Tôi vốn không dễ bị bất ngờ, song khi xem video về thí nghiệm Delayed choice quantum eraser vào năm 1999 thì tôi tin rằng đây là thí nghiệm thông não nhất trong cuộc đời tôi từ trước đến nay.
Delayed choice quantum eraser là phiên bản nâng cấp của thí nghiệm nổi tiếng Double-slit: Như hình minh họa dưới đây, các nhà khoa học tiến hành bắn các hạt photon qua một tấm chắn có hai khe nhỏ, những hạt photon sau khi lọt qua khe sẽ hạ cánh ở trên một bức vách phía sau. Thí nghiệm chia làm hai trường hợp, trường hợp 1 thì không có gì giữa tấm chắn và bức vách - trường hợp 2 họ đặt một máy dò photon ở giữa tấm chắn và bức vách. Ở trường hợp 1, hạt photon sau khi lọt qua khe của tấm chắn sẽ tỏa ra hai bên dưới dạng như biểu tượng sóng Wifi vậy - còn ở trường hợp 2, hạt photon bay thẳng như viên đạn, không lan tỏa. Như vậy là hành vi của hạt photon sẽ thay đổi dựa trên việc chúng có được quan sát hay không.
Thí nghiệm Double-slit
Thí nghiệm Double-slit
Tiếp theo đến thí nghiệm hack não Delayed choice quantum eraser: Vẫn là những hạt photon được bắn qua khe tấm chắn. Song ngay khi "lọt khe" xong thì những hạt photon được cho đi qua một tinh thể gọi thể Beta Barium Borate. Tinh thể này có chức năng phân mảnh một hạt photon năng lượng cao thành hai hạt photon nhỏ năng lượng thấp hơn - và có liên kết với nhau về năng lượng, kiểu kiểu như anh em sinh đôi cùng trứng vậy. Trong một cặp photon như vậy, các nhà khoa học gọi một hạt là Idler, và hạt kia là Signal. Như trong hình minh họa bên dưới, Idler và Signal trải qua những hành trình hoàn toàn khác nhau. Signal đi quãng đường ngắn hơn và dừng lại ở máy dò photon D0. Còn Idler đi quãng đường dài hơn, đụng vào các gương phản chiếu để khúc xạ sang máy dò photon D1, D2, D3 và D4.
Delayed choice quantum eraser
Delayed choice quantum eraser
Đây là phần hack não nè:
Rõ ràng, quãng đường của hạt Signal đến D0 là ngắn hơn tuyệt đối so với quãng đường của hạt Idler. Thế nên hành vi của hạt Signal sẽ tạo ra kết quả trên D0 sớm hơn Idler.
Còn hạt Idler lại trải qua hai trường hợp như sau:
- Trường hợp 1: Hạt Idler dừng ở máy dò D3 và D4, không có tác động nào thêm. Hạt Idler và người anh em sinh đôi Signal ở D0 biểu hiện như những viên đạn: bay thẳng.
- Trường hợp 2: Hạt Idler dừng ở máy dò D1 và D2 vẫn như trường hợp 1, song sau đó thì dữ liệu ở hai máy dò này được xóa đi, tức là tạo cho các hạt Idler "cảm giác" như chúng không bị quan sát, theo dõi. Thế là người anh em sinh đôi của chúng là hạt Signal ở D0 lại tán xạ ra xung quanh như sóng wifi vậy.
Cần nhắc lại là tất cả các hạt Signal hạ cánh ở D0 sớm hơn Idler, như vậy thì kết quả về hành vi của Signal phải có sớm hơn so với Idler. Song như thí nghiệm cho thấy, thì kết quả hành vi của Idler trong tương lai lại tác động tới kết quả của Signal trong quá khứ.
Nhiều nhà khoa học gọi đây là hiện tượng Retro-causality: trong đó kết quả của tương lai tác động tới lựa chọn của quá khứ. Tất nhiên, vẫn có những luồng tranh cãi rằng, đây không thể gọi là tương lai tác động lên quá khứ, vì hai hạt Idler và Signal có mối liên kết ràng buộc, tính tương quan của dữ liệu từ D0 với D1-4, tốc độ ánh sáng,...v....v
Dường như đây là cuộc tranh luận sẽ còn dai dẳng, và cần nhiều thiết bị máy móc để xác định rằng thực sự tương lai có tác động đến lựa chọn của quá khứ được không, và nếu thực sự là có thể như vậy, thì khoa học trong thế hệ chúng ta cũng chưa thể đủ tiên tiến mà giải thích được cơ chế vận hành của chuyện này.
