Mỗi chúng ta đều mang trong mình những hòn than của lòng đố kị, người ta dễ dàng tạo ra những hòn than ấy bằng chính ngọn lửa của sự ghen tị và uất ức. Rồi trong cơn nóng giận, họ ném hòn than ấy vào người khác, nhưng đâu biết, hòn than bản thân ném ra cũng là thứ làm bỏng chính bàn tay của mình.
Lòng đố kị được định nghĩa là sự khao khát cực đoan của con người với những thứ mình chưa có.
Lòng đố kị là kẻ tước đoạt hạnh phúc, nhưng thật không may nó là bản năng tự nhiên của con người. Xã hội luôn vận động, biến chuyển không ngừng và dường như không có chỗ cho kẻ “ chậm bước” và cũng chẳng là nơi dành cho kẻ “ dậm chân tại chỗ”, từ đó sinh ra nỗi sợ bị lạc hậu, bị bỏ lại và đồng thời là bản năng ngước mắt lên nhìn kẻ khác với lòng đố kỵ. Người ta chỉ thấy đỉnh núi chạm mây, mà quên mất đá tảng, rêu phong, và vết nứt nơi chân núi. Đố kị là một trong 7 tội đồ trong Kito giáo , lòng đố kị đã được tồn tại trước cả những nền khoa học đầu tiên được sinh ra, nó đã ở sẵn trong bản chất con người. Trong triết học nhìn con người như một chủ thể tự ý thức, luôn hướng tới sự hoàn thiện bản thân. Nhưng đối với lòng đố kị, con người lại rơi vào trạng thái so sánh mình với người khác để đo lường giá trị của chính mình. Và hầu như, các tôn giáo đều xem đố kị là một trong những gốc rễ của khổ đau. “ tham – sân – si”. Theo chiều dài lịch sử, có rất nhiều câu chuyện, cuộc chiến nổ ra vì lòng đố kị - Nếu không có lòng đố kị với tài năng của Nguyễn Trãi đã không có đại án Lệ Chi Viên, dẫn đến án tru di tam tộc. Đại án Lệ Chi Viên không chỉ là bi kịch của một gia tộc, mà còn là minh chứng rằng lòng đố kị và tư lợi cá nhân đã xuất hiện rất lâu, có thể làm chìm cả một bậc hiền tài của dân tộc.
Lòng đố kị - khao khát phẫn uất đối với những gì người khác sở hữu, có thể hành hạ bạn như rơi vào địa ngục hoặc giam hãm trong nhà tù. Thay vì phát triển năng lực của chính mình, người đố kị chỉ chăm chăm phá hạ người khác, làm tha hóa bản thân và làm lệch lạc mục đích sống. Con người chỉ thật sự tự do khi hòa giải được mình với thế giới. Đố kị khiến ta mắc kẹt trong “ cái tôi nhỏ bé’ thiếu tự do, thiếu hạnh phúc, sống trong sự xung đột nội tâm và đánh mất khả năng sáng tạo và phát triển, vì năng lượng đáng lẽ dùng để học hỏi, lại bị tiêu tốn cho sự ghen ghét. Tất cả chúng ta đều biết cảm giác của sự đố kị, nó làm chúng ta chai sạn tình yêu và khô khan tâm hồn, Nó làm xuất hiện nhiều ảo ảnh xấu xí, cay độc bên trong chúng ta, những kẻ vi thú trên sự đau khổ của người khác không vì lý do gì khác hơn là họ may mắn hơn ta. Sự đố kị cũng gây bào mòn sức khỏe và tinh thần khi đố kị làm não tiết ra cortisol ( hormone căng thẳng ), khiến cơ thể mệt mỏi, tim đập nhanh, dễ bị kịch độc hơn.
Lòng đố kỵ có thể thiêu rụi người khác, khi ta ném hòn than đố kỵ vào người khác chính là cách hủy hoại một con người, cũng là hủy hoại chính ta. Tôi nhớ đến câu chuyện kinh điển trong làng game thế giới, đó là câu chuyện cánh chim cô đơn kiêu hùng vụt sáng rồi “ gãy cánh” trong tiếc nuối của Flappy Bird. Tựa game này đã từng đứng đầu bảng xếp hạng ứng dụng tại hơn 50 quốc gia, đạt hơn 100 triệu lượt tải trong vòng 2 tuần ở các nền tảng điện thoại. Tính đến trước khi “ chú chim cô đơn” gãy cánh, nó thu về hơn 50,000 đánh giá trên CH play và 30,000 ngàn đánh giá trên Appstore. Tựa game đã đánh dấu cuộc cách mạng công nghệ thông tin ứng dụng trên di đông, truyền cảm hứng cho các studio game trên thế giới, nhưng chú chim cô đơn ấy đã bi dừng lại sau vài tuần bởi chính cha đẻ của nó – Nguyễn Hà Đông. Đáng tiếc thay, nguyên nhân chính của việc Hà Đông dừng phát hành tựa game này do chính tay người Việt bóp chết. Họ đố kị rằng : anh bị bắt vì trốn thuế, họ nói anh chỉ là một gã lập trình viên ăn may, họ nói anh ăn cắp hình ảnh của các con game khác, thậm chí coi tựa game ấy là “ quốc nhục”
Có lẽ, Flappy Bird là một sản phẩm công nghệ cao, con chim ấy không thể bay trên bầu trời của một đất nước công nghiệp lạc hậu với nhiều định kiến “ trâu buộc ghét trâu ăn”. Nó đã khiến người Việt Nam tự hào nhưng lại không thể khiến Việt Nam nở mày nở mặt thêm nữa.
