Pháp Gia - Đặc điểm nhân cách Pháp gia (Một góc nhìn)
Bài viết phân tích Pháp gia như một kiểu nhân cách: lý trí khắc nghiệt, tin tuyệt đối vào pháp luật, bi quan về con người. Những phẩm chất ấy tạo nên sức mạnh nhưng cũng dẫn các nhà Pháp trị tới kết cục bi thảm.
Trung Hoa, ai đặt cho họ cái tên ấy? Tạo hóa, hay Trời? Họ là ai mà “dám” tự cho mình là trung tâm của Thế giới, là tâm điểm của cả hành tinh này. Giấc mộng Trung Hoa là thứ ám ảnh suốt bao thế kỷ qua với thế giới nói chung và đối với vị thế của Hoa Kỳ nói riêng. Nếu lịch sử cổ đại của các quốc gia khác được viết lên bởi các cuộc chiến tranh tôn giáo, thì lịch sử cổ đại Trung Hoa được thêu dệt nên bởi “mộng Đế Vương” của các đời Quân Vương Trung Quốc, mà cho đến tận ngày nay dòng chảy lịch sử ấy vẫn không ngừng lại. Vậy mới nói rằng Nền văn minh Trung Hoa một nền văn minh chưa bao giờ bị đứt đoạn. “Tan rồi lại hợp, hợp rồi lại tan” đó đã trở thành một quy luật thành văn của Trung Hoa đại đế chế, dù Trung Quốc có nghiêng ngả, hay bị vùi dập đến đâu thì Trung Quốc ngàn năm vẫn là Trung Quốc.
Để làm rõ quan điểm trên, chúng ta không chỉ trong ngày một ngày hai hay đọc một hai cuốn sách, xem một hai tập phim cổ trang - kiếm hiệp là có thể tự cho mình là hiểu Trung Quốc. mà tìm hiểu về Trung Quốc có chính bản thân giới tinh hoa của họ đã phải truyền biết bao nhiêu thế hệ mới có thể tìm ra được nguồn gốc của “bản thân mình” và đưa lên tầm văn hóa. Nhận thức được vấn đề đó bản thân tôi luôn tích cực trau dồi thêm những kiến thức về nước họ từ đó phát triển lên để tìm hiểu về nước mình, tôi lựa chọn Pháp gia làm nền tảng kiến thức lý luận đầu tiên trên con đường nghiên cứu của mình. Dưới góc độ nhìn nhận về Pháp gia để thấu hiểu nền “chính trị ngàn năm không bị đứt đoạn”.
Một vài nét về Pháp gia:
Pháp gia là tư tưởng Pháp trị, là một trong bốn tư tưởng triết học chính trị lớn của lịch sử Trung Hoa cổ đại bao gồm Nho - Pháp - Đạo - Mặc. Nho - Pháp song hành đã tạo nên một nền tảng văn hóa chính trị trong lịch sử Trung Hoa kéo dài tới tận bây giờ. Dưới đây là bài luận trình bày về Pháp gia và những đặc điểm nhân cách của họ.
1. THƯƠNG ƯỞNG (VỆ ƯỞNG/CÔNG TÔN ƯỞNG)
· Thân thế và tiểu sử
Thương Ưởng họ là Công Tôn người nước Vệ trong thời Xuân - Thu, còn được gọi theo cách khác là Vệ Ưởng. Ông là người đặt nền móng cho tư tưởng Pháp Gia ở Trung Hoa. Thời trẻ Thương Ưởng là người ham học hỏi về chính trị, là người có trí tuệ và năng lực, nhưng xét về tiềm lực Vệ Quốc bấy giờ lại quá nhỏ bé, nhìn vào bản đồ ta tưởng chừng như Quốc gia ấy chỉ là một “người tí hon” nằm giữa những “gã khổng lồ”, hơn nữa Nước Vệ ấy không phải là cái thế đất dụng võ mà Ưởng có thể phô tài. Vệ Ưởng đã rời nước Vệ sang nước Ngụy theo Công Thúc Tọa bấy giờ đang là Tể tướng nước ngụy dưới thời Ngụy Huệ Vương và rất được Công Thúc Tọa yêu quý, có thể nói đây là tâm phúc lớn nhất mà Công Thúc Tọa đã một lòng rèn rũa và chỉ bảo mong rằng người này có thể nối mình cống hiến cho Ngụy Quốc. Đến khi Công Thúc Tọa lâm bệnh nặng hưởng những thời gian cuối của tuổi trời, Ngụy Huệ Vương tới thăm có hỏi rằng: “Sau khi khanh ra đi rồi, liệu ai có thể thay khanh làm Tể Tướng cho Ngụy quốc ta?”, Công Thúc Tọa trên giường bệnh cố nói: “Thay thế tôi chỉ có thể là Vệ Ưởng!”. Ngụy Huệ Vương chỉ cười mà không đáp, Công Thúc Tọa biết ý bèn nói tiếp: “Nếu Đại Vương không trọng dụng người này thì phải giết hắn, chớ để hắn rời khỏi đất Ngụy.”. Huệ Vương ra về trong lòng thầm nghĩ: “Lão Tể Tướng này hồ đồ rồi, vừa khuyên ta dùng, xong lại khuyên ta giết, chi bằng không nghe theo thì hơn”. Sau khi Huệ Vương rời đi, Công Thúc Tọa gọi Ưởng vào và nói: “Ta vừa tiến cử cậu cho Ngụy Vương nhưng ông ấy không đồng tình, nên cũng khuyên Ngụy Vương giết cậu nếu ông ấy không trọng dụng cậu”. Huệ Vương sau đó không dùng mà cũng chẳng giết Ưởng, cảm thấy bí bách, Ưởng bỏ sang nước Tần (bấy giờ người đứng đầu là Tần Hiếu Công[1]). Nước Tần khi này vừa thua nước Ngụy trên mặt trận quân sự, đánh mất đất Tây Hà nguy cơ vong quốc là cận kề, khi này Tần Hiếu Công kế nhiệm như ngồi trên đống lửa, hàng ngày phải lo nghĩ việc vừa giữ quốc, vừa làm cách nào để vực quốc. Tần Hiếu Công hạ chiếu lệnh chiêu hiền đãi sĩ khắp nơi, cho xâu nguyên một Đạo quán lớn để chiêu mộ nhân tài. Người kéo về Tần rất đông, kẻ muốn phô tài có, kẻ giỏi văn chương có, kẻ đến chỉ là để kiếm miếng ăn cũng có. Khi này, Ưởng đến Tần thông quan “cửa sau” là thái giám Cảnh Giám để được gặp Tần Hiếu Công.
