Tác giả: George Santayana
Nguồn: Wanderer above the Sea of Fog, Caspar David Friedrich's 1818
Nguồn: Wanderer above the Sea of Fog, Caspar David Friedrich's 1818
Tội lỗi vẫn là tội lỗi, dù cho nó có nguồn gốc từ đâu, và bất hạnh vẫn là bất hạnh chừng nào linh hồn nguyên sơ vẫn còn khuấy động bên trong lớp vỏ của phong tục, bị dày vò bởi luân thường đạo lý vốn được cho là sẽ cứu rỗi nó
Đã có ai từng bàn luận về triết học về du hành(travel)? Có lẽ nó đáng để bỏ ra chút thì giờ đấy. Cuộc sống có là gì nếu chẳng phải là một hình thức của chuyển động và là một hành trình xuyên qua một thế giới xa lạ? Hơn thế nữa, khả năng chuyển động – đặc quyền của mọi động vật – có lẽ là chìa khóa dẫn đến trí tuệ. Rễ của thực vật(như Aristotle từng nói chính là miệng của chúng) gắn chặt chúng với mặt đất tới chết, và chúng bị kết án như đám đĩa hút tất cả mọi thứ dưỡng chất chảy đến “miệng”, vào một vị trí nhất định mà chúng bị mắc kẹt. Gần đó, có thể sẽ có một vùng đất dồi dào dưỡng chất hơn, nơi có thể che chở chúng tốt hơn, đón nhận nhiều ánh nắng hơn; nhưng chúng không thể di cư, hay thậm chí chúng chẳng có đôi mắt hay trí tưởng tượng để hình dung ra vùng đất lân cận đáng mơ ước mà cơ may của chúng đã bị tước đoạt. Điều tốt nhất là những hạt giống của nó rồi sẽ được mang đi theo cơn gió tới những vùng đất tươi tốt hơn, hoặc bởi một vài loài côn trùng chim chóc vô tình mang đi trong khi đang bận bịu làm những sự vụ của riêng chúng: thực vật chỉ di cư khi héo úa và chết đi ở vùng đất này và bén rễ ở một vùng đất khác. Đối với mỗi cá thể thực vật, nó là vấn đề sống còn, liệu rằng chúng có thực sự đang sống hay không. Kể cả khi các chi của chúng khó có thể chuyển động, trừ khi được gió tác động. Chúng hướng mình vô cùng chậm rãi về phía ánh sáng, vươn mình dài ra và vặn vẹo bản thân mà không thay đổi nơi chốn. Có lẽ linh hồn đang ngủ của chúng chỉ nhạy cảm với những biến đổi hữu cơ, với ảnh hưởng lan tỏa của nhiệt độ và sự ẩm ướt, với áp lực không thể thấy được của quá trình nảy chồi và bùng nổ ở đây, hoặc sự xa hoa của quá trình nở hoa, tắm nắng và đung đưa dưới ánh sáng ở đó. Chúng chịu đựng trong thời gian và mở rộng trong không gian một cách mơ hồ, mà không thể phân biệt hay tập trung những tác động mà chúng phải gánh chịu; không có cơ hội nào để nhận thấy bất cứ điều gì ngoài cơ thể của chính mình, ngoại trừ việc đồng nhất mình với vũ trụ, giống như những kẻ ái kỷ ngây thơ đồng nhất với chính bản thể của mình. Nếu chúng bị ép vào một tư thế mới, vốn có thể mang lại lợi ích lâu dài cho chunsg, họ sẽ trở lại tư thế vuông góc khi lực tác động giảm đi; hoặc nếu áp lực vẫn đè nặng, chúng có thể sẽ vẫn giữ nguyên tư thế hơi cong một chút, như thể bị một kẻ bạo chúa bắt phải chịu đứng tư thế ngả nghiêng suốt đời. Thông thường, tất cả các cây trong cùng một hàng đều nghiêng về phía khuất gió, giống như hàng lính cứng đờ như hóa đá khi hành quân, hay như một hàng dài tượng vô hồn chỉ vào hư không; và có lẽ sự cong queo của chúng có thể chứng tỏ chúng đáng thương, và giúp chúng thoải mái hơn khi vượt qua giông bão, quên đi sự hoàn hảo. Nếu không phải là những chồi non vẫn có xu hướng mọc thẳng, tôi gần như tin rằng chính sự biến dạng đã trở thành lí tưởng đích thực của chúng và không còn là sự biến dạng nữa