Có một cụm từ nghe rất quen trong đời sống hằng ngày: “cái tôi cao”. Người ta dùng nó rất dễ dãi. Ai không chịu nhận sai thì bảo cái tôi cao. Ai tự ái thì bảo cái tôi cao. Ai cãi lại thì bảo cái tôi cao. Ai không chịu nghe góp ý thì bảo cái tôi cao. Ai kiêu ngạo, khó gần, khó sửa, khó đối thoại, cũng bị ném vào một câu: cái tôi cao quá.
Nhưng nếu dừng lại nhìn kỹ, cụm từ này có vấn đề rất lớn. Nó nghe như đang nói một điều có vẻ sâu, nhưng thật ra lại biến một cấu trúc phức tạp của con người thành một cây thước dựng đứng. Cao hoặc thấp. Nâng lên hoặc hạ xuống. Như thể “cái tôi” là một cái cột, và vấn đề của con người là cái cột đó đang dựng quá cao nên cần đập cho nó thấp xuống.
Cái tôi không vận hành như vậy.
Cái tôi không có chiều cao. Nó không phải cái cột. Nó là một cấu trúc định vị, tự vệ, phản tư, quan hệ và hành động. Nó liên quan đến việc một người biết mình là ai, đang đứng ở đâu, muốn gì, sợ gì, bảo vệ điều gì, chịu trách nhiệm phần nào, đang đóng vai gì, đang bị xã hội gọi bằng tên nào, đang tự nhìn mình qua hệ quy chiếu nào.
Đại ý: “Cái tôi không phải cái cột để đo cao thấp. Nó là hệ định vị giúp một người biết mình đang tồn tại ra sao.”
Cho nên nói “cái tôi cao” là một cách nói thiếu độ phân giải. Nó gom quá nhiều hiện tượng khác nhau vào một cái nhãn quá nghèo nghĩa.
Có người không phải cái tôi cao, mà là cái tôi hẹp. Họ chỉ chứa được một hình ảnh rất nhỏ về bản thân: tôi đúng, tôi giỏi, tôi đạo đức, tôi có học, tôi là nạn nhân, tôi là người sâu sắc, tôi là người đặc biệt. Ai chạm vào hình ảnh đó là họ phản ứng. Không phải vì cái tôi “cao”, mà vì cái tôi quá hẹp, không chứa nổi một dữ kiện trái với hình ảnh họ đang giữ về mình.
Có người không phải cái tôi cao, mà là cái tôi đóng kín. Dữ kiện mới không vào được. Góp ý không vào được. Sai lầm không vào được. Người khác biệt không vào được. Mọi thứ đi vào đều bị hệ phòng vệ chặn lại, hoặc bị bẻ cong để khớp với hình ảnh cũ. Người đó không nhất thiết “cao”. Người đó chỉ đang đóng cửa nhận thức.
Có người không phải cái tôi cao, mà là cái tôi quá mỏng, quá dễ rách. Một câu góp ý cũng thành xúc phạm. Một ánh nhìn cũng thành đe dọa. Một sự im lặng cũng bị diễn giải thành khinh thường. Bên ngoài nhìn có vẻ tự cao, nhưng bên trong là một cấu trúc rất dễ vỡ. Nó phản ứng mạnh không phải vì quá lớn, mà vì quá mong manh.
Có người không phải cái tôi cao, mà là định danh quá cứng. Họ đồng nhất bản thân với một vai, một nghề, một học vị, một hệ tư tưởng, một vết thương, một chiến thắng, một nỗi nhục, một thành tựu. Đụng vào vai đó là đụng vào họ. Phản biện quan điểm của họ là xúc phạm con người họ. Chỉ ra lỗi trong tri thức của họ là phủ định toàn bộ giá trị của họ. Đây không phải vấn đề cao hay thấp. Đây là vấn đề cái tôi bị khóa vào một hình dạng duy nhất.
Đại ý: “Nhiều thứ bị gọi là cái tôi cao thật ra chỉ là cái tôi hẹp, đóng kín, dễ vỡ hoặc bị khóa vào một định danh quá cứng.”
Vậy nên thay vì nói cái tôi cao hay thấp, nên nhìn cái tôi qua những trục khác: rộng hay hẹp, đóng hay mở, cứng hay mềm, dày hay mỏng, có biên hay không có biên, có trục hay mất trục, tự biết hay không tự biết, phòng vệ hay tiếp nhận, linh hoạt hay cố chấp.
Một cái tôi rộng là cái tôi chứa được nhiều phiên bản của mình. Nó chứa được việc hôm qua mình đúng nhưng hôm nay có thể sai. Nó chứa được việc mình giỏi trong miền này nhưng còn vụng về trong miền khác. Nó chứa được người khác giỏi hơn mình mà không sụp. Nó chứa được phản biện mà không xem phản biện là xúc phạm. Nó chứa được dữ kiện mới mà không cần bóp méo dữ kiện đó để giữ mặt.
Một cái tôi hẹp thì ngược lại. Nó chỉ chứa nổi một hình ảnh duy nhất về mình. Tôi phải đúng. Tôi phải sâu. Tôi phải đặc biệt. Tôi phải đạo đức. Tôi phải là người bị hại. Tôi phải là người hiểu chuyện. Tôi phải là người không thể bị sửa. Vì chỉ có một hình ảnh quá nhỏ để trú vào, nên bất kỳ điều gì đe dọa hình ảnh đó đều khiến nó hoảng.