· Sự nghiệp và Hậu vận
Ba lần yết kiến Tần Hiếu Công thì hai lần không đem lại hiệu quả, phải đến lần thứ ba ông mới được Tần Hiếu Công trọng Dụng. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất, khi Ưởng vào gặp Tần Hiếu Công, ông lấy Đế đạo ra để nói, đại loại là thứ đạo làm Hoàng đế, bao trùm bốn bể, làm chủ Giang sơn, Hiếu Công vừa nghe vừa cảm thấy thật viển vông và hão huyền, xét về thực tế lúc đó đúng là đúng là lời của Ưởng với nước Tần rất viển vông, một nước Tần nhỏ bé ở phía Tây Trung nguyên, yếu đuối, đói khổ, ăn còn không đủ nói gì tới việc làm chủ thiên hạ. Bởi vậy, dễ hiểu vì sao Tần Hiếu Công cảm thấy “buồn ngủ” khi nghe Ưởng thuyết giảng lần đầu.
Lần thứ hai, Ưởng đem Vương đạo để nói với Hiếu Công, có thể khái quát đơn giản như sau: “Vương đạo là một khái niệm chính trị quan trong trong nền chính trị Trung Quốc và được sử dụng bởi các nhà Nho, thể hiện hướng đi cai trị bằng nhân nghĩa, trung hiếu.” Nghe Vương Đạo xong Tần Hiếu Công lần này có vẻ cảm tình hơn, không rơi vào trạng thái “buồn ngủ” nữa nên cuộc thuyết giảng của Ưởng có phần khởi sắc. Tuy nhiên thì đây vẫn chưa phải thứ mà Tần Hiếu Công mong đợi.
Lần thứ ba, đây cũng là cơ hội cuối cùng Ưởng được tạo điều kiện yết kiến Hiếu Công với tư cách “nhân tài, hiền sĩ”. Lần này, Ưởng đem Bá đạo để nói với Hiếu Cống: “Bá đạo đơn giản là tự làm cho mình mạnh lên, tự nâng cao năng lực của bản thân lên, áp dụng vào kiến quốc tức làm cho phú dân, lực quốc[2]”. Tần Hiếu Công hiểu ra vội trọng dụng Ưởng.
Sau khi được Tần Hiếu Công Trọng dụng, có thể nói Hiếu Công và Ương như một cặp bài trùng cùng nhau kiến tạo nước Tần. Hai lần Biến pháp của Ưởng là minh chứng cho tài năng của ông và là lời khẳng định sắt đá nhất cho việc vì sao Tần Quốc quật khởi, chiến thắng tất cả.
Biến pháp lần thứ nhất, Vệ Ưởng thay đổi cơ cấu xã hội nước Tần, chia các nhà thành các “bảo, liên” khuyến khích tố giác việc xấu của người khác. Người không tố giác kẻ gian sẽ bị phạt chém ngang lưng, không tố giác kẻ gian bằng với tội đầu hàng giặc. Người nào tố giác kẻ gian thì được thưởng như là lập công chém được quân địch, bởi vậy xã hội nước Tần bấy giờ nhân dân ai biết nhà đó và họ chỉ đề cao cái lợi của bản thân lên trên hết. Gia đình có hai con trai trở lên phải tách hộ tịch, nếu không tách thì gấp đôi số thuế, việc này đã tối đa hóa sức lao động của nhân dân, không có chuyện kẻ làm người hưởng trong xã hội thứ dân. Khuyến khích chém giết trên chiến trường, lúc này có luật tính số thủ cấp của địch để tặng thưởng, cho nên hình ảnh người Tần được miêu tả là “cưỡi ngựa, tay cầm thương, lưng đeo nỏ cứng, mình buộc đầu người” khiến cho quân địch nhìn thấy phải khiếp sợ. Ai đánh nhau vì việc tư thì sẽ bị xử phạt tủy theo mức độ. Người nào chăm chỉ sản xuất thì được miễn sưu thuế, kẻ nào lười nhác thì cả nhà phải xung nô. Tôn thất không có công lao gì thì không được ghi tên vào sổ sách họ Vua, ai có công thì hiểu vinh, kẻ không công thì dù giàu có cũng phải chịu tội. Sau khi công bố để nhân dân tin tưởng, Ưởng đã cho tiến hành bê trụ từ đó xuất phát tích dịch trụ[3] trong sử sách.
Biến pháp lần thứ hai, Ưởng kiến nghị rời đô thành nước Tần về Hàm Dương. Ban hành nhiều chính sách mới về đất đai, tịch điền. Không cho cha con, anh em ở chung một nhà, người dân sẽ phải lao động và làm việc nhiều hơn. Đề ra đơn vị đo lường, phế bỏ việc phong tước hầu, đặc biệt là tiến hành đốt sách - “nhân dân không cần học nhiều đọc nhiều, chỉ đơn giản đọc luật, hiểu luật là đủ”.
Tuy rằng qua hai lần biến pháp, chính sách của Ưởng đã vắt kiệt sức dân và đắc tội với giới quý tộc cũ, nhưng đã khiến cho Tần Quốc sở hữu một quân đội hùng mạnh.
Sau khi nhân lực và vật lực đã đủ Vệ ưởng xin Tần Hiếu Công đi lấy lại vùng đất Tây Hà từ tay nước Ngụy, bằng tài năng của mình Vệ Ưởng đã lấy lại được đất Tây Hà cho nước Tần. Tần Hiếu Công phong cho Vệ Ưởng chức Tả thứ trưởng, cho vùng đất Thương Ư làm thưởng, từ đó mọi người gọi ông với tên là Thương Ưởng
Biến pháp thành công là vậy nhưng nó cũng mang trong mình một mặt trái mà cả đời Thương Ưởng cũng không thể ngờ tới. Ta phải hiểu rằng biến pháp hay chính sách cải cách pháp luật của Thương Ưởng ngoài việc đánh vào bản chất lợi ích của con người nó còn đánh thẳng vào lợi ích của giai cấp quý tộc hay cả giới cầm quyền (trừ ông Vua). Minh chứng của lời này chính là hành động đắc tội với Thái tử tứ, Doanh Kiền và Công Tôn Giả. Phải làm rõ rằng, Thái tử tứ là con trai của Tần Hiếu Công Doanh Cừ Lương, là một trong những Thế tử của vương triều, thứ hai Doanh Kiền chính là anh trai của Tần Hiếu Công Doanh Cừ Lương - chính là một tôn thất của Hiếu Công mà Ưởng còn cho đem ra cắt mũi thì thử hỏi còn ai là ông ta không dám động vào nữa. Về phần Công Tôn Giả, ông này là thầy dạy của Thái tử tứ thì bị Ưởng chạm chữ lên mặt, mà khi ấy tội nhân bị chạm chữ lên mặt thì thật không biết giấu đi đâu cho hết cái nhục. Về sau Thái tử Tứ kế vị, nhớ ân oán cũ mà tìm cách trả thù Ưởng.