mà là thuộc tính. Chắc chắn rằng trong nhân loại, khi mà thói hư tật xấu trở thành bản chất, chúng hô biến bản thân thành những đức hạnh trần tục; chúng được lòng kiêu hãnh và truyền thống thừa nhận, được gọi là “phong sương”(picturesque), “cứng cỏi” và “can trường”. Thế nhưng khi nhìn rộng ra, khi xét đến nguồn gốc bị áp đặt của chúng, chúng dường như vẫn xấu xí và buồn thảm. Tội lỗi vẫn là tội lỗi, dù cho nó có nguồn gốc từ đâu, và bất hạnh vẫn là bất hạnh chừng nào linh hồn nguyên sơ vẫn còn khuấy động bên trong lớp vỏ của phong tục, bị dày vò bởi luân thường đạo lý vốn được cho là sẽ cứu rỗi nó.
Sự chuyển đổi từ giới thực vật sang giới động vật là một cuộc cách mạng triệt để nhất; nó thực sự đảo ngược tất cả mọi thứ. Những cành trên, cong xuống và chạm đất, trở thành ngón tay và ngón chân; còn những rễ cây thì bị kéo ngược lên trên, tụ lại thành một cái miệng, với lưỡi và lỗ mũi thò ra ngoài để tìm thức ăn; do đó, ngoài hai phương hướng “trên–và–dưới” và “trong–ngoài” vốn có ở cây, con vật giờ đây còn thiết lập thêm một phương hướng “trước–và–sau” — một sự phân biệt chỉ có thể có nơi kẻ du hành; bởi vì sinh thể ấy giờ đây ở trong chuyển động vĩnh cửu, lần theo chính chiếc mũi của mình, mà chiếc mũi ấy lại được dẫn dắt và quyến rũ bởi muôn mùi hương và linh cảm từ xa vọng đến. Trong khi đó, các cơ quan sinh sản, vốn là những bông hoa, từng phơi mình trong ánh nắng, rộng mở trong vẻ ngây thơ khoái lạc, giờ đây bị giấu kín ở phần sau thân thể, sao cho người ta thấy và nghĩ đến chúng càng ít càng tốt. Sự ô nhục ấy đè nặng lên chúng, khiến chúng đầy uất hận, âm ỉ những mưu toan và cuộc nổi loạn khủng khiếp. Thế nhưng, sự bất an ấy lại trở thành một động lực mới cho chuyển động, có lẽ là động lực mạnh mẽ và dai dẳng nhất trong tất cả: nó ban cho những kẻ xa lạ một vẻ đẹp lạ lùng, và khiến những nơi chốn, những thời gian xa xôi mang một sức quyến rũ khôn tả. Thực vật thì không có những khả năng như thế; chúng chẳng cơ may làm quen với người khác, không thể yêu đương, và tôi cũng không chắc rằng trong cái vẻ bề ngoài bình thản của chúng, chúng thực sự hạnh phúc hơn. Có điều gì đó đờ đẫn trong vẻ đẹp của hoa, và sầu muộn trong cái vẻ dâm đãng của chúng; chúng không khát khao, không theo đuổi, mà chỉ chờ đợi mãi trong một kỳ vọng kéo dài về một điều gì đó mà chúng chẳng hề biết; chúng phô bày bản thân theo mệnh lệnh tự nhiên như một đứa trẻ được chưng diện trong ngày lễ, vừa tự hào mơ hồ, vừa bối rối mơ hồ, vừa thất vọng mơ hồ. Những ngọn gió là kẻ tán tỉnh nóng nảy, và một cơn mưa bụi vàng thật là một cái ôm nghèo nàn. Chúng tàn úa, vẫn nghĩ rằng mình còn trinh nguyên; chúng rụng rời cánh hoa trong nỗi buồn, co rúm lại như những nữ tu già trong thân cành khô; có một vị cay đắng trong cái ngọt ngào tuổi xế chiều của chúng: chúng tin rằng mình đã đánh mất một điều gì, và giả vờ khinh bỉ nó. Thế nhưng chúng đã lầm; chúng đã hoàn toàn hoàn tất chức năng của mình: chúng đã là những bà ngoại mà không hề hay biết. Chúng đã thành hôn từ rất lâu rồi, chỉ với một ý thức mờ nhạt rằng mình có mặt trong chính lễ cưới của mình; chúng đã sinh con một cách tự nhiên, không đau đớn, ở một nơi khác; chúng đã vô tình mà diễu hành, che mạng và được tôn vinh như những người mẹ, trong kiệu rước của thời gian.