Một cái tôi mở là cái tôi cho phép thực tại đi vào. Nó nghe được điều trái ý. Nó học được từ người khác. Nó tiếp nhận được sai lầm. Nó biết rằng bản thân không phải thứ đã hoàn tất. Nó không xem mọi góp ý là tấn công. Nó không xem mọi thay đổi là phản bội chính mình.
Một cái tôi đóng kín thì chỉ tiếp nhận những gì xác nhận nó. Nó sống trong một hệ miễn dịch bản ngã. Cái gì hợp với hình ảnh cũ thì được nhận. Cái gì trái thì bị đẩy ra. Cái gì không thể đẩy ra thì bị diễn giải lại. Cái tôi đóng kín không học được, vì mọi thứ mới đều bị biến thành mối đe dọa.
Một cái tôi mềm dẻo là cái tôi có thể điều chỉnh mà không gãy. Mềm không phải yếu. Mềm không phải ba phải. Mềm không phải ai nói gì cũng nghe. Mềm là có trục nhưng không hóa đá. Có ranh giới nhưng không dựng thành tường thành. Có định danh nhưng không bị định danh khóa lại. Có quan điểm nhưng không đồng nhất mình với quan điểm. Có tri thức nhưng không biến tri thức thành tượng thờ bản thân.
Một cái tôi cứng chặt thì không đổi được hình. Nó bám vào một phiên bản của mình rồi tưởng đó là bản chất. Tôi là người như thế này, nên tôi phải phản ứng như thế này. Tôi đã nói như vậy, nên tôi không thể sửa. Tôi đã nhận mình là người đó, nên tôi không thể trở thành người khác. Cái tôi cứng chặt tưởng mình vững, nhưng thật ra rất dễ gãy, vì nó không biết uốn.
Đại ý: “Một cái tôi trưởng thành không cần cao. Nó cần đủ rộng để chứa sự thật, đủ mềm để đổi hình, đủ biên để không bị xâm phạm.”
Cũng cần phân biệt cái tôi mạnh với cái tôi phản ứng mạnh. Đây là chỗ nhiều người nhìn nhầm.
Một người nổi giận trước mọi góp ý chưa chắc có cái tôi mạnh. Nhiều khi ngược lại. Cái tôi của họ quá mỏng nên phải phản ứng ồn ào để tự vá. Một người phải thắng mọi cuộc tranh luận chưa chắc là người có nội lực. Có khi họ chỉ không chịu nổi cảm giác hình ảnh của mình bị lung lay. Một người luôn cần chứng minh mình đúng chưa chắc là người tự tin. Có khi họ chỉ đang sợ nếu mình sai một lần, toàn bộ hình ảnh bản thân sẽ sụp.
Cái tôi mạnh thật thường không cần phòng vệ liên tục. Nó có thể nghe, lọc, nhận phần đúng, bỏ phần sai, rồi tiếp tục đứng vững. Nó không sụp chỉ vì một câu phản biện. Nó không cần thắng mọi cuộc đối thoại để chứng minh mình tồn tại. Nó không xem việc nhận sai là một cái chết nhỏ.
Cái tôi phản ứng mạnh thường tạo cảm giác dữ dội. Nhưng dữ dội không đồng nghĩa với mạnh. Nhiều tiếng động được tạo ra không phải vì bên trong có lực, mà vì bên trong có vết nứt.
Đại ý: “Phản ứng mạnh không chứng minh cái tôi mạnh. Nhiều khi nó chỉ cho thấy cái tôi quá dễ vỡ.”
Nói như vậy không có nghĩa cái tôi là thứ xấu. Ngược lại, cái tôi là cần thiết. Đây là điểm phải nói thật rõ, vì nhiều người rất thích nói những câu nghe có vẻ cao siêu như “phải diệt cái tôi”, “phải bỏ cái tôi”, “phải vô ngã”. Nhưng nếu hiểu sai, những câu đó có thể gây hại rất nhiều.
Không có cái tôi thì lấy gì sống? Không có ngã thì lấy gì chịu trách nhiệm? Không có chủ thể thì ai lựa chọn? Không có ranh giới thì ai bảo vệ mình? Không có định danh thì ai biết mình đang đứng ở đâu? Không có cảm giác “tôi” tối thiểu thì con người không trở thành thánh nhân. Nhiều khi chỉ trở thành một khối bị kéo đi bởi gia đình, đám đông, quyền lực và những cái tên người khác gán lên mình.
Một người không có cái tôi rõ rất dễ bị người khác gán danh. Gia đình gán. Xã hội gán. Đám đông gán. Người yêu gán. Quyền lực gán. Tôn giáo gán. Hệ tư tưởng gán. Người đó không tự biết mình là ai, nên ai gọi cũng tưởng đúng. Ai bảo phải sống thế nào cũng nghe. Ai bắt nhận lỗi gì cũng nhận. Ai đặt vai gì cũng đóng. Không có cái tôi ở đây không phải giải thoát. Đó là mất tọa độ.
