Sự tích tục đốt vàng mã
Một biến thể mới trong rất nhiều câu chuyện ngắn được kể nhằm lý giải cho tục đốt vàng mã tại Việt Nam và Trung Quốc.
Năm Hàm Thông thứ 3 [*], có ông Vương Luân mở xưởng giấy nhỏ nơi ngoại thành. Họ Vương này kế nghiệp tổ tiên mình là Vương Dũ, chuyên nghề làm giấy tre tạo hình đủ màu sắc, thường gọi là đồ mã.
Thời trước, các giấy này thường dùng cho tế lễ, nhưng gần cả trăm năm nay chẳng ai màng đến. Các món do Vương Luân làm ra do đó mà ế ẩm.
Hàng xóm xung quanh cũng hay khuyên ông đổi nghề nhưng ông lại tiếc cái nghề tổ tiên truyền lại. Vợ ông do ấy mà lo lắng cho gia cảnh: “Ông tính thế nào chứ, chẳng lẽ cứ làm giấy rồi cất kho thế mãi thì nhà ta lấy gì mà ăn?”
Vương Luân chỉ thở dài, buồn lo cho cáinghề của tổ tông đang dần suy tàn ngay trước mắt. Cả xưởng giờ tối om, chỉ còn mình ông và cậu con trai nhỏ đang tập tành theo cha các bước làm giấy. “Để mai tính”, ông nói trong cay đắng khi phơi những mẻ giấy cuối cùng trong ngày dưới trưa hè.
Tối đó, trong phòng ngủ cũ kĩ phía trên nhà xưởng, Vương Luân chẳng tài nào ngủ nổi. Có thể là vì cái nóng hầm hập của mùa Đại thử, tiếng ve râm ran hay tiếng rao văng vẳng giữa phố trong đêm khuya của những người canh phu: “Thời tiết hanh khô. Cẩn thận củi lửa.”
“Lửa?”, ông nghĩ khi tiếng rao tan dần. “Đúng rồi, lửa!”, ông liền lay vợ dậy khi một ý tưởng dần hình thành trong tâm trí.
“Mai đi. Nay mệt rồi”, vợ ông làu bàu.
“Không phải chuyện ấy. Tôi có cách để giải quyết đống giấy rồi.”
“Làm thế nào?”, vợ ông liền quay sang hỏi.
Vương Luân liền thì thầm vào tai vợ. Bà nghe mà lọt tai. Thế là cả đêm hôm ấy, hai vợ chồng họ không ngủ, dành cả đêm bày biện các thứ ra trước sân nhà đến tận bình minh.
Đúng như kế hoạch, ngay khi tiếng gà gáy cất lên, nông dân ra đồng. Ai đi ngang qua nhà Vương Luân đều nghe thấy tiếng khóc oai oán đến não lòng. Họ thấy vợ con ông ta đang lạy lục, tỏ vẻ đau buồn trước một cái xác đắp chiếu manh, là Vương Luân nhưng đã chẳng còn hơi thở và trông tái nhợt như màu sơn.
“Chậc. Mới hôm qua còn thấy ông ta hì hục làm giấy, mà giờ… Thôi, xin chia buồn cùng gia đình”, một người nông dân nhận xét, ngả nón lá mà an ủi người vợ.
“Ông nhà ra đi đột ngột quá. Tôi chẳng kịp chuẩn bị gì. Nghe ông ấy dặn chiều qua là tôi nghi rồi”, vợ Vương Luân mếu máo, ca thán với người hàng xóm.
“Ông nhà dặn gì chị nhớ chứ?”
“Dặn là đốt quách mớ giấy trong kho ấy đi, bán cũng chẳng được”, vợ Vương Luân gào lên, thậm chí ngất ra giữa sân trong tiếng gào khóc của đứa con nhỏ gọi mẹ.
“Thôi thì ta dành ra một buổi giúp ông ấy cũng chẳng sao, làng xóm với nhau cả. Tội nghiệp”
Nói rồi, tất cả mọi người ở đó, người thì đỡ đần vợ con Vương Luân, người thì giúp chuyện ma chay, người thì tìm đến kho sau nhà để lấy giấy ra đốt. Giấy đầy kho nên để cho tiện, người ta phải chia nhỏ ra thành từng xấp đốt dần, hoá thành những cột khói đen bay nghi ngút lên trời.
Một nhà sư được mời đến để làm hậu sự, thấy khói bay nghi ngút thì bảo:
“Cháy nhà sao? Mau báo mọi người đến dập lửa.”
“Không phải đâu, thầy Tuệ Minh. Ông Vương Luân nhà đó trước khi mất có dặn nhờ đốt hết mớ đồ mã ông ta làm.”
Họ đi tiếp, đến nơi thì mọi người đã đốt được một phần tư đống giấy, hì hục như nấu bếp. Tro xám bay mịt mù trong gió, cay xè đến độ trẻ con, người già và phụ nữ phải dắt nhau tránh đi hết, chỉ trừ có vợ Vương Luân trông như đã quá kiệt sức, ngồi bệt xuống bên cạnh xác chồng mà vỗ về.
Đột nhiên, Vương Luân bật dậy, nhảy tọt ra khỏi quan tài. Mọi người trông thấy mà sững sờ, dập lửa ngừng việc đốt, ùa ra thăm hỏi. Vợ ông ta tỏ ra vui mừng khôn xiết, ôm chầm lấy. Người dân quanh đấy thì thở phào, kêu gọi nhau dọn dẹp tang lễ. Nhà sư cũng phụ một tay nhưng trong lòng ông vẫn thấy có điều gì đó kỳ lạ ở nhà họ Vương này.
Vương Luân nhấp được một ngụm nước xong thì có người thắc mắc:
“Vậy chứ ông Vương này, khi nãy là ông chết thật à?”