Toàn bộ quang cảnh khi thay đổi theo vị trí đổi thay của kẻ lữ hành bỗng bộc lộ cho y thấy sự tồn tại riêng biệt của chính mình cùng với giới hạn bất biến của nó, đồng thời hiển lộ sự phân biệt (mà toàn bộ minh triết đều nằm gọn trong đó) giữa cách sự vật hiện ra và cách chúng thực sự là.
Ở động vật, năng lực chuyển động đã biến đổi toàn bộ kinh nghiệm nhợt nhạt ấy thành một đời sống của đam mê; và chính trên nền tảng của đam mê mà trí tuệ được ghép vào, điều mà chúng ta, những triết gia xanh xao, thường hay quên. Trí tuệ là một hành trình mạo hiểm không thể tưởng tượng nổi và lại còn vô cùng thành công; nó là một nỗ lực và là một nỗ lực chiến thắng để hiện diện ở hai nơi cùng một lúc. Cảm năng đối với những vật ở xa, dù cho có tồn tại, vẫn là vô ích và vô nghĩa, cho đến khi có những cơ quan có thể giúp tránh hoặc đuổi theo các vật ấy trước khi chúng được hấp thụ vào trong cơ thể; cho nên chính khả năng du hành đã ban cho những hình ảnh trong đôi mắt và trong trí óc một ý nghĩa còn nếu không, chúng chỉ là những cảm giác đơn thuần, một trạng thái tẻ nhạt của bản thân. Bằng cách dụ dỗ con vật chuyển động, những hình ảnh ấy trở thành dấu hiệu cho một điều gì ở ngoài kia, một điều gì có thể chiếm lấy và tận hưởng được(ND: có thể liên tưởng tới cụm từ Latin: carpe diem, seize the day). Chúng mài sắc sự chú ý của nó, khiến nó tưởng tượng ra những khía cạnh khác mà cùng một vật có thể đem lại; do đó, thay vì nói rằng chính nhờ sở hữu đôi tay đã ban cho con người sự vượt trội, thì ta nên nói sâu hơn rằng: con người, cũng như mọi động vật khác, đều mắc nợ trí tuệ của mình với đôi chân. Không có gì lạ khi triết học du hành/tiêu dao (peripatetic, từ này có nguồn gốc từ cách giảng dạy vừa đi bộ vừa đàm luận triết học của Aristotle) lại là triết học tốt nhất. Suy nghĩ trong khi ngồi, hay trong khi quỳ với đôi mắt nhắm hoặc đờ đẫn nhìn vào hư không, thì tâm trí sa vào giấc mơ; hình ảnh của những vật xa xăm, hỗn độn tan chảy trong làn sương ký ức, nơi sự kiện và tưởng tượng hòa trộn hầu như không thể phân biệt. Và khi ấy, ta trở lại với trạng thái thực vật, mênh mang mà bất lực. Trái lại, suy nghĩ trong khi đi khiến ta tỉnh táo; tư tưởng của ta, dù đang theo đuổi một lối mòn duy nhất giữa mê cung, vẫn lần lượt đi qua những vật thật trong trật tự thật của chúng; ta hứng khởi với sự khám phá, sẵn sàng đón chào cái mới, bật cười trước mọi bất ngờ nhỏ bé, dù đó là một nỗi bất hạnh; ta cẩn trọng chọn con đường đúng, và nếu đi lạc, ta lo lắng nhưng có thể tự sửa sai. Trong khi đó, hơi men của tiêu hóa được xua tan bởi không khí trong lành; đầu óc trở nên sáng sủa và ngẩng cao, để có thể quan sát toàn cảnh; sự chú ý được kích thích bởi những vật thể mới lạ liên tục xuất hiện; hàng ngàn giả thuyết ùa ra nghênh đón chúng trong một cuộc đua thân thiện, mà kết quả sẽ nhanh chóng phân định không thể lầm lẫn; và toàn bộ quang cảnh khi thay đổi theo vị trí đổi thay của kẻ lữ hành bỗng bộc lộ cho y thấy sự tồn tại riêng biệt của chính mình cùng với giới hạn bất biến của nó, đồng thời hiển lộ sự phân biệt (mà toàn bộ minh triết đều nằm gọn trong đó) giữa cách sự vật hiện ra và cách chúng thực sự là.
