0. Bối cảnh
Môn Lịch sử trở thành một trong 4 môn học bắt buộc bên cạnh Toán Văn Anh. Lần đầu tiên trong lịch sử, Quốc Hội đưa ra bàn bạc về vấn đề dạy một môn học, một chuyện chưa từng có tiền lệ khi trước đây Quốc Hội chỉ bàn luận những vấn đề lớn, định hướng cho giáo dục.
Vậy tại sao với sự ưu ái và quan tâm như vậy nhưng việc dạy và học môn Lịch sử ở Việt Nam đặc biệt là ở phổ thông vẫn chưa hiệu quả?
Là những người trẻ đang học hỏi từng ngày học cách thay đổi và phát triển bản thân, chúng ta cần làm gì để xây dựng một tư duy và phương pháp tiếp cận đúng với lịch sử?
1. Liệu mục đích đã đúng?
- Trong tài liệu chương trình giáo dục môn lịch sử được ban hành kèm Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT, mục tiêu của việc dạy và học môn lịch sử được nêu rất rõ ràng và hợp lý. 
Đó là phát triển năng lực lịch sử; giáo dục tinh thần yêu nước và các giá trị tốt đẹp của dân tộc; 
nhận thức vai trò của lịch sử trong việc kết nối hiện tại và quá khứ;
tạo cơ hội định hướng nghề nghiệp tương lai cho học sinh.
- Trong số đó, việc phát triển tư duy lịch sử là một trong những ưu tiên hàng đầu, bao gồm: 
+ Tìm hiểu lịch sử
+ Nhận thức và tư duy lịch sử
+ Vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học
Mục tiêu đề ra thật sự đúng đắn và khá đầy đủ,
thế nhưng quan sát trên thực tế dạy và học lịch sử ở Việt Nam hiện nay, ta lại không thấy mục tiêu này được ưu tiên thực hiện, nếu không muốn nói là bị lãng quên từ lâu.
- Việc dạy sử phổ thông hiện nay ở Việt Nam có thể nói là theo hướng xây dựng các huyền thoại và truyền bá di sản.
Các nhân vật lịch sử được hình tượng hóa thành những “huyền thoại” mang tính phổ quát và là những hình mẫu anh hùng lý tưởng.
Các câu chuyện lịch sử, vốn vô cùng phức tạp, chi tiết và gồm nhiều bên liên quan,
nay lại được đơn giản hóa thành những câu chuyện mang tính biểu tượng.
Nhằm mục đích dễ nhớ, dễ cảm, khơi dậy tinh thần yêu nước và mong muốn cống hiến một mục đích cao cả của dân tộc.
Đồng thời các sự kiện nhạy cảm trong lịch sử mà có nhiều ý kiến trái chiều rất ít khi được đem ra bàn luận.
Cùng với đó, lịch sử, văn hóa và sự tồn tại, phát triển của các dân tộc bản địa và các cộng đồng thiểu số trên lãnh thổ như người Chăm, Khmer, H’Mông,... chưa được quan tâm đúng cách.
Đồng ý rằng việc này sẽ giúp giáo dục tình yêu nước và các giá trị tinh hoa của văn hóa dân tộc trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn.
Nhưng nó cũng làm mòn đi tư duy lịch sử, thứ rất cần được mài giũa nhiều hơn trong một xã hội quay cuồng và vô cùng bất định
vốn đòi hỏi người ta phải có một tư duy phản biện tốt và khả năng quan sát đa chiều.
- Tới đây tôi nhận thấy rằng, có lẽ, việc dạy sử hiện nay đã đi lệch so với định hướng ban đầu rất nhiều.
Liệu việc xem dạy tri thức lịch sử cho học sinh như một công cụ hiệu quả để giáo dục lòng yêu nước có đi ngược lại với mục đích ban đầu hướng đến không? 
- Một vấn đề khác của môn lịch sử 
là nó chưa cho người học thấy ứng dụng thực tiễn của việc học nó, học xong để thi đó, kết quả cao đó rồi thôi.
Hay nếu có ứng dụng thì cũng không được chú trọng nhiều 
đủ để cho học sinh thấy học nó có nhiều ý nghĩa thực tế.
Vậy thì ở vị trí là một học sinh, việc cố gắng học môn lịch sử có còn nhiều ý nghĩa?
2. Hay cách làm đã sai?
- Chương trình: 
+ Việc nhồi nhét quá quá nhiều kiến thức của một môn học nặng tính lý thuyết như lịch sử
vào trong một chương trình với số tiết ít ỏi
khiến cho người học không có đủ thời gian để ngẫm nghĩ sâu và đưa ra góc nhìn của bản thân.
