực – ảo lẫn lộn, trắng – đen không phân minh. Sự thực trong xã hội hiện đại đã mất đi vị thế của nó. Vấn đề này nghiêm trọng tới nỗi năm 2016, từ điển Oxford đã chọn “Post-truth” là từ điển của năm trước hàng loạt sự kiện xảy ra, tiêu biểu như người dân Anh biểu tình rời khỏi EU (Brexit) vì tin rằng mỗi tuần họ mất 350 triệu bảng cho EU do lời đồn đoán sai lệch. Vậy đâu là nguyên nhân khởi phát cho tình trạng con người vội tin vào những điều đáng thuyết phục hơn là chân lý, và câu chuyện quảng cáo sai sự thật cho ta nhận ra bản chất gì về bi kịch mang tên “post-truth”?
Thứ nhất, chúng ta dễ dàng tin vào người khác vì thương hiệu cá nhân mà họ tạo dựng. Chúng ta khó có thể tin vào một người xa lạ chưa từng gặp gỡ bao giờ nhưng với những người nổi tiếng thì lại khác. Ta nhìn vào tiếng tăm của họ và tin rằng họ có sự nỗ lực, có năng lực để nổi tiếng. Ta nhìn vào vỏ bọc hào nhoáng của họ và cho rằng họ là người đáng để ta tin tưởng. Đặc biệt ở bộ ba Thùy Tiên – Hằng Du mục – Quang Linh Vlogs là những người vừa nổi tiếng lại vừa xây dựng những hình ảnh mộc mạc, đời thường tạo ra cho chúng ta cảm giác gần gũi tựa như người bạn, người anh chị trong nhà thì giá trị truyền thông họ tạo ra lại càng có sức thuyết phục hơn. Họ là những “người xa lạ gần gũi” (Richard Schickel), là hiện thân cho những khát vọng và ước muốn xa vợi của đám đông; vì thế mà ta dễ dàng trao gửi niềm tin cho họ, dễ dàng tin vào những sản phẩm họ bán, tin vào những lời quảng cáo họ rao và dễ dàng chọn mua sản phẩm của họ. 
Thứ hai, bộ ba người nổi tiếng trên có những câu chuyện rất hay để kể. Nếu chỉ có tiếng mà không có câu chuyện ấn tượng thì chẳng thể tạo sự hấp dẫn và ghi lại dấu ấn trong lòng công chúng. Con người chúng ta nói như Aristotle là loài động vật “chính trị” (tức là phải sống thành cộng đồng, thành liên bang). Chính vì phải liên kết với nhau để sống và phát triển mà con người cần có sự tin tưởng lẫn nhau để có thể hợp tác đồng hành. Và điều tạo nên một nền tảng mối quan hệ vững chắc không gì khác hơn là những câu chuyện, là sự chung đụng về tín ngưỡng, tôn giáo, hoàn cảnh. Những người theo đạo Phật có thể dễ dàng có thiện cảm với nhau dù họ chưa từng quen biết chỉ đơn giản là vì họ cùng chung tín ngưỡng. Hay những người theo Đạo Thiên Chúa cũng vậy. Trở lại với câu chuyện trên, ta thấy chính những câu chuyện cá nhân ở mỗi KOLS lại khiến ta bị thu hút và chọn mua hàng của họ. Bộ ba Thùy Tiên – Hằng Du mục và Quang Linh đều có những câu chuyện rất hay về bản thân mình: Thùy Tiên có câu chuyện về hành trình chinh phục vương miện hoa hậu Hòa Bình quốc tế; Hằng Du mục có câu chuyện về người phụ nữ độc lập, mạnh mẽ đứng dậy sau cuộc hôn nhân tan vỡ; Quang Linh Vlog có câu chuyện về hành động thiện nguyện đầy nhân ái tại Angola. Họ tuy không có bằng cấp hay làm việc trong ngành nghề liên quan tới y tế, sức khỏe nhưng đều mang những câu chuyện về khát vọng muôn thuở của con người  – những câu chuyện cảm động, dễ khai thác sự cảm mến và lòng tin của người khác. Bởi vậy chẳng cần “show” ra bằng cấp họ vẫn có thể cùng nhau hợp tác và bán chạy các mặt hàng. 