Một nhà duy tự nhiên đồng thời là một thi sĩ có thể mô tả những chuyến đi mùa hè và mùa đông của muôn loài — giun, bò sát, cá, chim, côn trùng, và thú bốn chân — kể cho chúng ta nghe về những điều khác nhau mà chúng du hành để nhìn hoặc ngửi thấy, và cách thức khác nhau mà chúng dùng để nhìn và ngửi thấy thế giới. Một nhà đạo đức học đơn thuần thì bị bó hẹp hơn trong lòng cảm thông của mình, và chỉ có thể tưởng tượng được trong kinh nghiệm của con người. Thế nhưng, một khi sinh vật hai chân đã học được cách đứng vững trên đôi chân sau, thì tâm trí con người, linh hoạt hơn dù kém vững vàng hơn so với chiếc máy ảnh đặt trên chân đế, có thể được mang theo nhanh nhẹn đến bất kỳ đỉnh cao hay tháp quan sát (Aussichtsthurm) nào; và nếu khung cảnh trông không đẹp mắt, nó có thể nhanh chóng trượt xuống và đổi lấy một môi trường ngẫu nhiên khác có thể tốt hơn. Không chỉ có đôi mắt được dùng để ngắm nhìn toàn cảnh, và chọn ra một đặc điểm nổi bật hay đỉnh đồi làm điểm kết thúc của cuộc hành trình. Đôi mắt hiểu rất rõ rằng nó chỉ là một kẻ trinh sát, một thứ thay thế trang trọng hơn cho cái mũi; và hầu hết những khoái cảm mà nó tìm thấy chỉ là khoái cảm gián tiếp, một lời hứa hẹn cho những thỏa mãn khác, giống như mùi của con mồi. Tìm kiếm “cái đẹp ngoạn mục, đẹp như tranh vẽ” (the picturesque) là động cơ cuối cùng và nhàn rỗi nhất của du hành(ở đây ta có thể tạm gọi hình thức cái đẹp thẩm mỹ này là du ngoạn). Thông thường, các tộc người di chuyển vì những sứ mệnh cấp bách hơn và trong một tình cảnh khốn cùng nào đó.