Chỉ sau 5 tháng sau khi đoạt được Tây Hà, Tần Hiếu Công Doanh Cừ Lương qua đời, Thái tử Tứ lên ngôi, hiệu là Tần Huệ Văn Vương, nhớ thù cũ với Ưởng, nhưng chưa tìm ra thì có người xàm tấu Ưởng muốn làm phản. Tần Huệ Văn Vương định tội Ưởng ngay lập tức không cần tra xét nhiều, Thương Ưởng cuối đời lại phải trải nghiệm sự khắc nhiệt của “đứa con” mà mình đã sinh ra, đứa con mang tên “Biến pháp pháp luật”, theo luật Thương gia luật kẻ không có giấy tờ chạy trốn trong đêm thì không được ở trọ, kẻ đang bị truy nã vào trọ thì là kẻ gian, thấy kẻ gian mà không tố cáo là bị quy tội chém ngang lưng, chính vì vậy Ưởng đi đến đâu cũng không được chứa chấp. Cuối cùng chạy về đất Thương Ư tập hợp binh mã làm phản nhưng thất bại, khép tội Ngũ mã phanh thây, cả nhà phải chịu tội chết.
2. HÀN PHI
· Thân thế và tiểu sử
Hàn Phi tên thật là Phi, công tử nước Hàn, ông là huynh đệ với Hàn An Vương, Phi công tử lấy tên nước làm họ, nhiều lần dâng sớ khuyên Hàn An Vương thực hiện biến pháp. Ông cũng là người đi đầu trong kế hoạch hợp tung[4] lần hai thời chiến quốc.
Hàn Phi là người đã đưa Pháp Gia trở thành một hệ thống lý luận một cách hoàn chỉnh, kế thừa từ tư tưởng Pháp trị của Thương Ưởng, Pháp gia trở thành một trường phái triết học chính trị cổ đại Trung Hoa, đặt ngang hàng với Nho gia, Mặc Gia và Đạo Gia trong nền lịch sử 5000 năm Trung Hoa. Hệ thống tư tưởng Pháp gia được viết thành sách và lấy tên là Hàn Phi Tử lưu truyền cho đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Hàn Phi được miêu tả là khá đẹp trai, là một người thông minh ham học và có trí tuệ hơn người. Ông cũng là bạn học của Lý Tư (xem phần sau), cả hai đều là học trò theo học Tuân Tử. Về Sau sách của ông viết rất được Tần Vương Chính[5] yêu thích.
· Sự nghiệp và hậu vận
Khi Tần quốc âm mưu đánh Hàn. Phi công tử nhận thấy thực lực Hàn quốc suy yếu tứ bề thọ địch, mấy lần dâng thư lên khuyên Hàn An Vương tiến hành biến pháp, cải cách nội bộ chấn hưng quốc gia để giữ trọn miếu đường tông tổ, thế nhưng luôn bị khước từ. Phi công tử bất bình trước thế sự triều chính, nhân khi Hàn An Vương giao cho nhiệm vụ sang Tần cầu hòa, mà tính đường ở lại Tần Quốc.
Hàn Phi sau khi đến Tần quốc, dâng sớ lên Tần Vương Chính, hiến kế giúp Tần Vương phá thế hợp tung của năm nước và tình nguyện sẽ dốc hết sức cho sự nghiệp thống nhất thiên hạ của Tần quốc.
Tần Vương Chính đọc xong thì hết mực khen ngợi, vui mừng vì tìm được một nhân tài có thể giúp mình hoàn thành đại nghiệp tổ tiên, muốn mời Hàn Phi vào cùng bàn việc nước. Thế nhưng sự yêu mến của Tần Vương Chính đối với Hàn Phi đã khiến cho một nhân vật lo lắng, nhân vật ấy không ai khác chính là Lý Tư. Lý Tư bèn gièm pha với Tần Vương Chính đẩy Hàn Phi vào ngục. Cuối cùng Lý Tư bức chết Hàn Phi bằng thuộc độc.
3. LÝ TƯ
· Thân thế và tiểu sử
Lý Tư sinh năm 284 TCN là người đất Thượng Sái, thuộc nước Kinh[6] (Sở). Ông có tư tưởng chính trị từ nhỏ, theo học Tuân Khanh (Tuân Tử) cùng với Hàn Phi, là một trong những người học trò tiêu biểu của Tuân Tử. Ông được học Thuật làm Đế Vương. Chính bởi theo học cùng một thầy với Hàn Phi nên cả hai đều tiếp thu tư tưởng “Nhân chi sơ tính bản ác”, tức con người khi sinh ra đã là ác vậy nên cần phải có một thứ để kiểm soát cái ác của con người.
Nhận thấy không có cơ hội phát triển ở nước Sở nên Lý Tư bỏ về theo Tần.
· Sự nghiệp và hậu vận
Sau khi đến Tần quốc, ông chọn làm môn khách[7] dưới trướng Lã Bất Vi khi này đang là Thừa tướng nước Tần.
Khi này dã tâm “bình thiên hạ” của Tần quốc đã rõ ràng, ông kiến nghị với Lã Bất Vi kế ly gián và xin được cơ hội đi du thuyết các nước để thực hiện điều này.