Học lịch sử có xu hướng theo lối học thuộc các sự kiện và mốc thời gian. 
+ Sách giáo khoa được viết theo cách “đơn giản hóa lịch sử”, và chọn lọc thông tin,.
Nhấn mạnh tới những góc nhìn mà người viết sách cho rằng học sinh nên chú trọng,
mà không cho học sinh quyết định cái gì là điều cần chú ý.
Học sinh được nhìn lịch sử qua góc nhìn của người viết sách hơn là của bản thân họ.
Người viết tóm tắt các sự kiện, văn bản, ý nghĩa theo góc nhìn chủ quan và những gì họ muốn cho người đọc thấy chứ chưa chắc đã là toàn cảnh góc nhìn.
Điều này khiến cho học sinh khó mà đánh giá được sự kiện trên nhiều góc độ.
Đơn cử như về sự kiện “Cải cách ruộng đất 1953-1956” được xem như là một vấn đề nhạy cảm và chỉ được nhắc thoáng qua mà không được phân tích kĩ hay xem đó như một sự thật lịch sử khách quan để rút ra bài học.
Một số vấn đề liên quan tới chính trị và ngoại giao hiện nay còn nhạy cảm và chưa sẵn sàng để đưa ra bàn luận như “Chiến tranh biên giới phía bắc 1979”.
Ngoài ra, tâm lý tôn trọng quá khứ khiến người ta ngại thắc mắc và đặt câu hỏi đa chiều về các nhân vật và sự kiện lịch sử đã quá nổi tiếng
điều này gây nhiều khó khăn trong quá trình phát triển tư duy.
+ Bên cạnh đó, lịch sử Việt Nam không chỉ đáng tự hào vì những năm tháng chiến trận,
mà còn vì bề dày văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, phong tục truyền thống vẫn chưa được chú trọng đúng với tiềm năng của nó.
+ Cuối cùng là phạm vi mà giáo trình lịch sử Việt Nam hướng tới đang chưa được bao quát.
Đồng ý là tập trung vào lịch sử Việt Nam sẽ giúp cho học sinh tập trung hơn vào điều quan trọng là “dân ta phải biết sử ta”. 
Tuy nhiên, việc chỉ diễn giải rất sơ lược và tóm tắt về lịch sử thế giới khiến cho người học cũng chỉ biết sơ lược,
mà không hiểu rõ hết được bối cảnh và tương quan của lịch sử Việt Nam với thế giới.
Thêm nữa là lịch sử ở phổ thông quá tập trung vào lịch sử cận và hiện đại,
mà phần lịch sử ở các giai đoạn trước bị giản lược rất nhiều.
- Giáo viên: Rất nhiều giáo viên chưa tìm được cách để đưa những kiến thức lịch sử khô khan đến với học sinh một cách thú vị. 
Điều đó rất có thể là do điều kiện tiếp cận thông tin của một số giáo viên vùng sâu vùng xa hạn chế, hay gặp khó khăn trong việc đổi mới cách giảng dạy.
Tuy nhiên cần phải thấy là đa số giáo viên hiện nay đang không có nhiều động lực đổi mới và cải thiện cách dạy môn lịch sử.
Chất lượng giáo viên ở các khu vực không đều nhau, gây bất cập trong việc triển khai các chính sách đổi mới.
Việc giảng dạy lịch sử ở trường vẫn còn khô khan, bám giáo án để chạy kịp chương trình. 
Giáo viên chủ yếu giảng bài, đọc – chép theo sách giáo khoa, ít chú trọng tổ chức các hoạt động khám phá, thảo luận nhóm, tranh luận lịch sử hoặc vận dụng kiến thức lịch sử vào thực tiễn,
khiến cho học sinh có suy nghĩ lịch sử chỉ là môn “học thuộc lòng để thi”, gây nên cảm giác chán và không muốn học. 
Học sinh càng không muốn học, giáo viên càng không có hứng thú phát triển nghiệp vụ sư phạm và đổi mới cách truyền tải kiến thức. 
Thế là học sinh lại càng chán cách dạy này hơn. 
Liệu đây có phải một vòng lặp chăng?
Các giáo viên đa phần chỉ cố bắt học sinh hiểu và học thuộc lòng để thi kết quả cao. 
Nhưng lại không cho phép ý kiến phản biện hay góc nhìn trái chiều, hiếm khi khuyến khích có sự đặt câu hỏi cởi mở giữa giáo viên và người học.
3. Một số đề xuất
- Thay đổi chương trình giảng dạy: Tinh gọn nội dung, học sâu thay vì quá rộng, tránh lặp lại (học ở lớp 9 rồi lớp 12 lại học và chỉ nâng cao hơn một chút).