Cái tôi không tự mọc ra trong khoảng không. Nó được đúc từ rất nhiều bàn tay: cha mẹ, trường học, ngôn ngữ, cộng đồng, tầng lớp, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, mạng xã hội và những lần một người bị khen, bị chê, bị bỏ rơi, bị công nhận hoặc bị làm nhục.
Có người tưởng đó là “tôi”, nhưng thật ra chỉ là một lớp danh được người khác gán quá lâu đến mức họ quên mất mình có quyền kiểm tra lại. Có người tưởng mình đang sống thật, nhưng thật ra đang sống đúng với hồ sơ xã hội đã được cài vào. Một cái tôi chưa từng được soi lại thường không phải cái tôi của một chủ thể tự do. Nó là bản ghi chép của những lực đã đi qua người đó.
Đại ý: “Không phải cái gì ta gọi là tôi cũng thật sự do ta chọn. Nhiều khi đó là hồ sơ xã hội đã được nội tâm hóa.”
Đây là lý do có những người sống cả đời bằng một cái tôi vay mượn.
Cha mẹ muốn họ là đứa con ngoan, họ thành đứa con ngoan. Trường học muốn họ là học sinh giỏi, họ thành học sinh giỏi. Công ty muốn họ là nhân viên tận tụy, họ thành nhân viên tận tụy. Mạng xã hội thưởng cho họ vai người sâu sắc, họ diễn người sâu sắc. Cộng đồng tán thưởng họ như người hy sinh, họ tiếp tục hy sinh, kể cả khi bên trong đã mục.
Một cái tôi vay mượn không nhất thiết giả tạo theo nghĩa cố tình lừa người khác. Nhiều khi nó rất thật trong cảm giác của người đó. Vấn đề là họ chưa từng tách ra để hỏi: cái này thật sự là tôi, hay là hình dạng tôi được thưởng khi sống theo kỳ vọng của người khác?
Có những người không dám bỏ vai, không phải vì họ yêu vai đó, mà vì ngoài vai đó ra họ không biết mình còn là ai. Người được khen là ngoan sẽ sợ một ngày mình không ngoan. Người được khen là giỏi sẽ sợ một ngày mình dốt. Người được khen là mạnh mẽ sẽ sợ một ngày mình yếu. Người được khen là sâu sắc sẽ sợ một ngày mình nói một câu bình thường.
Vai ban đầu là phương tiện để tồn tại trong xã hội. Nhưng sống trong vai quá lâu, vai trở thành da. Muốn cởi ra cũng đau.
Đại ý: “Một cái tôi vay mượn không nhất thiết giả. Nó chỉ chưa từng được hỏi lại: đây là tôi, hay là vai mà xã hội thưởng cho tôi?”
Cần phân biệt cái tôi, cái ngã và bản ngã.
Cái tôi là cách nói rộng về cảm giác “tôi là một chủ thể”. Có một người đang sống, đang cảm thấy, đang nghĩ, đang nhớ, đang lựa chọn, đang chịu hậu quả của lựa chọn.
Cái ngã là cấu trúc giúp con người định vị. Tôi là ai. Tôi muốn gì. Tôi không muốn gì. Ranh giới của tôi ở đâu. Phần nào là trách nhiệm của tôi. Phần nào không thuộc về tôi. Tôi có quyền từ chối điều gì. Tôi cần bảo vệ điều gì. Tôi đang đứng trong hệ nào.
Bản ngã là khi cái ngã bị chấp cứng. Khi cái ngã không còn là công cụ định vị, mà biến thành một thứ phải bảo vệ bằng mọi giá. Từ “tôi đang là thế này” biến thành “tôi mãi mãi phải là thế này”. Từ “tôi có một quan điểm” biến thành “ai đụng vào quan điểm là đụng vào tôi”. Từ “tôi biết điều này” biến thành “cái biết này là tôi”. Từ “tôi từng bị tổn thương” biến thành “tôi là vết thương đó”.
Vấn đề vì vậy không nằm ở việc có ngã hay không có ngã. Vấn đề nằm ở việc cái ngã đó còn là công cụ hay đã thành nhà tù.
Đại ý: “Ngã là công cụ định vị. Bản ngã là khi công cụ ấy tự biến thành nhà tù.”
Ngã là cần thiết vì nó cho con người tọa độ. Một người cần biết mình là ai để sống, chọn, nói không, chịu trách nhiệm, bảo vệ phẩm giá, phân biệt phần của mình và phần của người khác. Không có ngã tối thiểu, người ta rất dễ bị xã hội, gia đình, đám đông hoặc quyền lực kéo đi.
Có những lúc giữ ngã là điều bắt buộc. Khi bị xâm phạm ranh giới, phải giữ ngã. Khi bị thao túng, phải giữ ngã. Khi bị bắt nhận lỗi không thuộc về mình, phải giữ ngã. Khi bị xóa tiếng nói, phải giữ ngã. Khi bị biến thành công cụ cho người khác, phải giữ ngã. Khi cần chịu trách nhiệm cho lựa chọn của mình, phải giữ ngã. Khi cần nói “không”, phải giữ ngã.