Loạn Lao Ái - bước ngoặt trong sự nghiệp của Lý Tư: Bí sử Trung Hoa ngàn năm che đậy ai cũng biết rằng Tần Vương Chính thực chất là con trai của Lã Bất Vi bởi mối quan hệ phúc tạp của thế hệ cũ, (tức thế hệ đời Tần Trang Tương Vương Tử Sở Doanh Dị Nhân). Nên sau khi Tần Trang Tương Vương chết, Doanh Chính lên ngôi khi mới 13 tuổi, lúc này quyền lực trong triều rơi vào tay Lã Bất Vi và Thái Hậu Triệu Cơ (mẹ Doanh Chính). Lã Bất Vi tự đảm nhận chức Thừa Tướng, xưng là Trọng phụ, Thái Hậu Triệu Cơ buông rèm chấp chính. Lao Ái trước hắn cũng là môn khách trong nhà Lã Bất Vi nhưng do phạm tội mà bị phạt tịnh thân[8], nhưng do lo lót cho thái giám thực hiện việc này mà hắn được “giả tịnh”, về sau lại được trở thành thái giám theo hầu Thái Hậu. Triệu Cơ tuy là Thái Hậu nhưng còn trẻ lại đánh bại được thế lực của mẹ chồng Mễ Thái Hậu (bà nội hờ của Doanh Chính) nên lộng quyền, Giả hoạn quan Lao Ái quyến rũ Triệu Thái Hậu sau đó Thái Hậu Triệu Cơ sinh cho hắn 2 đứa con một trai một gái. Tần Vương Chính sau khi biết chuyện chua xót nói với Lao Ái rằng: “Nhà ngươi là Dượng phụ của Trẫm sao?”, Lao Ái thất kinh mà quỳ xuống vái lạy. Không lâu sau hắn cậy Thái Hậu dấy binh hòng lật đổ Tần Vương Chính, nhưng Tôn thất Doanh gia quyết bảo vệ Tần Vương đánh dẹp Lao Ái, nhân sự việc này Tần Vương “mượn gió bẻ măng” lật đổ luôn Lã Bất Vi và bắt Thái hậu Triệu Cơ đi đày hoàn toàn nắm lại quyền lực về tay họ Doanh (sự kiện Lao Ái cũng là một “vết nhớp” ám ảnh Tần Vương Chính mà sau này ông cũng quyết không lập Hoàng hậu mặc dù rất yêu hai người vợ của mình). Sau loạn Lao Ái, Tần Vương Chính hạ chiếu đuổi hết tất cả các môn khách của Lã Bất Vi đi khỏi nước Tần, trong đó có cả Lý Tư. Lý Tư bất bình mà dâng sớ xin can. Bằng tài năng và dẫn chứng sắc bén của mình ông đã được Tần Vương Chính chấp thuận. Lý Tư về phò tá dưới trướng Tần Vương Chính, xin tiếp tục du thuyết ly gián các nước.
Sau khi về nước Lý Tư khuyên Tần Vương Chính đánh nước Hàn đầu tiên, nhân đó làm bàn đạp vươn tới thu phục trung nguyên. Chính điều này đã dẫn đến sự kiện Hàn Phi được cử sang nước Tần cầu hòa đã nói ở phần trước và cho Phi công tử cơ hội yết kiến Tần Vương Chính. Nhận thấy Hàn Phi được Tần Vương Chính yêu mến, “soi” lại bản thân mình Lý Tư tự biết mình không tài bằng “bạn học cũ” nên đã một lần nữa dùng “ba tấc lưỡi” của mình “xoay chuyển” Tần Vương. Lý Tư thành công đẩy Hàn Phi vào ngục sau đó tìm một người có tài nhưng không có tham vọng là Úy Liêu tiến cử cho Tần Vương Chính.
Sau khi Tần Vương Chính thống nhất thiên hạ, xưng Thủy Hoàng Đế - sử gọi Tần Thủy Hoàng. Cả Úy Liêu và đại tướng quân Vương Tiễn đều sợ cái họa “điểu tận cung tàng” mà rời về ở ẩn, duy chỉ có Lý Tư ở lại tiếp tục phò tá Hoàng Đế.
Lý Tư được phong là Thừa tướng, tiến hành soạn luật:
Cho phế bỏ phân quyền phương quốc, chuyển sang trung ương tập quyền. Đất đai do triều đình quản lý, chia thiên hạ thành 36 quận, mỗi quận có nhiều huyện, mỗi quận đặt một thủ úy và một giám ngự sử quản lý. Lý Tư nhận thấy sự rộng lớn của đế quốc có một cái bất lợi về mặt quản lý nên xin cho xây dựng cung A Phòng, triệu tất cả các hào kiệt về Hàm Dương. Trong nước Lý Tư cho hủy hết binh khí, từng cái cuốc, con dao cũng phải đi đăng ký. Ban lệnh “thư đồng văn - xa đồng quỹ”. Lệnh đốt sách - chôn Nho trong lịch sử, đây là điều khiến hậu thế nghĩ nhầm về Tần Thủy Hoàng tàn bạo (tổng có 460 nho sĩ bị chôn sống, sách Nho bị đem đi đốt, số lượng người không chôn hết thì “chuyển công tác” sang công trình dự án Vạn Lý Trường Thành).
Luật Tần đề ra quan lại phạm tội phạt trong ngũ hình - dân chúng phạm tội phải đi lao dịch.
Cuối cùng làm trái di ngôn của Tần Thủy Hoàng, thông đồng với Thái giám Triệu Cao làm giả chiếu chỉ, phế trưởng lập thứ đại nghịch bất đạo, dẫn đến việc Thái giám Triệu Cao nắm quyền thao túng triều chính. Đặt bước đầu cho sự suy tàn của đế chế Đại Tần.
Năm 209 TCN, tình hình đất nước loạn lạc, Lý Tư bị Triệu Cao hãm hại, Lý Tư cùng con trai mình bị đem chém ngang lưng.
Như đã tìm hiểu ở phần thứ nhất, ba đại diện tiêu biểu nhất của Pháp gia bao gồm Thương Ưởng, Hàn Phi, Lý Tư họ đều có danh vọng rất cao nhưng đều nhật một kết cục rất bi thảm. Từ hiện thực mang tính lịch sử đó ta có thể rút ra được những đặc điểm mà tôi cho rằng chung nhất về nhân cách của họ.
Thứ nhất, họ là những người có thực tài, có trí lớn
Không thể phủ nhận được tài năng của con người pháp gia, họ đều là những người lĩnh hội được tinh hoa tri thức của trí tuệ cổ nhân. Họ được học, được dạy bởi những người thầy giỏi nhất, đọc những cuốn sách quý nhất của lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử Phương Đông nói riêng. Phải là con người có thực tài thì học mới dám nghĩ dám là, dám đề xướng, dám gánh vác và dám chịu trách nhiệm. Cái thực tài của họ là điều mà lịch sử đã chứng minh, điều đó đã giúp Tần quốc từ một vùng đất hẻo lánh phía tây Trung nguyên (Đông giáp lục quốc, Tây kháng Khuyển Nhung[9]) trở thành một đại quốc vương ra nắm trọn giang sơn, đưa trăm họ quy về một mối. Đó không chỉ là công lao của mỗi các bậc Đế Vương hay đại tướng mà đó còn là sự góp mặt không hề nhỏ công lao của các bậc “Đế sư” tài năng trong thời loạn. Chỉ tiếc rằng “chữ tài đi với chữ tai một vần” - Nguyễn Du, cái tài của họ vừa là thành gươm định thiên hạ cũng lại vừa là lưỡi gươm đoạt mạng chính họ. Đi cùng với cái tài ấy chính là hùng tâm tráng trí nuốt trọn trời xanh. Cả ba đại diện Pháp gia đều không chịu bó hẹp trước thời cuộc, bó tay trước cảnh “tiểu quốc suy tàn” mà chấp nhận chôn đi cái tài, cái chí của mình. Cổ nhân đã nói: “Thời thế tạo anh hùng” con người của Pháp gia đều có tham vọng rất lớn, họ muốn đại nghiệp đế vương mà họ trực tiếp đảm nhận vai trò là “kiến trúc sư” phải bao trùm lấy toàn trời đất, làm sao cho xứng với ba chữ “Bình thiên hạ”.