Cuối cùng, nhìn vào thời đại ngày nay, ta phải thấy rằng sự phát triển của khoa học công nghệ cũng khiến cho thời đại “hậu – sự thật” mang trong mình một diện mạo mới. Các ông trùm công nghệ và các công ty truyền thông đã đứng sau những người nổi tiếng làm cho tần suất hình ảnh họ xuất hiện trên màn hình nhỏ của chúng ta ngày càng nhiều hơn. Cộng thêm xu hướng cá nhân hóa tạo ra do thuật toán AI không ngừng đề xuất các thông tin đậm tính “drama” nên những người nổi tiếng như thế đã xuất hiện liên tục tạo cho ta cảm giác nhìn thấy họ như một “thói quen” bình thường mỗi ngày. Mà con người là sinh vật của thói quen và thói quen nhào nặn nên chúng ta hiện tại. Nhờ những thói quen tạo thành vòng lặp, ta mới ghi nhớ và khắc tạc một điều gì đó vào tâm trí, tạo ra quá trình “hồi hải mã” (hippocampus) – từ củng cố trí nhớ ngắn hạn đến trí nhớ dài hạn. Quá trình lưu giữ kí ức sẽ góp phần định hình nhận thức, tư duy và thế giới quan của con người. Theo thuyết Hebbian: “Chúng ta càng nhìn thấy thường xuyên, khả năng ghi nhớ càng cao”. Bởi thế khi tràn lan trên mạng là muôn vàn tin tức có mục đích định hướng, chúng ta sẽ rơi vào hiệu ứng thông tin sau lệch – trí nhớ ban đầu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác. Và rồi ta NHỚ rằng những người nổi tiếng kia thật sự đáng tin cậy để trao gửi tiền bạc và sức khỏe của mình cho họ, và rồi ta TIN mình lựa chọn hàng hóa của họ là đúng đắn. 
Hiểu nguyên nhân khiến chúng ta tin tưởng những người nổi tiếng và sản phẩm họ bán là một cách ta hiểu được những ảnh hưởng tiêu cực mà thời đại “hậu – sự thật” mang lại cho ta. Vậy hệ quả của sự tin tưởng mù quáng này là gì?
         Kéo theo sự lên ngôi của thời đại ấy là lúc văn minh con người đang đứng trước nhiều mối đe dọa. Không phải thứ vũ khí bạo lực hiển lộ rõ ràng, mà những điều không thành thật có thể phá hoại giá trị sống của chúng ta. Con người khi đứng trong cộng đồng thì mọi sự chất vấn tỉnh táo sẽ mất đi, thay vào đó, họ tin vào số đông, đánh mất chính kiến cá nhân của mình. Đó cũng là lúc con người tự đẩy mình vào cõi mù mờ, vô minh, dễ dàng thỏa hiệp. Điều ấy chẳng khác nào việc chúng ta bị mất đi tâm thế tự do, bởi những điều ta thấy khi đó chỉ là do thế lực xấu xa hoặc những kẻ đầy quyền lực thiếu thiện chí nắm quyền. Mất đi tiếng nói cá nhân, rồi ta sẽ trở thành những “chú cừu” rơi vào cạm bẫy, dễ dàng tuân theo cái xấu, cái ác. Đó đâu phải là giá trị sống của con người cần hướng đến? Còn nhớ trong đại dịch covid-19, hàng loạt người nổi tiếng đã chia sẻ thông tin sai sự thật về tình hình dịch bệnh, khiến chúng ta – những người đang lo lắng lại càng thêm hoang mang, sợ hãi. Cứ chạy theo độ lan tỏa nhất thời thì ta sẽ đánh mất chính mình !