Hiện tượng Retro-causality làm tôi nhớ đến một bí ẩn của lịch sử, nhiều khi được ghi chép dưới sự hòa quyện của thần bí và khoa học: Những người cảm nhận được tương lai, dù dưới dạng giấc mơ, hay một linh cảm nào đó. Tôi mạn phép chia sẻ vài câu chuyện lịch sử như dưới đây :
1. Chuyện về hai người đàn ông
Người đàn ông thứ nhất
Sau cuộc khủng hoảng Phật tử vào mùa hè năm 1963, Tổng thống Ngô Đình Diệm gặp phải chỉ trích gay gắt và rộng rãi từ trong nước lẫn từ chính phủ Hoa Kỳ. Ngày 29/9, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert McNamara gặp Diệm tại cung điện Gia Long về những đòi hỏi trực tiếp từ phía Mỹ rằng Diệm cần cải tổ đường lối chính trị, loại bỏ Ngô Đình Nhu khỏi vị trí quyền lực, và nỗ lực hơn để lấy lòng người dân Nam Việt Nam. Diệm dành độ 2.5 giờ đồng hồ ban đầu của cuộc gặp với McNamara để diễn màn độc thoại về sự khôn ngoan trong chính trị của ông ta cũng như tình hình chiến trận. Kiêu ngạo như thường, ông ta gạt đi những đòi hỏi của McNamara và đổ lỗi cho các Phật tử lẫn sinh viên. Chính phủ Hoa Kỳ gửi đến Diệm một bức thư follow-up hai ngày sau đó, nhấn mạnh lại các ý chính của McNamara. Diệm chẳng thèm hồi đáp hay đưa ra bất cứ bảo đảm nào về việc cải tổ chính trị.
Ngày 1/11, trước khi bay về Washington thì Đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge và Đô đốc Felt tham gia một cuộc gặp hữu nghị với Diệm. Trước đó, Diệm đã nhắn riêng cho Henry là muốn ông Đại sứ ở lại trao đổi riêng độ 15 phút sau khi Đô đốc Felt đã rời đi, Henry tuân theo. Diệm bất ngờ đổi giọng so với 1 tháng trước đó, và bảo Henry rằng :" Xin ngài hãy nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi là một đồng minh tốt và thẳng thắn, rằng tôi muốn chúng ta đi thẳng vào vấn đề và giải quyết những câu hỏi ngay bây giờ hơn là bàn về chúng sau khi đã mất tất cả... Hãy nói với Tổng thống Kennedy rằng tôi xem xét những yêu cầu của ông ấy rất nghiêm túc và rất muốn thực thi chúng, tôi chỉ vướng bận vấn đề thời gian mà thôi". Henry điện tín những lời cuối của Diệm với một đại diện của chính phủ Hoa Kỳ đến Bộ Ngoại giao. Sau đó, điện tín này đến Nhà Trắng vào 9.37 phút sáng ( giờ Washington ). Lúc này thì cuộc đảo chính chống lại Diệm đã bắt đầu mất rồi.
Người đàn ông thứ hai
Sau vụ ám sát Tổng thống Kennedy, một quyết định quan trọng là để ông an nghỉ ở đâu. Bộ trưởng Quốc phòng McNamara lựa chọn một vị trí ở Nghĩa trang quốc gia Arlington: chỉ cách biệt thự Curtis Lee một đoạn, nơi có thể nhìn ra cầu Memorial và Đài tưởng niệm Lincoln ở phía xa. Khi McNamara nói về vị trí cho mộ của Kennedy với người lính đã tháp tùng Kennedy tới Arlington vài tuần trước đó, người lính nói rằng :"Khi Tổng thống Kennedy đến thăm chỗ này, ông ấy dừng lại ở đúng vị trí đó. Ông nhìn ra xa, về phía những tượng đài, và tôi nghe ông ấy nói rằng đây là cảnh đẹp nhất ở Washington".
2. Chú mèo Oscar
Oscar là một chú mèo sống ở Trung tâm Dưỡng lão và Điều trị Steere House ở Rhode Island, Mỹ. Sau khi Oscar sống ở trung tâm được độ sáu tháng, nhân viên y tế nhận thấy khi Oscar trèo lên bụng một người bệnh nào đó để nằm ngủ, thì vài tiếng sau người đó ra đi.