Thứ hai, họ đều thừa nhận tính bản con người là “ác” - đều trọng pháp luật
Mặc dù trong hệ thống lý luận Pháp gia Hàn Phi Tử không đề cập tới việc thừa nhận bản chất “tính bản ác” của con người nhưng xét trên thực tiễn lịch sử xã hội, cái “chữ lợi” chính là cội nguồn của “chữ ác”. Thương Ưởng cho rằng bản chất của con người là ác, nên cần phải có pháp luật để cai trị họ, để trấn áp đi cái tính ác của mỗi người từ đó mới có thể dùng họ vào việc quốc gia đại sự được. Còn cả Hàn Phi và Lý Tư đều là học trò của Tuân Tử nên việc tiếp thu tư tưởng “Nhân chi sơ tính bản ác là điều tất yếu”. Dù không đề cập trong sách nhưng ta có thể ngầm hiểu rằng họ (Phi - Tư) đều theo một “mô típ” suy luận với Thương Ưởng.
Thứ ba, họ là những người cơ hội và thực dụng.
Đây là điều thể hiện rất rõ nếu độc giả đã theo dõi kỹ từng nhân vật này. Đây cũng là đặc điểm nhân cách đậm nét nhất của con người Pháp gia. Bởi tất cả những điều những luật, những tư tưởng mà pháp gia xây dựng đều dựa trên “chữ lợi” - bản chất con người là chữ lợi vậy cho họ thấy lợi việc mà họ phải thực hiện ấy là hợp lý. Hay có thể thấy ngay trong cái cách mà họ thiết kế con đường sự nghiệp của mình. thương Ưởng là người gốc Vệ nhưng ông không thấy được tiềm năng phát triển của nước Vệ nên sẵn sàng bỏ nước mình để tìm để một đất mà ông có thể phô cái tài, khi đến Ngụy ông đã đem cái tài năng của mình để cậy nhờ Công Thúc Tọa, có điều Ngụy Huệ Vương không để ý đến ông nên ông đã “dứt áo” sang Tần. Quân vương Tần Quốc lúc này là Tần Hiếu Công Doanh Cừ Lương lúc này đang nung nấu ý chí phục quốc, cho chiều hiền đãi sĩ khắp nơi, khác với cách đi của những người khác, thì ngay sau khi đến Tần ông đã giao hảo và nhờ cậy Cảnh Giám để đi cửa sau, việc này tuy bị các học giả lên án, nhưng chẳng còn ý nghĩa gì khi phải công nhận rằng Thương Ưởng đã thành công. Người thứ hai như đã thấy thì đó là Hàn Phi, khi thế nước lâm nguy, với vị thế là quý tộc hàng đầu, dù biết thế nước không thể cứu nhưng ông không chọn cách “quyết tử cho tổ quốc” mà lựa chọn tìm thời cơ để sang Tần. Đến Tần ông tìm nhờ Lý Tư (người đang được Tần Vương Chính tin tưởng) để tạo dựng cơ hội thăng tiến. Đây chính là cách nắm bắt cơ hội của các nhà Pháp gia nói chung, tuy nhiên Hàn Phi nhất thời đã tính sai con đường của mình, cũng như Thương Ưởng quên mất “chữ sân” (mượn quan điểm phật giáo) thì Hàn Phi lại quên mất “chữ lợi” trong mỗi con người, mà ở đây chính là bản thân Lý Tư, kết cục không gì đau đớn hơn việc chết dưới tay bạn mình. Cuối cùng là Lý Tư, công lao lớn nhất của Lý Tư là đóng vai trò then chốt trong công cuộc phò tá đại nghiệp của Đại Tần. Bản thân ông cũng là ngoại khách nước Tần khi đến Tần lập nghiệp lại dựa vào Lã Bất Vi để thăng tiến, sẵn sàng ngáng chân, bức hại bạn mình để đạt được mục đích cuối cùng, Có lẽ ta không thể hoàn toàn trách Lý Tư được bởi xét về mặt triết học thì đây chính là bản chất chung của con người Pháp gia và cũng là bản chất chung nhất của con người Phương Đông dưới góc nhìn “Ác luận”. Tôi tin chắc rằng đa phần con người trong hoàn cảnh của Lý Tư, Hàn Phi hay Thương Ưởng cũng đều như vậy.
Thứ tư, tinh thần cách mệnh
Điều này thể hiện ở quá trình thực hiện hóa giấc mộng giang sơn và thành quả giúp các đời Tần Vương thống nhất Thiên Hạ. Ngoài ra, có thể thấy rằng tư tưởng của các nhà Nho hay thực tế hơn là các quan lại Nho giáo thường đề cao việc lấy những việc cũ hay tấm gương cũ (tư duy nối cổ) để áp vào những vấn đề hiện tại, đại khái nó giống như việc sử dụng án lệ trong luật Pháp. Vậy nên, khi đứng trước một vấn đề mới thì các nhà Nho tỏ ra khái lúng túng (VD quan lại Nho giáo triều Nguyễn khi đối mặt với họa thực dân Pháp thì họ tỏ ra phản ứng chậm vô cùng và hậu quả là dẫn đến kết cục vong quốc). Còn các nhà Pháp gia thì cho rằng vấn đề của thời đại thì phải dùng cách thức của thời đại để giải quyết, bởi vậy cho nên nói rằng họ có tinh thần cách mệnh là một điều không thể bàn cãi.