Ở những lúc đó mà bảo người ta “bỏ cái tôi xuống” là một câu rất nguy hiểm. Một người đang bị bắt nạt mà bảo họ buông cái tôi, tức là tiếp tay cho kẻ bắt nạt. Một người đang bị lợi dụng mà bảo họ đừng chấp ngã, tức là giúp kẻ lợi dụng có thêm đạo đức giả để tiếp tục lợi dụng. Một người đang cần xây lại ranh giới mà bảo “cái tôi là ảo”, tức là phá luôn hệ phòng vệ cần thiết của họ.
Có những lúc giữ ngã không phải tự ái. Đó là giữ chủ thể.
Đại ý: “Giữ ngã không phải lúc nào cũng là tự ái. Có khi đó là hành động tối thiểu để một người còn là chủ thể của chính mình.”
Nhưng ngã cần có không có nghĩa là lúc nào cũng phải giữ. Ngã nếu không biết buông sẽ hóa thành bản ngã cứng. Nó biến mọi thứ thành chuyện của “tôi”. Góp ý trở thành xúc phạm tôi. Phản biện trở thành hạ thấp tôi. Người khác giỏi trở thành đe dọa tôi. Sai lầm trở thành vết nhục của tôi. Thay đổi trở thành phản bội phiên bản cũ của tôi.
Khi đó, giữ ngã không còn là giữ chủ thể. Nó là giữ nhà tù.
Cần buông ngã khi bị góp ý đúng mà tự ái. Cần buông ngã khi biết mình sai nhưng không nhận. Cần buông ngã khi đồng nhất bản thân với một quan điểm. Cần buông ngã khi biến tri thức thành sĩ diện. Cần buông ngã khi biến đạo đức thành quyền phán xét. Cần buông ngã khi biến tổn thương thành giấy phép làm hại người khác. Cần buông ngã khi biến thành tựu thành tượng thờ bản thân. Cần buông ngã khi không học được cái mới chỉ vì sợ mất hình ảnh cũ.
Buông ngã ở đây không phải tự xóa mình. Nó là tháo tay khỏi một hình ảnh đã nắm mình quá chặt.
Đại ý: “Giữ ngã sai lúc thì thành cố chấp. Buông ngã sai lúc thì thành tự xóa. Cái khó nằm ở đúng thời điểm.”
Vô ngã vì vậy không phải là không có ngã.
Vô ngã không phải xóa sạch bản thân. Không phải phủ nhận chủ thể. Không phải biến mình thành người không có ranh giới. Không phải ai bảo gì cũng nghe. Không phải cuộc sống kéo đâu cũng đi. Không phải để người khác bước vào vùng riêng của mình rồi nhân danh đạo lý bảo mình đừng phản ứng.
Vô ngã là thấy rằng cái ngã không phải một thực thể cố định, độc lập, bất biến, vĩnh viễn. Nó là một cấu trúc vận hành được tạo bởi thân thể, ký ức, cảm xúc, ngôn ngữ, xã hội, quan hệ, hoàn cảnh và lựa chọn. Vì nó là cấu trúc vận hành, nên có lúc cần dùng. Nhưng vì nó không phải bản thể tuyệt đối, nên có lúc cần buông.
Nói gọn: giữ ngã để không bị người khác nuốt mất. Buông ngã để không bị chính mình nuốt ngược lại.
Giữ ngã là chống lại sự xâm phạm từ bên ngoài. Buông ngã là chống lại sự chiếm hữu từ bên trong. Một người không biết giữ ngã sẽ bị người khác kéo đi. Một người không biết buông ngã sẽ bị chính hình ảnh về mình nhốt lại. Cả hai đều là mất tự do.
Đại ý: “Vô ngã không phải không có ngã. Vô ngã là tự do với ngã.”
Đây là lý do những câu như “phải bỏ cái tôi xuống” cần được nghe rất cẩn thận. Ai đang nói câu đó? Nói trong tình huống nào? Người được yêu cầu bỏ cái tôi đang là kẻ áp đặt hay người bị áp đặt? Họ đang tự ái hay đang bảo vệ ranh giới? Họ đang chấp vào bản ngã hay đang cố giữ phẩm giá? Ai được lợi nếu họ buông cái tôi?
Nhiều hệ quyền lực rất thích bảo người yếu bỏ cái tôi. Con cái bị áp đặt thì bảo đừng cãi cha mẹ. Người dưới bị bóc lột thì bảo phải khiêm tốn. Người bị xúc phạm thì bảo đừng chấp. Người bị xóa tiếng nói thì bảo phải vô ngã. Trong khi kẻ mạnh vẫn giữ nguyên cái tôi tập thể, cái tôi quyền lực, cái tôi đạo đức, cái tôi truyền thống của nó.
Vậy nên không thể nói chuyện cái tôi mà bỏ qua quyền lực. Có những lúc “bỏ cái tôi” là lời mời giải thoát. Nhưng cũng có những lúc “bỏ cái tôi” là cái khăn đẹp phủ lên hành vi xóa người khác.
Một câu có vẻ tâm linh, nếu đặt sai quan hệ quyền lực, có thể biến thành bạo lực mềm. Nó không đánh người ta bằng tay. Nó làm người ta nghi ngờ quyền được đứng lên của chính mình. Nó khiến người bị xâm phạm tự hỏi liệu mình có đang “chấp” không, trong khi người xâm phạm thì ung dung giữ nguyên quyền lực.