Phân cấp chương trình, ở cấp tiểu học, chú trọng hơn vào giáo dục tình yêu và sự say mê với lịch sử. Ở trung học, kết nối lịch sử với tình hình văn hóa, xã hội. Ở THPT, đào sâu, thúc đẩy tranh luận nhiều góc độ để làm rõ vấn đề.
- Đổi mới phương pháp: Bắt nguồn từ việc phát triển đội ngũ giáo viên, nâng cao năng lực phản biện, cập nhật kiến thức mới. Thay đổi cách đánh giá học thuộc sang phân tích vấn đề, khuyến khích tư duy thay vì ghi nhớ.
Trực quan hóa kiến thức qua hoạt động ngoài sách vở, tăng tính trải nghiệm của học sinh. Gắn lịch sử với thực tế đời sống để vừa học vừa áp dụng.
- Như nhà sử học Dương Trung Quốc từng nói: "Lịch sử không phải để ngưỡng vọng, mà để hiểu và hành động". Ta cần thay đổi toàn diện, từ tư duy tới cách giảng dạy, từ giáo viên tới giáo trình.
4. Người trẻ chúng mình nên có góc nhìn như thế nào về việc rèn luyện tư duy lịch sử (Historical thinking)?
- Đặc biệt là thế hệ trẻ chuẩn bị bước chân vào hành trình đi làm như tụi mình thì học sử để làm gì?
Học lịch sử nói chung và lịch sử Việt Nam nói riêng là cách để ta tìm về cội nguồn, trân trọng hơn hiện tại. 
Những câu chuyện lịch sử là nguồn cảm hứng to lớn khi ta cần một tấm gương để noi theo, để tránh những “vết xe đổ” của thế hệ đi trước, đem những bài học trong quá khứ áp dụng vào hiện tại.
Tìm ra được sợi dây liên hệ giữa quá khứ và hiện tại sẽ giúp ta hiểu hơn về hiện thực chính trị, xã hội mà ta đang sống ngày nay, là kim chỉ nam cho việc tìm ra ý nghĩa trong những bài học lịch sử.
- Có những ngành nghề nghiên cứu những case (trường hợp) trong lịch sử, về những thành công hay thất bại của các công ty.
Bằng việc nhận ra những mẫu hình lặp lại, người ta nảy ra những ý tưởng mới, từ đó đưa ra các lời khuyên và có những góc nhìn phân tích mới lạ cho việc ra quyết định trong doanh nghiệp.
Ví dụ như câu chuyện khi Blockbuster từ chối mua lại Netflix năm 2000 với giá 50 triệu USD, Blockbuster sau đó dần tụt hậu và thua lỗ, dẫn đến công ty này phá sản năm 2010
cho ta thấy bài học về tầm nhìn dài hạn và thích ứng công nghệ trong kinh doanh.
Hay khi Starbucks dùng lịch sử cà phê của Ethiopia (cái nôi của cà phê) để thiết kế không gian quán và sáng tạo ra chiến dịch "Coffee Heritage".
Thứ đem lại doanh thu và củng cố hình ảnh thương hiệu tốt đẹp cho họ sau này.
- Phương pháp 5 câu hỏi trong nghiên cứu của Peter Seixas để rèn luyện historical thinking::
Sự kiện này xảy ra như thế nào? (Tường thuật)
Tại sao nó lại xảy ra? (Nguyên nhân)
Ai được kể và ai bị lãng quên? (Đa diện)
Bài học này liên quan gì đến hiện tại? (Kết nối)
Có cách giải thích nào khác không? (Phản biện)
5. Kết luận
Yuval Noah Harari từng nói: "Lịch sử là phòng thí nghiệm lớn nhất của nhân loại – nơi mọi quyết định đều đã được thử nghiệm và ghi lại".
Lịch sử chứa đựng những bài học đã qua biết bao khảo nghiệm khắc nghiệt của thời gian.
Học lịch sử vừa là quá trình ta học hỏi kinh nghiệm từ quá khứ và hướng tới tương lai tốt hơn.
Để môn lịch sử được giáo dục trong nhà trường có thể đạt được đúng những mục tiêu ban đầu của nó, 
cần sự chung tay vào cuộc của cả nền giáo dục, từ trung ương cho đến từng địa phương, từ thầy cô cho tới cả phụ huynh.
Rèn luyện tư duy lịch sử, một lần nữa, là một điều bức thiết cần có trong một thế giới đa chiều và biến động không ngừng.
-miengdautien.-