Thứ năm, họ rất tàn bạo, hà khắc và độc đoán
Đây tuy không phải đặc điểm nổi bật nhất nhưng cũng được xếp vào hạng nổi bật nhất trong nhân cách Pháp gia. Thật sai lầm khi đem tư tưởng Pháp gia cổ đại của hàn Phi, Thương Ưởng, Lý Tư để so sánh với tư tưởng Pháp luật của các nhà khai sáng Châu Âu thế kỷ XV - XVI như Vôn - te, Rút Sô, Mon - tét - ki - ơ (Volte, Rousseau, Montesquieu). Bởi Pháp luật thời kỳ Khai sáng là pháp luật vì lợi ích chung của cộng đồng, đó là bản khế ước xã hội mỗi người đặt niềm tin của mình vào sự lãnh đạo thống nhất của một đại diện, chấp nhận hy sinh một số quyền cá nhân nhưng vẫn được giữ lại những quyền hợp lý khác và đặc biệt là chống lại sự thần quyền - vương quyền mãnh liệt (mặc dù vẫn tồn tại một số cuộc cách mạng không triệt để). Nhưng với Pháp gia của Hàn Phi, Thương Ưởng, Lý Tư thì đó là Pháp luật của Vương quyền - Hoàng Đế, tức toàn bộ thần dân, hoàng tộc, vương tộc, quý tộc đều phải chấp hành luật pháp trừ “Thiên Tử”. Xét đến tính hà khắc của Pháp gia, việc thi hành án cực kỳ tàn bạo được ghi chép trong sách Tư trị thông giám[10] có nhắc tới rằng:
“Thương Ưởng biến pháp thi hành án ở sông Vị Thủy, máu chảy thành dòng, tanh trôi hàng dặm, tiếng oán than đầy trời”.
“Cắt mũi Doanh Kiền, chạm mực lên mặt Công Tôn Giả”
Hay như Lý Tư, sau khi lên làm Thừa Tướng thì thi hành “đốt sách - chôn nho”, gần như muốn hủy diệt nền Nho học lâu đời. Điều đó khiến cho hậu thế ngay cả những người không nghiên cứu lịch sử cũng vẫn luôn có ấn tượng về sự tàn bạo của Tần Thủy Hoàng. Còn Hàn Phi thì sao? Phải nói rằng: “may” mà Hàn Phi chưa đạt tới quyền lực hay nói cách khác là được trao quyền lực, nếu không với bản chất con người chính trị ấy, với tham vọng vốn có ấy, ai có thể đảm bảo rằng ông ta sẽ không có những chính sách hay những cuộc thi hành án như tiền bối và bạn học của mình đã làm?
Ngoài ra, để có được quốc lực, binh lực mạnh như vậy, với trình độ sản xuất chưa cao như vậy thì việc vắt kiệt sức dân là điều không thể tránh khỏi.
Sở dĩ nói họ độc đoán là bởi, họ tước bỏ quyền hoặc có thể nói là một nhóm quyền cơ bản của con người, đấy chính là quyền được tự do học hành và tự do ngôn luận. Quyền duy nhất mà họ được nắm giữ và buộc phải nắm giữ đó là được phải quyền được sản xuất và nghĩa vụ phải chiến đấu, dù nói là quyền hay nghĩa vụ thì đều đúng cả.
Cuối cùng trong bảng nhân cách của Pháp gia mà tôi cho là nổi bất nhất, đó chính là tính “không thể buông bỏ của Pháp Gia”.
Tại sao lại nói rằng “không thể buông bỏ”? Xin thưa tính cách chung này chính là đến từ cái tham vọng “nuốt trời xanh” của các nhà Pháp gia, cái nghiệp mà họ phải trả, cái nhân quả mà họ phải ứng. Cho nên các nhà Pháp gia luôn tự triệt đi đường lui của bản thân, mà ngay chính bản thân họ cũng không biết. Để trả lời một cách sâu sắc hơn về vấn đề này tôi cần phải thừa nhận rằng mình đã mượn Phật Giáo để khái quát lên đặc điểm này của các nhà Pháp gia, bởi vậy ta cần phải làm rõ về quan niệm “buông bỏ” của Phật giáo như sau: “Buông bỏ không có nghĩa là từ bỏ, là trốn tránh khỏi mọi thứ hay tự nhốt bản thân mình vào sự phiền não, phớt lờ hết những người yêu thương mình, người làm tổn thương mình, những đam mê, sở thích của mình. Mà trái lại buông bỏ chính là tự mình tìm đến sự sâu thẳm nhất trong trái tim và tâm hồn của mình. Tự mình trả lời về mình trước khi đặt câu hỏi vì sao người khác lại như vậy. Buông bỏ bản ngã “tham, sân, si” gạt bỏ những ham muốn dục vọng tầm thường của phần con trong mỗi con người để đạt được một trạng thái hạnh phúc nhất của cuộc đời”. Phải “buông” được thì con người mới có thể đạt tới cảnh giới cao nhất của hạnh phúc được. Đó chính là quan niệm buông bỏ của nhà Phật, từ “mượn luận” của Phật giáo ta có thể rút ra ba điểm sau để làm rõ hơn nhân cách “Không thể buông bỏ’ của các Pháp gia:
Một là, do họ quá tham lam không biết điểm dừng
Tại sao nói họ tham lam? nói vậy không phải là đang sỉ nhục họ à? Không, mà là vì chúng ta phải xét một vấn đề trên nhiều khía cạnh đứng từ một góc độ khách quan để nhìn nhận về lịch sử, nhân cách của cách Pháp gia có một phần là cơ hội và thủ đoạn. Ta đều biết rằng các nhà Pháp gia này đều là ngoại khách nước Tần, họ sẵn sàng rời bỏ quê hương để tìm tới nơi mà họ có thể phô tài, không cần biết nước ấy có phải kẻ thù của nước mình hay không! Bởi vậy, phải khẳng định rằng chữ “trung” trong họ là không có. Họ dốc sức vì nước Tần, vì họ Doanh tất cả cũng chỉ là vì “chữ lợi” mà thôi. Chính nhân cách đó đã khiến cho lòng tham của họ đi vượt giới hạn, lòng tham về một quyền lực tuyệt đối. Tuy nhiên, xét tính hai mặt, ta không thể phủ nhận cái tài của họ.
Hai là, họ quên mất cái lợi trong “chữ lợi” của con người
Thật “buồn cười” khi nói như vậy nhưng thực tế là như vậy! Các Pháp gia có đóng góp rất lớn là đúc kết ra bản chất con người là “chữ lợi” nhưng bản thân họ lại không thể hiểu một cách sâu sắc chính “chữ lợi” ấy. Nói cách khác họ chỉ tìm cách “cấm” lợi chứ không tìm cách “hòa” với lợi, đó chính là mấu chốt dẫn đến mâu thuẫn trong chính con người của họ, nếu chỉ biết cấm thì lâu dần sẽ sinh bất bình và bất bình bị đè nén lâu ngày sẽ sinh oán hận và thực tế lịch sử lại chứng minh luận điểm này một lần nữa, ngay sau khi nhà Tần thống nhất thiên hạ không lâu đã dẫn tới các cuộc khởi nghĩa nông dân tiêu biểu có khởi nghĩa Trần Thắng - Ngô Quảng, sau đó là đại thế Hán - Sở tranh hùng kết quả là Hán Cao Tổ Lưu Bang đánh bại Tây Sở Bá Vương Hạng Vũ thống nhất thiên hạ lập ra Đế chế Hán. Việc làm mất nhà Tần không phải hoàn toàn là do Triệu Cao hai Tần Nhị Thế Hồ Hợi mà đó là “công sức” rất lớn của Thừa Tướng Lý Tư - kẻ được lịch sử coi là ngàn năm công - tội. Nếu Lý Tư không thỏa hiệp với Triệu Cao trái di ngôn thì đâu dẫn tới việc Triệu Cao lộng hành, âu cũng đến từ cái việc tự Lý Tư “đầu hàng” cái ham muốn lợi ích trong mình.