Đại ý: “Không phải lời kêu gọi buông ngã nào cũng giải thoát. Có lời buông ngã chỉ là cách làm người yếu tự tháo bỏ ranh giới của mình.”
Cái tôi cũng hiện rất rõ trong quan hệ thân mật. Người ta thường tưởng cái tôi chỉ xuất hiện trong tranh luận, trong thắng thua, trong công việc, trong học thuật. Không. Cái tôi xuất hiện rất mạnh trong tình yêu, gia đình, bạn bè, thầy trò, cha mẹ và con cái.
Có người nhân danh yêu để sở hữu. Tôi yêu anh nên anh phải sống theo cách làm tôi an tâm. Tôi thương con nên con phải trở thành thứ làm tôi tự hào. Tôi hy sinh nhiều nên người kia phải trả ơn bằng cách sống đúng kỳ vọng của tôi. Đây không phải tình yêu thuần khiết. Đây là cái tôi đi qua cửa tình thương để đòi quyền sở hữu.
Có người không có biên trong quan hệ. Họ nuốt cảm xúc của người khác, nhận trách nhiệm thay người khác, sợ nói không, sợ làm người khác buồn, sợ bị bỏ rơi, nên để cái tôi của mình tan vào cái tôi của đối phương. Họ tưởng đó là yêu, nhưng nhiều khi đó là mất chủ thể.
Có người ngược lại, biên quá cứng. Không ai chạm được. Không ai góp ý được. Không ai bước vào được. Hễ thân mật hơn một chút là họ thấy bị đe dọa. Họ tưởng đó là độc lập, nhưng nhiều khi chỉ là một hệ phòng vệ chưa được chữa lành.
Vậy trong quan hệ, vấn đề không phải có cái tôi hay không có cái tôi. Vấn đề là cái tôi có biết giữ biên mà vẫn mở ra hay không. Có biết yêu mà không sở hữu hay không. Có biết gần mà không nuốt nhau hay không. Có biết lùi mà không bỏ rơi hay không.
Đại ý: “Trong tình yêu, mất cái tôi chưa chắc là yêu sâu. Giữ cái tôi quá cứng cũng chưa chắc là độc lập. Quan hệ trưởng thành cần hai chủ thể biết chạm mà không nuốt nhau.”
Cái tôi còn quyết định khả năng học hỏi. Một người không học được không hẳn vì thiếu thông tin. Nhiều khi vì thông tin mới đe dọa định danh cũ của họ.
Nếu tôi tự xem mình là người thông minh, thì một góp ý đúng có thể làm tôi đau. Nếu tôi tự xem mình là người đạo đức, thì việc thừa nhận mình từng hành xử tệ sẽ rất khó. Nếu tôi tự xem mình là người hiểu biết, thì một người ít danh phận hơn chỉ ra lỗi của tôi sẽ trở thành một cú đánh vào hình ảnh bản thân. Khi đó, tôi không chống lại dữ kiện vì dữ kiện sai. Tôi chống lại vì nó làm lung lay cái tôi đang trú trong tôi.
Đây là lý do có người rất thông minh nhưng rất khó học. Họ có khả năng xử lý thông tin, nhưng không có khả năng để thông tin làm mình thay đổi. Họ có thể đọc nhiều, nói giỏi, lý luận nhanh, nhưng mọi thứ đi vào đều bị dùng để củng cố hình ảnh cũ. Họ không học. Họ chỉ tuyển chọn vật liệu để xây tường thành bản ngã.
Một người học thật sự phải có khả năng để cái tôi bị tổn thương ở mức vừa đủ. Không phải bị nghiền nát. Nhưng phải có khả năng để một sự thật mới làm mình khó chịu, rồi vẫn ở lại với nó đủ lâu để xem nó đang chỉ ra điều gì.
Đại ý: “Học không chỉ cần trí thông minh. Học cần một cái tôi đủ rộng để chịu được việc mình sai.”
Đến đây mới thấy vì sao ngôn ngữ rất quan trọng. Muốn nói cho đúng, phải hỏi: cái tôi nào?
Cái tôi như định danh? Cái tôi như bản ngã? Cái tôi như ego? Cái tôi như self? Cái tôi như persona? Cái tôi như subject? Cái tôi như personhood? Cái tôi như linh hồn? Cái tôi như chủ thể tính?
Mỗi từ mở ra một cửa khác nhau.
Identity là cái tôi như định danh. Tôi là ai trong hệ xã hội. Tôi thuộc nhóm nào. Tôi mang tên gì. Tôi được gọi là gì. Tôi tự nhận mình là gì. Người khác công nhận hay phủ nhận định danh đó ra sao.
Ego là cái tôi như cơ chế điều phối và phòng vệ. Nó giúp con người giữ cảm giác ổn định, thương lượng giữa ham muốn, chuẩn mực và thực tại. Nhưng trong đời sống thường ngày, ego thường được hiểu là tự ái, nhu cầu thắng, nhu cầu được công nhận, nhu cầu bảo vệ hình ảnh về mình.