Sau khoảng 25 lần xảy ra sự việc như vậy, khi nhân viên y tế thấy Oscar trèo lên người bệnh nhân nào để nằm ngủ, thì họ ngay lập tức gọi cho người nhà bệnh nhân để đến chào từ biệt. Suốt cuộc đời mình, Oscar đã dự báo đúng khoảng 100 cái chết.
Mọi người đoán già đoán non về nguyên nhân cho khả năng của Oscar, rằng Oscar ngửi thấy sự thay đổi về hóa học trong cơ thể người bệnh, rằng nó đã nhìn thấy một biểu hiện nào đó. Song có lẽ mọi người đều tin rằng: Oscar đã cố gắng đem lại một sự an ủi và sự bầu bạn mềm mại với những bệnh nhân trong vài tiếng cuối cùng của họ.
3. Cô bé Eryl Mai Jones
Một ngày bình thường vào năm 1966, cô bé mười tuổi Eryl Mai Jones đột nhiên nói với mẹ mình rằng :"Mẹ ơi con không sợ chết". Hai tuần sau, cô bé kể với mẹ về một giấc mơ đêm qua của mình rằng :"Mẹ ơi, khi con đi đến trường thì con không thấy trường đâu cả, thứ gì đấy đen đúa đã vùi lấp trường của con rồi."
Ngày hôm sau, Eryl đến trường, và không may qua đời khi một trận lở đất đã đánh sập ngôi trường, cướp đi sinh mạng của 116 trẻ nhỏ cùng 28 người lớn...
4. Người sống sót từ vụ 11/9
Vào buổi sáng thứ ba ngày 11/9/2001, như thường lệ người dân New York vội vã đổ ra đường để đến văn phòng mình, trong đó có rất nhiều người làm việc ở Tháp đôi.
Có những người làm việc ở Tháp đôi kể lại rằng, buổi sáng hôm đấy không hiểu vì lý do gì họ rất chần chừ trong việc đến chỗ làm. Họ xếp hàng chờ mua đồ ăn sáng, hàng dài quá nên có thể bị muộn giờ ? Kệ.
Xe họ hỏng dọc đường, họ gọi kéo vào xưởng để sửa, rồi thong thả ngồi đó chờ đợi, cũng chẳng buồn bắt tàu điện ngầm, hay xe buýt để tới văn phòng như một nhân viên gương mẫu.
Con họ ốm, họ chẳng nhờ bảo mẫu hay ai chăm sóc giùm để tới văn phòng. Họ kệ.
Và họ đều sống sót, nhờ những quyết định nhỏ bé và ngẫu nhiên của mình.
Kết luận
Tôi từng nghe một ai đó trên mạng Internet nói rằng: Một phiên bản giàu có, hạnh phúc và bình yên của chúng ta đã tồn tại sẵn ở trong tương lai, và phiên bản đó đang cố dìu dắt chúng ta đưa ra những lựa chọn đúng để đến được với tương lai tươi sáng như vậy.
Suy cho cùng, một cuộc đời hạnh phúc có thể tóm gọn lại ở những lựa chọn: Lựa chọn mua Bitcoin năm 2009 thay vì đánh điện tử đêm ( tiền chơi điện tử thời đấy gom góp lại cũng mua được vài chục Bitcoin tôi khẳng định với bạn ), lựa chọn hôn nhân với đúng người tử tế và yêu bạn bằng cả trái tim của họ, lựa chọn một công việc phù hợp với tài năng, lựa chọn một người sếp nhân hậu, tử tế để giúp bạn khai phá hết tiềm năng của mình, ....v....v
Nếu theo hiện tượng Retro-causality, thì trong tương lai chúng ta vốn đã trở thành một người giàu có, hay ít nhất là cũng hạnh phúc và thành đạt ở khía cạnh nào đấy trong cuộc sống rồi. Chính phiên bản tương lai đó đang cố tìm đến ta trong quá khứ, tức là hiện tại bây giờ, để mách bảo ta làm những điều gì đúng đắn. Có thể bạn theo đuổi một sự nghiệp không có tương lai sáng sủa cho lắm, song điều gì đấy vẫn mách bảo bạn hãy cố gắng kiên trì, bởi vì tương lai bạn sẽ thành công nhờ vào đột phá từ chính sự nghiệp đó chẳng hạn.
Vấn đề duy nhất là: chúng ta có nghe được sự mách bảo đó không ?