“Là thật chứ, sao không?”, vợ Vương Luân quát.
“Bình tĩnh nào. Tôi chỉ muốn hỏi là liệu ông Vương có thấy cái gì hay ai không thôi.”
Mọi người sau đó im lặng, Vương Luân trong lòng tự đắc nhưng vẫn phải thể hiện một vẻ ôn tồn đạo mạo mà kể lại câu chuyện ly kỳ ông nằm nghĩ ra khi nãy.
“Này nhé, giữa đêm trời nóng, tôi không ngủ được, định tìm chút nước mát uống thì từ đâu xông ra hai gã đàn ông bặm trợn, cởi trần. Một tên đầu trâu. Một tên mặt ngựa. Chúng kéo tôi ra giữa sân thì xô thật mạnh xuống, đẩy tôi xuyên xuống lòng đất.”
Vương Luân vừa kể vừa mô tả cách ông ta bị đẩy ngã thế nào. Mọi người lắng nghe chăm chú, những đứa trẻ thì sợ hãi. Chẳng ai biết thực hư thế nào, trừ hai vợ chồng Vương Luân đang cười thầm trong bụng.
“Rơi một lúc, tôi đáp xuống một cái vùng đất nóng nực, khô cằn, hừng sáng bởi những lửa cháy đỏ rực. Không khí thì ngập ngụa mùi máu và mùi thịt cháy khét, vang vọng tiếng đánh đập, la hét và than khóc không ngừng.
“Hai tên quỷ sứ xuống đến nơi thì kéo tôi vào đến nha môn. Trước mặt là một vị quan lớn, da sẫm màu, đội mũ cánh chuồn, mặc áo đeo mang bổ tử hình cọp trắng, đang xem xét giấy tờ với hai vị quan mặt đỏ, mặc giáp, cầm thương. Họ nhìn tôi hung dữ lắm, như muốn ăn tươi nuốt sống ấy.
“Hai tên quỷ ném tôi vào trước mặt vì quan kia. Ông ta đập bàn mà quát ’Vương Luân, số ngươi đã tận. Phải nhận kiếp làm người Giao Châu, làm tá điền đến hết đời.'
“Tôi nghe mà chịu chết. Quỷ sứ toan dẫn tôi đi đầu thai thì bỗng nhiên tiền bạc, vàng ngọc, châu báu thế nào cứ rơi lã chã ngay tại công đường. Quan quân từ ngạc nhiên mà dần trở nên vui vẻ đến lạ. Quan lớn mới bảo tôi thế này:
"‘Khá khen cho Vương Luân ngươi, được làng xóm và vợ con giúp cho. Giấy tiền ngươi làm, họ đốt thì hồi hướng cho ngươi nên mới được thế này. Xem chừng sẽ có ích hơn khi để ngươi quay về mà dạy pháp hay này cho dân chúng.’
“Nói rồi, quan ném lệnh bài xuống đất. Lập tức, tôi tỉnh lại ngay.”
Mọi người nghe thấy liền vỡ lẽ, gật gù tấm tắt với những mẫu giấy tre chi chít chữ và hình vẽ, màu mè và thô ráp của Vương Luân. Có người thắc mắc: “Làm sao mà những tờ giấy này lại hoá được thành vàng?”
Vương Luân suy nghĩ một hồi thì đáp: “Ừm, quan không kịp giải thích. Nhưng tôi cho là vì tổ tiên tôi làm các thứ giấy này vốn là để thay cho các tục chôn của lãng phí và chôn người man rợ của thời trước. Chắc vì thế mà các giấy này hàm chứa công đức hơn giấy thường, nên đốt thì hoá vàng.”
“Nhưng quan lại âm binh là bậc thần linh, đâu thể nào lại vui thích với của cải như người trần như thế? Chẳng phải dưới âm phủ, họ cũng thấy rõ hậu quả của lòng tham kia mà”, nhà sư thắc mắc.
“Thầy không làm quan, thầy không hiểu đâu. Cái gì mà lại chẳng cần tiền để mua bán, còn giá cả lúc nào mà chẳng leo thang. ‘Trần sao âm vậy’, người An Nam bảo thế.”
“Nhưng vận số đã định của ông dưới đó, đâu thể nào vì chút của cải từ hư vô mà lại bị thay đổi dễ dàng như vậy?”
“Chuyện thiên đạo không đùa được đâu. Không biết chừng giấy mọi người đốt cũng vàng bạc cũng được chuyển lên trời, nên thần linh trên đó mới quyết cho tôi được sống đấy!”
Vương Luân giơ thẳng tay lên trời, quả quyết. Lập tức, sấm rền và mây đen kéo đến ở một góc trời, thế là ông ta bèn rụt tay vào. Nhà sư thấy vô lý, định hỏi tiếp thì có người khác xen ngang:
“Này, ông Vương. Cha tôi mất đã gần một năm nay. Liệu giờ mua giấy của ông mà đốt có kịp không?”
“Kịp chứ, có còn hơn không. Khi đốt phải nhớ thành tâm nữa đấy, tiền vàng nhờ đó mới đến nơi. Có tiền rồi thì người âm giúp mình lại thôi. Có qua có lại ấy mà.”
Nghe vậy, người dân không bảo liền hỏi mua, Vương Luân nhờ đó bán hết giấy, còn cho thuê cả sân nhà mình để mọi người tiện đốt. Riêng nhà sư từ chối, chỉ lặng lẽ rời đi khi chứng kiến khói cuồn cuộn bốc lên theo những lời cầu khấn.
Một bài viết của Người Xa Lạ, được truyền cảm hứng bởi:
Chú thích:
[*] Tức năm 862, thời vua Đường Ý Tông.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