Self là cái tôi như dòng kinh nghiệm sống. Có một người đang cảm thấy, đang nhớ, đang đau, đang lựa chọn, đang đi qua thời gian. Self không nhất thiết là bản ngã xấu. Nó là cảm giác liên tục của một đời sống.
Persona là cái tôi như mặt nạ xã hội. Vai mà ta trình diễn trước người khác. Người thầy, người lãnh đạo, người sâu sắc, người hài hước, người đạo đức, người trí thức, người nổi loạn. Persona không xấu. Xã hội cần vai. Nhưng khi đóng vai quá lâu, người ta có thể quên đó chỉ là vai.
Subject là cái tôi như vị trí nhận thức. Ai đang nhìn? Ai đang biết? Thế giới xuất hiện từ điểm nhìn nào? Cùng một sự kiện, một người giàu nhìn khác người nghèo, người có quyền nhìn khác người bị trị, cha mẹ nhìn khác con cái, cộng đồng thống trị nhìn khác cộng đồng bị thống trị.
Personhood là cái tôi như tư cách người. Ai được xem là một con người đầy đủ? Ai có quyền? Ai có phẩm giá? Ai được chịu trách nhiệm? Ai bị tước tiếng nói? Đây là tầng pháp lý, đạo đức và chính trị của cái tôi.
Bản ngã là cái tôi bị chấp cứng. Nó không chỉ là “tôi”. Nó là “tôi phải là thế này”, “tôi không thể sai”, “tôi không thể bị phủ định”, “hình ảnh này của tôi phải được bảo vệ”.
Nếu dịch tất cả thành “cái tôi” rồi nói chung chung, ta tưởng mình đang hiểu con người, nhưng thật ra đang để một từ kéo đi. Dịch thuật ở đây không chỉ là chuyển chữ. Dịch thuật là chuyển hệ. Mỗi từ được sinh ra trong một cộng đồng, một lịch sử, một nền văn minh, một hệ tôn giáo, một truyền thống chính trị, một cách tổ chức xã hội. Cùng nói về “tôi”, nhưng không phải cộng đồng nào cũng cắt con người ở cùng một chỗ.
Đại ý: “Dịch sai cái tôi thì chữa sai cái người.”
Một nền văn minh đặt cá nhân ở trung tâm sẽ phát triển bộ từ mạnh quanh individual, autonomy, rights, self-expression. Một nền văn minh đặt quan hệ cộng đồng ở trung tâm sẽ phát triển bộ từ mạnh quanh vai vế, bổn phận, danh phận, hòa khí, trách nhiệm với gia đình. Một truyền thống tôn giáo sẽ nhìn cái tôi qua linh hồn, tội lỗi, nghiệp, cứu rỗi, vô ngã, giải thoát. Một truyền thống phân tâm học sẽ nhìn cái tôi qua ham muốn, vô thức, phòng vệ, xung đột nội tâm. Một xã hội mạng sẽ nhìn cái tôi qua profile, hình ảnh, thương hiệu cá nhân, attention, persona.
Vì vậy, hỏi “cái tôi là gì?” chưa đủ. Phải hỏi: cái tôi trong ngôn ngữ nào, trong nền văn minh nào, trong hệ triết học nào, trong quan hệ quyền lực nào, trong mục đích sử dụng nào?
Nếu không hỏi như vậy, ta rất dễ lấy một từ của hệ này để phán xét một hiện tượng thuộc hệ khác. Lấy “ego” để nói về “ngã” theo Phật học. Lấy “identity” để nói về “bản sắc” như thể đó là một thứ cá nhân chọn hoàn toàn. Lấy “vô ngã” để yêu cầu một người đang bị xâm phạm từ bỏ ranh giới. Lấy “cái tôi cao” để nói về một người thật ra chỉ đang tổn thương.
Ngôn ngữ không chỉ mô tả cái tôi. Ngôn ngữ tổ chức cái tôi. Nó dạy ta biết tự nhìn mình bằng loại gương nào. Và nếu cái gương đó nghèo, người trong gương cũng sẽ bị làm nghèo theo.
Đại ý: “Từ ngữ không chỉ gọi tên cái tôi. Từ ngữ huấn luyện cách cái tôi tự nhìn nó.”
Trong thời mạng xã hội, vấn đề này còn phức tạp hơn. Vì cái tôi không chỉ sống nữa. Nó phải được trình bày.
Một người không chỉ có mặt. Họ có profile. Có avatar. Có bio. Có ảnh đại diện. Có dòng trạng thái. Có lượt thích. Có người theo dõi. Có một hình ảnh công khai cần được duy trì. Cái tôi không chỉ là thứ ta sống từ bên trong, mà còn là thứ được bày ra để người khác nhìn, đánh giá, tiêu thụ, khen, chê, chia sẻ, bỏ qua.
Mạng xã hội làm persona dày lên rất nhanh. Một người được thưởng vì hài hước sẽ tiếp tục diễn hài hước. Được thưởng vì sâu sắc sẽ tiếp tục diễn sâu sắc. Được thưởng vì phẫn nộ sẽ tiếp tục phẫn nộ. Được thưởng vì nạn nhân sẽ tiếp tục kể mình như nạn nhân. Được thưởng vì thông minh sẽ sợ nói một câu ngu. Được thưởng vì đạo đức sẽ khó nhận mình từng tệ.