Cuối cùng, từ hai điểm trên ta rút ra được một điểm rằng “sự sợ hãi” trong tâm hồn của các Pháp gia.
Điều này càng đúng với Lý Tư: vì sợ mất quyền lợi mà thỏa hiệp với Triệu Cao, sợ mất quyền lợi mà đẩy Công Tử Phù Tô [11](con trai trưởng của Tần Thủy Hoàng) đi đày, tạo điều kiện cho Đệ nhất gian thần thái giám Triệu Cao làm loạn triều. Còn đối với Thương Ưởng, sau khi đủ vinh hoa phú quý, Triệu Lương đã khuyên ông ta rời bỏ vị trí mà ông ta đang nắm giữ mà đi ở ẩn, bởi những chính sách của ông đã làm cho nhân dân và quý tộc đủ oán thán rồi! Nhưng ông ta đã không nghe lời Triệu Lương lại lấy lấy mình ra so với Bách Lý Hề[12] để hỏi Triệu Lương, khi không nhận được câu trả lời vừa ý thì ông ta lại càng độc đoán. Không phải vì ông ta kiêu ngạo mà đó là bởi vì, ông ta sợ rằng khi mình buông bỏ danh vọng đi ở ẩn thì sẽ chẳng bao giờ trong nhân dân có ai “rơi nước mắt” với ông ta như cái cách mà nhân dân Tần Quốc rơi nước mắt với Bách Lý Hề.
Qua những phân tích về ba đại diện Pháp gia và nhân cách chung của họ, tôi xin đưa ra một số bài họ kinh nghiệm dưới góc độ nhìn nhận cá nhân như sau:
Bài học một: Phải biết điểm dừng
Trong đời sống điểm dừng là vấn đề vô cùng quan trọng, điểm dừng thoạt nghe thì vô cùng đơn giản và dễ thực hiện nhưng khi cần thực hiện nó lại khó vô cùng. Bản chất sâu sắc nhất, thật nhất và chính xác nhất của con người là lợi ích, điều này tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của các nhà Pháp gia. Con người sẵn sàng làm tất cả để đạt được cái lợi của bản thân, thậm chí là chà đạp lên những giá trị đạo đức hoặc nói một cách triết học phương Tây theo Phân tâm học Freud là đạp lên cả cái “siêu tôi” để đạt được mục đích cuối cùng. Một câu chuyện đơn giản trong Hàn Phi Tử như sau: “Vua nước Trịnh đã lập thái tử, nhưng có người mỹ nhân được vua yêu, muốn cho con mình được nối nghiệp. Phu nhân sợ bèn dùng thuốc độc giết nhà vua”[13] (HPT, Tr262) hay Sát thê Ngô Khởi[14] “Ngô Khởi lấy vợ là người nước Tề ông ta muốn làm tướng nước Lỗ, nước lỗ nghi ngờ ông ta thân với nước Tề nên Ngô khởi đã giết vợ mình để Vua nước Lỗ tin dùng” (Sử ký Tư Mã Thiên). Một vài câu chuyện không phải để kể về tội ác trong lịch sử mà là để phơi bày cái bản chất thật sự của con người. Thương Ưởng và Lý Tư như ta đã thừa nhận là họ giỏi nhưng bản thân họ lại không biết điểm dừng nên mới dẫn tới họa sát thân. Ấy vậy cho nên chữ “Trời” trong quan niệm triết học cổ đại không phải là huyền bí, chữ “Trời” trong quan niệm triết học cổ đại chính là quy luật tự nhiên của cuộc sống. Trước khi Gia Cát Lượng xuất sơn xuống phò tá Lưu Huyền Đức, Thủy kính Tiên sinh đã than thở rằng Khổng Minh không gặp đúng thời, như Khổng Minh vẫn cố chấp theo đuổi vậy nên hậu vẫn không vẹn toàn chết rồi vẫn chưa buông bỏ được chấp niệm. Nhiều khi con người ta được “Trời” ban cho những điều tốt lành nhất nhưng bản thân họ cũng chẳng hiểu và cũng chẳng thể thỏa mãn với những thứ mình đang có, lúc nào cũng cảm thấy như “Trời” đang bất công với bản thân mình và ưu ái những người khác. kẻ có một đồng lại muốn có hai đồng, kẻ có chức quan lại muốn mình phải có chức to hơn mặc dù năng lực không cho phép vẫn cố làm sao để đạt được. Sự ham muốn đạt được ấy không phải là để dâng hiến tài năng cho cộng đồng mà ham muốn ấy đơn giản chỉ là để thỏa mãn lòng tham và nói theo cách dân dã là “oách” hơn kẻ khác. Còn những người họ hiểu mình hiểu thời cuộc, biết chấp nhận thì học sẽ lui về tìm cho mình một khoảng thảnh thơi trong chính tâm hồn của bản thân, ấy chính là biết điểm dừng. (chưa phát triển hết ý)
Bài học hai: Phải biết lòng người
Hán Cao Tổ Lưu Bang có câu: “Trên thế gian thứ khó gọt dũa nhất là lòng người, thứ khó thỏa mãn nhất là lòng người và thứ có trăn trở nhiều nhất cũng lại chính là lòng người. Người ta đều nói thay đổi triều đại là do Thuận thiên, vương đạo lấy đức để trị, bá đạo lấy sức để khuất phục, hai thứ ấy thiếu một không được, nhưng thiên hạ này vẫn cần phải trị lòng người, vương và bá phải được dùng để trị đó gọi là Kính Thiên, trị dân”. Nghe một lần thì chưa thể hiểu được nhưng càng để nó ngấm dần lâu dài mới thấy được sự sâu sắc của Hán Cao Tổ Lưu Bang bàn về lòng người. Binh tiên Hàn Tín cầm quân đánh trận vô địch thiên hạ, giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang hoàn thành đại nghiệp thống nhất thiên hạ nhưng cuối cùng lại không hiểu được lòng người mà dẫn tới vong mạng. Hay không biết bao nhiêu tấm gương anh hùng không hiểu lòng người mà dẫn tới tai họa sát thân, chết một cách thương tiếc cho hậu thế sau này. Nhìn từ góc độ nhân cách Pháp gia, ta có thể lấy ngay minh chứng về Hàn Phi Tử như đã chứng minh ở phần trước, không phải vì Lý Tư không tôn trọng Hàn Phi, không phải vì Lý Tư căm hận Hàn Phi, mà nó nằm ở chính vị trí mà họ muốn ngồi. Lý Tư - Hàn Phi đều là những học trò xuất sắc của thời đại, khi học họ đều vì mục tiêu thành tài, thành danh bởi vậy chính cách vận hành của nền chính trị khiến những người đồng môn phải trở thành những kẻ đối đầu ở 2 chiến tuyến. Mà chiến tuyến này nằm trong chính nội triều của quốc gia họ đang phục vụ, "Quan trường vô phụ tử" - vậy nên lòng người tốt hay xấu phụ thuộc vào chữ "lợi" mà bản thân họ đang tự định hình.