Đố kỵ có thể có sự thay đổi theo độ tuổi. Các nghiên cứu cho rằng, người trẻ tuổi có thể đố kỵ hơn người lớn tuổi về thành công trong giáo dục và xã hội, ngoại hình đẹp và tài sản. Người lơn tuổi thường nhún vai trước những điều này, nhưng thường ghen tị với những người có tiền. Đàn ông và phụ nữ có xu hướng ghen tị với những phẩm chất khác nhau. Theo một số nghiên cứu, đàn ông ghen tị nhất với địa vị xã hội và uy tín. Còn phụ nữ, đó là sự hấp dẫn về thể chất. Như vậy, mỗi con người sẽ mang trong mình những sự độ kỵ khác nhau, ở mức độ khác nhau.
Ngoài ra , con người còn có thể đố kỵ với chính ảo ảnh của bản thân. Sự kỳ vọng quá mức đã gây ra lòng tham muốn, khao khát sở hữu của con người. Không cần nhìn vào kẻ khác, con người còn có thể tự đố kỵ với chính con người của mình trong quá khữ lẫn tương lai. Tâm lý so sánh, tự ti xuất hiện. Sự chênh lệch ấy gây ra tâm lý thấy bản thân mình chưa đủ, chưa xứng đáng, chưa đạt điều mình mong muốn. Đố kị không còn hướng ra bên ngoài mà quay vào nội tâm, khiến con người sống trong vòng xoáy trách cứ, mệt mỏi và tự phủ định chính mình. Đây là dạng đố kỵ nguy hiểm nhất, rất khó để “ hóa giải”
Đố kỵ tích cực lại mang giá trị tích cực. Đố kỵ tích cực hay đố kị ôn hòa là một trong những yếu tố thúc đẩy nỗ lực thành công của con người. Con người có thể xem thành công của người khác là một tấm gương, phẫn uất sẽ trở thành ngưỡng mộ, ghen ghét sẽ trở thành động lực tiếp bước cho con người. Đó đơn giản là mong muốn hoàn thiện bản thân và thi đua với người khác.
Đấu tranh là điều tất yếu của cuộc sống. Nhờ đấu tranh và thể hiện sự khác biệt mà các công ty tập đoàn lớn mới có được vị thế như bây giờ. Có sự đố kỵ mới làm nên tính cạnh tranh cao, không có cạnh tranh thì không tạo nên cuộc sống. Thành quả của con người không được phân phát hay ban hạ công bằng. Thành công lớn không dành cho những người vô dụng, lười biếng và những người luôn nỗ lực thì không thể không nhận được thành công lớn nhỏ ít nhất một lần trong đời. Bởi vậy, ý nghĩa của đố kỵ không nằm ở việc hơn thua với người khác, mà ở việc vượt qua chính mình để trở thành phiên bản tốt hơn mỗi ngày.
Chắc hẳn, nếu búng tay mà loại bỏ được sự đố kỵ, nhiều người sẽ làm ngay. Nhưng tuyệt nhiên, nó là tự nhiên và việc loaj bỏ chúng là điều không thể với tất cả chúng ta. Cosimo de’Medici đã dạy chúng ta rằng : ông ví lòng đố kỵ như một loài cỏ dại độc hại, tự nhiên. Công việc của chúng ta không phải là cố gắng loại bỏ nó, mà là đừng tưới nó. Cách mà chúng ta tưới nước cho nó thật ra là sự chú ý. Con người thường chăm chú vào những điều mình không có mà lại thiếu lòng biết ơn với những điều mình đã và đang có. Ta thường so mình với phần nổi của người khác, nhưng lại đem so với phần chìm của chính ta và cũng thích nhìn qua cửa sổ để xem cuộc đời người khác, nhưng hiếm khi nhìn vào gương để đối diện với chính mình.Ta cần học cách nhìn vào những điều lớn lao và cả những điều bình thường, bất toàn của chính mình. Ngoài ra, phương tiện truyền thông làm thứ làm tăng sự đố kỵ : truyền thông luôn thể hiện cho ta thấy những hạnh phúc may mắn lẫn thành công trong mọi lĩnh vực của người khác, vì vậy hãy hướng tâm điểm vào những nội dung lành mạnh và phát triển cho bản thân. Ta cũng cần học cách hạn chế đố kỵ bằng cách trân trọng những điều mình có, cũng tránh khoe khoang để biến bản thân thành người bị đố kỵ cũng như phô bày những ưu điểm và che giấu những khuyết điểm trước người khác, thậm chí chính bản thân mình khiến con người mất đi giá trị của bản thân, những thất bại của bản thân phải được bạn xác thực, sự khiêm tốn giả tạo cũng có thể gây lòng đố kỵ trong lòng người khác.
Ranh giới của lòng đố kỵ chưa bao giờ được phân định, tường minh mà luôn khiến con người phải lầm bước hết lần này đến lần khác. Ta có thể trở thành kẻ đố kỵ với người khác, cũng là kẻ đố kỷ với chính chúng ta, ta cũng có thể là kẻ bị người khác đố kỵ , cũng có thể là kẻ luôn phải sống dưới con mắt nhìn đời của kẻ khác mà che giấu bản thân dưới lớp mặt nạ chỉ vì sợ người khác gán ghép sự đố kỵ lên mình. Vậy nên thay vì phủ nhận hay tiêu diệt nó, hãy chấp nhận và chuyển hóa, hãy dũng cảm đối diện và trưởng thành từ nó. Con người hay quên rằng trước khi học cách ngước nhìn, ta cần học cách đứng vững. Và để đứng vững, không phải nhìn lên trời, mà là nhìn xuống đôi chân mình.