         Sự đáng sợ của của những sự thật bị định hình còn có thể gây nên nhiều ảnh hưởng tiêu cực rõ ràng. Sẽ ra sao khi cộng đồng phớt lờ và quên đi những giá trị chân thật? Liệu cái đúng, liệu lẽ phải sẽ được lên tiếng? Đó là lúc sự thật sẽ thiếu người bênh vực và sẽ bị lãng quên. Đó cũng là lúc ta “dán nhãn” người khác theo quan điểm, ý kiến của mình không để họ được lên tiếng đính chính. Quên đi sự thật là lúc ta gián tiếp đẩy đồng loại của mình vào bi kịch thông qua những bàn phím, qua những màn hình. Hẳn chúng ta đều biết bức ảnh “Kền Kền chờ đợi”: bức ảnh một con kền kền đứng gần em bé đang đói, chờ em chết để xẻ thịt. Nhưng ta biết gì về người chụp ảnh đó? Khi cộng đồng mạng biết tin nhiếp ảnh gia ấy đã chờ tới 20 phút để có bức ảnh lúc anh đoạt giải Pulitzer, nhiều người đã chỉ trích đó là 20 phút vô nhân đạo vì trong 20 phút đó anh có thể cứu đứa trẻ kia. Sự chỉ trích lên tới đỉnh điểm khiến người thợ chụp ảnh bị trầm cảm và tự sát. Rồi sau này khi quay lại tìm hiểu, người ta mới nhận ra cạnh đó là cha mẹ của đứa bé, là trạm y tế đang cứu trợ đồ ăn. Giờ đây, ai mới thực sự là kền kền đoạt mạng? Là anh thợ ảnh hay là những kẻ chỉ tin vào những gì họ muốn tin? Thời đại hậu sự thật làm cho người ta thiếu đi sự kiên nhẫn, bao dung và trở nên vô tâm, tuyệt tình với chính đồng loại mình !
          Trước tình thế lâm nguy đó, có lẽ con người nên chọn cho mình một cách ứng xử thật phù hợp. Thực trạng là cái khó đổi thay, nhưng ta hoàn toàn có thể bắt đầu việc thay đổi khi xuất phát từ bản thân mình. “Hậu sự thật” bắt nguồn từ cách con người ta dễ cả tin, vậy giờ đây trước một thông tin, ta hãy chuẩn bị cho mình một “màng lọc thông tin” (Hà Nhân). Nói cách khác, trước khi tin vào sự thật nào, con người cũng phải có tư duy phản biện, có tinh thần hoài nghi và biết đặt câu hỏi: Liệu sự thực đã được kiểm chứng? Liệu điều ta tin có ảnh hưởng tiêu cực gì hay không? Hoài nghi chính là nền tảng để tìm ra chân lý. Galile phải hoài nghi mới nhận ra “trái đất quay quanh mặt trời”, C.Jung phải hoài nghi về chân lý của người thầy S.Freud thì mới khám phá ra “vô thức tập thể” của con người.
           Hoài nghi chưa đủ, tôi nghĩ chúng ta, nhất là những người có tiếng nói, có độ lan tỏa trên mạng xã hội còn phải có thêm sự bền bỉ, dũng cảm để đấu tranh cho lẽ phải ! Chân lý là thứ hiếm người muốn tin, nó có ít người bênh vực và bảo vệ. Vì thế, ngay cả khi sự thật bị quên lãng, con người bằng giá trị đạo đức của mình cũng phải biết lưu giữ ký ức. Nếu Phương Phương trong những năm Covid hoành hành tại Vũ Hán không dũng cảm nói lên sự thật bi thương qua “Nhật ký Vũ Hán” (một sự thật lan truyền qua không gian mạng) thì liệu mấy ai còn nhớ và nhắc nhở bản thân về quá khứ ám ảnh đó? Kiên trì bảo vệ cái thật, dù ta không thể đấu tranh cho chân lý hay lan tỏa được đến người khác, thì ít nhất, ta cũng không trở thành những “chú cừu” trong cạm bẫy “post-truth” đáng sợ.
          Đi tìm sự thật, đi tìm chân lý không phải là câu chuyện nóng hổi mà ngày nay mới có. Thực tế, xưa kia dân tộc Việt Nam cũng có câu “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” để nhắc nhở ta phải có sự kiểm chứng trước khi đưa ra phán quyết. Dân tộc Việt Nam ý thức rất rõ về đạo lý này, nhưng thử nhìn xung quanh cuộc sống liệu mấy ai có thể làm được? Con người sống ỷ lại, phụ thuộc vào đám đông, sống theo cảm xúc mà quên đi lý trí tỉnh táo, để rồi tin vào những điều sai lệch, giả dối, ảnh hưởng đến chính bản thân và cộng đồng. Hóa ra, thời đại hậu sự thật không đáng sợ, đáng sợ là khi con người không đủ tỉnh táo để “ứng xử” với nó.