Hình thức du hành cực đoan và bi thảm nhất gọi tên di cư. Khi nhìn lại nơi mình sinh ra, linh hồn có thể rùng mình lùi lại: nàng có thể thấy nó hoang vu, đe dọa, hay xấu xí. Chính sự ghê tởm của khung cảnh ấy có thể buộc nàng phải hình dùng ra một điều trái ngược, một phản thể, một lý tưởng: nàng sẽ mơ về El Dorado và Thời Kỳ Vàng Son; và thà rằng chạy trốn đến một nơi chưa từng biết đến, còn hơn chịu đựng những khổ đau hiện tại. Hy vọng ấy không nhất thiết là dối trá; Trong cuộc du hành, cũng như trong việc sinh ra, niềm hứng khởi có thể lấn át sự khó chịu của việc thấy mình trong một môi trường xa lạ; cô đơn và tự do giữa thế giới rộng lớn có thể đem lại sự kích thích nhiều hơn là sự lạnh lẽo. Tuy nhiên, di cư cũng như sinh ra là một hành vi anh hùng: linh hồn ký gửi sự an toàn của mình cho một tấm ngân phiếu trắng. Một động vật xã hội như con người không thể đổi chỗ ở mà không đổi bạn bè, cũng không thể đổi bạn bè mà không đổi phong tục và tư duy. Dấu hiệu tức thì của tất cả những điều ấy, khi người ta bước vào một xứ sở xa lạ, là ngôn ngữ xa lạ vang lên quanh mình, thứ ngôn ngữ mà họ có lẽ sẽ chẳng bao giờ nói được một cách tự nhiên hay đúng mực. Con người lưu vong, nếu muốn hạnh phúc, phải được tái sinh: phải thay đổi khí hậu đạo đức và cảnh quan nội tâm của chính mình. Trong cuộc di cư vĩ đại nhất thời đại chúng ta, cuộc di cư của người châu Âu sang châu Mỹ, thông qua quan sát, tôi biết rằng điều ấy có thể diễn ra rất dễ dàng, ít nhất là ở thế hệ thứ hai. Và một hoàn cảnh khiến sự chuyển đổi đó trở nên dễ dàng chính là: không cần có một cuộc hoán cải trực tiếp về tâm trí hay tình cảm, thậm chí không cần thay đổi ngôn ngữ, mà chỉ là một sự thay thế dần dà của thói quen cũ bằng thói quen mới, vì thói quen mới kinh tế hơn, và chẳng bao lâu trở nên thuận tiện hơn. Sự thích nghi đó, như mọi thích nghi sáng tạo khác của tự nhiên, bị áp đặt từ bên ngoài: bởi những sắp đặt vật chất bắt buộc, bởi sự cuốn hút hằng ngày trong những hình thức sinh hoạt và quản trị thịnh hành; và thế mà nó lại dường như phát sinh từ nội tâm. Các thói quen cũ vì thế có thể được trút bỏ mau chóng, không chút tiếc nuối. Những người khai hoang, di chuyển thành từng nhóm lớn đến những vùng đất mà họ thấy trống vắng hoặc đã quét sạch cư dân cũ, có lợi thế hơn những kẻ nhập cư lẻ loi đang len lỏi vào một xã hội xa lạ: sự biến đổi của họ có thể sâu sắc và hăng hái hơn, vì nó tuân theo những xung động chân thực của họ được tự do vận hành trong một môi trường vật chất mới, và không bị pha tạp bởi những truyền thống không tương thích. Châu Mỹ là một thuộc địa khổng lồ, và vẫn còn mang dáng dấp ấy đối với những ai di cư vào đó ngay cả ở những vùng phồn thịnh như Hoa Kỳ hay Argentina, nơi đã có hiến pháp và phong tục lâu đời. Người mới đến dễ dàng cảm thấy mình ở nhà: họ vui vẻ thích nghi với môi trường vật chất, rồi từ nền tảng vững chắc ấy dựng lên một môi trường đạo đức riêng, phớt lờ thậm chí lên án tôn giáo và văn hóa của những người Mỹ lớn tuổi. Có lẽ chính những người Mỹ lớn tuổi lại dễ hòa vào tinh thần của những người mới hơn là ngược lại. Tôi không có ý nói rằng những yếu tố Đức, Ý, Do Thái hay Ireland được hòa nhập vào truyền thống Mỹ; trái lại, những người nhập cư gần đây nhanh hơn nhiều — nhanh hơn cả những người Anh khai phá thuở đầu — trong việc trút bỏ mọi ký ức và bắt đầu lại từ đầu, như Adam trong địa đàng; và chính vì thế mà họ hiện ra trần trụi như những người Mỹ trần trụi, những con người được thích ứng rõ rệt và hoàn toàn với điều kiện vật chất hiện đại của thế giới. Theo nghĩa đó, chủ nghĩa Mỹ của họ vang dội và táo bạo hơn cả người Yankee xưa hay dân miền Nam cũ — với những người mà thế giới hiện đại có lẽ chỉ là một thứ ồn ào và thiếu nguyên tắc.