Trên đây là một số quan điểm góc nhìn của tôi về nhân cách của một số đại diện tôi cho là tiêu biểu nhất của Pháp gia trong lịch sử. Còn một số nhân vật như Thận Đáo, Thân Bất Hại, Lã Bất Vi,... sẽ được để dành cho những dự án luận tiếp theo. Nội dung trên bài viết đã một phần làm sáng tỏ được lý do vì sao tư tưởng Pháp gia mặc dù tốt, mặc dù mạnh mẽ để chiến thắng nhưng lại không thể tồn tại được lâu dài trong lịch sử Trung Hoa hay lịch sử Phương Đông một cách lâu dài, mà phải chấp nhận hàng nghìn năm qua đặt dưới cái bóng của Nho giáo, chấp nhận tồn tại với danh nghĩa “Nội Pháp - Ngoại Nho” hay “Dương Nho - Âm Pháp”. Cho đến tận thời đại ngày nay, Pháp gia vẫn được các nhà cầm quyền ứng dụng một vài phần phù hợp, như TBT - CTN Tập Cận Bình, hay ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa quan điểm của các nhà các nhà Nho - Pháp Phong kiến của cả Việt Nam và Trung Quốc để mong muốn xây dựng một xã hội Pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bài viết được lấy cảm hứng và hoàn chỉnh từ một vấn đề thuyết trình nhỏ trên giảng đường, được công khai thuyết trình một lần dưới góc độ nhìn nhận của sinh viên. Góp phần vào quá trình nghiên cứu lịch sử triết học Trung Hoa, nhìn nhận của bản thân về nền tảng xây dựng xã hội của các nhà lãnh đạo Phương Đông trong lịch sử.
[1] Tần Hiếu Công: Doanh Cừ Lương
[2] Dân giàu – nước mạnh
[3] Khi Thương Ưởng ban bố luật pháp, nhân dân có vẻ không tin là luật pháp được thực thi, nên ông cho đặt một cái trụ ở cổng thành đông, yêu cầu ai di chuyển được sang cổng phái tây thì được thưởng 10 đồng. Nhân dân nghe thấy thì có vẻ hoài nghi đến khi có hai người đàn ông đứng lên làm việc đó thì Thương Ưởng giữ đúng lời tả công cho họ. Tích này nhằm thể hiện sự đảm bảo thực thi Pháp luật hay pháp luật sẽ được thực thi.
[4] Nhìn vào bản đồ Chiến Quốc, lúc đó các nhà chính trị đề xướng hai kế là hợp tung và liên hoành, sử goi là “tung - hoành gia”. Những nước nằm theo chiều dọc thì hợp với nhau chống lại nước Tần gọi là hợp tung. Nước Tần với nước Tề thì liên kết với nhau gọi là liên hoành
[5] Doanh Chính – tức sau là Tần Thủy Hoàng
[6] Xuất phát từ việc Mễ Thái Hậu (mẹ của Doanh Dị Nhân) là người nước Sở, sau khi Dị Nhân về nước Mễ Thái Hậu đặt cho Dị Nhân cái tên Tử Sở (nghĩa là người con nước Sở) nên sử sách nước Tần lúc đó tránh gọi là nước Sở vì phạm húy, phải đổi sang là Kinh.
[7] Tục xưa các quan lại thường chiêu mộ những nhân tài về dưới trướng của mình, nuôi làm khách ở trong nhà. Khác với người ở, gia nô, môn khách là những người học sĩ, ăn học đàng hoàng tương lai có thể làm quan.
[8] Quá trình cắt đi trung tâm sinh sản của bộ phận sinh dục nam, con trai phải làm việc này thì mới được trở thành Thái giám.
[9] Bộ tộc nằm ở phía Tây Trung Quốc, hay cướp bóc vào Trung Quốc. Trong lịch sử Tần Công được Chu Vương giao cho đất Tần cốt để chống lại bộ tộc này
[10] là một cuốn biên niên sử quan trọng của Trung Quốc, với tổng cộng 294 thiên và khoảng 3 triệu chữ. Tác giả chính của cuốn sử này là Tư Mã Quang – nhà sử học thời Tống.
[11] Con trai trưởng của Tần Thủy Hoàng theo đúng huyết thống là Phù Tô phải được làm Thế Tử (Thái Tử kế vị) nhưng do Phù Tô muốn hợp nhất Nho - Pháp làm một để cai trị nên không được long các nhà Pháp gia, đại diện là Lý Tư cho nên mới dẫn đến việc Lý Tư làm trái di ngôn Tiên Đế. Phù Tô cũng là người duy nhất trong Triều đình nhìn thấy mặt hạn chế của Pháp gia, và nhìn thấy sự hợp lý bổ sung của Nho giáo vào chính sách cai trị.
[12] Bách Lý Hề còn được gọi là Ngũ Cổ đại phu (五羖大夫) là một chính trị gia nổi tiếng, tướng quốc (tể tướng) của nước Tần thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc.
[13] PGS. Phan Ngọc, Hàn Phi Tử (2018), NXB Văn Học, Tr262.
[14] Ngô Khởi: người nước Vệ, sống trong thời Chiến Quốc, sau Ngũ Tử Tư và Tôn Vũ, từng làm đại tướng ở hai nước là Lỗ và Ngụy, làm tướng quốc ở Sở. Là một nhà quân sự nổi tiếng, nhà chính trị, nhà cải cách lớn thời Chiến quốc.

Quan điểm - Tranh luận
/quan-diem-tranh-luan
Bài viết nổi bật khác
- Hot nhất
- Mới nhất