Dần dần, cái tôi bắt đầu sống theo thuật toán công nhận. Không phải tôi là ai, mà là phiên bản nào của tôi được chú ý nhiều nhất. Không phải tôi nghĩ gì thật, mà là ý nghĩ nào làm hình ảnh của tôi tiếp tục có giá trị. Không phải tôi đang thay đổi ra sao, mà là khán giả có cho phép tôi thay đổi không.
Đây là một cái lồng rất mới. Ngày xưa con người bị làng xã nhìn. Bây giờ con người bị một đám đông vô hình nhìn. Cái tôi phải tự biên tập liên tục. Đôi khi người ta không sống nữa. Người ta quản trị hình ảnh của việc mình đang sống.
Đại ý: “Mạng xã hội biến cái tôi thành một sân khấu liên tục, nơi con người không chỉ sống mà còn phải tiêu thụ hình ảnh của chính mình.”
Từ đây mới thấy cụm “cái tôi cao” hỏng ở đâu. Nó không chỉ sai hướng mà còn tạo ra phương thuốc sai. Nếu tưởng vấn đề là cái tôi cao, người ta sẽ bảo phải hạ cái tôi xuống. Nhưng nhiều khi vấn đề không phải hạ.
Có khi cần mở rộng. Có khi cần làm mềm. Có khi cần làm rõ ranh giới. Có khi cần xây lại biên vì cái tôi quá dễ bị xâm phạm. Có khi cần tháo bớt persona vì người đó sống trong vai quá lâu. Có khi cần làm sạch định danh vì người đó đang tự nhốt mình vào một cái tên cũ. Có khi cần học tiếp nhận phản biện vì hệ phòng vệ quá mạnh. Có khi cần giúp người đó có chủ thể tính hơn, vì trước giờ họ toàn sống theo danh người khác gán.
Chẩn đoán sai thì chữa sai.
Thay vì nói “cái tôi cao”, hãy nói cụ thể hơn.
Người này có ego phòng vệ mạnh. Người kia có định danh quá cứng. Người này có cái tôi quá mỏng nên dễ vỡ. Người kia có persona quá dày nên không còn sống thật. Người này có cái tôi hẹp nên không chứa nổi phản biện. Người kia có cái tôi đóng kín nên dữ kiện mới không vào được. Người này thiếu ranh giới nên bị kéo đi. Người kia có ranh giới quá cứng nên không ai chạm được. Người này có bản ngã chấp tri thức. Người kia có bản ngã chấp tổn thương.
Cách nói này dài hơn, nhưng đúng hơn. Mà tư duy nghiêm túc thì phải chịu dài khi cần dài. Ngôn ngữ mà lười thì nhận thức sẽ thiếu lớp lang. Nhận thức thiếu lớp lang thì rất dễ biến con người thành vài cái nhãn.
Đại ý: “Nói đúng về cái tôi không phải để làm chữ cho sang. Nói đúng để không chữa nhầm vào chỗ người ta đang đau.”
Trưởng thành vì vậy không phải là không có cái tôi. Trưởng thành là có cái tôi đủ rõ để sống, đủ mềm để học, đủ rộng để chứa cái khác mình, đủ mở để tiếp nhận thực tại, đủ biên để không bị xâm phạm, đủ phản tư để biết khi nào mình đang chấp.
Một cái tôi trưởng thành không cần bị hạ xuống. Nó cần được tổ chức lại.
Nó cần biết lúc nào phải đứng vững và lúc nào phải lùi. Lúc nào phải nói không và lúc nào phải nghe. Lúc nào phải bảo vệ ranh giới và lúc nào phải hạ phòng vệ. Lúc nào phải giữ định danh và lúc nào phải bỏ một định danh cũ. Lúc nào phải nhận trách nhiệm và lúc nào không nhận phần tội bị người khác ném sang. Lúc nào phải giữ ngã và lúc nào phải buông ngã.
Nếu phải nói về sự trưởng thành của cái tôi, có thể hình dung như một quá trình nhiều bước. Ban đầu là cái tôi bản năng: tôi muốn, tôi sợ, tôi cần, tôi phản ứng. Sau đó là cái tôi xã hội: tôi là con ngoan, học sinh giỏi, người tử tế, người thành công, người có ích. Sau nữa là cái tôi phản tư: tôi bắt đầu nhìn lại những vai đó, hỏi chúng từ đâu tới, cái nào thật sự là tôi, cái nào chỉ là thứ tôi mặc để được công nhận. Và cao hơn nữa là cái tôi tự do với chính nó: có thể dùng danh mà không bị danh nhốt, có thể giữ ngã mà không chấp ngã, có thể buông ngã mà không tự xóa.
Đại ý: “Cái tôi không cần bị giết. Nó cần được giáo dục.”
Không có ngã thì không có chỗ đứng. Chấp ngã thì chỗ đứng biến thành cái lồng. Vô ngã không phải phá cái chỗ đứng, mà là biết khi nào đứng, khi nào bước, khi nào rời.