So với những người di dân, nhà thám hiểm(explorer) là nhà lữ hành vĩ đại hơn cả; những chuyến du hành của ông ít hệ trọng hơn nhưng táo bạo và kéo dài hơn. Ý tưởng di cư cũng thường tiềm ẩn trong tâm trí ông: nếu ông hiếu kỳ muốn khám phá những vùng đất mới và mô tả chúng, thì một phần cũng vì ông sẽ chẳng lấy làm tiếc nếu có thể chiếm hữu chúng. Nhưng kẻ chinh phục tiềm tàng nơi ông thường bị chế ngự, biến thành một nhà phiêu lưu(adventurer) vô tư và một nhà quan sát khoa học. Ông có thể trở thành một nhà lãng du(wanderer). Nhà thám hiểm hay nhà duy tự nhiên chân chính ra đi vì lợi ích của quê nhà; trái tim ông chưa từng bị bật rễ; ông ra đi như một người lính để kiếm sống, để tự vệ, để cướp bóc, hoặc để có không gian cho riêng mình. Dù phần thưởng được mong đợi là của cải hay tri thức, nó đều nhằm làm phong phú thêm tài sản quê hương, hoàn thiện điều vốn đã thân thương: ông là sứ giả của khoa học quê nhà hoặc chính trị quê nhà. Trái lại, kẻ lãng du thì lang thang buông thả, vô tích sự một cách ngây ngô, hoặc bị thôi thúc bởi một ham muốn bức bối u uất nào đó; nếu y có khám phá ra điều gì, thì đó cũng chỉ là may rủi, do sự bồn chồn bất định và mò mẫm trong ao nước đục mà thôi. Kẻ lãng du cố hữu là một người bị mê hoặc, cố gắng như “Người Hà Lan bay” để trốn chạy chính mình: bản năng của hắn là thu mình lại trong một góc an toàn không ai thấy, rồi sáng hôm sau lại lần mò ra đi, vô mục đích và vô dụng. Hắn là một kẻ bị ruồng bỏ tự nguyện, một gã du mục lang thang. Việc không thể thích nghi khiến hắn rời bỏ xã hội có thể không phải lỗi của hắn: nó có thể do bầu không khí ngột ngạt của mái nhà, sự lạnh lẽo ở đó, hay nỗi đau không chịu nổi của những bất hòa lặp đi lặp lại, trong khi nốt hòa âm đúng chưa bao giờ vang lên. Hoặc nó có thể biểu hiện một đặc tính lập dị chẳng đáng bận tâm chút nào — một bản năng hoang dại thừa kế từ tổ tiên, hay đơn giản chỉ là nhu cầu duỗi chân, hay một xung động trẻ trung muốn làm điều gì khó và mới. Người leo núi, nhà thám hiểm vùng Bắc Cực, kẻ say mê săn bắn hay người lái du thuyền — họ chọn cuộc chơi ấy có lẽ vì nhiều lý do lẫn lộn: vì họ yêu thiên nhiên; vì chẳng có việc gì làm, họ cần vận động và phải làm một điều gì đó; hoặc vì tập quán, hư danh, hay ganh đua đã khiến họ theo đuổi như thế. Nhưng lý do chủ yếu, nếu họ là những kẻ lữ hành đích thực, đi chỉ vì chính việc đi, là vì thế giới này đã bám víu lấy chúng ta quá nhiều, và chúng ta cũng đã không buông tha cho chính mình. Đôi khi, ta cần trốn đến những nơi cô tịch rộng mở, vào sự vô định, vào một kỳ nghỉ đạo đức của việc liều lĩnh thuần túy — để mài bén khía cạnh của cuộc sống, để nếm trải gian khổ của thế gian, và để bị buộc phải làm việc hết mình trong chốc lát, bất kể là việc gì.
Theo sau nhà thám hiểm, thường có một kiểu người du hành khác nối gót — kiểu chính đáng nhất, bền bỉ và bình thường nhất trong mọi kiểu: tôi muốn nói đến thương nhân(merchant). Ngày nay, một thương nhân có thể ngồi suốt đời sau chiếc bàn trong thành phố quê hương của mình, chẳng bao giờ tham gia một đoàn lữ hành, cũng chẳng liều mình giữa sóng nước; anh ta thậm chí có thể chẳng bao giờ bước xuống cửa hàng, hay ra tận mạn tàu để xem xét hay bán món hàng của mình. Điều đó thật đáng tiếc — nó lấy đi một nửa tính người và toàn bộ chất thơ khỏi nghề buôn. Nếu thương nhân có thể sống tĩnh tại, thì chí ít cũng nên sống trong những dinh thự cổ ở Amsterdam, nơi những con tàu theo kênh rạch cập bến ngay trước cửa nhà chủ, và những kiện hàng được kéo lên các gác lửng cao bằng ròng rọc thò ra khỏi mái hiên như một tượng đầu quỷ kỳ lạ. Ở đó, trong cùng một mái nhà vừa chứa của cải vừa đón khách, con người ta có thể tận hưởng tiện nghi và niềm vui đầm ấm của đời sống gia đình. Nhưng nếu thương nhân thời nay không chịu đi xa, thì phải có người khác đi thay anh ta. Tôi biết, kẻ gọi là “nhà du hành thương mại” là một hạng người thô tục — hắn ăn uống quá độ, ưa thích những câu chuyện hài dung tục; cũng như chủ mình, hắn đã bị tước mất phẩm giá tự nhiên và toàn vẹn nghệ thuật của nghề buôn bởi sự phân công lao động, bởi điện tín, và bởi cái đồng dạng của những quốc gia và tâm trí hiện đại. Tuy vậy, tôi vẫn có cảm tình với hắn; và trong những quán trọ tỉnh lẻ nơi hắn là linh hồn của cuộc vui, tôi từng thấy hắn đầy ắp hiểu biết thú vị — đúng như một người du hành nên có. Song thương nghiệp cũng có những người đi biển, những kỹ sư, những người khảo sát, thợ săn và kẻ đặt bẫy — tất cả đều là những kẻ du hành không biết mệt, những người hiểu biết mặt đất. Cha mẹ tôi thuộc tầng lớp viên chức thuộc địa, nên “Trung Hoa” và “Manila”, tuy tôi chưa bao giờ đặt chân tới, đã là những tên gọi và hình ảnh thân thuộc trong tuổi thơ tôi. Và tôi chẳng thể nào đánh mất cái cảm giác về những khoảng cách khổng lồ trên quả địa cầu đầy nước này — về những dân tộc xa lạ mà hiền hòa, những khí hậu đối lập, những cách sống và nghĩ trái ngược nhau, tất cả đều nhân loại, đều chính đáng. Trong những cuộc du ngoạn của riêng mình, tôi bị lôi cuốn không phải bởi kỳ quan địa lý mà bởi những di tích lãng mạn và chiều sâu của lịch sử. Thế nhưng, có gì quyến rũ hơn các hải cảng, những con tàu, và ý nghĩ về những chuyến đi đến-đi không ngừng nghỉ, nhờ đó mà nhu cầu hằng ngày của ta được đáp ứng? Những vật tầm thường nhất, những con người và sự việc phổ thông nhất — khi được nhìn như một bức toàn cảnh của những chuyển động có trật tự, của những hành trình miên viễn suốt đêm ngày, qua trăm cơn bão, ngàn cây cầu và hầm ngầm — đều mang một vẻ hùng tráng sử thi; và cỗ máy vận hành linh hoạt đến nỗi dường như nó sống. Nó mang một sức cuốn hút, đối với tôi là bất tận — sức cuốn hút của mũi tàu rẽ nước, của bánh xe quay tròn, của những hành tinh lên xuống trên bầu trời: những vật tự thân không có sự sống, nhưng thân thiện với sự sống, hứa hẹn cho ta sự an toàn trong chuyển động, quyền năng trong nghệ thuật, và cái mới mẻ ngay trong tính tất yếu.