Cái tôi không phải kẻ thù của con người. Kẻ thù là cái tôi hẹp, đóng kín, cứng chặt, mỏng manh, thiếu tự biết, nhưng lại tưởng mình là toàn bộ sự thật. Kẻ thù là bản ngã đã quên rằng nó chỉ là một công cụ định vị tạm thời. Kẻ thù là cái tôi biến mọi dữ kiện thành cuộc chiến bảo vệ hình ảnh về mình.
Vấn đề không phải “cái tôi cao”.
Vấn đề là cái tôi chưa đủ rộng để chứa sự thật ngoài hình ảnh của chính nó.
--
Sau khi viết đến đây, có lẽ sẽ có người hỏi: những điều này có ai từng nói chưa, có tên tuổi nào đứng sau không, có ông nào bà nào trong lịch sử triết học hay tâm lý học đã bàn gần như vậy không?
Có thể có. Và chắc chắn là có những người đã chạm vào từng mảnh của vấn đề này. Freud nói về ego. Cooley nói về cái tôi phản chiếu qua xã hội. Goffman nói về con người như kẻ trình diễn bản thân trong đời sống hằng ngày. Phật học nói về vô ngã và sự chấp vào một cái ta thường hằng. Một số người khác nói về identity, self, persona, subject, personhood. Nếu muốn, các bạn có thể lần theo những cái tên đó để đọc thêm.
Nhưng cần nói rõ: tôi không bắt đầu từ những cái tên đó.
Tôi không nghe chữ ego rồi chạy đi hỏi ai tạo ra chữ ego. Tôi cũng không quan tâm lắm chuyện phải mượn tên một ông Tây, một ông Phật học, một nhà tâm lý học hay một nhà xã hội học nào đó để hợp thức hóa điều mình đang thấy. Cách tôi đi không phải từ tên tuổi xuống hiện tượng. Tôi đi từ cách con người thật sử dụng từ ngữ trong những cuộc trò chuyện thật.
Khi một người nói “ego”, tôi không vội hỏi Freud định nghĩa thế nào. Tôi nhìn xem trong ngữ cảnh đó, họ đang muốn trỏ vào hiện tượng nào. Họ đang nói về tự ái, về phòng vệ, về hình ảnh bản thân, về nhu cầu thắng, về nỗi sợ bị phủ định, hay về một cấu trúc điều phối tâm lý? Khi một người nói “identity”, tôi không chỉ dịch thành bản sắc rồi xong. Tôi nhìn xem họ đang nói về định danh xã hội, nhóm thuộc về, vai trò, sự công nhận, hay quyền được tự gọi tên mình. Khi một người nói “vô ngã”, tôi không vội biến nó thành khẩu hiệu xóa sạch cái tôi. Tôi hỏi: ở đây họ đang muốn buông chấp thủ, hay đang bảo một người yếu thế từ bỏ ranh giới của mình?
Từ ngữ không quan trọng vì nó có tên tuổi nào đứng sau. Từ ngữ quan trọng vì nó đang được dùng để trỏ vào một hiện tượng sống. Việc cần làm không phải là quỳ trước lịch sử của một khái niệm, mà là nhìn xem khái niệm đó đang cắt thực tại ở chỗ nào, làm sáng điều gì, làm mờ điều gì, và khi đem sang một hệ ngôn ngữ khác thì nó có bị lệch nghĩa hay không.
Cho nên nếu cuối bài này có nhắc đến vài cái tên, thì đó chỉ là phần gợi ý đọc thêm cho người cần. Nó không phải cọc chống cho bài viết. Tôi không cần phải nói “Freud từng nói”, “Goffman từng nói”, “Cooley từng nói” thì mới được quyền nhìn vào con người và mổ xẻ cái tôi. Tên tuổi có thể giúp định vị đường đọc. Nhưng tư duy không nên bắt đầu bằng việc xin phép tên tuổi.
Một người có thể đọc rất nhiều mà vẫn chỉ biết lặp lại danh sách người đã nói. Một người khác có thể chưa đọc những người đó, nhưng nếu họ đủ chú ý đến ngôn ngữ sống, đủ kiên nhẫn với hiện tượng, đủ khả năng tách Danh, Nghĩa và Hệ, họ vẫn có thể chạm vào cùng một vùng vấn đề.
Vì vậy, nếu bạn muốn đọc thêm, hãy đọc. Đọc Freud để xem ego từng được đặt trong hệ phân tâm học ra sao. Đọc Cooley để xem cái tôi được phản chiếu qua ánh mắt xã hội thế nào. Đọc Goffman để xem đời sống xã hội có bao nhiêu phần trình diễn. Đọc Phật học để thấy vô ngã không phải lời kêu gọi tự xóa mình. Nhưng đừng nhầm việc đọc thêm với điều kiện để được nghĩ.
Đại ý: “Tên tuổi là đường đọc thêm, không phải giấy phép tư duy.”
Cái quan trọng không phải là tôi có trích được bao nhiêu người. Cái quan trọng là khi nghe một chữ như cái tôi, ego, identity, self, persona, bản ngã hay vô ngã, ta có đủ tỉnh để hỏi: chữ này đang trỏ vào hiện tượng nào, trong hệ nào, với quyền lực nào, và nó đang làm con người sáng ra hay bị nhốt thêm vào một cái tên khác?