Kiểu du hành mới nhất, và tai tiếng nhất, chính là du lịch(tourism). Bởi vì tôi cũng đã từng là một người như thế nhiều lần, nên tôi sẽ không ném đá vào y đâu; từ kẻ rong chơi trong kỳ nghỉ cho đến người hành hương khát khao chân lý hay cái đẹp, tất cả đều được vị thần Hermes — vị thần của du hành, đồng thời là thần bảo hộ cho tính tò mò thân thiện và tâm trí tự do — yêu quý. Có một sự khôn ngoan trong việc chuyển mình càng thường xuyên càng tốt từ cái quen thuộc sang cái xa lạ: nó khiến tâm trí trở nên linh hoạt, giết chết thành kiến, và nuôi dưỡng óc hài hước. Tôi không nghĩ rằng tính phù phiếm, sự tán loạn của tâm trí, nỗi chán ghét quê hương, hay thói bắt chước phong cách và nghệ thuật ngoại quốc là những căn bệnh nghiêm trọng; chúng giết người, nhưng không giết ai đáng để cứu. Thỉnh thoảng, trong đó có thể thấp thoáng một tiếng thở dài tiếc nuối cho điều không thể có, một chút tôn kính đáng thương dành cho lý tưởng mà ta bị kết án không bao giờ đạt tới; nhưng nhìn chung, những hiện tượng ấy không phải sinh ra vì người ta quá quen với cái xa lạ, mà là vì người ta biết quá ít về nó. Điều cuối cùng mà một người thực sự nếm được vị ngon của một vật, và hiểu được cội rễ của nó, muốn làm — chính là phổ quát hóa hay đem nó đi cấy ghép nơi khác. Và càng thấm nhuần nhiều nghệ thuật và phong cách của các xứ khác, một người du hành giỏi sẽ càng thấy sâu sắc và thú vị hơn trong nghệ thuật và phong cách của chính quê hương mình. Ulysses vẫn nhớ Ithaca. Với một trái tim thanh thản và một tâm trí sáng suốt, ông có thể thừa nhận rằng thành Troy vô song về sự hùng vĩ, Phaeacia quyến rũ về duyên dáng, và Calypso mê hoặc về ma lực; nhưng điều đó không khiến tiếng sóng vỗ trên bờ quê hương trở nên kém êm tai hơn đối với ông — trái lại, nó chỉ khiến sự chọn lựa cái vốn tự nhiên là của mình trở nên sáng suốt và dứt khoát hơn. Trái tim con người là địa phương và hữu hạn; nó có rễ. Và nếu trí tuệ tỏa ra từ nó — tùy theo sức mạnh của mình — đến những khoảng cách ngày càng xa, thì mọi tin tức, mọi kinh nghiệm thu nhận được, nếu muốn gom lại được, đều phải được gom về trung tâm ấy. Một người hiểu thế giới thì không còn ham muốn chiếm hữu thế giới; và nếu anh ta không hài lòng với phần số của mình trong đó (mà phần số ấy, rốt cuộc, đã bao gồm cả tri thức cứu rỗi ấy rồi), thì anh ta đã không còn chút tôn trọng nào dành cho những vẻ hoàn hảo xa lạ mà anh ta tuyên bố là ngưỡng mộ. Bởi lẽ, mọi vẻ đẹp ấy đều mang tính địa phương, đều hữu hạn, đều chỉ là chính chúng trong khoảnh khắc và hình dạng riêng biệt của mình; và nếu sự giới hạn và tính tùy tiện ấy đã là đẹp ở nơi kia, thì anh ta chỉ cần đào sâu vào nguyên lý sống của chính mình, gột bỏ mọi mơ hồ và do dự, là cũng có thể đưa nó tới chỗ biểu hiện hoàn hảo theo cách riêng của nó. Và rồi, những người du hành khôn ngoan cũng sẽ tìm đến thành phố của anh ta, và ngợi ca tên tuổi của nó.